Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

CHUYỆN CON RÙA - Trường Kỳ

 


Cuộc chạy đua giữa Rùa và Thỏ cho dù có đem lại thắng lợi cho rùa nhưng rùa vẫn mang tiếng là chậm chạp. Các cuộc nghiên cứu về nhiều loại rùa trên thế giới đã chứng tỏ rùa còn chậm chạp về nhiều phương diện khác nữa, chẳng hạn như sự tăng trưởng. Nhưng càng chậm càng chắc, các chú rùa tà tà sống chừng hai, ba thế kỷ mới chết.
 
Loài bò sát thời tiền sử đã tiến hóa chậm chạp, một số lớn đã biến mất, số còn lại đã thích ứng và biến đổi để trở thành loại bò sát ngày nay như con thằn lằn hay cá sấu, rùa cũng thuộc loại bò sát nhưng hầu như người ta chưa tìm thấy được sự tiến hóa nào đáng kể vì mai rùa càng ngày càng phát triển hầu như mỗi năm một lớp vỏ mới được thành lập trừ ra một loại rùa biển có tên là rùa Linh có sự tiến hóa đôi chút. Rùa có nhiều loại khác nhau như ba ba, đồi mồi, rùa biển, rùa đất, rùa lưỡng thê... đặc biệt đồi mồi là loại rùa có nhiều mầu sác óng ả nhất, mai đồi mồi gốm những tấm cứng như xương hình đa giác màu sắc khác nhau, ở ngực các tấm đó da mỏng hơn nhưng màu sắc lại linh động hơn. Đầu và đuôi rùa rất hoạt động, ló ra thụt vào nhanh chóng, nhưng 4 chân còn lại thì hầu như rùa không biết giấu ở đâu ngay cả khi gặp nguy hiểm, chân trước ngắn hơn chân sau tất cả đều có hai công dụng là vừa bò, vừa bơi.
 
Rùa biển thường sống rất lâu có thể từ 200 đến 300 năm nếu như môi trường sinh sống thuận lợi cho sự tăng trưởng của chúng, trung bình rùa biển chỉ thọ được khoảng 100 năm, chúng thường chết vì những bệnh tăng trưởng hoặc ho lao, rùa biển sống trong các vùng biển nhiệt đới, chúng bơi lội giống như cá  voi, nhưng người ta dễ phân biệt nhờ màu sắc óng ả của bộ mai, muốn tăng trưởng chúng cần rất nhiều vôi trong thực phẩm của chúng do đó chúng có thể ăn ngay cả sò, ốc biển... Rùa mẹ đẻ trứng trong những hố cát, số trứng thay đổi hàng năm từ 10 cho đến một ngàn trứng, sau khi đẻ xong rùa lùa cát lấp đầy hố bỏ đi không hề thắc mắc về số phận của lứa con ra sao, nhờ may rủi và sức nắng, độ ẩm của cát, rùa con có thể nở ra ba tháng sau đó.
 
Một loại rùa có tên là rùa xanh sống tại vùng biển Franlbre nước Pháp có vóc dáng rất to lớn, đường kính của mai rùa khoảng 1m30 và chúng cân nặng trung bình từ 150 đến 180 kilo. Vào thời kỳ đẻ, rùa mẹ đẻ liên tiếp ba lần, cách nhau 15 ngày khoảng 500 trứng vào chung một hố. Trứng rùa rất ngon cũng như thịt rùa do đó các ngư phủ thường chờ đợi chúng trên bãi cát trong mùa đẻ để bắt cả rùa lẫn trứng sửa soạn những bữa tiệc ngon lành. Do đó một thời kỳ người ta có cảm tưởng loại rùa biển này biến mất và chính phủ Pháp đã can thiệp để ngăn chận hành vi của các ngư phủ. Người ta cũng săn rùa bằng thuyền tam bản với một người chèo và hai người kia sẵn sàng lật ngửa chú rùa đang lội trên nước, nhưng dù sao phương pháp này cũng nguy hiểm, do đó tại vùng Antilles và Madagascar người ta câu rùa bằng những sợi dây thật dài và chắc, dĩ nhiên là chỉ có thể bắt được loại rùa nhỏ bé cân từ 5 tới 10 kilo mà thôi.
 
Đồi mồi là một loại rùa biển nhưng nhỏ bé hơn, dài từ 80 đến 90cm, chúng thường sống trong các hốc đá ven biển, mai đồi mồi thường có màu nâu óng ánh rất đẹp mắt. Các ngư phủ thường bắt chúng để lấy thịt và mai được dùng làm đồ trang sức. Loại đồi mồi Luth hay còn gọi là đồi mồi "da", vì mai của nó không còn cứng và nặng nề nữa mà được thay thế bằng lớp da dầy. Các nhà sinh vật học cho rằng đây là một loại rùa tiến hóa nhất. Những ngư phủ già sống nhiều năm tại ven biển vùng Nam Mỹ đã thuật lại, họ đã bắt được những con rùa loại này và chúng thường dài đến 2m2 và nặng trên 500kg.
 
Loại rùa Lưỡng Thê vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước, hàng ngày chúng sống trên bờ bên cạnh những hốc đá vôi và khi nắng lên chúng ùa xuống nước bơi lội và kiếm thức ăn, loại này có răng rất nhọn, khi chúng bơi lội thì các tuyến hơi trong cơ thể phồng lên và tiết ra một chất nhờn chống nước vào cơ thể và áp suất, loại rùa này có rất nhiều tại vùng Địa Trung Hải, vùng Đông Nam Á Châu. Chúng còn có tên là rùa đất vì màu sắc của mai gần giống màu đất, vóc dáng chúng tương đối nhỏ bé hơn hết, con lớn nhất chỉ dài khoảng 50cm. Thực phẩm của chúng có thể là cá, trứng, ếch, nhái... Rùa mẹ đẻ khoảng 12 trứng vào một hố đất, nhờ ánh sáng mặt trời, rùa con sẽ nở ra khoảng 15 tuần lễ sau đó. Sự tăng trưởng đối với loài rùa rất chậm chạp, sau một năm rùa con chỉ cân nặng khoảng 5g, hai năm chúng nặng khoảng 12g, ba năm 20g, và khi chúng nặng được 100g thì phải mất 9 năm trời. Rùa đực được coi là trưởng thành khi chúng được 12 tuổi, còn rùa cái có thể đẻ được khi chúng được 18 tuổi. Loại rùa này chỉ sống lâu khoảng từ 50 đến 100 năm.
 
Với vóc dáng mạnh mẽ, rùa chịu đựng rất giỏi, loại rùa biển có thể chịu đựng một sức nặng đến 10 tấn đè lên trên mà không hề hấn gì. Nhưng đối với những con rùa mới nở chúng lại dễ "vỡ" vì lớp da bên ngoài chỉ là một lớp như vỏ trứng, bởi đó loài rùa đã chứng kiến những cảnh tàn sát man rợ nhất tại vùng biển Madagascar, hàng ngàn con rùa con mổ vỏ để chạy tung tăng trên bãi cát trong khi đó loài ó biển đã chờ sẵn, chúng chỉ cần lượn một vòng hàng chục rùa con đã rơi vào bao tử.
 
Rùa cung cấp cho con người những bữa ăn thịnh soạn và ngon lành nhất, đồng thời rùa còn được dùng làm đồ trang trí, hoặc  nuôi làm thú chơi trong nhà.
 
 
TRƯỜNG KỲ         
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 58, ra ngày 1-10-1972)

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

TUỔI 14 - Thảo

 

14 tuổi chưa cài trâm lên tóc
Hay giận hờn, hay khóc dỗi ba me
Hay trộm hoa, đuổi bướm những khi về
Chiều tan học đứng vân vê tà áo.

14 tuổi hồn nhiên chân chim sáo
Môi ngọt ngào thơm ngát dấu ô mai
Khi thẹn thùng đôi má đỏ hây hây
Bàn tay nhỏ xinh như hai tháp ngọc.
 
14 tuổi tâm hồn em mở rộng
Lời thầy cô mong ước đến ngày mai
Học trò cô rực rỡ đón tương lai
Hãy ôm trọn những tháng ngày tuổi nhỏ.

14 tuổi vòng tay ôm sách vở
Buổi đến trường tươi nở nụ cười xinh
Mắt rạng ngời như ánh nắng bình minh
Tuổi 14 nghìn xưa êm ái quá!

                                              THẢO (Phú Lâm)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 107, ra ngày 14-9-1973)



Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

CON CHỒN ĐÈN - Đặng Hoàng

 

Xuất hiện trên cao nguyên nơi trồng cỏ và cây cối rậm rạp hay trong các thung lũng thuộc vùng rừng núi thâm u, đôi khi dám lần mò về đồng bằng - có đất phù sa - để sinh sống, chồn đèn là con vật hiền lành, dạn dĩ, dễ thương. Hiện nay giống này trở nên khan hiếm nếu không muốn nói bị diệt chủng vì người ta thấy chỉ còn lại rất ít tại một vài địa điểm ở Âu Châu, Phi Châu, miền Tiểu Á và Á Châu mà thôi.
 
Vốn thuộc loài ăn thịt, dài khoảng tám tấc tới một thước, ấy là chưa kể tới chiếc đuôi dầy, dài từ ba tới năm mươi phân, cao quãng hai tấc, nặng bảy tám ký lô, chồn đèn đầu ngắn, tai tròn lại nhỏ, mắt bé, mõm nhọn, chân thấp gồm năm ngón với những móng vuốt sắc bén (nhưng không có tính đàn hồi như ở loài mèo).
 
Toàn thân chồn đèn mang một bộ lông mầu nâu rất đẹp, và đó chính là nguyên nhân khiến các tay thợ săn đổ xô đi lùng kiếm nên loài này bị sát hại khá nhiều. Thêm vào đó chó sói, linh miêu, đại bàng và sơn cẩu cũng thích rình bắt chồn đèn để ăn thịt. Bởi vậy, nó rất ít khi đi tìm mồi lúc ban ngày mà thường dành về đêm, vì lẽ chúng hay kéo cả gia đình ra khỏi hang đào sâu dưới lòng đất để sục sạo tìm kiếm tất cả các con vật thuộc loài gặm nhấm (như chuột, sóc, thỏ, ngân thử v.v...) và bò sát (như thằn lằn, kỳ nhông, tắc kè, nhất là rắn). Chồn đèn cũng ưa săn bắt chim rồi tìm đến tận ổ để ăn trứng, ngoài những lúc mò tôm, tép, cua, cá, ốc bên dòng suối hay sông, hồ.
 
Chồn đèn cái thường đẻ từ hai tới bốn con. Tất cả đều sống chung với nhau thành một bầy chứ ít chịu ở riêng rẽ. Cũng vì gia đình chồn đèn sống đông đảo tại một tổ như vậy nên không thể tránh khỏi thiệt hại khi địa điểm này bị khám phá. Lúc đó, chồn đèn rít lên những âm thanh chát chúa tựa hồ tiếng sáo cao vút với một điệu đều đều buồn tẻ trong lồng của thợ săn.
 
Một trong số hai chục loại chồn đèn còn sót lại ngày nay là loại chồn đèn sống tại Phi Châu và Á Châu. Hiện loài chồn đèn đang được bảo vệ triệt để trong những khu vực tập trung ngõ hầu tránh bị diệt chủng.
 
 
ĐẶNG HOÀNG (sưu tầm)     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 58, ra ngày 1-10-1972)


Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

CON TÊ GIÁC - Đặng Hoàng

 

Với dáng vẻ lờ đờ, chậm chạp, thân hình to lớn nặng nề, cục mịch và cặp sừng kỳ lạ tựa quái vật thời tiền sử, tê giác là con vật hiền lành được coi như không có kẻ thù - trừ loài người - trong chốn rừng xanh.
 
Theo các nhà cổ sinh vật học, tê giác đã xuất hiện trên trái đất ngay từ đầu nguyên đại đệ tam và đệ tứ (cách đây chừng 60 triệu năm) tại Mỹ, Âu, Phi và Á Châu, cùng thời với Khổng Tượng và Trụ Nha. Nửa thế kỷ trước, tê giác còn sống rất đông đảo, nhưng hiện nay chúng trở nên hiếm hoi chỉ còn thấy rất ít ở một số quốc gia Phi và Á Châu mà thôi.
 
Trung bình tê giác cao khoảng thước rưỡi, dài hơn ba thước, to như trâu mộng, nặng trên 1 tấn, đầu nhỏ, mắt bé, hai tai ngắn. Đặc biệt, tê giác có một hay hai sừng nhọn hoắt mọc ngay trên sống mũi - do lớp lông dính chặt vào nhau cứng ngắc nhô lên khỏi lớp da tạo thành - sừng này dài cỡ nửa thước giúp nó húc vào bụi cây để tìm đường xuống suối uống nước và để tự vệ chống lại kẻ thù khi cần. Riêng bốn chân tê giác vừa ngắn lại vừa tròn với móng tầy như loài voi nên so với thân mình đồ sộ của nó thực chẳng cân đối chút nào. Đã vậy, đuôi tê giác bé quá và cụt lủn như đuôi lợn trông càng thêm kỳ dị.
 
Món ăn chính của tê giác gồm cỏ, mầm non, lá thân cùng rễ các loại cây mềm. Chúng thường xuất hiện trong những vùng rừng núi yên tĩnh, bên bờ suối, đôi khi tại những đồi trọc khô khan người ta cũng thấy bóng dáng tê giác, mặc dù chúng rất ưa thích nước, nhưng vẫn có thể nhịn uống cả tháng.
 
Thời gian tê giác ưa thích nhất để đi kiếm ăn là lúc mặt trời lặn trở đi cho tới sáng. Nếu gặp con suối, đềm lầy, vũng bùn là tê giác dầm mình xuống, lăn lộn một hồi cho đã rồi leo lên bờ cọ mình vào thân cây hay vách đá như thể ta gãi gãi chỗ ngứa vậy. Bình minh trở lại, tê giác tìm các nơi có bóng cây rậm rạp, hay bụi bờ chui vào nằm ngủ. Điểm tức cười là đôi lúc nó đứng yên lặng, đầu cúi gằm xuống rồi ngủ gà ngủ gật suốt ngày như anh chàng say rượu vậy.
 
Tê giác sống rất cô độc: một mình hoặc từng cặp với một vài đứa con. Sau mười tám tháng cưu mang, tê giác cái mới đẻ và chỉ sinh một con mà thôi. Ngay khi lọt lòng mẹ, tê giác con đã cân nặng tới hai mươi bẩy, hai mươi tám kilô và được mẹ săn sóc liên tiếp trong hai năm, sau đó bắt đầu theo cha mẹ đi kiếm ăn. Tới lúc đủ bẩy, tám tuổi, nó tự ý tách khỏi "đại gia đình" để tự lập như hồi cha mẹ nó còn nhỏ vậy.
 
Tùy theo vùng chúng ở và từng loại, tê giác có mầu sắc khác nhau: đen sậm, nâu, xám hay trắng xám, nhưng tựu chung, lớp da của chúng rất dầy, dầy tới hai ba phân lận và có khi kết thành từng mảng chẳng khác gì các chiến sĩ mặc áo giáp vậy.
 
Bề ngoài tê giác có vẻ dữ tợn, nhưng thật ra nó rất hiền lành, nhút nhát nên hay hốt hoảng vì nó không nhìn xa được, mặc dù thính tai, tinh mũi. Do đó, nhiều khi thợ săn len lỏi vào gấn sát tê giác mới nhận ra. Lúc đó nếu thiếu kinh nghiệm lại không lanh lợi, thợ săn chưa kịp ra tay đã bị nó hạ ngay bằng cách lao thẳng cặp sừng nhọn hoắt vào đối thủ lẹ như chớp. Chúng ta cũng cần biết thêm dù thân xác to lớn, đồ sộ, tê giác vẫn thừa khả năng chạy nhanh tới 30 dặm 1 giờ và leo trèo lên các đồi dốc, bờ đá thật dễ dàng chẳng khác gí sư tử, hổ, báo, gấu v.v... Vốn kèm thông minh, tê giác thường "kết thân" với một vài loại chim như giống cò trắng nhỏ xíu, chim sâu v.v   để nhờ những con vật bé bỏng này vừa thanh toán hộ các chú bọ bám trên đốt cổ, lưng vẫn làm nó ngứa ngáy khó chịu, vừa là "tổ báo động" mỗi khi chúng thấy dấu hiệu hiểm nguy - nhất là bóng dáng thợ săn xuất hiện đâu đó - là kêu ầm ĩ rồi vội vã bay đi, nhờ vậy tê giác đủ thì giờ lẩn trốn.
 
Người ta phân ra nhiều loại tê giác:
 
a) - Tê giác Phi Châu: Gồm hai thứ:
 
- Tê giác đen.
 
- Tê giác trắng.
 
Loại tê giác Phi châu có hai sừng, da nó liền chứ không chia từng mảng. Riêng tê giác trắng (gọi là trắng chứ thực ra da nó trắng xám) gần như tuyệt chủng. Hiện tại sở thú Luân Đôn có nuôi một con tê giác trắng, sứng của nó rất dài (mỗi cái ngót hai thước).
 
b) - Tê giác Á Châu: Gồm 2 thứ:
 
- Tê giác xám.
 
- Tê giác nâu.
 
Loại tê giác Á Châu chỉ có sừng duy nhất (tuy cũng có con mang hai sừng, nhưng sừng thứ nhì này rất nhỏ) và lớp da chia từng mảng như áo giáp.
 
Nói chung, tê giác càng ngày càng trở nên khan hiếm vì bị giết hại quá nhiều. Thổ dân Phi Châu thường dùng tên và lao tẩm thuốc độc bắn vào những yếu điểm trên mình con vật, để lấy thịt. Riêng tại Á Châu, người ta lấy da và nhất là cặp sừng tê giác làm các vị thuốc chữa bệnh.
 
Hiện nay loài này đang được bảo vệ rất gắt trong những khu tập trung để tránh bị diệt chủng.
 
 
ĐẶNG HOÀNG (sưu tầm)     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 59, ra ngày 8-10-1972)


Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

THÔI! - Thơ Thơ

 













Thôi, hè tươi thắm đã xa
Thôi, thu ủ dột rồi qua nơi này

Thôi chiều bóng đổ ngàn cây
Thôi còn chút ấm vai gầy mù sương 

Thôi mưa giăng khắp lối đường 
Thôi, lau giòng lệ vấn vương thuở nào

Thôi ngàn phượng vỹ vẫy chào
Thôi, đành hẹn gặp ngày sau tương phùng

Thôi màu nắng nhạt môi hồng
Thôi bay tà áo trắng trong học trò

Thôi, còn đâu giấc êm mơ
Thôi, cành hoa tím đợi chờ tương tư

Thôi, còn đây phút tạ từ
Thôi, xa là hết bây chừ lẻ loi...

                                        Thơ Thơ
                             (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

GIÓ - Hoàng Đăng Cấp

 


- Tại sao có gió?
- Gió là gì?
- Gió từ đâu đến?
- Vai trò của gió đối với phi hành gia không gian.
 
Chú Ba đang nằm nghe ra đi ô, bỗng bé Long từ đâu chạy xồng xộc vào:
 
- Chú Ba ơi! Chú giảng dùm cháu chỗ này một ti! Cháu không hiểu!
 
Đang thả hồn trong bài "Tám Điệp Khúc" qua tiếng hát du dương của Hoàng Oanh, chú Ba giật mình ngồi dậy:
 
- Gì đó cháu?
 
Chú Ba thấy bé Long đang cầm trong tay tờ báo Khoa Học. Bé Long là cháu chú, năm nay 15 tuổi, học lớp đệ tứ tại trung học Tinh Thần. Bé Long ưa tìm hiểu các vấn đề khoa học.
 
Bé Long chọc chú Ba:
 
- Chú bao giờ cũng vậy đó! Hễ Hoàng Oanh hát thì đố chú dám bỏ đi không nghe?! Sao chú mê Hoàng Oanh quá dzậy!?!
 
Chú Ba cười:
 
- Đâu! Chú đâu có mê Hoàng Oanh! Chú chỉ thích giọng ca thiên phú Hoàng Oanh khi hát những bài thắm tình dân tộc mà thôi! Còn nếu Hoàng Oanh hát những bài lãng mạn, ca tụng tình ái, rẻ tiền than mây khóc gió chú đâu có thèm nghe! Chú còn muốn đập ra đi ô nữa là khác vì sợ các cháu nghe, bị nhiễm độc tinh thần! 
 
Nói tới đây, chú Ba vuốt đầu bé Long và đồng thời tắt máy ra đi ô:
 
- Nào! Hỏi chú gì thì hỏi đi!
 
- Cháu đang đọc bài náo nói về vấn để phi hành trong không gian. Cháu thấy có câu như thế này, cháu không hiểu!
 
Long cầm tờ báo Khoa Học, đọc to lên:
 
- "Phi hành gia có thể bị chết bởi ngạt thở trong các phi thuyền không gian. Nguyên nhân rất lạ lùng: phi hành gia ngạt thở bởi chính hơi thở của mình. Đó là một trong những nguy hiểm lớn nhất phi hành gia có thể gặp phải khi "bay trong không gian". Tại sao kỳ vậy chú? Tại sao phi hành gia bị ngạt thở bởi chính hơi thở của mình?
 
Chú Ba thấy thương mến Long lạ lùng. Chú nghĩ nếu nước nhà không bị họa chiến tranh liên miên thì với những đứa trẻ Việt thông minh, chịu khó học hỏi như Long, dân tộc Việt đâu đến nỗi hèn kém như thế này!
 
- Chà! Cháu của chú giỏi quá! Dám nghiên cứu cả vệ tinh, phi thuyền nữa! Nè cháu nghe chú giảng đây: Cháu hãy tưởng tượng một phi hành gia đang ngủ trong hỏa tiễn của ông ta. Cháu biết con người sống nhờ oxy chứa trong không khí. Trong phi thuyền, phi hành gia chỉ thở bằng không khí mang theo từ dưới đất lên. Không khí được cung cấp và đổi mới luôn luôn nhờ những cách thức chuyên môn. Nếu không nhờ không khí này phi hành gia sẽ chết!
 
Long chận lại:
 
- Thưa chú! Như thế đâu phải phi hành gia chết vì chính hơi thở của mình!
 
- Khoan đã! Cháu chú hấp tấp quá. Chú đã nói hết đâu! Cháu nhớ rằng trong không gian không còn trọng lực nữa, tất cả mọi vật không có trọng lượng. Mọi vật sẽ dính cứng vào chỗ người ta để nó. Các phần tử của không khí cũng vậy. Nói như thế nghĩa là không khí ở trong phi thuyền bất động. Nếu phi hành gia ở vào trạng thái bất động trong hỏa tiễn (giả sử lúc ông ta ngủ), chất hơi không tinh khiết do ông ta thở ra chứa đầy chất độc thán khí sẽ ứ đọng cứng chung quanh ông ta làm ông ta ngạt thở.
 
Bé Long cười lên sung sướng:
 
- À ra thế! Cháu đã hiểu! Nhưng muốn thoát khỏi tai nạn đó, phi hành gia phải làm sao chú?
 
- Cháu nghĩ xem?
 
Bé Long nhăn mặt:
 
- Phải có gió! Để cho không khí chuyển động!
 
- Đúng! Cháu rất giỏi! Muốn thoát khỏi nguy hiểm trên, các nhà thám hiểm liên hành tinh tương lai phải có bên cạnh một quạt nhỏ để tạo ra một luồng gió nhân tạo.
 
Bé Long có vẻ như suy nghĩ một điều gì, bỗng dưng vỗ lưng chú Ba một cái bịch, làm chú la:
 
- Ái cha! Chú đã ốm mà đánh chú như thế này, chú mập sao nổi! Có điều gì thích thú thì nói chú nghe, đừng đánh chú nghe chưa ông mãnh!
 
Bé Long cười mắc cỡ:
 
- Cháu sướng quá nên quên! Xin lỗi chú! Cháu vừa nghĩ ra điều này: Mình sống ở dưới đất không bao giờ bị tai nạn trên vì luôn luôn có gió, khi thì gió hiu hiu, khi thì gió mạnh. Phải không chú?
 
- Phải đấy!
 
- Nhưng tại sao ở dưới đất có gió hoài vậy chú?
 
Chú Ba cười:
 
- Chà! Lại phải giảng thêm cho cháu tôi một vấn đề nữa đây! Muốn hiểu tại sao có gió, chúng ta phải tìm đến nguồn gốc của vấn đề.
 
Chú ba tằng hắng, rồi nói:
 
- Trước tiên, trên quả đất có một lực mà trong không gian không có: đó là trọng lực. Trọng lực là sức hút tất cả các vật của quả đất. Nếu cháu bỏ rơi từ trên cao một cục đá, cục đá sẽ rơi xuống đất. Nếu cục đá có thể xuyên qua mặt đất, cháu biết cục đá đó sẽ đi đến đâu không?
 
- Thưa chú có lẽ đến tận trung tâm trái đất.
 
- Đúng! Nhờ sức hút giữa quả đất, tất cả mọi vật đều có một trọng lượng tùy thuộc vào trọng khối của quả đất. Thật vậy, cùng một vật nếu ở mặt trăng sẽ cân nhẹ hơn ở mặt đất sáu lần bởi vì trọng khối của mặt trăng nhỏ hơn trọng khối của quả đất.
 
- Thưa chú! Trọng khối và trọng lượng khác nhau như thế nào?
 
- Về phương diện vật lý học, trọng khối và trọng lượng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Chữ trọng khối rất khó định nghĩa. Có nhiều tự điển định nghĩa như sau: "trọng khối là lượng vật chất chứa trong 1 vật thể. nhưng giữa trọng khối và trọng lượng có thể phân biệt như thế này: Giả sử ta có một vật, lẽ dĩ nhiên vật này có một trọng khối. Trọng lượng là một lực mà sức hút quả đất tác dụng trên trọng khối này. Trọng khối do lượng, trái lại trọng lượng do một lực. Ở một nơi trên quả đất, khi trọng khối tăng thì trọng lượng tăng theo. Trọng lượng một vật thay đổi, trái lại trọng khối không thay đổi. Như chú vừa nói, trọng lượng của cháu ở mặt trăng sẽ nhẹ hơn trọng lượng của cháu ở quả đất 6 lần nhưng trọng khối của cháu vẫn là một không thay đổi!
 
- Nhức đầu quá! Nghe chú nói thấy mà mệt! Nhưng nếu chú không nói cháu lại tức vì muốn hiểu rõ!
 
- Bây giờ chú tiếp tục! Không khí là một vật thể, vậy nó phải có một trọng lượng. Không khí bao quanh quả đất, xoay tròn theo quả đất và bị quả đất hút.
 
Lớp không khí bao quanh quả đất gọi là khí quyển. Theo các nhà bác học khí quyển cao độ 150 km. Nếu lấy tất cả không khí bao quanh quả đất đem cân, cháu sẽ thấy rất... nhẹ... chỉ độ gần 5.000.000.000.000 kg thôi! (5 tỉ tấn) Có người lại còn nghĩ nặng gấp đôi nữa! Vậy mỗi điểm trên vỏ quả đất phải chịu đựng một ít trọng lượng này (1 kg/1 cm2). Cháu hãy tưởng tượng hiện giờ mỗi thân thể chúng ta bị 17.000 kg không khí đè trên đầu!
 
Long hết hồn đấm mạnh lưng chú Ba cái "bộp":
 
- Ái chà! Ghê quá vậy chú! Mà sao mình chịu đựng nổi chú? Cháu đâu thấy cái gì nặng đè trên đầu đâu?
 
Chú Ba vặn vẹo xương sống:
 
- Chết cái lưng của chú rồi! Mỗi lần nói chuyện với cháu, chắc chú phải mặc áo giáp sắt, chớ không có ngày bị tổn thọ!
 
Long lại vuốt vuốt cái lưng chú Ba:
 
- Xin lỗi chú! Cháu quên! Chú giải nghĩa mau mau chú!
 
Dù đau, chú Ba vẫn cố giảng cho đứa cháu lí lắc hiểu:
 
- Lẽ dĩ nhiên chúng ta không cảm thấy điều đó vì cơ thể chúng ta có một nội lực thích hợp luôn luôn phát triển để làm quân bình với sức nặng của không khí hay áp lực không khí đè trên ta. Trái lại, nếu áp lực tác dụng trên thân thể ta giảm hoặc tăng một cách bất thường, ta sẽ khó chịu như cảm lạnh v.v...
 
- Thưa chú! Phải chăng sự thay đổi áp lực là vì không khí trên đầu ta không luôn luôn có cùng một trọng lực? Phải chăng áp lực có thể thay đổi?
 
- Phải! Áp lực có thể thay đổi! Cháu hãy nghe kỹ phần này vì nó sẽ cho cháu biết gió là gì? Áp lực không khí thay đổi vì hai lý do sau đây:
 
1) Lý do thứ nhất rất giản dị. Cháu hãy tưởng tượng một người thợ mỏ khi xuống một hố sâu 1000m phải chịu đựng một cột không khí cao hơn 1000m. Trái lại, những người leo núi khi đến đỉnh núi Everest sẽ chịu đựng một cột không khí ngắn hơn... Cháu biết những người leo núi hay những phi công thường dùng những hũ chứa oxy. Tại sao vậy? Các nơi đó không có không khí sao? Là vì ở đó không khí ít nặng và do đó, ít oxy, nên các người trên phải dùng thêm oxy mang theo.
 
Không khí đè nặng trên mỗi thân thể và cũng đè nặng trên chính nó.
 
Các lớp không khí trên ép các lớp không khí ở sát mặt đất. Vậy các lớp không khí sát mặt đất nặng hơn. Giả sử có một bình chứa đầy không khí thể tích một mét khối được đặt ngay trên mực nước biển, cháu sẽ thấy trong bình trên một số phân tử không khí nhiều hay ít tùy theo tỉ trọng của không khí nơi đó. Nhưng nếu đem bình chứa này lên đỉnh Everest, cháu sẽ thấy ít phân tử không khí hơn mặc dầu cùng một thể tích lúc này. Người ta tính rằng cứ leo cao từ 5,5 đến 5 km trong cùng một thế tích số phân tử không khí sẽ giảm mỗi lần một nửa.
 
2) Lý do thứ hai rất quan trọng cho sự thay đổi áp lực là nhiệt độ của không khí. Ta biết rằng, nếu bị ảnh hưởng của nhiệt, của sức nóng, các phân tử của một vật thể dần dần tách xa nhau ra ; trái lại nếu nhiệt độ giảm, hay dưới ảnh hưởng của sự lạnh, các phân tử sẽ dần dần tiến sát khít với nhau. Nhân đây chú xin lạc để giảng cho cháu nghe tại sao mùa đông nước thành băng hay một cách cụ thể gần gũi hơn, tại sao nước lạnh lỏng để trong tủ lạnh biến thành nước đá cứng? Cháu đã biết các phân tử của một chất dắn gắn chặt nhau ; nếu chúng bị tách rời nhau tới một độ nào đó thì chắc chắn sẽ biến thành chất lỏng, nếu rời xa hơn nữa sẽ biến thành chất hơi. Hiện tượng ngược lại cũng đúng. Như trên chú đã nói, khi để ly nước vào tủ lạnh, nhiệt độ giảm dần (lạnh) sẽ làm cho các phân tử nước sít lại gần nhau, gần nhau đến khi gắn chặt vào nhau: nước lỏng biến thành nước đá.
 
Khi không khí nóng, các phân tử tách xa nhau ra. Trong cùng thể tích một mét khối, không khí nóng có ít phân tử hơn (vậy trọng lượng và áp lực ít hơn). Nếu nói một mét khối không khí ít nặng tức là nói nó rất nhẹ, mà nhẹ thì phải bay lên, còn không khí nặng thì phải thấp xuống. Cháu có thấy bong bóng bơm khinh khí bán ở các đường phố không? Đó là thí dụ cụ thể sự nhẹ thì phải bay lên.
 
Bé Long nói:
 
- Thưa chú! Tới đây cháu đã bắt đầu hiểu sự chuyển động của không khí và gió phát sinh như thế nào!
 
Bỗng chú Ba ngồi vùng dậy, chạy lại ra đi ô mở to lên. Bản Tâm Ca số 4 "Ngồi gần nhau" của Phạm Duy do các giọng nữ hợp ca vang lên một cách thiết tha kêu gọi. Chú lim dim đôi mắt, thả hồn theo lời ca ý nhạc. Đợi chú Ba nghe xong bản nhạc, Long nhắc:
 
- Chú! Giảng tiếp đi chú!
 
- Để hiểu rõ gió, nếu có dịp cháu sẽ làm thí nghiệm như sau: Dùng hai cái bình chưa nối nhau bởi các ống đựng một chất lỏng như nước chẳng hạn. Trước khi làm thí nghiệm, cháu thêm vài giọt màu vào 1 bình chứa để xem rõ ràng chất lỏng trộn lẫn như thế nào.
 
Nếu cháu đun nóng bình chứa A, nước trong bình nầy tăng thể tích và vượt qua ống trên để vào bình chứa B. Vậy áp lực tăng trong bình B này: nước sẽ bị đẩy qua bình chứa A theo ống dưới. Nếu ta tiếp tục đun bình chứa A, sự chuyển động sẽ tiếp tục. Ở không khí cũng vậy, trong một vùng nóng, 1 cột không khí nóng bay lên tạo thành 1 vùng có áp lực thấp (không khí ít nặng). Chính các cột không khí nóng này làm các máy bay không động cơ chạy được. Bấy giờ, ở một vùng xa hơn, không khí lạnh rơi xuống tạo thành một vùng có áp lực cao. Ở mặt đất, không khí chuyển từ vùng có áp suất cao đến vùng có áp suất thấp: đó chính là GIÓ.
 
Long la to:
 
- Hay quá! Cháu đã hiểu gió phát sinh như thế nào!
 
Chú Ba nghiêm trang:
 
- Nguyên nhân chánh tạo ra gió là trọng lực quả đất lôi kéo các khối không khí. Các khối không khí nầy tự di chuyển để tìm thăng bằng, vì thế các lớp nặng xuống thấp và các lớp nhẹ bay lên cao. Nhưng sự thăng bằng nầy không chắc chắn. Có nhiều lý do làm nó xáo trộn và do đó làm không khí chuyển động như:
 
1. - Khí quyển hấp thụ tia sáng mặt trời làm không khí nóng (ở thể tích bằng nhau, không khí nóng nhẹ hơn không khí lạnh)
 
2. - Dưới tác dụng của tia sáng mặt trời, đất hấp thụ nhiệt và truyền nhiệt này cho phần không khí sát mặt đất.
 
3. - Hơi nước trộn lẫn với không khí. Ở cùng một thể tích không khí chứa hơi nước rất nhẹ bởi vì các phân tử nước rất nhẹ.
 
4. - Gió thổi gần mặt đất có thể bị ngừng, bị xáo trộn hay thay đổi các đặc tính khi gặp các chướng ngại vật như núi, thung lũng v.v...
 
Các ảnh hưởng trên có rất nhiều hậu quả. Giả sử như dưới ảnh hưởng mặt trời, có 1 khối không khí bay lên vùng xích đới, trong khi đó lại có 1 khối không khí lạnh tích tụ ở cực. Hơn nữa, sự quay tròn của quả đất làm biến đổi các chuyển động trên.
 
Cháu đã thấy gió bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, do đó một đôi khi các tiên đoán về thời tiết sai. Đó là điều không đáng ngạc nhiên! 
 
Bé Long chạy lại bàn rót cho chú Ba thêm 1 ly nước trà và pha thêm vào 3 muỗng cà phê đường cát trắng. Chú Ba uống một hơi.
 
- Thưa chú! Có mấy loại gió chú?
 
- Có nhiều! Để chú nhớ lại xem! Đầu tiên là gió mậu dịch. Đây là loại gió "cố định" luôn luôn thổi theo một chiều nào đó. Gió mậu dịch thổi từ vùng chí tuyến đến vùng xích đạo, từ hướng Đông Bắc đến Tây Nam trong bắc bán cầu (gió mậu dịch bắc), từ Đông Nam đế Tây Bắc trong nam bán cầu (gió mậu dịch nam).
 
- Thưa chú! Vậy thì gió mậu dịch bắc đi lệch về phía phải, còn gió mậu dịch nam đi lệch về phía trái, phải không chú?
 
- Phải! Đó là do sự quay của địa cầu. Sau gió mậu dịch cháu sẽ gặp gió mùa. Gió mùa chỉ xuất hiện trong 1 thời kỳ nào đó của 1 năm. Về mùa đông, gió mùa thổi từ vùng dưới nhiệt đới của những đại lục (nhất là Á châu) đến biển cả và ngược lại, gió mùa thổi từ biển cả vào đại lục. Cuối cùng, cháu sẽ gặp những loại gió "thay đổi" như gió ấm mùa xuân, gió bấc, gió đông nam... Các loại gió này đổ mới luôn trong những chặng thời gian bất thường, mỗi loại có tính chất riêng biệt. Ngoài ra, cháu nên nhớ người ta đo tốc lực của gió bởi 1 dụng cụ gọi là phong kế.
 
- Còn chiều, hướng của gió! Làm sao biết được chú?
 
- Thật sự về phương diện này ta chỉ cần biết gió từ đâu đến. Một luồng gió Đông Nam là một luồng gió đến từ hướng Đông Nam (lẽ dĩ nhiên thổi đến Tây Bắc). Đây là một sự kiện hết sức thường. Điều quan trọng là chỉ cần biết gió sẽ thổi từ đâu đến?! 
 
- Tại sao vậy chú?
 
- Tại khi biết gió từ đâu đến, ta mới biết phẩm chất của nó được. Chẳng hạn như gió đến từ hướng Nam sẽ nóng, từ hướng Bắc sẽ lạnh, từ hướng Tây sẽ khô, còn từ hướng Đông sẽ có mưa vì gió phải đi ngang qua đại dương.
 
- Vậy làm sao biết được gió từ đâu đến chú?
 
- Rất khó xác định vì ở dưới đất gió thường gặp các chướng ngại vật như nhà cửa, hay hố làm gió đổi chiều và biến thành gió lốc. Vì thế muốn biết gió từ đâu đến ta phải quan sát ở các nơi trống trải hoặc cao. Có nhiều phương pháp chuyên môn, nhưng có hai phương pháp cháu có thể thực hiện được:
 
1. - Cháu cầm một nắm cát, hoặc đất hoặc bụi, bỏ rơi từ từ thành những tia thật mỏng. Cháu sẽ thấy ngay gió thổi từ hướng nào đến.
 
2. - Cháu tẩm ướt 1 ngón tay. Cảm giác mát lạnh về phía nào của ngón tay sẽ cho cháu biết hướng của gió.
 
Ngoài ra ở các phi cảng người ta thường dùng "ống  để thông gió". Đây chỉ là 1 ống vải hết sức đơn giản, miệng mở bởi một vòng tròn bằng sắt. Quan trọng là trục ngang phải chuyển động.
 
Bác Ba béo tai bé Long:
 
- Bây giờ đến phiên chú hỏi nhá? Trả lời sai, chú đánh 5 roi!
 
Bé Long cười:
 
- Chú hỏi đi! Sức mấy mà cháu ngán!
 
Chú Ba lấy mắt kính ra lau, rồi lại đeo vào:
 
- Rán mà nghe nhé! Chú nói về gió ngày và gió đêm. Dịp hè vừa qua, đi ra Cấp tắm biển. Nếu để ý cháu sẽ thấy ban ngày gió thổi từ biển vào đất liền và ban đêm thì trái lại, gió thổi từ đất liền ra biển. Tại sao vậy cháu?
 
Bé Long rất thông minh, suy nghĩ một chút rồi trả lời:
 
- Thưa chú! Đó là vì ban ngày, mặt đất nóng nhanh hơn mặt biển ; áp lực xuống thấp trong vùng đất nóng và tăng trên mặt biển: vậy gió thổi từ biển vào đất liền. Trái lại ban đêm đất lạnh rất mau, còn biển vẫn giữ nhiệt hấp thụ lúc ban ngày. Vậy trên mặt biển nóng hơn trên mặt đất: gió thổi từ đất liền (vùng áp lực cao) ra biển (vùng áp lực thấp).
 
Chú Ba âu yếm nhìn bé Long:
 
- Giỏi! Cháu chú giỏi! Xứng đáng là học sinh trường TINH THẦN!
 
Nói xong, chú Ba lại tủ sách lấy một quyển sách bìa cứng chữ vàng rất đẹp, mở ra cho bé Long xem 1 bản đồ. Bé Long thấy đó là bản đồ Âu Châu nhưng hơi lạ là có những đường ngoằn ngoèo đè lên trên. Biết ý, chú Ba giải thích ngay:
 
- Các đường mà cháu thấy đó là đường đẳng áp. Đường đẳng áp là đường nối liền tất cả các điểm trên mặt dất có áp lực giống nhau. Nếu đường đẳng áp khép kín thành vành khuyên chung quanh 1 vùng nào đó và nếu trong vùng đó, áp lực thấp nhất ở ngay trung tâm và tăng dần ra vùng ngoài, vùng đó gọi là vùng sinh gió lốc. Trong vùng nầy, tất cả gió bên ngoài sẽ bị lôi cuốn vào trung tâm nó. Trái lại, trong vùng phản phong, áp lực tăng từ vùng ngoài vào trong, còn gió thổi từ trong ra ngoài, như bình chứa nước quá đầy nước phải tràn ra.
 
Trong khi bé Long xem xét bản đồ, chú Ba tiếp:
 
- Hồi xưa, các tàu chạy buồm nên lúc đó gió giữ vai trò vô cùng quan trọng. Hiện giờ, gió vẫn còn giữ vai trò mặc dầu kém hơn trong ngành hàng hải hiện đại và hàng không. 
 
Bé Long cười:
 
- Mai chú dẫn cháu đi Long Vân xem phim Gánh xiệc lớn nhất thế giới nhe chú!
 
Chú Ba vỗ đầu bé Long:
 
- Bỏ đi tám! Nghèo mà ham!
 
Chú cháu cười vang...
 
 
HOÀNG ĐĂNG CẤP     
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 52, ra ngày 1-9-1966)


Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

CỌP BA CHÂN - Song Sơn

 


Nhà ông Ba ở cách rừng không tới hai cây số ngàn. Ven rừng, san sát những đám ruộng lúa chín vàng óng ả dưới ánh nắng chiều, đấy là những ruộng lúa mà ông Ba tối nào cũng vậy, ông cần ra đấy để giữ heo rừng không cho xuống ăn lúa.
 
Chiếc lều tranh ông cất bên cạnh một con suối chảy uốn lượn quanh rừng như một con rồng thiêng quanh năm mong nước tưới thắm lúa đồng, đấy là nơi duy nhất ông Ba dùng để nghỉ đêm ngoài ruộng.
 
Đem về, cái âm u của rừng núi, cái bí ẩn của vũ trụ chụp xuống cánh đồng một màn âm u ghê sợ. Tiếng chim kêu, tiếng vượn hú, tiếng cọp gầm, tất cả đủ gây cho con người một sự khủng khiếp vô biên ; thế mà ông cứ mỗi chiều về, chừng thấy mặt trời gác đầu non khoảng sào là ông đã vội vã ăn cơm để ra ruộng giữ lúa.
 
Hôm nay trời thật trong, ánh trăng mười sáu vằng vặc chảy thủy ngân trên vạn cây rừng, dòng suối như một dải bạc lấp lánh. Cây rừng êm lặng, cánh đồng ngủ say và ông Ba cũng đang chìm trong giấc mộng chập chờn.
 
Đêm yên lặng quá, một cái yên lặng đến rùng mình, thế nhưng tự nhiên cây rừng lay động, chim chóc kêu vang rồi thì từ trong rừng, hai vệt sáng từ từ di động hướng về phía bờ suối.
 
Dưới ánh trăng vằng vặc, một con cọp to tướng, dài đến hơn hai thước đang khập khễnh bước từng bước chậm chạp, thỉnh thoảng nó đứng lại để nghe ngóng rồi thì nó lại tiếp tục đi. Bóng nó lù lù in rõ trên bờ ruộng xanh những cỏ. Trong đêm tối, mắt nó sáng như hai đèn pin khiến ai thấy ắt phải khiếp đảm kinh hồn. Nó đứng lại nhìn trăng rồi thì nó vươn cổ rống lên những tiếng oam... oam... nghe như tiếng khóc hãi hùng hay tiếng giận dữ kinh thiên, tiếng nó vang vang trong âm u huyền hoặc của núi rừng càng khiến cho cảnh vật nơi đây nhuộm đầy vẻ bí mật và thiêng liêng như đây là giang sơn của muôn thú không bao giờ ai đặt chân đến.
 
Nó đi về hướng bờ suối, đấy là nơi nó thường ra uống nước, và chính ông Ba cùng những người trong làng cũng thấy dấu chân nó lưu lại mà ông Ba đoán rằng đấy phải là một con cọp rất to.
 
Người làng e ngại nói với ông:
 
- Ông đừng tiếc của rồi có thể làm mồi cho cọp mất.
 
Ông Ba rùn vai cười tin tưởng:
 
- Sá gì ông, mình đâu có động gì đến "ổng" thì "ổng" cũng không nỡ hại mình.
 
Trước lời nói ấy người ta chỉ biết lắc đầu và thế là ông Ba lại tiếp tục ra đấy giữ lúa vì ông tin rằng "ông cọp" không hại ông.
 
Uống một hơi dài nó lại đi lên bờ suối đứng nhìn và nó lại để ý đến cái lều cất ở giữa ruộng, một linh tính nào đó cho nó biết là lều hẳn phải có mồi ngon và nó chậm rãi bước tới.
 
Đây là lần đầu tiên nó thấy cái lều vì đã hơn mười ngày qua nó bận đi tìm mồi ở xóm bên kia núi và hôm nay thì nó trở về đây.
 
Chiếc lều trống, ành trăng tỏ, thân hình ông Ba nằm ngủ im trong lều. Nó chiếu những tia sáng ghê sợ vào thân hình ông Ba với vẻ thèm thuồng và nó nằm xuống chờ đợi với tư thế tấn công : Chân trước nó hơi rùn xuống, lưng cong lên, hai chân sau thu lại để lấy trớn và đuôi nó đặt sát đất.
 
Nó đợi vì tưởng đấy là một xác chết, với loại thú nầy nó không bao giờ ăn mồi chết, tuy nhiên nếu là mồi của nó bắt được thì thường nó để đến khi con mồi có mùi rồi mới nhấm nháp một cách ngon lành hay trường hợp đấy là mồi của nó bắt ăn còn dư để lại hôm sau.
 
Bây giờ chỉ cần một cái cựa mình của ông Ba là nó tấn công liền.
 
Nó đợi từ lúc trăng đứng đầu đến xế thì ông Ba trở mình lăn qua một bên, tức thì nó chồm tới, cả thân hình to lớn của nó phủ lên người ông Ba và hai hàm răng bén nhọn của nó cắn sâu vào yết hầu của ông Ba lôi đi.
 
Ông Ba giãy giụa một cách tuyệt vọng, miệng ú ớ những tiếng rên thê thảm, máu trong yết hầu bắn ra thành vòi và cuối cùng, rất chóng ông Ba xuôi cả tay chân...
 
Sáng ra bà Ba đợi mãi đến nửa buổi cũng không thấy chồng về, bà nóng lòng vì có khi nào ông Ba lại về trễ thế đâu. Bà cùng người con lớn lên tìm ông ở lều.
 
Không thấy ông Ba đâu, mà ở đấy máu đọng thành vũng có dấu chân cọp giẫm đầy. Bà Ba chết điếng trong lòng khóc rống lên vì bà biết chồng đã bị cọp bắt rồi. Bà cùng con vội chạy về báo tin cho ông Tư, em ruột ông Ba cùng bà con trong xóm biết.
 
Thế là năm mười phút sau, kẻ mõ người thùng thiếc cùng gậy gộc, tất cả ba bốn chục người đàn ông lực lưỡng nhất loạt tiến thẳng về hướng lều ông Ba.
 
Người ta theo vết máu và dấu chân cọp, lần theo để may ra tìm được xác ông Ba.
 
Cả khu rừng bí mật, yên lặng, giờ đây bị khuấy động với những tiếng la hét và tiếng khua vang của mõ, thùng. Đấy là cái lối đuổi cọp cổ truyền của dân tộc Việt Nam thời xưa.
 
Đang đi bỗng ông Tư đứng lại ra hiệu và nói:
 
- Có lẽ nó ở đâu đây, ta đã nghe mùi hôi thúi của nó rồi.
 
Mọi người càng la hết và khua động vang những mõ với thùng cùng dán mắt vào một lùm dây mây rậm rạp đang rung động. 
 
Ông Tư là người nhìn thấy trước tiên bóng của con cọp rằn đang trừng mắt hướng về phía đám người dám ngang nhiên tới phá động nó.
 
Nó gầm thét dữ dội nhưng đám người đi tìm xác ông Ba càng tấn công hơn với những tiếng hò la xua đuổi. Trước sức mạnh ấy, hình như cọp thấy rúng động nên từ từ lui, rồi thì rầm một cái, nó phóng vút vào trong rừng.
 
Thật là ghê gớm, cạnh một đống máu, chiếc đầu ông Ba nhẵn sạch tóc, hai con mắt đã bị móc đi để lại hai cái lỗ sâu hoắm, thăm thẳm thật kinh người.
 
Một mớ tóc ngắn vắt trên những ngón tay đầy gai của dây mây lắc lư như một mớ mây đen buồn thảm trong cái âm u tĩnh mịch của núi rừng.
 
Những mảnh quần áo nát vụn đầy vết máu, bi thương lạnh lẽo rải đầy trên đất. Tất cả thân hình ông Ba chỉ còn lại có thế, còn gì kinh khủng và đau xót hơn. Người ta chỉ còn biết khóc và ngậm ngùi, rồi thì góp những gì còn lại của thể xác ông Ba để đem chôn.
 
Người ta cho rằng những người bị cọp ăn, nếu giành được xác đem về chôn thì sẽ bị sự trả thù của cọp cho nên họ phải làm một cái nhà bằng tre thật chắc chắn bao quanh mộ của ông Ba để, nếu con cọp có trở lại moi xác, thì nó cũng không vào được để mà quật mả lên.
 
Câu truyện của ông Ba bị cọp ăn lan tràn từ làng nầy đến làng khác và ai ai cũng sợ hãi mỗi lúc nhắc đến chuyện hãi hùng ấy.
 
Cái truyền thuyết cọp thành tinh đi hai chân như người giờ đây sống lại một cách mãnh liệt trong lòng của họ và họ bàn tán xôn xao.
 
- Thì nhất định không trước thì sau gia đình ông Bá cũng phải lần lượt bị con cọp ấy bắt luôn, bởi cái hồn oan khiên của ông Ba sẽ nhập vào đấy rồi thì khiến nó - khiến với một sức mạnh vô cùng huyền bí - bắt được những người trong gia đình hoặc họ phải lên rừng cho nó bắt đi.
 
- Hoặc cọp thành tinh thì ghê gớm nhất, nó có thể biết được quá khứ vị lai và nếu ai nói gì tới nó ắt sẽ bị nó thù oán rồi bắt ăn thịt liền...
 
Nhiều lắm, họ nói mãi, nhưng đại để thì ý như thế. Rồi thì ai cũng sợ, ai cũng lo âu mà nhất là gia đình của ông Ba, vì từ trước, vợ con ông thường vào rừng lấy củi, cái nghề nghiệp ấy bây giờ vẫn còn và bắt buộc vợ con ông phải vào rừng thường xuyên, lại em ông là ông Tư luôn luôn thả trâu vào rừng ăn, biết đâu được, ừ thì biết đâu lại chẳng sớm làm mồi cho con cọp ghê gớm ấy.
 
Chết thì ai chả sợ, mà cái chết vì bị cọp ăn thì lại là một khủng khiếp hơn, bởi thế gia đình ông Ba, từ nhỏ đến lớn ai cũng đang sống trong một cơn sốt hãi hùng : cái hình ảnh cọp đi hai chân trong đêm trăng, mờ mờ ảo ảo như bóng ma huyền hoặc ấy càng làm cho họ khiếp vía hơn. Nhưng vì sinh kể chả nhẽ lại cứ đóng cửa ở nhà, và, có ở nhà nó cũng bắt buộc mình đi ra ngoài cho nó ăn thịt kia mà.
 
- À, thì biết sao đây, thôi đành nhắm mắt đưa chân, số kiếp thì làm sao tránh khỏi.
 
Đó là lý luận của tất cả những người trong gia đình ông Ba, nhưng ông Tư thì không cho thế, ông không tin cái huyền hoặc vô lý được. Anh ông chết, ông đã căm thù con cọp ấy rồi, thì ông quyết phải giết được cái con cọp ghê gớm ấy, mà theo ông hình như đấy là con cọp ba chân.
 
Hằng ngày ông Tư thường thả trâu vào rừng. Hôm ấy trời đã ngả nắng chiều và đàn trâu của ông Tư cũng đã lũ lượt kéo nhau ra suối uống nước.
 
Thình lình, một tiếng gầm đinh tai khiến cho người yếu bóng vía có thể chết ngất đi và tiếp theo, một con cọp to tướng đã phục sẵn gần đấy hồi nào không biết nhảy bổ ra phủ lên mình một con trâu lớn. Nó cắn vào cổ con trâu rồi thì như một người thật, nó để hai chân trước của con trâu trên vai nó, dùng chân trước như một cái tay cầm chặt lấy chân con trâu còn hai chân sau dựng thẳng lên đi như người.
 
Ông Tư ngồi ngoài đường cái chỉ biết yên lặng nhìn con trâu của mình bị cọp bắt đi với một sự căm tức tột cùng.
 
Ông vội lùa đàn trâu về và tức tốc đi báo cho bà con trong xóm biết để đi tìm xác con trâu, nhưng không ai có can đảm hường ứng lời của ông Tư vì trời đã tối.
 
Ông Tư đành chịu chờ đến sáng hôm sau.
 
Lúc mặt trời lên khỏi non chừng sào thì các dân làng lực lưỡng cũng lại kẻ mõ người chiêng rầm rộ như một đoàn quân đi theo sự hướng dẫn của ông Tư tiến thẳng đến rừng tìm dấu cọp.
 
Vết chân trâu và cọp hằn sâu trên bờ ruộng lúa và những giọt máu đã khô đen lại. Sau một hồi lâu tìm kiếm, đoàn người đã thấy được dấu vết đích thực là nơi đây cọp đã hạ thịt con trâu vì những lau sậy chung quanh đấy bị bẹp xuống hoặc bứng rễ chứng tỏ đã có sự giẫy giụa kịch liệt của con trâu trước giờ chết.
 
Quả nhiên cách đấy không xa trong một bụi tre rậm đã có tiếng gầm gừ của con cọp sợ cướp mồi.
 
Sau khi phát giác, mọi người nhất loạt bao vây theo hình chữ C và hò hét vang trời. Lại một lần nữa cọp ta đành bỏ mồi để tẩu thoát.
 
Con trâu to lớn thế mà chỉ còn lại phân nửa thân mình, chứng tỏ con cọp ấy to lớn và khỏe đến độ nào.
 
Sau khi xem xét ông Tư cho biết đấy là con trâu chửa và bọc con còn lại. Ông cẩn thận lấy ta lôi ra một con nghé con đã sắp sanh và đem về. Mọi người ngạc nhiên thì ông bảo:
 
- Rồi các ông sẽ biết.
 
- Còn con trâu?
 
- Thì để đấy, lấy về chi, có dùng được nữa đâu vì đó là thịt hổ giảo, ăn vào có phong thì chết cho.
 
Nhưng ông ra hiệu cho mọi người cùng khiêng xác con trâu đem đến một nơi khác rất xa nơi ấy để chôn rồi thì mọi người thong thả ra về.
 
Về đến nhà, ông Tư tự động đi ra chợ mua liền mấy kí lô thuốc chuột đem về mổ ruột con nghé và nhét đầy thuốc vào đấy xong ông lại một mình đem lên tận nơi đã cướp mồi của cọp đặt y nguyên lại chỗ cũ.
 
Bây giờ thì ông Tư chờ đợi kết quả việc làm của ông mà ông tin chắc là sẽ giết được con cọp nếu nó ăn cả con nghé ấy, thuốc sẽ làm đứt cả ruột gan nó và nó sẽ chết tức khắc.
 
Ông Tư tin là con cọp sẽ trở lại tìm mồi và khi thấy con thịt của nó chỉ còn lại bấy nhiêu tất nó sẽ ăn hết, nó ăn mà không nghi ngờ vì đấy là con thịt do nó bắt.
 
Quả nhiên tối ấy con cọp trở lại và đã ăn nốt phần mồi còn lại. Thế là nửa đêm, người ta ở quanh làng gần núi đều phải run lên, lấy cây cài thêm cửa cho thật chắc vì họ nghe tiếng rống kinh khủng của con cọp.
 
Qua hai ngày như thế dân làng không dám ra đồng vì cọp đã ăn phải thuốc của ông Tư và phát điên lên, nếu lúc này bất cứ gặp ai ắt nó không bao giờ tha cho.
 
Đến ngày thứ ba thì tiếng gầm im bặt thế nhưng ông Tư cũng chưa dám đi tìm vì biết đâu được nó say quá mà nằm lại đâu đấy. 
 
Nhưng qua một ngày không nghe động tĩnh gì nữa, ông Tư biểu những trai làng cùng ông đi tìm.
 
Một sự hãi hùng, cả một khu đất rừng khoảng một mẫu đất, cây cối ngả nghiêng trốc gốc và dưới gốc một cây tràm to tướng xác con cọp nằm im bất động.
 
Không ai dám tới gần, họ lấy đá ném vào mình nó để dò thực hư, sau khi biết chắc cọp đã chết thì mọi người mới ùa lại xem.
 
Đấy là một con cọp vằn ba chân to tướng nằm sóng soài cạnh một mớ ruột sình thối lòi ra ngoài va da của nó đều nứt nẻ vì sự công phạt của thuốc.
 
Nhìn xác con cọp ông Tư cười mãn nguyện, ông đã trả thù được cho anh và tránh được mối lo âu sợ hãi cho dân làng mà nhất là gia đình của người chị dâu.
 
Câu chuyện trên là do một người thượng chuyên sống trên rừng quen với ông Tư kể lại nhân lúc loạn lạc mà gia đình tôi đã trú nhờ gia đình người thượng nọ.
 
 
SONG SƠN         
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 32, ra ngày 22-8-1972)