Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

CHUYỆN MẤY CHÚ KHUYỂN - Văn Trung

 


Trời sinh ra giống chó là con vật biết hy sinh hớn tất cả các loài có vú khác, trừ loài người. Nhưng nhiều khi lòng hy sinh của con người lại do luật lệ ràng buộc, do những tấm gương sáng thúc đẩy, và thường khi do lợi lộc hay danh vọng chi phối. Riêng đối với mấy chú khuyển, sự hy sinh đến bỏ mình vì người khác của mấy chú không hề dính dáng tới những điều trên. Biết bao câu chuyện đã nói lên được lòng quả cảm bộc phát rất tự nhiên và đáng khâm phục của mấy chú.
 
 
Vì nghĩa quên thù
 
Ma-la-cốp là một chú chó rất lớn thuộc giống Đất Mới. Chú giữ nhiệm vụ canh gác một hiệu kim hoàn ở Ba-lê. Bọn thợ trong tiệm rất ghét chú vì chú thường theo dõi bén gót họ. Do đó, bọn thợ có ý hãm hại chú. Một hôm, một trong những người thợ trong tiệm tên là Giắc, dụ được Ma-la-cốp tới bờ một bến tàu, nằm bên dòng sông Sen. Anh này lấy nột sợi dây thừng, tròng một đầu vào cổ con vật, còn đầu kia cột chặt vào một tảng đá. Sau đó, anh ta xô con vật xuống sông. Nhưng chẳng may sợi dây lại mắc phải chân Giắc. Nên khi Ma-la-cốp té xuống, nó kéo luôn cả Giắc xuống theo. Trong khi đó, Giắc lại không biết bơi.
 
Ma-la-cốp ngoi được ngay lên trên trên mặt nước và bơi rất mạnh vào bờ, kéo theo cả tảng đá tuy nặng, nhưng không đủ sức dìm Ma-la-cốp xuống đáy sông. Ma-la-cốp nhận ra người thanh niên có dã tâm giăng bẫy giết mình. Giắc đang vùng vẫy và bắt đầu chìm. Không chần chờ, Ma-la-cốp phóng mình về phía trước cùng với hòn đá to lớn. Chú dùng mõm giữ lấy cổ Giắc để nâng cho cái đầu anh khỏi chìm xuống nước. Nếu chỉ có một mình thì dù hòn đá có nặng đi chăng nữa, Ma-la-cốp vẫn bơi được vào bờ một cách dễ dàng. Đằng này lại kéo thêm cả Giắc nên Ma-la-cốp khó vượt qua được sức gió và dòng nước ngược chiều.
 
Như thế, một là chết hết với nhau ở dưới sông, hai là để tự bảo vệ mạng sống, Ma-la-cốp chắc phải bỏ rơi con người độc ác đã muốn loại trừ chú. Nhưng không! Con vật dũng mãnh đã thắng lướt tất cả. Ma-la-cốp cố giữ cho cái đầu của địch thủ ngoi lên trên mặt nước cho tới khi có một khách bộ hành đi ngang qua. Người này đã cứu được cả hai.
 
Sau đó, Giắc vừa khóc vì cảm động, vừa kể lại đầu đuôi câu chuyện cho mọi người nghe. Từ đấy, Ma-la-cốp nổi tiếng khắp Ba-lê và được dân chúng mến thương. Đến khi Ma-la-cốp chết, rất đông thợ thuyền tiễn đưa chú tới nơi an nghỉ cuối cùng.
 
 
Những con chó khôn
 
Vào một đêm nọ, khi mọi người đang yên giấc, bỗng chị chó Đa-la hốt hoảng chạy ngược, chạy xuôi. Chị sủa ầm ĩ cả lên. Rồi chị nhẩy lên giường, lôi kéo chủ thức dậy, vì chị thấy lửa đã bắt đầu cháy ở trong nhà. Đến khi thấy ba đứa trẻ con của chủ đã được lính cứu hỏa đưa ra ngoài phố an toàn, Đa-la mới chạy về phía chuồng tìm kiếm lũ con mới sinh cách đó mấy ngày.
 
Nhiều con chó đã được dạy như những người lính canh đáng tin cậy. Chúng có đôi mắt rất tinh và chiếc mũi rất thính. Mỗi khi phát giác ra đám cháy, chúng biết sủa và đánh thức mọi người dậy. Đứng trước ngọn lửa đang hoành hành dữ dội, chúng tỏ ra sợ hãi lắm. Tuy nhiên, nhiều khi chúng biết hy sinh, tự động nhảy vào chỗ nguy hiểm để cứu mạng người, chẳng kể đến thân phận mình. Chính những lúc đó, người ta mới thấy nổi bật hẳn lên cái đặc tính quả cảm của dòng họ nhà khuyển. Chẳng hạn như trường hợp con Zi-dơ dưới đây.
 
Khi thấy nhà đang đêm bỗng bắt lửa, Zi-dơ đánh thức chủ dậy. Hai vợ chồng người chủ kịp chạy ra ngoài với đứa con thơ. Bà hàng xóm thấy vậy, lấy khăn bọc lấy đứa bé, rồi bồng về nhà bà ta. Sau đó, một người bà con của đứa bé chạy tới, hốt hoảng vì không thấy đứa bé đâu. Người này tưởng cháu mình con nằm ở trong nôi, mới vội chỉ tay vào ngôi nhà đang tràn ngập lửa đỏ, nói với Zi-dơ: "Zi-dơ! Vào nhà tìm bé đi! Mau!"
 
Zi-dơ vốn rất sợ lửa, nhưng nó hiểu đây là lời cầu cứu khẩn cấp, nên nó vâng lời ngay. Sau khi sủa to lên một tiếng, Zi-dơ phóng mình vào căn nhà đổ nát đầy khói lửa và rồi chịu chết ở trong đó. 
 
 
Lại một hành động dũng cảm
 
Tại một tiểu bang ở Ô-rê-gông, người ta đã dựng lên một tấm bia bằng cẩm thạch để tưởng nhớ đến Sép, một chú chó thuộc giống rất lớn, cũng bỏ mình trong đám cháy vì cử chỉ kiêu hùng của chú.
 
Mân, chủ của Sép đang làm việc ngoài đồng cùng với vợ. Hai người để đứa con nhỏ là Ly-ly ngủ trong một căn nhà gần đó. Bỗng Sép đánh hơi thấy mùi khen khét và nghe thấy tiếng nổ lách tách. Sép sủa vang mấy tiếng. Mân ngẩng lên, thấy nhà mình bị cháy. Hai vợ chồng vội chạy về. nhưng vì vướng phải nhiều bụi rậm và mô đất, nên khi về tới nhà, họ đã thấy cửa mở tung. Khói ở trong đang cuồn cuộn bốc ra bao bọc lấy họ. Mân nói với con chó đang run lên vì sợ: "Sép! Đi tìm Ly-ly mau!". Con chó quên cả sợ hãi. Nó lao mình như mũi tên vào màn khói lửa. Một phần mái nhà sập xuống ngay sau lưng Sép, làm gẫy vụn chiếc cửa ra vào. Lòng can đảm đã khiến Sép bình tĩnh lại. Sép tới được chỗ để cái nôi rồi tha bé gái tới một cái cửa sổ xa chỗ cháy nhất. Mân ngả người vào phía trong, đỡ lấy con.
 
Như vậy là Sép đã thi hành xong phận sự. Bây giờ nó có quyền phóng ra phía ngoài để lo an ninh cho chính nó. Sép nhảy qua cửa sổ. Nhưng trễ quá rồi! Bộ lông của Sép đã bị cháy hết và toàn thân đã phỏng nặng. Sép khụy dưới chân chủ và thở hơi cuối cùng.
 
Trước cái chết  dũng cảm của Sép, Hen-ri Đa-ni-en, chủ tịch Hội Bác Ái Ô-rê-gông tuyên bố: "Hành động phi thường của Sép đáng được con người ghi nhớ!"
 
 
Nhanh trí cứu chủ
 
Bo-bo cũng là một chú chó lớn. Chủ của chú là một tiều phu người Gia-nã-đại, tên Andre Minette (Ăng-đơ-rê Mi-nét). Nơi ở của Andre Minette nằm ở trong một khu rừng thưa, gần thác Sequin (Sơ-canh). Ông ở đây với vợ và đứa con trai nhỏ tên Giăng.
 
Một hôm, bé Giăng được cha đặt trong một chiếc xe hơi đậu bên lề một đồng cỏ, sát với khu rừng. Còn Andre Minette thì vào rừng làm việc cùng với Bo-bo. Thình lình Bo-bo chồm nhanh như tên bắn về phía bé Giăng. Người tiều phu thấy có ba con sói to lớn, màu xám ; tất cả đều gầy đét, đang xông về phía chiếc xe có bé Giăng nằm. Người tiều phu vì còn ở xa, nên không sao can thiệp kịp. Nhưng Bo-bo thì khác. Chú phóng mạnh về phía lũ sói để lo bảo vệ con của chủ. Bo-bo biết rằng một mình chú không thể chống lại ba kẻ thù hung bạo. Nhưng chú phải tìm cách cứu bé Giăng.
 
Thế rồi, thay vì tiến tới chỗ có chiếc xe hơi, Bo-bo lại dừng lại ở lưng chừng, ngay phía đằng sau lũ sói. Lũ sói xoay mình nửa vòng, chuẩn bị đương đầu với kẻ thù. Bo-bo nhảy dứ một cái để khiêu khích, cốt làm cho lũ sói quay hẳn mặt về phía Bo-bo mà quên cái đích chính là bé Giăng. Lũ sói mắt đỏ hoe vì tức giận, chúng vừa gầm gừ, vừa nhe những chiếc răng trắng hếu, dài và nhọn hoắt ra như muốn ăn sống, nuốt tươi kẻ địch. Chợt Bo-bo quay mình, cắm đầu chạy vào rừng. Cố nhiên lũ sói không chịu buông tha. Tất cả đều xông lên, đuổi bén gót Bo-bo.
 
Trong khi đó, Andre Minnette đã đủ thì giờ chạy tới chỗ bé Giăng đang ngủ. Vậy là bé Giăng thoát nạn.
 
Nhưng thay vào đó, Bo-bo đã bị đàn sói đuổi kịp và giết chết.
 
 
VĂN TRUNG       
(Phỏng theo Albert   
Payson Zerhunet)  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 100, ra ngày 29-7-1973)


Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2026

BONG BÓNG HAI ĐỒNG - Hoa Cỏ May

 

Em đòi mua bong bóng
Khi thấy người bán qua
Tay quơ quào muốn khóc
Làm ai cũng xót xa.
 
Bong bóng đẹp trăm màu
Nhưng hai đồng mắc lắm
Má buôn bán xa rồi
Tiền đâu mua với sắm?
 
Thôi em đừng khóc nữa
Trời đã đổ mưa hồng
Thấy không ngoài vũng nước
Bong bóng đang phập phồng.
 
Lời ca dao má dạy
Chập chững hát ru em
Gió đùa nghiêng võng lác
Mưa trăn trở giọt hiền.
 
Em ngủ rồi dễ dãi
Khát sữa nút tay không
Ngón hồng thôi quơ khóc
Ôi! Bong bóng hai đồng.
 
                         HOA CỎ MAY
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 111, ra ngày 1-8-1969)



Thứ Ba, 21 tháng 7, 2026

CHIẾC TỔ CHIM - Trần thị Phương Lan

 


Mấy ngày nay, trên cây lim xẹt trước cửa nhà tôi, có một đôi chim tới làm tổ. Tôi cũng không để ý gì cho lắm, cho tới khi chiếc tổ thành hình. 

Rồi chim mái đẻ trứng vào tổ từ hồi nào tôi cũng chẳng hay, vì tổ chim rất nhỏ, chỉ khoảng chừng 5cm chiều ngang, bằng phân nửa chiều dài; màu sắc nâu nâu nên dễ lẫn vào cành cây, cũng giống như màu lông của chim.

Mưa hay nắng, ngày hay đêm, từ lúc đó trở đi, chim mái cứ kiên nhẫn nằm ấp trứng. Nhiều hôm, những người phu làm đường gây náo loạn cả khu phố vào ban đêm vì tiếng máy đào vỉa hè, máy trộn bê tông ầm ầm, làm khói bụi và xi măng bay mù mịt; nhưng nhìn ra trên tàng cây, tôi vẫn lờ mờ thấy bóng chim mẹ nằm đó, lặng lẽ ấp trứng, che chở cho những đứa con còn chưa chào đời.

Thêm vài hôm nữa, rồi tôi thấy chim mẹ bay đi đâu mất. Tôi bèn Google thấy nói vì chim đói bụng nên đi kiếm ăn. Nhìn kỹ chiếc tổ nhỏ xíu, tôi chợt nhận ra thấp thoáng có vài bé chim non ngọ nguậy. Chim mẹ đi vắng vài tiếng rồi trở về với con, khiến tôi yên tâm hơn, khi thấy hình dáng chim mẹ ngồi yên chỗ cũ, trong cơn mưa nặng hạt.

Tôi chưa bao giờ thấy chim lại làm tổ ngay trong thành phố ồn ào náo nhiệt như thế này, vì cứ tưởng chim phải biết lựa những nơi đồng quê thanh vắng để dễ bảo vệ gia đình khỏi bàn tay phá phách của con người.

Nghe người ta nói rằng đất lành chim đậu, và chim đến làm tổ là có lộc lắm, may mắn còn hơn cả tổ ong. (Trước đây cũng có bầy ong đến xây một chiếc tổ trong khóm bông giấy nhà tôi.)

Hên đâu chưa thấy, chiều nay tự nhiên có một đám người lạ mặt ồn ào mang thang nhôm tới, bắc lên cao tít, rồi lấy đi chiếc tổ chim bé xíu gồm cả những bé chim non vừa mới chào đời. Ban đầu tôi không biết đám người rần rần nọ là ai. Hóa ra họ mướn cửa tiệm cách nhà tôi một căn, và người đàn ông trung niên nọ đã từng đặt mua một lồng chim, có shipper giao hàng tới tận nơi với giá một triệu. Hèn chi ông ta rành chim chóc sáu câu: Một tổ chim nhỏ bằng bàn tay và cũng đã được ngụy trang khéo léo mà vẫn không thoát khỏi cặp mắt cú vọ của ông ta.Tôi cứ tưởng chỉ có những đứa trẻ rắn mắt, nghịch ngợm mới dùng ná bắn chim hoặc sào để thọc tổ chim thôi, không ngờ cả những người lớn tuổi như thế kia mà cũng làm những việc vô ý thức như vậy.

Sáng nay nhìn ra khung cửa sổ, không còn thấy bóng chim mẹ ngồi im như tượng ngồi ấp trứng như bao ngày qua, và chiếc tổ chim bé xíu cũng chẳng còn, tôi chợt cảm thấy man mác một nỗi buồn pha lẫn sự trống vắng. 

Hình như đạo Phật có dạy rằng... Những ai kiếp này phá tổ chim, kiếp sau phải chịu cảnh mồ côi cha mẹ từ rất sớm.

Trần Thị Phương Lan      
(Bút nhóm Hoa Nắng) 

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2026

CON ĐẠI THỬ - Đặng Hoàng

 


Đại thử là một trong những sinh vật có túi đựng con trước ngực chỉ thấy có ở Úc Châu mà thôi.
 
Người ta phân ra nhiều loại đại thử:
 
- Đại thử nhỏ nhất (kangaroo rat) sống ở cánh đồng miền Bắc Úc Châu, dài bốn mươi lăm phân, đầu hơi giống thỏ, nhưng tai bé hơn. Hai chân trước rất ngắn, hai chân sau và đuôi dài. Đặc biệt là đuôi nó có chùm lông trắng. Vốn thuộc loại gặm nhấm, biết nhảy, sống trong những vùng khô khan, nó thường đào hang, lỗ thật lớn để ở, ban đêm mới đi kiếm ăn. Món ưa thích nhất của nó là quả dâu, lá cây, cỏ và côn trùng, cùng những hạt cây khô. Để có đủ lương thực dùng vào mùa đông, nó ngậm mồi trong túi hai bên má rồi đem về tổ cất đi. Loại này cũng thấy xuất hiện ở Mỹ Châu.
 
- Đại thử cổ lông đỏ (red necked kangaroo) sống ở vùng đồng cỏ.
 
- Đại thử chuyên sống trên cây (tree kangaroo).
 
- Đại thử lông màu xám (spur tailed kangaroo) thường gặp trong rừng sâu.
 
Ba loại sau cùng lớn cỡ một thước rưỡi khi ngồi, nếu nó đứng thẳng trên hai chân sau, có thể cao tới hai thước hơn. Con nặng nhất khoảng chín chục kilô. Đầu và mõm cũng như mầu sắc đại thử giống nai, nhưng tai lại tựa tai lừa, thẳng đứng chứ không cụp xuống. Nó không cắn, nhưng biết đá như ngựa. Hai chân trước ngắn thường co lên ít sử dụng ngoài những lúc cần vít cành cây xuống để ăn lá, mầm non và nâng con lên cho nó dễ dàng chui vào túi, hoặc quắp con chạy trốn khi nguy biến, hay giơ lên nhử nhử để tìm thế tung mình đá chết địch thủ bằng hai chân sau. Hai chân này dài và khỏe hơn. Nhờ chiếc đuôi lớn dài tới một thước rưỡi giữ thăng bằng với thân mình, đại thử không chạy, nhưng nhún đôi chân sau rồi văng mình về phía trước thật xa tới bẩy tám thước chẳng khác gì có lò xo búng nó đi. Đại thử phóng như bay với tốc độ từ ba mươi tới năm mươi cây số một giờ. Ngoài ra, nó có thể nhẩy qua các chướng ngại vật như bụi rậm, lùm cây, hàng rào, thợ săn, ngựa, cao cỡ hai thước dễ như chơi. Riêng những con sống trên cây như loài gấu, dám buông mình nhẩy từ trên cây mười lăm thước xuống đất mà chẳng hề hấn gì. Điều cần chú ý là chân đại thử giống chân chó, nghĩa là gồm bốn ngón, trong số này có một móng sắc như dao cạo rất lợi hại, thường được đại thử sử dụng để gây thương tích hay xé xác địch thủ.
 
Đại thử sống thành từng bầy và không ở một chỗ cố định. Chúng hay di chuyển nay đây, mai đó trên các cánh đồng cỏ hay sườn đồi, triền núi Úc Châu, do một con già nhất hướng dẫn. Tuy hiền lành, nhút nhát, nhưng khi cần tự vệ, chúng chiến đấu thật mãnh liệt. May mắn là khu vực chúng sống thường ít thú dữ, trừ chó sói và người đi săn.
 
Khi bất ngờ bị chó sói đuổi theo, đại thử vẫn giấu con vào các bụi cây rậm rạp để thoát thân, sau đó mới trở lại đón về. Nếu người ta đưa nhiều chó săn tới mà xem chừng có thể chống cự được, đại thử cố lừa chú chó nào lớ ngớ lại gần và đá một cái chết tươi, bằng không thì nhẩy bừa xuống hồ ao, lạch suối để tránh né, vì nó bơi rất giỏi. Chú chó săn dại dột bơi theo ư? Chắc chắn sẽ bị nó dìm chết ngay.
 
Tùy theo loại, có thứ thích ăn cỏ, là non, mầm cây hay sâu bọ. Những lúc vui đùa, nhờ chiếc đuôi làm điểm chuẩn, chúng đứng trên hai chân sau, giơ hai chân trước vờn vờn tát nhẹ nhau như võ sĩ đấu quyền anh vậy. Khi nghỉ ngơi, thì cái đuôi thành ghế dựa giúp chúng ngồi thẳng đứng, hai chân trước co lên, ngắm nhìn cảnh vật hoặc canh gác cho cả bầy ăn uống. Thảng hoặc chúng mới bò bốn chân.
 
Chỉ có đại thử cái mới có túi đựng con trước ngực mà thôi. Ngay khi mới lọt lòng mẹ, đại thử con nhỏ bằng con chuột cống, chưa mở mắt, chưa có lông đã biết bám vào bụng mẹ để lần mò bò lên tìm túi chui vào. Khoảng cách này thật ngắn, vậy mà nó phải chật vật hàng nửa tiếng đồng hồ mới leo tới nơi , rồi nhờ sự giúp đỡ của mẹ, nó chui tọt vào túi nằm nghỉ. Cứ như vậy trong vòng một tháng là nó lớn bằng con sóc, tháng tiếp theo nó to như con chó con. Tháng thứ tư, khi mở được mắt ra là lúc nó lớn bằng con khỉ. Giờ đây, chú đại thử tí hon thập thò ở cửa túi, ngó nghiêng cảnh vật bên ngoài với vẻ say mê thích thú. Dần dần, lông mọc dài, chân khá vững chú mới tập tễnh trèo ra, tụt xuống đất, nhưng chưa dám đi xa, mà chỉ quanh quẩn dưới chân mẹ thôi. Tới tháng thứ sáu, chú chính thức cứng cáp nên  được tự do đi lại, dưới sự hướng dẫn của bà mẹ. Từ nay chú không còn ở trong cái túi đen thui, nóng nực kia nữa, vì chú đã trưởng thành nghĩa là to gần bằng con gấu con rồi kia mà, đâu bé bỏng gì nữa.
 
Đại thử cái đẻ một con mà thôi, ít khi sinh tới hai, ba con một lượt, vì mỗi lần thụ thai cái túi ấy chỉ chứa được một con, nên phải chờ khi con thứ nhất lớn, thì đại thử mẹ mới tiếp tục đẻ con thứ nhì, thứ ba v.v...
 
Dù rất tinh mắt, thính tai, thính mũi, đại thử vẫn bị thợ săn bắn chết lấy thịt, nấu cháo nhất là món súp nấu bằng đuôi của nó ăn rất ngon. Còn bộ da dùng làm găng tay, ví, giầy, dép, thắt lưng, dây đồng hồ, bao thuốc... Ngoài ra, người ta lừa bắt đại thử bằng lưới, đoạn đem về nuôi và huấn luyện để làm trò trong các gánh xiệc vì nó hiền lành lại khá thông minh.
 
Trung bình, đại thử chỉ sống mười lăm năm mà thôi.
 
 
ĐẶNG HOÀNG      
(sưu tầm)            
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 44, ra ngày 25-6-1972)


Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

CHỊ ƠI, BẠN TỆ VỚI EM - Đỗ Phương Khanh

 


 Thư của em N N Y

Hỏi: ... Đầu năm học, mẹ em cho em vải để may 2 cái áo dài. Em đem đến nhà mẹ một người bạn em để may, tưởng là bạn thân thì khi tính tiền chắc sẽ được trừ phân nửa hoặc một phần. Dè đâu mẹ bạn em tính như tính với người ngoài. Chị nghĩ coi có tức không? Em thấy như vậy là gia đình nó xử với em như người ngoài, nên sang năm học mới em không ngồi cùng bàn với nó nữa. Không phải em tiếc số tiền, nhưng thấy cách cư xử đó, sao em ghét quá...

Trả lời:

Chị mong khi em đọc thư này, em chưa chọn chỗ ngồi cách xa người bạn của em. Nếu đã xẩy ra thì đó là một trong những hành động nông nổi mà em nên tiếc, trong cuộc đời.

Chị nhớ dạo bé, mỗi khi đi chợ mẹ chị lại dẫn chị đi theo, và gởi chị ở nhà một bà bạn bán hàng bánh mứt. Lần nào chị đến bà bạn của mẹ chị củng đều cho chị ăn bánh kẹo, ô mai lu bù. Có hôm bà đi vắng, con gái bà không cho chị ăn như mẹ của cô ta, chị giận lắm, thấy cô ta sao xấu tính ghê, có cả một nhà kẹo bánh mà lại kẹo với mình không mời mình ăn. Và chị nổi giận ghê lắm. May thay dạo đó, chị mới 7 tuổi. Vậy mà bây giờ nghĩ lại còn thấy mắc cỡ. Chị ước mong gia đình họ nghĩ rằng chị là đứa trẻ con, và đừng phán xét cả gia đình chị qua sự ăn lu bù một cách bất lịch sự như thế. Vì làm nghề hàng bánh, bà bạn mẹ chị phải bỏ vốn ra mua hàng, chịu biết bao phí tổn sở hụi, nếu bán được một phần lớn mới là kéo về được vốn, số lời chỉ là phần nhỏ, thì bà còn phải làm kế sinh nhai cho gia đình, hoặc dùng cho những việc ích lợi khác. Nay nếu các con của các bạn đều giống chị, kéo nhau đến ăn lu bù, ăn "chùa" như vậy thì không được mấy ngày cửa tiệm phải đóng vì hết hàng, và bà phải phá sản. Mà nhà buôn thì thường nhiều bạn bè quen biết, ai cũng tưởng chỉ có mình là thân nhất, và tự cho có quyền ưu tiên, chủ nhà sẽ chỉ phải đãi ngộ có mỗi mình thôi. Thực ra, những người biết điều bao giờ cũng trọng lẽ công bằng, không đòi ưu tiên. Đọc thư em, chị bỗng nhớ lại y hệt cái cảm giác ngày đó, khi thấy cô chủ tiệm đối xử với chị như vậy chị cũng định tuyệt giao luôn, không tới nhà cô ta nữa. Thế thì có tội nghiệp cho người ta không hở em. Bạn em còn đáng tội nghiệp hơn nữa em ạ. Khi không, em đến may đồ, nếu em không may thì người khác may, gia đình bạn em cũng thu về được số tiền đó. May áo cho em, bạn em không được gì hơn lại bị ghét bỏ. Bây giờ em nghĩ lại đi, nếu tất cả các bạn bè liên hệ đến gia đình đó đều đến may với mục đích bớt tiền công thì gia đình họ làm sao đủ sống. Họ cũng phải bỏ vốn ra mua cửa tiệm, mua đồ, mượn nhân công, rồi đóng thuế má, may xong cái áo, lấy được tiền nếu trừ hết các phí tổn thì cũng chỉ còn một phần nhỏ là tiền lời.

Nếu mình đòi bớt thì họ không còn đủ tiền trả các thứ phí tổn, và nếu nhiều người đòi hỏi như em thì họ sẽ bị lỗ lã mà đóng cửa tiệm mất em ạ. Bây giờ chị lại hỏi em nhé, em trách gia đình bạn, vậy có bao giờ em tự hỏi: "Mình đã làm được gì cho bạn chưa". Chị thấy cái khổ của mọi người là luôn oán hận rằng người khác không làm cho mình cái này, không giúp mình cái kia. Nhưng có bao giờ chịu hỏi xem là: "Mình đã giúp gì cho người ta?" Nếu luôn tìm xem mình đã làm được gì mà đòi được đãi ngộ, thì em sẽ công bằng hơn. Vậy tóm lại, chị mong em nghĩ thế này: Khi em đem đồ đến nhà bạn, là em muốn thay vì đem đến tiệm lạ, em đem công việc đến cho gia đình bạn, để giúp bạn đông khách hàng thế thôi. Không lợi dụng gì bạn cả. Còn gia đình bạn, họ sẽ tỏ tình thân bằng cách làm việc kỹ càng mau chóng và chiều ý em. Điều này thì người thợ có lương tâm nào cũng phải chu đáo. Chị nhớ xưa có đọc câu này: "Làm sao để sự hiện diện của mình là điều may cho người khác". Em ơi! Phải công bằng. "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" điều gì mình không muốn, đừng làm cho người khác. Nghĩ kỹ đi, đặt em vào địa vị bạn, em sẽ thấy bạn đáng thương xiết bao.


Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 46, ra ngày 9-7-1972)


Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2026

ANH HÙNG CHẠY BỘ DÃ TƯỢNG - Trịnh Công Truyền

 


Dã tượng là một võ tướng lực sĩ dưới trướng Hưng Đạo Vương. Thuở theo phò Hưng Đạo, ông là người rất được Vương thương yêu tín cẩn. Ông cùng với người nhái Yết Kiêu là một cặp bài trùng, góp rất nhiều công khó vào việc đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi bờ cõi nhờ tài riêng của mình.
 
Theo huyền thoại, ngay từ nhỏ Dã Tượng đã nổi tiếng trong làng, là một đứa trẻ chạy bộ nhanh nhất. Cậu bé thường tổ chức với bạn bè những cuộc chạy thi băng qua những cánh đồng và luôn luôn cậu là người về nhất.
 
Nhờ thế, càng lớn tài nghệ Dã Tượng càng phát triển. Chàng đã chạy đua với ngựa và không bao giờ chịu thua. Chạy nhanh như vậy nhưng chàng không bao giờ biết mệt và chàng cũng tạo được một thân hình vạm vỡ, một sức khỏe vô địch.
 
Vì Dã Tượng có tài, nên tiếng tăm đồn đãi ngày một xa. Dần dà, chàng được Hưng Đạo Vương mến mộ và cho làm Bộ tướng, lúc nào cũng theo hầu cận bên cạnh.
 
Mỗi lần ra trận, Vương cỡi ngựa, Dã Tượng chỉ chạy bộ và lúc nào cũng vượt qua đầu ngựa. Khi xuất trận, giặc cưỡi ngựa xông ra, ông chỉ chạy bằng chân để đánh. Tên nào đánh không lại phóng ngựa bỏ chạy, ông chạy bộ đuổi theo và kéo lại bắt sống. Giặc phải nể sợ tài chạy bộ của ông.
 
Có lần Hưng Đạo Vương bị giặc vây khốn phải bỏ ngựa, ông đã tình nguyện làm ngựa cõng Vương chạy thoát khỏi vòng vây khốn của địch mà không hề biết mệt.
 
Những lực sĩ chạy bộ, chiếm giải vô địch ở các thế vận hội ngày nay chắc chưa hẳn đã hơn được Dã Tượng ngày xưa... Ngày xưa Dã Tượng đã đem tài riêng của mình ra giúp nước, nên tài của ông đã được nhắc nhở trong sử xanh, lưu truyền đến ngày nay... và ngày nay chúng ta mỗi lần nhắc đến tên vị anh hùng đó ta vẫn kính phục tài chạy bộ của Dã Tượng.
 
 
TRỊNH CÔNG TRUYỀN       
(sưu tầm)                  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 48, ra ngày 23-7-1972)