Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2026

ANH HÙNG CHẠY BỘ DÃ TƯỢNG - Trịnh Công Truyền

 


Dã tượng là một võ tướng lực sĩ dưới trướng Hưng Đạo Vương. Thuở theo phò Hưng Đạo, ông là người rất được Vương thương yêu tín cẩn. Ông cùng với người nhái Yết Kiêu là một cặp bài trùng, góp rất nhiều công khó vào việc đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi bờ cõi nhờ tài riêng của mình.
 
Theo huyền thoại, ngay từ nhỏ Dã Tượng đã nổi tiếng trong làng, là một đứa trẻ chạy bộ nhanh nhất. Cậu bé thường tổ chức với bạn bè những cuộc chạy thi băng qua những cánh đồng và luôn luôn cậu là người về nhất.
 
Nhờ thế, càng lớn tài nghệ Dã Tượng càng phát triển. Chàng đã chạy đua với ngựa và không bao giờ chịu thua. Chạy nhanh như vậy nhưng chàng không bao giờ biết mệt và chàng cũng tạo được một thân hình vạm vỡ, một sức khỏe vô địch.
 
Vì Dã Tượng có tài, nên tiếng tăm đồn đãi ngày một xa. Dần dà, chàng được Hưng Đạo Vương mến mộ và cho làm Bộ tướng, lúc nào cũng theo hầu cận bên cạnh.
 
Mỗi lần ra trận, Vương cỡi ngựa, Dã Tượng chỉ chạy bộ và lúc nào cũng vượt qua đầu ngựa. Khi xuất trận, giặc cưỡi ngựa xông ra, ông chỉ chạy bằng chân để đánh. Tên nào đánh không lại phóng ngựa bỏ chạy, ông chạy bộ đuổi theo và kéo lại bắt sống. Giặc phải nể sợ tài chạy bộ của ông.
 
Có lần Hưng Đạo Vương bị giặc vây khốn phải bỏ ngựa, ông đã tình nguyện làm ngựa cõng Vương chạy thoát khỏi vòng vây khốn của địch mà không hề biết mệt.
 
Những lực sĩ chạy bộ, chiếm giải vô địch ở các thế vận hội ngày nay chắc chưa hẳn đã hơn được Dã Tượng ngày xưa... Ngày xưa Dã Tượng đã đem tài riêng của mình ra giúp nước, nên tài của ông đã được nhắc nhở trong sử xanh, lưu truyền đến ngày nay... và ngày nay chúng ta mỗi lần nhắc đến tên vị anh hùng đó ta vẫn kính phục tài chạy bộ của Dã Tượng.
 
 
TRỊNH CÔNG TRUYỀN       
(sưu tầm)                  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 48, ra ngày 23-7-1972)

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

CÁ MẶT TRĂNG - Hải Ly

 


Cá mặt nguyệt còn gọi là cá mặt trăng, người Pháp gọi là Poisson Lune, người Anh và Mỹ lại gọi là Sun Fish (cá mặt trời) và các nhà khoa học trên thế giới đã khai sinh cho nó cái tên MOLA - MOLA hoặc ORT HAGORISCUSMOLA.
 
Ta có thể nói rằng chưa có một loại cá nào có hình dáng đặc biệt như vậy : bề ngang tròn như quả ballon và bề dọc thì dẹp. Mới trông người ta chỉ thấy chiếc kỳ trên lưng dựng đứng và chiếc vi hậu chĩa xuống, ai cũng nói là cá mặt trăng không có đuôi.
 
Sự thật thì đuôi cá Mặt trăng đã làm thành một đường viền tuyệt xảo, bao quanh cả thân mình cụt lủn gần ngay khúc đầu "vĩ đại".
 
Cá mặt trăng không có vi bụng, chiếc vi bụng xòe ra như nan quạt bên cạnh những bộ phận phát sinh ra ánh sáng.
 
Những đêm tối, chỉ có ánh sao lấp lánh trên vòm trời, các ngư phủ ra khơi thường được trông thấy một hiện tượng lạ lùng : Cả một khoảng rộng nơi trùng dương, mặt nước lấp lánh ánh sáng như có một ánh đèn soi từ dưới lên.
 
Khi họ tới gần, nhìn trời nhìn nước chỉ thấy một vùng ánh sáng đang di chuyển một cách nặng nề.
 
Họ thả lưới và bắt được dễ dàng vì nó bơi thật chậm chạp. Nó cũng không kháng cự để cho các ngư phủ bắt.
 
Đám ngư phủ hò nhau kéo lên thuyền, ánh sáng trên mặt nước cũng vụt biến mất. Họ cùng nhau ngắm xem con cá lạ. Hình nó giống mặt trăng và đầu nó tỏa ra ánh sáng huyền ảo trên mặt nước nên họ đặt cho nó cái tên thông thường là  : cá Mặt trăng.
 
Cá Mặt trăng, thật là nôm na dễ hiểu, nhưng người ta lại muốn "thi vị hóa" cho nó cái tên là cá Hằng Nga.
 
Loại cá này đặc biệt là đầu nó cân nặng cả hàng trăm ký mà bộ óc chỉ cân được không quá 4 lạng.
 
Người ta chưa thể nào giải thích được tại sao một loài cá bơi thật chậm chạp, nặng nề mà lại không có một thứ "vũ khí" nào để tự vệ, lại sống ở vùng biển khơi, chỉ thích hợp với loại cá xá, cá mập hay loại cá viễn du.
 
Nó thích sống đơn độc một mình, ít khi người ta gặp một cặp cá MẶT TRĂNG.
 
Họa hoằn lắm cá mới lân la vào gần bờ. Lần đầu tiên, vào mùa thu năm 1885 Hoàng thân Monaco Albert I bắt được mấy con ở vịnh Gasconge. Tới mùa thu 1912 các ngư phủ Pháp bắt được 1 con ở gần bờ biển Manche và năm 1921, người ta cũng gặp nó xuất hiện ở gần bờ biển Thái Bình Dương.
 
Một nhà bác học Anh đã nhận xét cá Mặt trăng ở miền nhiệt đới lại có màu sắc tuyệt đẹp. Nhìn những màu sắc lộng lẫy của con Lamprisluna, người Pháp thường gọi là "Opah" nhà bác học đó đã nói rằng: "Cá khoác lên mình bộ lễ phục sặc sỡ của bầy tiên múa khúc nghê thường trên Cung Quảng".
 
 
HẢI LY      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 46, ra ngày 9-7-1972)


Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

CẶP KÍNH CẬN - Mân Linh

 


Linh tức quá nói to hơn:
 
- Bọn bay, tao về nói Má đó nghe.
 
Quả thật câu nói đó có vẻ linh nghiệm nên bọn nhỏ đều rút hết. Bây giờ Linh mới thấy khỏe khắn hơn, Linh dỡ đôi kính cận thị ra lau chùi vì đầy mồ hôi nhễ nhại. Cũng bởi cái kính này mà bọn nhỏ mới chọc, nhiều lần Linh muốn bỏ đi nhưng chợt nhớ lại cục u trên đầu là Linh không dám bỏ. Có một lần vì tức bọn nhỏ, Linh liền bỏ đôi kính ra và đi lần lần ra cửa, bỗng Linh thấy mình đang "so tài" với cột nhà, chớp nhoáng đầu Linh đã có một cục u rồi. Thế là bọn nhỏ lại chọc thêm cho nên đến bây giờ Linh không dám bỏ đôi kính nữa.
 
Lúc đầu chỉ có một mình thằng Long, nhưng sau đó đến thằng Lân, rồi con Liên, chúng đều cùng một âm thanh: "Bà Bác-Sĩ". Cứ thể, hễ vắng mặt Ba Má Linh là bọn nó lại chọc. Linh nghẹn ngào tức tưởi mà không làm gì được, mỗi lần Ba Má về là Linh liền đem câu chuyện này ra nói nhưng Ba Má Linh đều bỏ qua cả. Cho đến một hôm, Linh đang rửa mặt thì bọn nhỏ lại lẻn vào giấu kính, khi rửa xong sờ soạng không thấy kính đâu, Linh hốt hoảng đi tìm nhưng không được bèn gọi người giúp việc dẫn ra dùm. Rồi câu chuyện này được Linh trình bày cho Ba Má, thế rồi các "anh chị" sau của Linh đều được hưởng bánh tét bằng mây của Ba Linh tặng, lại thêm phần quỳ gối nữa đó, được dịp may Linh cứ đi qua đi lại để chọc mà trả thù. Kìa bộ mặt của con Liên vui chưa, cái miệng méo xẹo, chỉ có thằng Long thằng Lân mới anh hùng, vẻ mặt hầm hầm của chúng làm Linh phải khiếp sợ...
 
Một buổi sáng, Linh vừa bước dậy đi lấy kính thì vấp phải một cái ghế của ai đặt tự bao giờ, đầu của Linh đánh xuống nền gạch, vài tiếng cười lại khúc khích nổi lên và Linh thiếp vào hỗn loạn.
 
Đợi lâu rồi mà không thấy Linh ra, thằng Long bèn mở cửa bước vào thì...
 
- Ba Má ơi, chị Linh sao vậy nè.
 
Nghe tiếng la của Long, Ba Má hốt hoảng chạy vào, trong lúc đó thằng Long, thằng Lân sợ cuống đit vì tội của mình.
 
Khi Linh tỉnh dậy, Linh thấy đang nằm giữa bốn vách tường sơn trắng, Linh đưa hai tay lên đầu thì thấy quấn một lớp băng. Một tiếng động nhỏ vang lên làm Linh nhổm đầu ngồi dậy nhưng không tài nào ngồi được. Linh choáng váng mặt mày nhớ lại hồi sáng. Tiếng nói của Ba Linh cắt ngang trí của Linh:
 
- Đỡ chưa Linh, có Ba và mấy em con vào thăm con nè.
 
Linh bèn mở mắt ra nhìn Ba, nhìn mấy đứa em, đứa nào cũng buồn rầu, duy chỉ có con Liên là đôi mắt đỏ hoe. Linh bèn gọi mấy đứa em lại và bảo:
 
- Các em thấy hậu quả do các em gây ra chưa.
 
- Dạ thấy.
 
Tiếng của thằng Long lại vang lên:
 
- Chúng em xin lỗi chị và hứa là không bao giờ chúng em chọc chị nữa.
 
Linh sung sướng ôm các em vào lòng mà hôn, bây giờ Linh mới thấy tình chị em thật là thắm thiết.
 
Đầu phòng, Ba Linh lại nở nụ cười sung sướng trên khuôn mặt héo hắt già nua.
 
 
MÂN LINH         
(Bồ Đề Đà Nẵng)     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 49, ra ngày 30-7-1972)


Thứ Ba, 14 tháng 7, 2026

HỒN HỌC TRÒ - Cỏ Biếc

 

 (Gởi em đó, Cỏ Tím)

Giữ mắt trong hoài nhé bé thơ
Ngàn cây xếp lá tự bao giờ
Bé nghe không gió về nhắn nhủ
Lời thiết tha cho hồn ngây thơ.
 
Bé có nhặt hoa chiều lang thang?
Gió mây nhốt mấy cụm hoa vàng?
Bên trường bé cổng vôi cổ kính
Chân non ngại bước nỗi gian nan
 
Chim nhỏ trú chân giữa ngọc ngà
Bé cười môi thắm nét kiêu sa
Hoa mới nở mau ra ngắt lấy
Ép giữa giấy trong hồn thiết tha.
 
Nét chữ ngoan với màu mực xanh
Ngủ yên giữa giấy trắng muôn tình
Tay bé mềm xinh như bông bưởi
Màu giấy chậm hồng nét nguyên trinh.

Tay quen cầm bút bé chép bài
Hồn nghe lời giảng với ngất ngây
Nụ hoa nở giữa lòng thanh khiết
Giữ hoài bé nhé tuổi thơ ngây.

                                          CỎ BIẾC
                                          (bn Hoa Tiên)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 48, ra ngày 23-7-1972)


Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

NGÀY HÈ - Hbon

 

Còn trong tuổi Thiếu Nhi
Ấu thơ chưa biết gì
Hè về vui mừng lắm
Chẳng ngập ngừng chia ly

Đường phố đi lang thang
Mặc cho tiếng ve than
Với hoa phượng đỏ thắm
Tuổi nhỏ la hét vang

Rồi một ngày không xa
Với bầu trời trưa hạ
Nghe ngậm ngùi nuối tiếc
Tuổi đời đầy trong ta

Ngày thơ đã đi rồi
Nhìn lại thấy xa xôi
Nỗi buồn thêm lắng đọng
Như mây thu trong trời!...

                                    HBON
                                  (Tháp Chàm)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 42, ra ngày 11-6-1972)


Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

HỐI HẬN - Phạm văn Đức

 

 
Thằng Thành vừa đi song song với tôi ra cổng trường, miệng nó tía lia:
 
- Tao đoán đâu có sai, "ổng" ăn hiếp mình quá hả mày!
 
Tôi bực dọc đá viên sỏi trên lối đi:
 
- Mày nói tiếng nữa coi chừng tao à.
 
Tôi nói như thế chứ Thành "tả oán" vậy cũng không phải là vô lý (tôi nghĩ vậy) vì hai giờ Việt văn của Thầy Lương, tôi và một số các bạn khác trong đó có nó phải bất đắc dĩ nghe một bài đại luận dài gần hai trăm trang, nào là ngu như lợn, lười như sên, để rồi kết luận bằng hai con "dê rô" to tướng.
 
Đó là hậu quả của cuộc du hí trong rạp hát ngày chủ nhật rồi quên làm bài.
 
Thế nên tôi oán thầy Lương, oán những bài soạn mà thầy cho và oán luôn cả ngày thứ hai trong tuần, cái ngày thứ hai "xui xẻo" ấy nó làm cho tôi phải phập phồng lo sợ, ngồi xuống ghế lại bật ngay dậy như ngồi phải cục than hồng trong đó có chứa đựng cặp mắt khủng khiếp của thầy Lương. Cầm viết nắn nót được hai chữ bình giảng tôi tưởng chừng như làm xong một việc nặng nhọc đến toát mồ hôi. Không phải tội.
 
Tiếng thằng Thành vang lên:
 
- "Ổng" mà biết mình nói thầm thì tức lắm chứ chả chơi đâu.
 
Tôi cười nhẹ như biểu đồng tình.
 
- Thôi tới làm một ly cho đỡ khát.
 
Ly nước mát lạnh làm cơn tức của tôi nguôi dần.
 
Bỗng thằng Thành hích cùi chỏ:
 
- "Ổng" kìa mày!
 
Thằng Thành nói lớn quá làm thầy Lương nghe thấy, thầy quay lại, tôi tưởng ít nhất cũng một cái xoắn tai rồi lên văn phòng lãnh giấy cấm túc. Tôi rủa thầm:
 
- Cái thằng đần độn này mày hại tao rồi!
 
Nhưng may thay, thầy Lương chỉ quay lại, đóng cái cặp mắt sắc như "mã tấu" vào giữa mặt làm tôi choáng váng tưởng chừng như cả một tấn sắt áp vào.
 
- Đỡ quá mày, tao cứ tưởng...
 
- Tưởng con khỉ, lát nữa coi chừng có giấy mời lên văn phòng đó.
 
Thằng Thành trả tiền xong kéo tôi vào chỗ vắng nói nhỏ:
 
- Tao nghĩ mình nên kiếm cách chơi "ổng" một vố.
 
Tôi tán thành và nó đưa ra nhiều ý kiến nhưng đều bị tôi bác bỏ vì hành động là lộ tẩy ngay, ý kiến của thằng "ngu si" ấy nó cũng "ngu si" nốt, cuối cùng tôi "nặn óc" mới ra. 
 
Tối chúa nhật đi qua, sáng thứ hai trở lại với tôi, cái ngày thứ hai có biệt danh là "thứ hai kinh khủng" ấy đem lại cho tôi nhiều nỗi lo âu lẫn khoái trá vì sắp được trả thù!
 
Trong suốt thời gian ấy thằng Thành hết hích cùi chỏ, lại nháy mắt cười ruồi có vẻ thích thú.
 
Tiếng ồn ào bỗng im bặt, chỉ còn nghe tiếng nói nho nhỏ:
 
- Ê! Ổng vô kìa.
 
Dáng người nhỏ thó xuất hiện ở ngưỡng cửa.
 
- Nghiêm!
 
Thầy vừa vẫy tay vừa bước tới.
 
- Thôi các em ngồi xuống...
 
Tiếng "xuống" vừa dứt thì người thầy Lương chao đi lảo đảo, cuốn Việt văn và cặp kính cận cùng rớt ra một lượt. 
 
Sau giây phút ngạc nhiên cả lớp bỗng cười rộ lên, mà trong số đó có hai kẻ cười to nhất, thì ra ai đã quái ác đặt cây thước bảng giữa lối làm thầy Lương phải lãnh đủ, kẻ đó không ai xa lạ mà chính là tôi, tôi đặt cây thước giữa lối đi khi thấy bóng thầy Lương thấp thoáng ở phòng giáo sư. Lượm cặp kính lên cùng cuốn sách, thầy Lương trịnh trọng đeo vào và đảo mắt xuống phía dưới, cặp mắt sắc như dao ấy dừng lại giữa mặt tôi.
 
- Trò nào?
 
Cả lớp im phăng phắc, tôi vẫn phớt tỉnh "ăng lê" nhưng trong lòng bấn loạn vô cùng. Thầy nhìn tôi một lúc lâu rồi bước lên bục gỗ nói:
 
- Các trò coi chừng tôi.
 
"Coi chừng tôi" có nghĩa là sẽ dồn sự tức giận vào bài vở mà thầy sắp cho, liên tiếp sẽ là cú đầu, xoắn tai, sẽ là ngu như lợn v.v...
 
Quả nhiên thầy Lương ra lệnh:
 
- Lấy vở ra chép bài.
 
Thầy gỡ cặp kính bước xuống bàn, bỗng thầy bước vội lên bàn chụp cặp kính đeo vào và đảo mắt nhìn lên bảng.
 
- Trò nào viết hàng chữ này?
 
Lại một trận cười ròn rã vang lên, tác giả hàng chữ này chính là thằng Thành, nó nắn nót từng chữ to tướng:
 
Ông Lương bốn mắt hai mày
Dáng đi lạch bạch như bày vịt xiêm
 
Sau bữa đó thầy Lương phải cực khổ đẩy chiếc xe đạp lép kẹp cả hai bánh mà đi kiếm chỗ bơm, mỗi lần như vậy, hai thủ phạm đứng cuối sân chơi cười khúc khích.
 
Lần sau tôi bỗng chú ý đến chiếc xe honda dame cũ rích của thầy Lương, vì cả một bộ máy rắc rối có thể hư hại nặng chỉ vì một vật nhỏ bé như cát hay hạt muối.
 
Muối là một chất mặn có thể làm rỉ sét các chất kim loại, thế là ra rồi, tôi cũng la lớn "ra rồi, ra rồi" như Archimède ngày xưa vậy. Thế là tôi sẽ tà tà bỏ vào bình xăng xe của thầy Lương một nắm muối và thầy sẽ lãnh đủ cái hậu quả tai hại của những "hồng ân" mà thầy đã "ban" cho tôi ở những ngày đã qua, tôi không ngờ mình thông minh quá, tôi học cái ý kiến cho thằng Thành biết, nó khen lấy khen để, nó còn nói:
 
- Mày phá hoại kiểu khoa học.
 
Tiếng ồn ào trong lớp càng ồn ào thêm khiến tôi khó chịu. Sở dĩ có trường hợp "bất trị an" như vậy vì sau khi tôi bỏ muối vào bình xăng xe của thầy Lương, máy hư mà thầy không có tiền sửa nên thầy phải đi dạy bằng xe lam, mỗi ngày thầy trễ ít nhất phải là hai mươi phút, có lần vào trễ thầy bị ông hiệu trưởng kêu lên văn phòng, lúc trở xuống mắt thầy đỏ hoe.
 
Bắt đầu từ lúc ấy tôi mới thấy cái xót xa nó thấm thía vào tâm hồn khi nhìn thấy ánh mắt thống khổ của thầy Lương, ánh mắt thầy nó chỉ chứa đựng một sự chán nản và buồn thảm. Cái ngày "thứ hai kinh khủng" được trí óc tôi đảo ngược lại là "thứ hai buồn thảm". Ánh mắt thầy đi chung với ngày thứ hai ấy.
 
Bỗng dưng tôi thấy thương thầy vô hạn (tôi không phân biệt được thương thầy với lòng thành hay là thương hại), nhất là nghĩ đến bài luận văn mà thầy phát ra có phê hàng chữ:
 
Rất khá! Có tiến triển.
 
Thì ra thầy nào có ác ý với tôi đâu, thế mà tôi cố tình ám hại thầy.
 
Tôi có thể làm thế chăng? Tôi có thể đang tâm thù hằn một kẻ đáng gọi là cha, kẻ đã dạy tôi biết làm bình giảng, biết sáng tác ra một đoạn văn. Bây giờ tôi đã hối hận, thốt ra hai tiếng hối hận tôi cảm thấy trút được một phần gánh nặng tâm hồn, phần còn lại đến bây giờ tôi chưa trả được.
 
Bây giờ tôi không cần biết thầy Lương có ác cảm với tôi không mà chỉ cần biết đã có thêm một kẻ biết được cái tình thầy trò thiêng liêng cao quý nhất. 
 
Kính dâng hương hồn của một người thầy đã khuất núi, và gởi những ai đã oán thầy, đang oán thầy và sắp oán thầy.
 
 
PHẠM VĂN ĐỨC      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973)