Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

CON CÁO VÀ CON NHÍM MỎ VỊT - Đặng Hoàng

 Mới đọc qua đề, chắc hẳn nhiều bạn ngạc nhiên lắm. Làm gì có con cáo hay nhím nào với chiếc mỏ như vịt bao giờ. Nhím là nhím, cáo là cáo và vịt là vịt chứ tại sao vừa nửa con thú này lại nửa con thú nọ, lẫn lộn với nhau như vậy? Thế nhưng, đây là hai con vật thật và sống trong thời đại chúng ta chứ không phải chuyện thần thoại đâu.
 
Thật thế, các khoa học gia cùng một số người khác cho rằng tổ tiên chúng thuộc loại đa giống, hay nói cho rõ hơn, mang hình dáng của loài bò sát, có vú kiêm loài chim. Nhưng theo nhiều nhà động vật học thì ngay từ nguyên đại đệ II, cách đây chừng một trăm tám chục triệu năm, chúng đã xuất hiện trên trái đất, và chỉ được công nhận như loài bò sát mà thôi.
 
Với đặc tính chung là rất nhút nhát, chuyên hoạt động về đêm, chúng không sinh con mà lại đẻ một hay hai (họa hoằn lắm mới ba) trứng mầu trắng, dài chừng hai phân, do một lớp màng bao bọc bên trong lần vỏ cứng và nuôi con bằng sữa. Chúng ăn sâu bọ, mối, côn trùng, nòng nọc, tôm, cua, ốc cùng những con cá nhỏ dưới hồ, ao, lạch, đầm lầy, khe suối tại vùng rừng núi Úc Châu cùng các quần đảo miền Nam Thái Bình Dương. Người ta phân ra hai loại:
 
- Con cáo mỏ vịt sống cả trên cạn lẫn dưới nước, năng gặp nhất tại Úc ở vùng Vitoria, Queenland, Nouvelles-Galles và đảo Tasmania. Sở dĩ nó mang tên này là vì toàn thân, suốt từ đầu tới đuôi đều bao phủ một lớp lông rậm hung hung nâu xám như cáo, đặc biệt là đầu và chiếc mỏ mầu vàng, khum khum giống vịt, với lỗ mũi nhỏ nhô lên chính giữa phía trên. Mỏ này được một làn da mỏng che chở giúp nó nhận ra mùi vị con mồi. Hai mắt và lỗ tai bé tí cũng do một lớp da che kín mỗi khi nó lặn xuống nước kiếm ăn. Riêng chiếc đuôi dầy, to, rất khỏe, dài chừng mười lăm phân, chỉ bằng một phần tư thân mình. Giữa năm móng vuốt sắc bén ở mỗi chân là một lớp màng mỏng nối liền với nhau. Màng này gấp nếp lại được để lúc cần thì đào đất, bằng không, nó trở thành mái chèo khi bơi lội. Nguy hiểm nhất là dưới mỗi bàn chân, xen kẽ những móng vuốt có một cái ngạnh chứa đầy chất độc là vũ khí tự vệ duy nhất giúp nó chống lại kẻ thù.
 
Cáo mỏ vịt đực dài sáu mươi phân, lớn hơn con cái chút đỉnh, nặng từ tám, chín tới mười bẩy lí lô, ăn rất khỏe. Người ta thấy một con cái nuôi trong vườn bách thú đã "xực" hết một kí lô côn trùng, tôm, cua, cá suốt đêm mà vẫn không đủ.
 
Hầu như suốt ngày cáo mỏ vịt chỉ lo bơi lội kiếm ăn hay đào hầm bên cạnh bờ nước dài từ bốn tới mười tám hoặc ba chục thước, rồi dùng đuôi trát nhẵn hai bên bờ đường hầm. Dĩ nhiên đây là công việc của con đực xây tổ ấm, nhưng khi con cái sắp đẻ, thì nó lại tự chọn một hầm khác do chính nó sửa soạn, đoạn tha rác rưởi, lá cây cùng mọi thứ rễ về làm nệm. Sau đó, nó bít kín lại bằng đất, với mục đích đánh lạc hướng kẻ thù và nhất là giữ cho nhiệt độ bên trong luôn luôn ẩm ướt, rồi ở đó để ấp trứng trong vòng hai tuần lễ trứng mới nở. Thời gian này, sữa bắt đầu tiết ra ở vú để nuôi con, vì chúng không mở mắt trong ba tháng. Mẹ chúng chăm nuôi mãi tới tháng thứ sáu là lúc đủ sức mới được mẹ dẫn theo đi kiếm ăn. Điểm lạ lùng là dù ở dưới nước, chúng vẫn bú sữa mẹ được.
 
Giống hệt như vịt, khi ở dưới nước, cáo mỏ vịt có thể cắm đầu xuống sâu để mò thức ăn trong vòng một phút, sau đó nó mới ngóc lên để thở.
 
- Con nhím mỏ vịt chỉ sống trên cạn gồm sáu loại hay xuất hiện ờ Úc Châu, Tasmania và Noevelles-Guiné. Dĩ nhiên là thân hình nó có những lông dài như nhím và chiếc mỏ, dài nhưng hơi nhỏ, và đặc biệt là nó còn có chiếc lưỡi dài đầy chất nhờn dùng để bắt côn trùng như con thực nghị vậy. Hơn nữa, con nhím mỏ vịt cái cũng đẻ trứng nhưng lại đặt trong cái túi trước ngực cho tới khi trứng nở và nuôi con ngay trong túi chẳng khác gì con đại thử. Dĩ nhiên nó cũng có sữa cho con bú như cáo mỏ vịt vậy. Trung bình nhím mỏ vịt dài vào khoảng ba mươi tới bốn mươi phân, nặng cỡ sáu, bẩy kí lô. Chân của nó có ngón nhưng không có lớp màng dính liền lại như cáo mỏ vịt.
 
 
ĐẶNG HOÀNG       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 43, ra ngày 18-6-1972)

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

EM YÊU AI - Đinh Thụy Minh Châu


Bé đặt con Miu vào lòng và đưa tay vuốt nhẹ bộ lông óng mượt của nó. Bé vẫn thích làm bạn với con Miu hơn con Tou Tou, vì Tou Tou dữ lắm, nó hay theo liếm chân bé hoài đi. Bé "o xịt" nó ra rồi đấy. Bây giờ bé chỉ chơi với con Miu thôi. Mỗi buổi tối, khi cả gia đình sum họp ở trên nhà, bé ôm con Miu ngồi cạnh bên mẹ để nghe chị Thảo và anh Hiếu học bài. Con Miu ngoan lắm, nó nằm cuộn tròn trên đi văng chăm chú nhìn chị Thảo học a, b, c. Thỉnh thoảng Miu kêu lên "meo meo" thích thú vì chị Thảo đánh vần vấp bị ba la. Bé không biết chị Thảo học cái gì mà chị ấy khóc hoài, "lêu lêu" nhé! Mai mốt được đi học bé sẽ chăm chỉ không khóc nhè như chị Thảo đâu. Tuy thế chị Thảo có cả một lô bài hát thật hay. Hôm trước chị ấy dạy bé hát: "Em có đôi bàn tay trắng trắng xinh xinh, em không vọc đất để dành ăn cơm". Bài hát đó thật dễ, bé đọc có hai lần là thuộc liền hà. Bé hát cho ba mẹ và cả nhà nghe nữa. Chị Thủy khen nức nở làm mũi bé phồng to bằng... bằng quả cà chua í.
 
Bé đưa tay dụi mắt, cả nhà đang coi Ti vi ở dưới nhà để mình bé ở đây. Chị Thủy từ dưới lên hỏi:
 
- Bé sao đó? Buồn ngủ hả?
 
Bé lắc đầu. Chị Thủy ngồi xuống bên bé, xốc bé làm con Miu hoảng sợ chạy mất. Nước mắt bé đã ươm đầy hai bên khóe, bé dậm chân:
 
- Tại chị đó... hu... hu...
 
Chị Thủy vuốt tóc bé:
 
- Nín đi chị thương, vào ngủ kẻo ba đánh đòn!
 
- Hông! Bé hổng ngủ đâu!
 
Vừa lúc ấy mẹ đi lên. Bé òa lên khóc to hơn nữa. Mẹ ngạc nhiên:
 
- Gì đó Thủy?
 
- Bé Thuận không đi ngủ nè mẹ!
 
Bé chen vào:
 
- Hông! Con hông buồn  ngủ.
 
Mẹ ngồi xuống đi văng ôm bé vào lòng: 
 
- Sao con khóc? Nói mẹ nghe!
 
Lúc ấy cả nhà bu quanh bé. Bé gục đầu vào lòng mẹ:
 
- Hu... hu... con... khát... sữa... mà chị Thủy... biểu... con... ngủ, làm... con Miu... chạy đi mất hu... hu...
 
Cả nhà ồ lên cười. Bé xấu hổ ôm thật chặt lưng mẹ và đưa tay quẹt nước mắt.
 
Một lát sau, chị Thủy lên đưa bình sữa. Bé túm lấy tu một hơi thật ngon lành. Chị Thảo thì thầm bên tai bé:
 
- Đừng khóc nữa, chị dạy cưng hát nghe!
 
Bé ngậm đầu núm vú khe khẽ gật đầu. Chị Thảo cất tiếng hát:
 
Nếu hỏi rằng em yêu ai?
Thì em rằng em yêu ba nè...
Thì em rằng em yêu má nè...
 
Bé hỏi chị:
 
- Hổng có yêu con Miu hả chị Thảo?
 
Chị Thảo lúng túng nhìn quanh rồi kề vào tai bé:
 
- Chị hổng biết!
 
Chị Thảo và bé cười lên ròn rã.
 
Mẹ tát nhẹ vào má bé:
 
- Con khỉ! Lúc nãy khóc, bây giờ cười. Coi! Cái miệng méo xẹo kìa!
 
Cả nhà cùng cười thật vui.
 
Bé lên giường ngủ, lẩm bẩm lại bài hát chị Thảo dạy:
 
Nếu hỏi rằng em yêu ai?
Thì em rằng em yêu ba nè...
Thì em rằng em yêu má nè...
 
Bé mỉm cười đi vào giấc mộng. Đôi môi hồng méo xệch và cặp mắt nhỏ vẫn còn đọng lại giọt nước mắt lóng lánh...
 
 
ĐINH THỤY MINH CHÂU       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 41, ra ngày 4-6-1972)


Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

PHƯỢNG VÀ HẠ - Nhã Uyên

 

Phượng ơi, phượng nở kề cận ngày thi
Để bé cặm cụi bên đèn bên sách
Hạ ơi, hạ về đưa tiễn xuân đi
Để bé nói lời giã từ xa cách

Lờ lững trên không những áng mây trôi
Một sáng mờ sương không còn đi học
Chín giờ buổi mai mặt trời chưa mọc
Trên cành phượng thấm giọt mưa đầm đìa

Hạ ơi, hạ trốn trong mưa làm chi
Để bé dỗi hờn tìm hạ khắp chốn
Phượng ơi, phượng tươi phượng đẹp làm chi
Để  bé soi gương thấy mình thiếu thốn

Sách báo hỗn độn góc phòng búp bê
Cặp mắt pha lê mỉm cười nhìn bé
Phượng đỏ cúi đầu mưa tạt bên lề
Từng cơn gió về rung rinh cành nhẹ

Hạ ơi, hạ biết bé buồn hay không
Hãy dừng cơn mưa đừng làm giông tố
Phượng ơi, dù mưa muốn làm tan vỡ
Phượng tươi xóa lấp khoảng trống mênh mông

Hạ ơi, sáng ni bé sẽ làm chi
Cho hết thời gian mưa qua ướt đất
Phượng ơi, cánh phượng thấm mưa ngại chi
Vẫn tươi vẫn đẹp một màu bắt mắt

Soi gương, chải đầu, mỉm cười mím chi
Bé chẳng đi đâu, bé chẳng làm gì
Thẫn thờ cả buổi, phượng ơi, hạ ơi
Mưa rơi, lá rơi, hạ về, phượng đỏ

Lật  xem cuốn tập lưu bút  tuy nhỏ
Hình ảnh ban xưa tưởng đã không rời 
Cảm thấy trong tim nỗi buồn vô cớ
Nên bé gọi thầm phượng ơi, hạ ơi!

                                                  Nhã Uyên


Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

VÁCH ĐÁ SƯƠNG MÙ - Hạnh Vi

 

Buổi sáng trong thung lũng trời đầy sương mù, những lớp sương trắng vướng víu thật dịu dàng trên ngọn cỏ, hàng thông đứng im lìm dưới chân núi thấp, mặt trời chưa lên. Cảnh vật ngủ say trong không gian tinh khiết và huyền hoặc thoang thoảng trong hơi sương. Quỳnh Chi đã ngửi được mùi đất và tiếng đàn quen thuộc của Thuyên. Quỳnh Chi bước thật nhẹ đến hàng hiên nhà Thuyên và dừng lại dưới gốc cây phong lan chăm chú nghe đàn. Tiếng đàn thật êm, dìu dặt trong căn nhà có khung cửa xanh xinh xắn đưa ra. Quỳnh Chi tưởng tượng đến bàn tay Thuyên đang lướt nhẹ nhàng trên phím, Thuyên có một chân bị tật nhưng ngược lại Thuyên có đôi tay rất đẹp và tài đánh đàn thật hay.
 
Bỗng tiếng đàn im bặt và tiếng "lịch kịch" của đôi nạng gỗ đi về phía cửa. Cửa xịch mở, Thuyên reo lên:
 
- Chi đấy hả? Biết ngay mà.
 
Quỳnh Chi ngạc nhiên:
 
- Biết gì?
 
Thuyên mang đôi nạng đến bên cạnh Quỳnh Chi mỉm cười đáp:
 
- Biết có Quỳnh Chi đứng ngoài nầy. 
 
- Thật? 
 
- Ừ! Chi không tin à?
 
Quỳnh Chi mím môi:
 
- Không! Sao Thuyên biết được?
 
- Chi đến lúc nào Thuyên không biết, nhưng đang đàn Thuyên chợt có linh cảm như đang có người đứng ngoài cửa nghe lén và Thuyên đoán người đó là Chi chứ không ai khác.
 
Quỳnh Chi nghiêng đầu, nheo mắt chọc Thuyên:
 
- Tài thật!
 
Thuyên cũng bắt chước Quỳnh Chi nghiêng đầu, nheo mắt cười. Không khí tĩnh mịch như loãng đi trong tiếng cười của đôi chim non. Thuyên đưa tay vuốt một chiếc lá non ướt hơi sương và đưa mắt nhìn lên những chùm hoa phong lan trên cao. Quỳnh Chi đưa mắt nhìn theo bạn hỏi:
 
- Thuyên thích hoa nầy lắm, phải không?
 
Thuyên gật đầu, mơn man chiếc lá trên má nói:
 
- Những lúc buồn Thuyên thường ra đây nói chuyện với cây hoa nầy, nên Thuyên yêu nó lắm!
 
Quỳnh Chi kinh ngạc nhìn bạn:
 
- Nói chuyện với cây hoa nầy?
 
- Ừ! Lạ lắm sao mà Chi ngạc nhiên?
 
- Chi không tin, cây làm sao nghe được tiếng người?
 
Thuyên thản nhiên đáp:
 
- Ai nói với Chi là cây không nghe được tiếng người? Thuyên tin là nó nghe được, nó hiểu được, nó còn biết cả tánh tình của Thuyên, nó biết Thuyên thích nó nên nó luôn luôn đi theo Thuyên. Mỗi buổi sáng khi vừa mở mắt ra Thuyên đã ngửi ngay được hương hoa Lan, trưa cũng ngửi được, chiều cũng ngửi được, ngay cả lúc lên giường ngủ hay ngồi đánh đàn Thuyên đều ngửi được hương hoa Lan. Như thế nó chả hiểu và thương Thuyên lắm sao. Chi tưởng chỉ có loài...
 
Quỳnh Chi vẫn kinh ngạc, nhìn bạn nói thao thao bất tuyệt, gương mặt thật nghiêm nghị không chút bỡn cợt. Quỳnh Chi không ngờ cô bạn bé nhỏ hay buồn của mình lại có óc tưởng tượng phong phú đến thế. Thảo nào đã có lần Quỳnh Chi hỏi Thuyên: "Ở mãi trong căn nhà nhỏ, không đi chơi, không có bạn bè Thuyên có thấy buồn không?" Thuyên đã trả lời cho Quỳnh Chi như thế nầy: "Sao Chi biết Thuyên không có bạn, bạn Thuyên đông lắm chứ, chúng ở đây chung quanh nhà Thuyên, chúng ở từ ngoài ngõ đến trong phòng, chúng là những cỏ cây và vật dụng quen thuộc của Thuyên, Chi không biết chứ chúng ngoan và dễ thương ghê lắm". Lần đó Quỳnh Chi tưởng Thuyên nói đùa nào ngờ Thuyên nói thật. Quỳnh Chi ngầm nể phục bạn. Tuy nhiên cô bé vẫn phá Thuyên:
 
- Chắc Thuyên đọc nhiều chuyện thần thoại?
 
- Không. Thuyên nói thật. Chi không tin thì thôi.
 
Thuyên nói, mắt vẫn nhìn lên cây hoa Phong Lan, vẻ mặt đầy tin tưởng. Quỳnh Chi không muốn phá vỡ niềm tin của bạn nên bảo Thuyên:
 
- Mình đi chơi một chút.
 
- Đợi Thuyên một tí nhé!
 
Thuyên quay vào nhà và trở ra với chiếc áo len trên mình, màu len thật trắng như màu sương mù. Thuyên rất thích màu trắng nên áo của Thuyên toàn màu trắng. Có lần đi dạo với Thuyên trong thung lũng vào buổi sáng, Quỳnh Chi nói:
 
- Trông Thuyên mặc áo trắng đẹp và ngoan như một nàng công chúa lạc trong rừng.
 
Thuyên cười thật buồn:
 
- Công chúa què Chi ạ!
 
Từ lần đó không bao giờ Chi dám khen Thuyên xinh như "Công Chúa" vì Chi biết Thuyên mang mặc cảm bị tật nguyền.
 
Đôi bạn đi loanh quanh trong thung lũng, chúng không thể nắm tay nhau hay kề vai thân thiết nhưng chốc chốc chúng lại nhìn nhau, ánh mắt dịu dàng và thân ái. Nắng sớm đã lên, sương mù tan dần, bầu trời thật xanh và trong vắt. Từ trong những vách đá cao phủ đầy rêu từng đàn chim túa ra lao xao trong nắng, chúng bay dập dìu và kết thành từng hình chữ V nhỏ xíu. Thuyên nhìn chim bay mà ước ao mình được tung tăng như thế. Bỗng Thuyên đứng lại dưới chân núi bảo với Quỳnh Chi:
 
- Chi này! Mình leo núi chơi nhé!
 
- Leo núi?
 
Quỳnh Chi kinh ngạc lập lại lời bạn. Thuyên gật đầu:
 
- Ừ, xem thử trên ấy có những gì. 
 
- Không được đâu. Thuyên không leo núi được đâu, chân yếu lắm đấy Thuyên  không biết à.
 
Thuyên mỉm cười, cương quyết:
 
- Chân Thuyên không yếu, Thuyên leo được, để Thuyên leo cho Chi xem.
 
Thuyên nói xong bước nhanh lên tảng đá. Quỳnh Chi hốt hoảng chạy theo bạn dỗ dành:
 
- Thuyên, nguy hiểm lắm đó, đừng leo.
 
Thuyên vẫn mím môi không nói nhưng chân vẫn bước từ tảng đá nầy đến tảng đá khác, chiếc nạng gỗ khua trên đá nghe "lịch kịch". Quỳnh Chi không biết làm sao hơn là leo bên Thuyên.
 
Thuyên vẫn leo hăng hái lên cao dần, cô bé thích thú trong khi Quỳnh Chi sợ cuống chân. Một chốc sau hình như đã nghe mỏi Thuyên dừng lại thở. Quỳnh Chi nhìn những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán bạn, nhỏ nhẹ:
 
- Đừng leo nữa Thuyên, mình về nhé?
 
Thuyên nhìn lên vách đá cao, nơi đàn chim bay ra lúc nãy, nói:
 
- Mình leo đến vách đá đó hãy về.
 
Quỳnh Chi hốt hoảng:
 
- Không được, đừng leo cao nữa. Thuyên không nghe, Chi về ngay bây giờ, không bao giờ đến nhà Thuyên nữa.
 
Thuyên thấy bạn giận lo lắng bảo:
 
- Thôi, không leo cũng được, để hôm khác vậy.
 
Quỳnh Chi lắc đầu:
 
- Không. Thuyên  phải hứa với Chi là đừng bao giờ leo nữa.
 
Thuyên cười lặng thinh. Quỳnh Chi lay tay bạn:
 
- Nhé! Thuyên đừng leo núi nữa nhé!
 
Thuyên quay mình lại:
 
- Mình xuống núi đi Chi.
 
Quỳnh Chi lặng thinh theo bạn, lòng vẫn ái ngại nhưng liếc thấy vẻ mặt lạnh căm căm của Thuyên, Chi không dám nhắc chuyện leo núi nữa. Chi vốn biết tánh Thuyên bình thường rất ngoan nhưng khi quyết định việc gì thì rất bướng.
 
Nắng lên cao gay gắt nóng, đôi bạn đi bên nhau không nói. Quỳnh Chi nhìn Thuyên đi chậm chạp, đôi vai nhấp nhô theo nhịp bước của đôi nạng trong tay. Chi thương hại bạn, chắc hẳn đã có lần Thuyên ước mơ được lành chân, để được chạy nhảy tung tăng như bao đứa trẻ khác cùng lứa tuổi với Thuyên. Trời đã bắt Thuyên chịu tàn tật vì thế khi chào đời Thuyên đã bị què, con chim xanh đã gãy một chân, con bướm vàng đã mất đi chiếc cánh thì vùng trời xanh mây trắng đối với chúng là cả một sự ước mơ vĩ đại cũng như Thuyên, vách núi kia không khó khăn lắm với một người có đôi chân bình thường nhưng với Thuyên nó cao vời vợi.
 
- Chi nầy!
 
- Gì?
 
- Bao giờ Chi đi?
 
- Mai Thuyên ạ!
 
- Mai?
 
- Ừ, mốt là ngày khai trường nên mai Chi phải đến trước để lấy phòng.
 
Thuyên chớp mắt, giọng thật nhỏ:
 
- Thuyên ở đây một mình, không có Chi buồn ghê lắm.
 
Quỳnh Chi an ủi:
 
- Bãi trường hay có dịp nghỉ Chi về với Thuyên.
 
- Có lâu lắm không Chi.
 
- Không biết được, mà... chắc mau.
 
- Ở trường Chi có nhiều bạn lắm?
 
- Không nhiều đâu, Chi không thích ai bằng Thuyên cả.
 
Thuyên chớp mắt cảm động:
 
- Cám ơn Chi.
 
Chi cười, cố gây vui cho bạn. Cô bé reo lên:
 
- Tới nhà rồi đấy. Thuyên đàn cho Chi nghe nhé?
 
Thuyên cười theo bạn:
 
- Đàn dở đừng cười nghe.
 
- Thuyên mà đàn dở thì ai đàn hay?
 
Đôi bạn rẽ vào lối đất quen thuộc. Hương hoa Lan thoang thoảng trong gió. Thuyên đi trước Chi theo sau, tóc Thuyên bay quấn quít trên mặt Chi, Chi khẽ hít, tóc Thuyên thơm nhẹ nhàng. Màu tóc không đen nhưng tóc mềm và óng ánh trong nắng.
 
Thuyên ngồi bên chiếc đàn đặt cạnh khung cửa sổ có chắn rèm xanh, mái tóc để nghiêng về một phía, cô bé bắt đầu dạo đàn, bàn tay thành thạo lướt thoăn thoắt trên phím, điệu nhạc phát ra vui tai nhưng nghèn nghẹn ở cổ. Thuyên vẫn đàn say mê, hàng mi dài không lay động, cô bé đàn từ bản này sang bản khác, điệu nhạc nối tiếp nhau trầm bổng vang vang khắp căn phòng, dường như Thuyên quên mọi vật chung quanh, quên cả cô bạn bên cạnh mình, cô bé đàn không biết mệt, đôi tay không ngừng nhịp nhàng trên phím. Cho đến khi Quỳnh Chi đặt tay lên tay Thuyên:
 
- Thôi Thuyên ạ!
 
Thuyên ngửng mặt lên nhìn Chi, một giọt nước mắt chạy nhanh xuống má.
 
- Chi không thích Thuyên đàn nữa sao?
 
- Không, thích lắm chứ.
 
- Để Thuyên đàn tiếp cho Chi nghe nhé?
 
- Thôi, Chi phải về, Thuyên... ở lại đừng buồn nhé! Có dịp Chi sẽ về thăm Thuyên.
 
Thuyên ngồi sững sờ trong khi Quỳnh Chi chạy nhanh ra cửa, chân đụng phải chiếc nạng của Thuyên rơi xuống gạch. Tiếng kêu khô khan.
 
*
 
Mùa hè đã đến, Quỳnh Chi trở về thung lũng, cô bé nao nức đến gõ cửa nhà của cô bạn thân yêu, người mở cửa không phải là Thuyên mà là má Thuyên.
 
- Thưa bác, Thuyên đâu ạ?
 
- Thuyên à?
 
Bà thẫn thờ đưa mắt nhìn ra xa nơi vách đá có tổ chim. Bà không nói nhưng sự im lặng tràn ngập nỗi bàng hoàng. Quỳnh Chi nghe như toàn thân mình lạnh băng. Chi hốt hoảng quay lại phía đỉnh cao có sương mù mù. Chi hình dung màu áo trắng sương mù của Thuyên mới hôm nào còn đi với Chi qua những cành thông rủ thấp ở trên ấy. Chi bỗng bật lên tiếng khóc. Chi quay lại phía bà mẹ Thuyên. Bây giờ khuôn mặt của bà cũng đầm đìa nước mắt. Chi nghẹn ngào không nói được câu nào. Chi lẳng lặng bước xuống sân. Trời hôm nay nằng lên muộn nên trên những chòm thông cao còn vương vấn những giải sương trắng xóa. Gió rì rào thổi qua những rặng thông già. Một vài cành khô rơi đâu đó trong vườn gây thành tiếng khô khan. Chi chợt nhớ đến tiếng động khô khan ngày nào năm ngoái, Chi đã đụng vào làm rớt chiếc nạng gỗ của Thuyên. Chỉ có khuôn mặt của Thuyên là bị nhạt nhòa theo từng giọt nước mắt đã ướt đẫm trên mắt Chi... Thuyên ơi...
 
 
HẠNH VI        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 93, ra ngày 10-6-1973)


Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

LOÀI CHIM DI TRÚ - Trường Kỳ

 


Hàng ngàn năm nay, người ta thường chứng kiến những cuộc di chuyển vĩ đại cùa hàng trăm loài chim, tùy theo từng loài, chúng có thể thực hiện những cuộc hành trình dài hàng chụ ngàn cây số từ Nam lên Bắc, hoặc những cuộc di chuyển ngắn trong một khu vực địa lý nhất định. Mặc dù đã được nhiều viện khảo cứu về chim muông trên thế giới chú tâm tìm kiếm, ngày nay người ta vẫn chưa có một kết luận chính xác về các động lực kỳ bí thúc đẩy chúng. Thật không khó khăn để phỏng đoán rằng sự di trú có một giá trị sống chết như những loài di trú theo điều kiện thời tiết. Chim Petrel, một loài chim biển nhỏ lông đen trắng, cánh dài, làm tổ trong những hốc đá ngoài biển khơi có khuynh hướng bay vòng quanh trái đất giữa hai kỳ sinh đẻ của chúng. Thường thì chúng bay về phía Bắc, về mùa Hạ và Thu để kiếm côn trùng về nuôi đàn con sắp nở ra đồng thời tìm kiếm những vùng đẹp trời hơn để di chuyển đến mỗi khi vùng ở hiện tại khí hậu trở nên oi bức và đồ ăn thiếu thốn.
 
Giống chim Hải Yến Bắc Cực được ghi nhận là có tầm hoạt động xa nhất, trong mùa Xuân chúng đẻ trứng từ vĩ tuyến 82 độ Bắc, chúng bắt đầu di chuyển dọc theo bờ biển Đại Tây Dương để tới vùng Âu Châu và Phi Châu, hoặc theo bờ Đại Tây Dương tới Mỹ Quốc và sau đó chúng có thể xuống tận vĩ tuyến 74 độ Nam. Cuộc di chuyển này có thể xa đến 60.000 cây số. Đối với loại chim sống trên đất liền, chúng cũng có thể thực hiện những cuộc vượt biển như loại Américan Golden Plover (óc câu Mỹ Châu) có tổ ở vùng Alaska, chúng vượt trên 3.000 cây số qua Đại Tây Dương để tới các hải đảo Hạ Uy Di, ngay cả loại chim nhỏ xíu như Rubythroated Hummingbird, chúng có thể bay không ngừng suốt quãng đường từ 100 tới 200 cây số qua vịnh Mễ Tây Cơ.
 
Khi thực hiện những cuộc di trú đó, loài chim không bay riêng rẽ mà thường hợp thành từng đoán bay rợp trời. Khi chứng kiến những cảnh tượng đó chúng ta thường có những mối xúc cảm rõ rệt. Nhất là chúng lại có những thời biểu di trú nhất định từng mùa hay theo thời tiết. Tại Bắc Mỹ, các viện nghiên cứu chim muông đã thống kê được trong khoảng thời gian từ 1920 đến 1958 có đến 7.500.000 chim tụ họp trong vùng và từ đó đến nay hàng năm có khoảng nửa triệu chim đã di trú trong vùng Bắc Mỹ. Khi nghiên cứu các loại chim di trú này người ta phải sử dụng một hệ thống Radar, và chính nhờ đó các viện nghiên cứu lại cho biết, các loài chim di trú thường bay trên độ cao từ 800 đến 900 thước, Radar cũng khám phá được lộ trình của từng loài chim.
 
Cuộc di trú của loài chim thường gây ra bởi nhiều nguyên do, nhưng nguyên do trọng yếu nhất, người ta cho rằng thường sau mỗi kỳ sanh đẻ của chúng trong những ngày ngày ngắn đêm dài, đã làm thay đổi các kích thích tố trong cơ thể chúng, sự thay đổi này khiến chim cần thức ăn để dự trữ trong cơ thể dưới dạng mỡ, nó cũng làm cho chim trở nên hoạt động.
 
Cuộc di trú của loài chim lại thường có một hướng nhất định, và dù có xa hàng ngàn dặm chúng cũng có khả năng để tìm về tổ của chúng. Nhiều cuộc thí nghiệm đã chứng minh rằng chim đã dùng mặt trời và sao làm kim chỉ hướng, bởi vì người ta đã thấy chúng chỉ bị lạc hướng trong bầu trời u ám.
 
Một loài Bồ Câu hoang dã có khả năng tìm về tổ cũ rất chính xác mặc dù người ta có mang chúng đi thật xa. Một cuộc thử nghiệm khác đối với loài chim Manx Shearwater, người ta đã bắt chúng tại ổ trong vùng Skokholm Anh Quốc, sau đó chuyển đến Boston xa hơn 3.000 cây số, loài chim này đã trở về ổ của chúng 12 ngày sau đó. Cũng trong chiều hướng thí nghiệm đó, một loài chim khác, Hooded Crows được bắt từ vùng Rossitten Nga Sô, sau đó được chở về hướng Tây Flensburg Đan Mạch xa hơn 900 cây số, khi thả ra loài chim này lại có những hướng bay y hệt hướng mà nó đã thực hiện khi còn ở đất Nga.
 
Dĩ nhiên cho đến nay ngành "điểu học" vẫn chưa trả lời hết các thắc mắc về sự di trú của loài chim.
 
 
TRƯỜNG KỲ      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973)


 

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

CHIM SÁO... NGÀY XƯA - Thông Xanh

  

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
Con chim sẻ nâu chuyền trên ngọn lá
Hót líu lo bài hát ngắn, dễ thương
Bé có thấy tuổi thơ mình như thế
Thật yên vui bên bóng mát vô thường
 
Nhớ không bé ngày bé lên năm tuổi
Áo màu xanh bên luống cỏ cũng xanh
Bé bắt cào cào về nuôi chim sáo
Vụng về ghê đi chẳng có con nào
 
Bé bi bô sợ sáo buồn sáo "khóc"
Trong lồng tre giải đầy những hoa dừa
Bé đâu biết chim sáo đang gọi mẹ
Nhìn ra trơi giăng mây lưa thưa
 
Khi me bảo bé ngẩn ngơ đến tội
Đôi tay hồng rón rén mở lồng son
Gọi: "sáo ơi sáo bay ra trời nhé"
Bé ngây ngô những dễ mến vô cùng
 
Con chim nhỏ chao chuyền trong gió
Mắt long lanh rồi vỗ cánh líu lo
Vụt bay đi trong vòm trời cao rộng
Bé một mình đứng ngó, dáng ngẩn ngơ
 
Giờ chim sẻ cũng chuyền trên mái ngói
Nhưng bé không còn vụng dại hái hoa
Bắt cào cao nuôi chim trong lồng nhỏ
Bé chỉ nhìn nghe kỷ niệm thoáng qua
 
                                             THÔNG XANH
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973) 



Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

LỜI THỀ DANH DỰ - Xuân Vũ


Tướng Cambronne, xưa kia là một danh tướng của Pháp. Từ cấp Hạ sĩ ông đã lần lượt tiến lên đài danh vọng. Năm 1795, hạ sĩ Cambronne đóng ở Nantes, lúc đó ông mới 20 tuổi. Mặc dầu còn trẻ tuổi, nhưng ông đã mắc phải một thói xấu, một "tật kinh niên" rất khó sửa : "tật" say rượu. Ông thường say khướt, và một hôm vì quá chén nên ông đã cãi lại thượng lệnh, rồi hăng tiết ông còn đánh luôn cả viên sĩ quan truyền lệnh nữa, vì thế ông bị tống giam và bị tòa án quân sự kết án tử hình.
 
Thấy ông bị án tử hình, một viên trung tá động lòng trắc ẩn đứng ra xin tòa ân xá cho ông, nhưng ông thẩm phán trả lời:
 
- Không thể được, phải trừng phạt để làm gương cho kẻ khác.
 
Tuy thế vị Trung tá kia cứ nài nỉ mãi, nên sau cùng ông thẩm phán bằng lòng ân xá cho hạ sĩ Cambronne, nhưng với một điều kiện, là buộc hạ sĩ Cambronne phải triệt để chừa rượu.
 
Được tin mừng, viên trung tá vội vàng vào trong ngục báo cho hạ sĩ Cambronne biết:
 
- Chào hạ sĩ, hạ sĩ phải giam ở đây vì đã phạm một trọng tội phải không?
 
- Thưa trung tá, đúng thế, và tôi sẽ phải chết để đền tội ấy.
 
- Chưa chắc đâu.
 
Hạ sĩ Cambronne bỡ ngỡ nhìn viên trung tá:
 
- Tại sao còn chưa chắc. Trung tá lại không thừa biết luật lệ nghiêm minh của quân đội hay sao?
 
Viên trung tá mỉm cười ôn tồn đáp:
 
- Thế mà hạ sĩ không phải chết mới lạ chứ!
 
- Ủa, tôi sẽ khỏi chết à. Tại sao thế?
 
- Tại vì tôi đã nài nỉ xin ân xá cho hạ sĩ.
 
- Nhưng ông thẩm phán có cho không?
 
- Có lắm chứ, nhưng với một điều kiện.
 
- Với một điều kiện?
 
- Phải, chỉ một điều kiện thôi. Nhưng không biết hạ sĩ có bằng lòng không?
 
- Tại sao lại không? Tôi xin sẵn lòng làm tất cả mọi sự miễn là có thể cứu được mạng sống và danh giá tôi là đủ rồi.
 
Lời nói, điệu bộ của Cambronne tỏ ra là ông rất nóng lòng muốn biết ngay điều kiện kia và sẵn sàng thi hành lập tức, khiến viên trung tá phải bật cười...
 
Hạ sĩ Cambronne giục rối rít:
 
- Xin trung tá cho biết điều kiện gì để còn thi hành.
 
Viên trung tá thong thả nói:
 
- Từ nay hạ sĩ phải đoạn tuyệt với rượu. Đó, điều kiện chỉ đơn giản có thế thôi.
 
Nghe viên trung tá trả lời thế, hạ sĩ Cambronne đang há hốc miệng tráo mắt để nghe, bỗng xịu mặt xuống. Ông cúi đầu suy nghĩ... rồi lát sau ông cương quyết trả lời:
 
- Không, gì chứ cái đó thì không thể được!
 
Câu trả lời đó đã làm cho viên trung tá vô cùng ngạc nhiên. Ông bỡ ngỡ nhìn hạ sĩ Cambronne rồi hỏi:
 
- Tại sao lại không thể được. Sao khi nãy hạ sĩ nói với tôi là hạ sĩ sẵn sàng làm hết mọi sự?
 
- Tại vì Cambronne và rượu. Rượu và Cambronne đã khắng khít kết nghĩa với nhau rồi nên không thể nào đoạn tuyệt nhau được. Bao lâu Cambronne này còn sống là phải có rượu...
 
Vừa nói ông vừa vỗ ngực một cách ương ngạnh.
 
- Thế hạ sĩ không biết là ngày mai hạ sĩ sẽ phải xử tử sao?
 
- Có lắm chứ.
 
- Tại sao hạ sĩ lại đành chịu chết cách tủi nhục hơn là sống mà không say rượu?
 
- Vì tôi không thể nào rời xa rượu được. Sống tất phải say. Nói cách khác : có say mới sống được.
 
Viên trung tá dịu dàng giảng giải:
 
- Hạ sĩ hãy nghĩ lại xem nếu hạ sĩ không muốn rời xa rượu thì ngày mai hạ sĩ sẽ phải chết, mà chết tức là phải vĩnh biệt rượu. Như thế nghĩa là dầu muốn dầu không đàng nào hạ sĩ cũng phải bỏ rượu. Nhưng nếu hạ sĩ tự ý bỏ rượu thì hạ sĩ sẽ được sống và lấy lại được danh giá. Hạ sĩ chớ nên cố chấp...
 
Hạ sĩ Cambronne yên lặng cúi đầu suy nghĩ...
 
Một lát sau ông ngẩng nhìn viên trung tá hỏi:
 
- Nhưng nếu tôi bằng lòng thề hứa thì tôi phải làm gì để trung tá tin và nhận lời thề của tôi?
 
- Tôi không đòi hỏi gì hết. Tôi chỉ cần một lời thề danh dự của hạ sĩ. Phải, hạ sĩ hãy lấy danh dự mà thề. như vậy đã đủ rồi...
 
Hạ sĩ Cambronne nhìn viên trung tá mỉm cười:
 
- Trung tá tốt quá! Xin thành thực cám ơn trung tá.
 
Viên trung tá mỉm cười không nói gì. Hạ sĩ Cambronne đưa hai tay lên cao trịnh trọng tuyên bố:
 
- Tôi, hạ sĩ Cambronne, xin lấy danh dự mà thề: "Từ nay cho đến chết không khi nào tôi uống một hớp rượu. Phải, chỉ một hớp cũng không".
 
Rồi ông quay sang hỏi viên trung tá:
 
- Thưa trung tá, như vậy có được không?
 
- Được lắm. Như thế càng tốt, tôi rất bằng lòng. Ngày mai hạ sĩ sẽ được trả tự do và cấp bậc nữa.
 
*
 
Ngày tháng trôi qua...
 
Hai mươi lăm năm sau, hạ sĩ Cambronne được thăng chức thiếu tướng và sau lần ông chỉ huy trận đánh oanh liệt ở Waterloo, ông về hưu tại Ba lê. Ở đây, ông được dân chúng yêu mến và kính nể.
 
Viên trung tá đã xin ân xá cho tướng Cambronne ngày trước, lúc đó cũng là một vị tướng lãnh đã về hưu và cũng ngụ tại Ba lê đọn tiệc linh đình để thiết đãi tướng Cambronne và các bạn đồng ngũ khác của ông. Bữa tiệc hôm ấy tướng Cambronne đã được ngồi ghế danh dự.
 
Tiệc bắt đầu...
 
Trung tướng chủ nhân rót một cốc rượu trịnh trọng mời tướng Cambronne.
 
Tướng Cambronne nhìn ông bỡ ngỡ:
 
- Trung tướng mời tôi cái gì đó?
 
- Đây là một thứ rượu hảo hạng. Xin mời thiếu tướng thưởng thức.
 
- Không, xin cám ơn trung tướng.
 
- Nhưng thưa thiếu tướng, đây là rượu Rhum quý lắm vì đã để dành từ hơn một trăm năm nay.
 
- Vẫn biết thế nhưng tôi xin cám ơn.
 
Viên trung tướng hết sức bỡ ngỡ:
 
- Thì thiếu tướng cứ thủ một chút xem sao...
 
Thấy viên trung tướng cứ mời mọc mãi, tướng Cambronne đập nhẹ tay lên bàn, hăng hái trả lời:
 
- Nhưng còn danh dự tôi, thành Nantes, nhà lao, ân xá và lời thề của tôi, trung tướng đã quên những cái đó cả rồi sao mà trung tướng cứ ép tôi thưởng thức?...
 
Mọi người ngơ ngác hết nhìn nhau lại nhìn ông, vì không ai hiểu ông muốn nói gì cả. Tướng Cambronne ung dung nói tiếp:
 
- Hẳn trung tướng còn nhớ cái ngày mà tôi đã lấy danh dự thề hứa trước mặt trung tướng là tôi nhất định chừa, không khi nào uống rượu nữa? Phải, chính từ ngày đó tới nay ròng rã đã mấy chục năm trời, tôi quả quyết với trung tướng là tôi chưa hề khi nào nhấp môi lấy một hớp rượu, dù chỉ là một hớp nhỏ cũng vậy.
 
Một phút yên lặng...
 
Mọi người như nín thở nghiêng mình cúi chào tỏ lòng cảm phục thái độ anh hùng và lòng kiên quyết của tướng Cambronne. (Lúc đó viên trung tướng mới sực nhớ lại lời thề của tướng Cambronne ngày xưa). Rồi không ai bảo ai, mọi người đồng một lượt vỗ tay vang dậy hòa lẫn với những tiếng hoan hô, tiếng cười vui vẻ...
 
 
XUÂN VŨ      
 
(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa Thú Quê)