Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

NIỀM VUI CỦA BÉ - Võ thị Thu Thủy

 - Me ơi! Mấy giờ rồi me nhỉ?
 
- 8 giờ hơn rồi, con me ngủ trưa thế, hư lắm nhé.
 
- Ơ... tại... vì hồi hôm con đi xem vô tuyến về khuya nên ngủ nhiều đấy me ạ. À! Khi nãy me bảo dắt con đi chơi mà đi đâu đấy me?
 
- Me dắt con vào thăm cô nhi viện, con có muốn đi không? Đi thì dậy rửa mặt thay đồ nhanh đi chứ.
 
- Vâng ạ!
 
Nói xong Tiên nhảy phóc xuống giường rồi chạy vụt xuống nhà rửa mặt.
 
Me mỉm cười hiền hậu, thu dọn chăn gối đoạn khép cửa phòng lại và xuống nhà.
 
Giây phút sau súng sính trong chiếc áo đầm màu tím nhạt, mớ tóc được chải gọn gàng thành hai "cái bính" dài có cột "nơ" màu xanh, Tiên hãnh diện ngắm bóng mình trong gương.
 
Me từ trong nhà bước ra, tay xách 1 giỏ quà nặng trĩu.
 
Tiên quay lại tò mò hỏi:
 
- Quà gì nhiều thế me?
 
- Cho cô nhi viện con ạ.
 
Vừa may lúc đó có một chiếc "TAXI" trờ tới me đưa tay vẫy, chiếc xe ngừng lại bên lề đường. Me và Tiên bước lên xe.
 
- Ông cho xe lại cô nhi viện Gò Vấp giùm.
 
Người tài xế rồ máy và chiếc xe lao đi để lại sau lưng một vệt bụi mờ.
 
Tiên bắt đầu "phỏng vấn" me:
 
- Me ạ! Ở cô nhi viện có đông trẻ con lắm không me?
 
- Đông lắm con ạ.
 
- Chủ nhựt chúng nó có được đi ăn kem và xem "ciné" như con không me nhỉ?
 
- Rõ lẩn thẩn! Tiền ở cô nhi viện đâu có nhiều mà "ciné" với lại ăn kem. Con me ngớ ngẩn lắm đấy.
 
Nghe me mắng Tiên phụng phịu quay mặt đi nơi khác nước mắt rưng rưng. Thấy thế me vội dỗ:
 
- Ô hay! Sao khóc, nín đi con kẻo bác tài xế bác ấy cười cho đấy! Chóng ngoan me thương, không thì về me mách ba đánh cho đấy. Và lần sau me không dắt đi chơi nữa đâu nhé.
 
Thấy me dỗ Tiên hết giận ngay, cô bé nhoẻn miệng cười, nụ cười méo xệch. Gì chứ ba đánh thì Tiên xin chịu. Eo ơi! Đau lắm cơ. Ba lại bỏ đói nữa chứ.
 
Mải suy nghĩ mà tới cô nhi viện không hay. Đến khi thấy me trả tiền xe và bước xuống, Tiên giật mình chạy theo me.
 
Trước cổng cô nhi viện lố nhố một đám trẻ con. Khi thấy Tiên chúng chạy ùa ra nhìn và luôn miệng xuýt xoa về bộ quần áo Tiên mặc trên người làm Tiên thẹn đến đỏ mặt. Dí dí ngón chân xuống đất Tiên vừa nắm chặt lấy bâu áo dài me mãi. Thấy thế me bật cười và khẽ bảo Tiên.
 
- Ngoan nào! Các em hiền lắm con ạ!
 
Vừa nói me vừa nắm tay Tiên kéo vào. Trẻ đâu mà đông chi lạ. Tiên bảo thầm. Thấp thoáng một bóng dì Phước trên hiên. Me dắt Tiên lại chào và đứng nói chuyện với dì. Chẳng biết me nói gì mà chỉ thấy dì gật đầu cười nhẹ. Me bảo Tiên:
 
- Kìa Tiên! Mang quà ra phát cho các em nào. Để me nói chuyện với dì một tí.
 
Vâng lời me Tiên khệ nệ mang giỏ quà ra, vì không quen Tiên lúng túng, vài bận suýt rơi đồ. Me thấy thế vội chạy ra và lấy từng gói một phân phát cho lũ trẻ. Một múi bưởi, một miếng bánh, dăm cây kẹo cũng là nghĩa là tình lắm rồi. Ít khi thấy ai săn sóc tận tình như vậy dù là các dì Phước đi nữa nên nom chúng cảm động lắm. Chúng nhìn me như muốn cảm ơn lại thôi, chỉ dám nhìn Tiên bằng đôi mắt đầy thiện cảm.
 

Một lát sau chúng và Tiên thân mật nhau hơn và Tiên bày ra những trò chơi thật vui vẻ, chúng được dịp nô cười thỏa thích.
 
Độ hơn hai giờ me dắt Tiên chào các dì Phước rồi ra về. Ra khỏi cổng các trẻ trong cô nhi viện chạy ùa ra, chúng chào me và Tiên luôn miệng:
 
- Lạy bác ạ!
 
- Bác về mạnh giỏi.
 
- Lâu lâu bác và chị Tiên lại lại chơi với chúng cháu nhá.
 
- Chào me và chị cả của con.
 
Đại để như thế làm cho me và Tiên cảm động vô cùng.
 
Đi đã lâu mà khi quay lại vẫn còn thấy những cánh tay nhỏ bé thò qua hàng dâm bụt vói theo vẫy. Tiên thấy thương chúng vô hạn và không khỏi sung sướng khi thấy mình đầy đủ quá.
 
Tiên bảo khẽ vào tai me:
 
- Me ạ! Mai mốt me dắt con đi nữa nhé!
 
- Ừ! Con ngoan rồi me dắt đi.
 
Tiên thấy thương me lạ và nhẹ nhàng kính cẩn Tiên khẽ nâng tay me sẽ nói:
 
- Vâng! Con sẽ ngoan. Me thương con hoài nhé.
 
Me mỉm cười, nụ cười như thiên thần. Tiên bảo thế và mơ hồ Tiên nghe văng vẳng bên tai tiếng reo cười của lũ trẻ trong "cô nhi viện".
 
 
VÕ THỊ THU THỦY     
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 78, ra ngày 1-10-1967) 


Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

KHOẢNG TRỜI THU ÊM ĐỀM - Nguyệt Thanh

 


Bây giờ trời đã vào thu. Có những cơn nắng hanh vàng vương trên bóng lá. Trời thì đầy mây. Mây màu tím trôi lang thang. Em chỉ biết ngồi nhìn. Vì nhìn để không gian và thời gian thu hẹp trong đôi mắt.
 
Có bao giờ lá vàng còn mãi? Có bao giờ mùa thu ở cạnh hoài bên em?
 
Và có bao giờ những sợi nắng, những sợi mây huyền hoặc được giữ lại muôn đời trong mắt em không? Không. Chắc không. Vì lẽ ấy mà em phải có thì giờ ngồi thu hồn xa vắng, thứ xa vắng nhuộm vàng nhung nhớ. Thế nghĩa là em đã yêu mùa thu. Mùa thu! Đó là một trong những tháng ngày đợi chờ đã đến với em. Nhẹ nhàng, êm đềm và có cả một sự thương yêu vĩnh cửu nữa. Ngày khai trường, đến lớp cũng vào mùa thu và hơn nữa ngày mơ Cung Quảng cũng vào mùa thu. Dư hưởng êm đềm ấy biết nói sao cho xiết.
 
Trời vào lúc ấy làm tâm hồn mình được bình thản được bâng khuâng khi nhìn gió nhẹ lay lá vàng rơi.
 
Tình cờ em bắt gặp lá vàng. Vừa rơi trên tóc em. Nhìn màu lá chết, nghe cô liêu mọc mời. Em bóp nát chiếc lá vỡ trong tay mà tưởng chừng như tiếng con tim mình vỡ vụn. Đau xót dâng lên mắt.
 
Nhiều lần em tự hỏi lấy chính mình... Trời sinh ra mùa thu làm gì để cho mình nhung nhớ?!... Nhưng câu hỏi của em không được trả lời. Trước mặt em mùa thu đã hiện diện rồi. Các văn thi sĩ yêu mùa thu, yêu khung trời buồn man mác. Em cũng yêu mùa thu... nhưng không có nghĩa em là văn thi sĩ!... Tuy thế em cũng biết nhận xét, cũng có tia nhìn lệch lạc mộng mơ. Cũng có tâm hồn đôi tí. 
 
Nghĩa là vừa đủ để cho em ngồi thừ người nhìn xa vắng thôi.
 
Hôm nay bầu trời có gió lên. Đẩy mây trôi bồng bềnh phiêu du. Lá vàng rơi nhiều quá. Em muốn nhặt lá để đếm. Nhưng trên những ngón tay ít ỏi này không được là bao. Đành thôi.
 
Bây giờ Thu u buồn. Thu hiu hắt luyến nhớ. Em vẫn ngồi nhìn. Chắc có lẽ khi màn đêm buông xuống, khuất bóng mây trôi, chìm bóng lá vàng em mới thôi...
 
 
NGUYỆT THANH            
bút nhóm Giăng Mơ Tam Kỳ     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 11, ra ngày 24-10-1971) 


Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

VẦN THƠ CHƯA VIẾT TIẾP - Trần thị Phương Lan

 

Từng chiếc lá úa rơi
Tan tác cả khung trời
Thu đến mang niềm nhớ
Ghế công viên vắng người
 
Hồ thu xanh biếc xanh
Rừng thu cành đan cành
Sương thu mờ mịt lối
Nắng thu nhẹ mong manh
 
Đàn thu sao im tiếng
Vương vấn mấy cung tơ
Vần thơ chưa viết tiếp
Đêm thu lạnh mong chờ
 
Bờ giậu vàng đóa cúc
Chuồn chuồn tíu tít bay
Dừng chân người lữ khách
Sầu lắng đọng chiều nay...
 
                   Trần Thị Phương Lan
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

CHUYỆN CON RÙA - Trường Kỳ

 


Cuộc chạy đua giữa Rùa và Thỏ cho dù có đem lại thắng lợi cho rùa nhưng rùa vẫn mang tiếng là chậm chạp. Các cuộc nghiên cứu về nhiều loại rùa trên thế giới đã chứng tỏ rùa còn chậm chạp về nhiều phương diện khác nữa, chẳng hạn như sự tăng trưởng. Nhưng càng chậm càng chắc, các chú rùa tà tà sống chừng hai, ba thế kỷ mới chết.
 
Loài bò sát thời tiền sử đã tiến hóa chậm chạp, một số lớn đã biến mất, số còn lại đã thích ứng và biến đổi để trở thành loại bò sát ngày nay như con thằn lằn hay cá sấu, rùa cũng thuộc loại bò sát nhưng hầu như người ta chưa tìm thấy được sự tiến hóa nào đáng kể vì mai rùa càng ngày càng phát triển hầu như mỗi năm một lớp vỏ mới được thành lập trừ ra một loại rùa biển có tên là rùa Linh có sự tiến hóa đôi chút. Rùa có nhiều loại khác nhau như ba ba, đồi mồi, rùa biển, rùa đất, rùa lưỡng thê... đặc biệt đồi mồi là loại rùa có nhiều mầu sác óng ả nhất, mai đồi mồi gốm những tấm cứng như xương hình đa giác màu sắc khác nhau, ở ngực các tấm đó da mỏng hơn nhưng màu sắc lại linh động hơn. Đầu và đuôi rùa rất hoạt động, ló ra thụt vào nhanh chóng, nhưng 4 chân còn lại thì hầu như rùa không biết giấu ở đâu ngay cả khi gặp nguy hiểm, chân trước ngắn hơn chân sau tất cả đều có hai công dụng là vừa bò, vừa bơi.
 
Rùa biển thường sống rất lâu có thể từ 200 đến 300 năm nếu như môi trường sinh sống thuận lợi cho sự tăng trưởng của chúng, trung bình rùa biển chỉ thọ được khoảng 100 năm, chúng thường chết vì những bệnh tăng trưởng hoặc ho lao, rùa biển sống trong các vùng biển nhiệt đới, chúng bơi lội giống như cá  voi, nhưng người ta dễ phân biệt nhờ màu sắc óng ả của bộ mai, muốn tăng trưởng chúng cần rất nhiều vôi trong thực phẩm của chúng do đó chúng có thể ăn ngay cả sò, ốc biển... Rùa mẹ đẻ trứng trong những hố cát, số trứng thay đổi hàng năm từ 10 cho đến một ngàn trứng, sau khi đẻ xong rùa lùa cát lấp đầy hố bỏ đi không hề thắc mắc về số phận của lứa con ra sao, nhờ may rủi và sức nắng, độ ẩm của cát, rùa con có thể nở ra ba tháng sau đó.
 
Một loại rùa có tên là rùa xanh sống tại vùng biển Franlbre nước Pháp có vóc dáng rất to lớn, đường kính của mai rùa khoảng 1m30 và chúng cân nặng trung bình từ 150 đến 180 kilo. Vào thời kỳ đẻ, rùa mẹ đẻ liên tiếp ba lần, cách nhau 15 ngày khoảng 500 trứng vào chung một hố. Trứng rùa rất ngon cũng như thịt rùa do đó các ngư phủ thường chờ đợi chúng trên bãi cát trong mùa đẻ để bắt cả rùa lẫn trứng sửa soạn những bữa tiệc ngon lành. Do đó một thời kỳ người ta có cảm tưởng loại rùa biển này biến mất và chính phủ Pháp đã can thiệp để ngăn chận hành vi của các ngư phủ. Người ta cũng săn rùa bằng thuyền tam bản với một người chèo và hai người kia sẵn sàng lật ngửa chú rùa đang lội trên nước, nhưng dù sao phương pháp này cũng nguy hiểm, do đó tại vùng Antilles và Madagascar người ta câu rùa bằng những sợi dây thật dài và chắc, dĩ nhiên là chỉ có thể bắt được loại rùa nhỏ bé cân từ 5 tới 10 kilo mà thôi.
 
Đồi mồi là một loại rùa biển nhưng nhỏ bé hơn, dài từ 80 đến 90cm, chúng thường sống trong các hốc đá ven biển, mai đồi mồi thường có màu nâu óng ánh rất đẹp mắt. Các ngư phủ thường bắt chúng để lấy thịt và mai được dùng làm đồ trang sức. Loại đồi mồi Luth hay còn gọi là đồi mồi "da", vì mai của nó không còn cứng và nặng nề nữa mà được thay thế bằng lớp da dầy. Các nhà sinh vật học cho rằng đây là một loại rùa tiến hóa nhất. Những ngư phủ già sống nhiều năm tại ven biển vùng Nam Mỹ đã thuật lại, họ đã bắt được những con rùa loại này và chúng thường dài đến 2m2 và nặng trên 500kg.
 
Loại rùa Lưỡng Thê vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước, hàng ngày chúng sống trên bờ bên cạnh những hốc đá vôi và khi nắng lên chúng ùa xuống nước bơi lội và kiếm thức ăn, loại này có răng rất nhọn, khi chúng bơi lội thì các tuyến hơi trong cơ thể phồng lên và tiết ra một chất nhờn chống nước vào cơ thể và áp suất, loại rùa này có rất nhiều tại vùng Địa Trung Hải, vùng Đông Nam Á Châu. Chúng còn có tên là rùa đất vì màu sắc của mai gần giống màu đất, vóc dáng chúng tương đối nhỏ bé hơn hết, con lớn nhất chỉ dài khoảng 50cm. Thực phẩm của chúng có thể là cá, trứng, ếch, nhái... Rùa mẹ đẻ khoảng 12 trứng vào một hố đất, nhờ ánh sáng mặt trời, rùa con sẽ nở ra khoảng 15 tuần lễ sau đó. Sự tăng trưởng đối với loài rùa rất chậm chạp, sau một năm rùa con chỉ cân nặng khoảng 5g, hai năm chúng nặng khoảng 12g, ba năm 20g, và khi chúng nặng được 100g thì phải mất 9 năm trời. Rùa đực được coi là trưởng thành khi chúng được 12 tuổi, còn rùa cái có thể đẻ được khi chúng được 18 tuổi. Loại rùa này chỉ sống lâu khoảng từ 50 đến 100 năm.
 
Với vóc dáng mạnh mẽ, rùa chịu đựng rất giỏi, loại rùa biển có thể chịu đựng một sức nặng đến 10 tấn đè lên trên mà không hề hấn gì. Nhưng đối với những con rùa mới nở chúng lại dễ "vỡ" vì lớp da bên ngoài chỉ là một lớp như vỏ trứng, bởi đó loài rùa đã chứng kiến những cảnh tàn sát man rợ nhất tại vùng biển Madagascar, hàng ngàn con rùa con mổ vỏ để chạy tung tăng trên bãi cát trong khi đó loài ó biển đã chờ sẵn, chúng chỉ cần lượn một vòng hàng chục rùa con đã rơi vào bao tử.
 
Rùa cung cấp cho con người những bữa ăn thịnh soạn và ngon lành nhất, đồng thời rùa còn được dùng làm đồ trang trí, hoặc  nuôi làm thú chơi trong nhà.
 
 
TRƯỜNG KỲ         
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 58, ra ngày 1-10-1972)

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

TUỔI 14 - Thảo

 

14 tuổi chưa cài trâm lên tóc
Hay giận hờn, hay khóc dỗi ba me
Hay trộm hoa, đuổi bướm những khi về
Chiều tan học đứng vân vê tà áo.

14 tuổi hồn nhiên chân chim sáo
Môi ngọt ngào thơm ngát dấu ô mai
Khi thẹn thùng đôi má đỏ hây hây
Bàn tay nhỏ xinh như hai tháp ngọc.
 
14 tuổi tâm hồn em mở rộng
Lời thầy cô mong ước đến ngày mai
Học trò cô rực rỡ đón tương lai
Hãy ôm trọn những tháng ngày tuổi nhỏ.

14 tuổi vòng tay ôm sách vở
Buổi đến trường tươi nở nụ cười xinh
Mắt rạng ngời như ánh nắng bình minh
Tuổi 14 nghìn xưa êm ái quá!

                                              THẢO (Phú Lâm)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 107, ra ngày 14-9-1973)



Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

CON CHỒN ĐÈN - Đặng Hoàng

 

Xuất hiện trên cao nguyên nơi trồng cỏ và cây cối rậm rạp hay trong các thung lũng thuộc vùng rừng núi thâm u, đôi khi dám lần mò về đồng bằng - có đất phù sa - để sinh sống, chồn đèn là con vật hiền lành, dạn dĩ, dễ thương. Hiện nay giống này trở nên khan hiếm nếu không muốn nói bị diệt chủng vì người ta thấy chỉ còn lại rất ít tại một vài địa điểm ở Âu Châu, Phi Châu, miền Tiểu Á và Á Châu mà thôi.
 
Vốn thuộc loài ăn thịt, dài khoảng tám tấc tới một thước, ấy là chưa kể tới chiếc đuôi dầy, dài từ ba tới năm mươi phân, cao quãng hai tấc, nặng bảy tám ký lô, chồn đèn đầu ngắn, tai tròn lại nhỏ, mắt bé, mõm nhọn, chân thấp gồm năm ngón với những móng vuốt sắc bén (nhưng không có tính đàn hồi như ở loài mèo).
 
Toàn thân chồn đèn mang một bộ lông mầu nâu rất đẹp, và đó chính là nguyên nhân khiến các tay thợ săn đổ xô đi lùng kiếm nên loài này bị sát hại khá nhiều. Thêm vào đó chó sói, linh miêu, đại bàng và sơn cẩu cũng thích rình bắt chồn đèn để ăn thịt. Bởi vậy, nó rất ít khi đi tìm mồi lúc ban ngày mà thường dành về đêm, vì lẽ chúng hay kéo cả gia đình ra khỏi hang đào sâu dưới lòng đất để sục sạo tìm kiếm tất cả các con vật thuộc loài gặm nhấm (như chuột, sóc, thỏ, ngân thử v.v...) và bò sát (như thằn lằn, kỳ nhông, tắc kè, nhất là rắn). Chồn đèn cũng ưa săn bắt chim rồi tìm đến tận ổ để ăn trứng, ngoài những lúc mò tôm, tép, cua, cá, ốc bên dòng suối hay sông, hồ.
 
Chồn đèn cái thường đẻ từ hai tới bốn con. Tất cả đều sống chung với nhau thành một bầy chứ ít chịu ở riêng rẽ. Cũng vì gia đình chồn đèn sống đông đảo tại một tổ như vậy nên không thể tránh khỏi thiệt hại khi địa điểm này bị khám phá. Lúc đó, chồn đèn rít lên những âm thanh chát chúa tựa hồ tiếng sáo cao vút với một điệu đều đều buồn tẻ trong lồng của thợ săn.
 
Một trong số hai chục loại chồn đèn còn sót lại ngày nay là loại chồn đèn sống tại Phi Châu và Á Châu. Hiện loài chồn đèn đang được bảo vệ triệt để trong những khu vực tập trung ngõ hầu tránh bị diệt chủng.
 
 
ĐẶNG HOÀNG (sưu tầm)     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 58, ra ngày 1-10-1972)


Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

CON TÊ GIÁC - Đặng Hoàng

 

Với dáng vẻ lờ đờ, chậm chạp, thân hình to lớn nặng nề, cục mịch và cặp sừng kỳ lạ tựa quái vật thời tiền sử, tê giác là con vật hiền lành được coi như không có kẻ thù - trừ loài người - trong chốn rừng xanh.
 
Theo các nhà cổ sinh vật học, tê giác đã xuất hiện trên trái đất ngay từ đầu nguyên đại đệ tam và đệ tứ (cách đây chừng 60 triệu năm) tại Mỹ, Âu, Phi và Á Châu, cùng thời với Khổng Tượng và Trụ Nha. Nửa thế kỷ trước, tê giác còn sống rất đông đảo, nhưng hiện nay chúng trở nên hiếm hoi chỉ còn thấy rất ít ở một số quốc gia Phi và Á Châu mà thôi.
 
Trung bình tê giác cao khoảng thước rưỡi, dài hơn ba thước, to như trâu mộng, nặng trên 1 tấn, đầu nhỏ, mắt bé, hai tai ngắn. Đặc biệt, tê giác có một hay hai sừng nhọn hoắt mọc ngay trên sống mũi - do lớp lông dính chặt vào nhau cứng ngắc nhô lên khỏi lớp da tạo thành - sừng này dài cỡ nửa thước giúp nó húc vào bụi cây để tìm đường xuống suối uống nước và để tự vệ chống lại kẻ thù khi cần. Riêng bốn chân tê giác vừa ngắn lại vừa tròn với móng tầy như loài voi nên so với thân mình đồ sộ của nó thực chẳng cân đối chút nào. Đã vậy, đuôi tê giác bé quá và cụt lủn như đuôi lợn trông càng thêm kỳ dị.
 
Món ăn chính của tê giác gồm cỏ, mầm non, lá thân cùng rễ các loại cây mềm. Chúng thường xuất hiện trong những vùng rừng núi yên tĩnh, bên bờ suối, đôi khi tại những đồi trọc khô khan người ta cũng thấy bóng dáng tê giác, mặc dù chúng rất ưa thích nước, nhưng vẫn có thể nhịn uống cả tháng.
 
Thời gian tê giác ưa thích nhất để đi kiếm ăn là lúc mặt trời lặn trở đi cho tới sáng. Nếu gặp con suối, đềm lầy, vũng bùn là tê giác dầm mình xuống, lăn lộn một hồi cho đã rồi leo lên bờ cọ mình vào thân cây hay vách đá như thể ta gãi gãi chỗ ngứa vậy. Bình minh trở lại, tê giác tìm các nơi có bóng cây rậm rạp, hay bụi bờ chui vào nằm ngủ. Điểm tức cười là đôi lúc nó đứng yên lặng, đầu cúi gằm xuống rồi ngủ gà ngủ gật suốt ngày như anh chàng say rượu vậy.
 
Tê giác sống rất cô độc: một mình hoặc từng cặp với một vài đứa con. Sau mười tám tháng cưu mang, tê giác cái mới đẻ và chỉ sinh một con mà thôi. Ngay khi lọt lòng mẹ, tê giác con đã cân nặng tới hai mươi bẩy, hai mươi tám kilô và được mẹ săn sóc liên tiếp trong hai năm, sau đó bắt đầu theo cha mẹ đi kiếm ăn. Tới lúc đủ bẩy, tám tuổi, nó tự ý tách khỏi "đại gia đình" để tự lập như hồi cha mẹ nó còn nhỏ vậy.
 
Tùy theo vùng chúng ở và từng loại, tê giác có mầu sắc khác nhau: đen sậm, nâu, xám hay trắng xám, nhưng tựu chung, lớp da của chúng rất dầy, dầy tới hai ba phân lận và có khi kết thành từng mảng chẳng khác gì các chiến sĩ mặc áo giáp vậy.
 
Bề ngoài tê giác có vẻ dữ tợn, nhưng thật ra nó rất hiền lành, nhút nhát nên hay hốt hoảng vì nó không nhìn xa được, mặc dù thính tai, tinh mũi. Do đó, nhiều khi thợ săn len lỏi vào gấn sát tê giác mới nhận ra. Lúc đó nếu thiếu kinh nghiệm lại không lanh lợi, thợ săn chưa kịp ra tay đã bị nó hạ ngay bằng cách lao thẳng cặp sừng nhọn hoắt vào đối thủ lẹ như chớp. Chúng ta cũng cần biết thêm dù thân xác to lớn, đồ sộ, tê giác vẫn thừa khả năng chạy nhanh tới 30 dặm 1 giờ và leo trèo lên các đồi dốc, bờ đá thật dễ dàng chẳng khác gí sư tử, hổ, báo, gấu v.v... Vốn kèm thông minh, tê giác thường "kết thân" với một vài loại chim như giống cò trắng nhỏ xíu, chim sâu v.v   để nhờ những con vật bé bỏng này vừa thanh toán hộ các chú bọ bám trên đốt cổ, lưng vẫn làm nó ngứa ngáy khó chịu, vừa là "tổ báo động" mỗi khi chúng thấy dấu hiệu hiểm nguy - nhất là bóng dáng thợ săn xuất hiện đâu đó - là kêu ầm ĩ rồi vội vã bay đi, nhờ vậy tê giác đủ thì giờ lẩn trốn.
 
Người ta phân ra nhiều loại tê giác:
 
a) - Tê giác Phi Châu: Gồm hai thứ:
 
- Tê giác đen.
 
- Tê giác trắng.
 
Loại tê giác Phi châu có hai sừng, da nó liền chứ không chia từng mảng. Riêng tê giác trắng (gọi là trắng chứ thực ra da nó trắng xám) gần như tuyệt chủng. Hiện tại sở thú Luân Đôn có nuôi một con tê giác trắng, sứng của nó rất dài (mỗi cái ngót hai thước).
 
b) - Tê giác Á Châu: Gồm 2 thứ:
 
- Tê giác xám.
 
- Tê giác nâu.
 
Loại tê giác Á Châu chỉ có sừng duy nhất (tuy cũng có con mang hai sừng, nhưng sừng thứ nhì này rất nhỏ) và lớp da chia từng mảng như áo giáp.
 
Nói chung, tê giác càng ngày càng trở nên khan hiếm vì bị giết hại quá nhiều. Thổ dân Phi Châu thường dùng tên và lao tẩm thuốc độc bắn vào những yếu điểm trên mình con vật, để lấy thịt. Riêng tại Á Châu, người ta lấy da và nhất là cặp sừng tê giác làm các vị thuốc chữa bệnh.
 
Hiện nay loài này đang được bảo vệ rất gắt trong những khu tập trung để tránh bị diệt chủng.
 
 
ĐẶNG HOÀNG (sưu tầm)     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 59, ra ngày 8-10-1972)