Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

CON BỌ GẠO - Đặng Hoàng

 


Từ muôn đời, vấn đề lúa gạo vẫn là mối băn khoăn lo lắng của loài người, vì loại nhu yếu phẩm này không thể thiếu hụt trầm trọng giữa lúc dân số ngày một gia tăng đông đảo khiến cuộc sống trở nên cam go, vất vả. Gặp những năm thiên tai như lụt lội, hạn hán thì không nói, bình thường lúc gạo thu hoạch đủ để phân phối đồng đều đi khắp nơi theo nhu cầu đã là điều may mắn, nhưng nếu công việc tiếp tế ấy được duy trì liên tục, nghĩa là số lượng sản xuất luôn luôn dư dả lại càng quý hơn. Do đó, phần dự trữ trong các kho hàng rất quan trọng. Tất cả phải được giữ gìn cẩn thận để chẳng những đề phòng kẻ phá hoại và ngăn ngừa thú vật đục khoét mà còn lưu tâm tới bọ gạo vẫn thường làm hư hỏng một số lượng đáng ngại.
 
Là một trong trăm ngàn thứ sâu chuyện hủy hoại hoa quả và các loại hạt giống nông nghiệp Curculiomidae, bọ gạo mang tên khoa học Sitophilus Oryza mà có lẽ các bạn đã từng thấy mỗi khi mẹ âu yếm gọi lại rồi đưa cho rá gạo và nhờ: "nhặt trấu, sạn hộ mẹ đi con, chóng ngoan" chẳng hạn.
 
Với loại gạo mới (thứ gạo mới xay, giã dưới sáu tháng thì chưa chắc gì bọ gạo có dịp tấn công, nhưng nếu đã từng "nằm" trong kho cả năm trời mới đáng ngại, vì chắc chắn với thời gian lâu như vậy số gạo sẽ bị chúng kéo tới mặc sức tung hoành.
 
Lẫn trong những hạt gạo trắng ngà, thỉnh thoảng lại có dăm bẩy con vật nhỏ bé - chỉ dài chừng hai hay ba, bốn ly là cùng - màu đen đẹn hoặc nâu nâu đang hốt hoảng chui chui, rúc rúc để lẩn trốn, và cũng có thể đi tìm những "búi" gạo do các sợi tơ trắng kết lại thành màng dính chặt bao bọc bên trong một con sâu. Đấy là bọ gạo và ấu trùng đấy.
 
Bạn có tin rằng chúng dư khả năng khoét thủng từng hạt gạo cứng lại lớn gấp đôi thân xác mình hầu lấy chỗ nương náu hay đẻ trứng sau khi đã no đủ thường xuyên không? Đối với chúng, chuyện đó chẳng khó khăn chút nào, bởi lẽ phương cách sinh sống của loài này là như vậy và chỉ có vậy mà thôi. Tùy từng loại, bọ gạo gặm hoặc đục hạt gạo để ăn, đồng thời tạo thành những lỗ tròn tròn xinh xinh đủ làm chỗ "chui ra chui vào".
 
Loại bọ gạo năng gặp nhất mang màu đen hoặc nâu sậm với chiếc mõm nhọn, nhỏ, ngắn (ở con đực) hay dài (ở con cái) bằng một phần năm thân xác. Mõm này hơi cong cong khoằm xuống giữa hai sợi râu nhô ngang rồi gãy góc hình thước thợ mọc chĩa về đắng trước. Râu đó cụt lủn ở ngang mõm nhưng chứa hai mấu to giúp chúng thăm dò "đường đi nước bước" cũng như tìm mồi. Ngay sau chiếc mõm là đầu bé cỏn con mang đôi mắt tí tẹo, thế mà từ cổ trở xuống cho tới lưng và bụng lại to chình ình. Vốn được xếp vào loại xén tóc, bọ gạo cũng có hai lớp cánh. Lớp ngoài nhẵn, cứng dùng che cở cho lớp cánh mỏng bên trong. Chính lớp cánh mỏng này mới cho phép chúng bay dễ dàng, trong khi lớp cánh ngoài chỉ xòe ra giữ thăng bằng chứ không hoạt động. Mỗi khi đậu xuống nơi nào xong, các cánh liền khép kín lại trên lưng ngay, bọ gạo dùng sáu chân ngắn bò đi kiếm mồi. Chúng di chuyển thật nhanh.
 
Thường thường con đực đứng  canh cho con cái đẻ trứng vào lỗ hổng trên hạt gạo. Chừng vài tuần sau, trứng nở thành sâu màu vàng tức ấu trùng. Chúng sống giữa những hạt gạo dính chùm chung quanh do chúng tự tiết ra một loại tơ trắng đục kết lại thành từng mảng. Phải chờ một thời gian sau nữa, ấu trùng mới trưởng thành rồi bò đi sinh sống và gieo giống như cha mẹ chúng.
 
Ngoài loại đó ra, chúng ta còn gặp bọ gạo màu nâu nhạt hoặc sậm hơn mà nhác trông hơi giống con bổ gỗ. Khác với loại trên, bọ gạo này không có mõm dài, đã vậy râu lại ngắn và mọc thành vòng cung hướng về trước. Đầu nhỏ chứa cơ quan gặm nhấm ; chúng còn khác ở chỗ ức ngắn nhưng lưng dài ngang cặp cánh cứng y hệt loài trên và bò thật nhanh cũng như bay lượn dễ dàng.
 
Về cách sinh sản cùng thơi gian biến thể từ trứng ấu trùng trước khi trưởng thành, cả hai loại giống hệt nhau.
 
Theo bảng thống kê thì mỗi năm bọ gạo vẫn phá hoại trung bình hàng trăm tấn các loại ngũ cốc, nhất là lúa mì, gạo trong các kho hàng trên thế giới - một con số tuy nhỏ nhưng cũng đủ dành cứu thoát bao mạng người. Để diệt trừ chúng, các khoa học gia tìm cách làm cho chúng lây bệnh "nan y" nghĩa là họ nuôi rất nhiều bọ gạo trong những hộp chứa thuốc diệt côn trùng với liều nhẹ, sau đó đem thả tất cả sống lẫn lộn cùng những con khác. Với cách đó, sự thiệt hại do loài này gây ra giảm đi rất nhiều.
 
Ngoài ngũ cốc, bọ gạo còn làm hư hỏng cây cối, hoa quả, nhà cửa v.v... nên chúng bị liệt vào loại có hại cần tận diệt.
 
 
ĐẶNG HOÀNG      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 127, ra ngày 1-8-1974)


Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

HOA TRẮNG CÒN CÀI... - Trần Miên Trường

 
 
Hoa trắng nở em cài lên mái tóc
Chim trên cành hót sớm giọng bình yên
Hồn mở rộng đón mây trời bích ngọc
Em tung tăng bước nhỏ thật ngoan hiền
 
Hoa trắng nở em cài lên áo trắng
Gió ở mô mà những sớm đến trường
Làm phiến lá rơi buồn con lộ nắng
Biết làm răng cho lá khỏi se hường
 
Trường em đó - Cây hiền sai trái ngọt
Chim mười phương về mở hội một phương
Trên cành liễu lời vàng ca thánh thót
Em nghe thương tuổi ngọc mộng bình thường
 
Tuổi thơ em mang niềm tin trong mắt
Dù thời gian làm úa vỡ dung nhan
Em vẫn xin tuổi trẻ mãi không tàn
Để hoa trắng còn cài lên áo trắng.
 
                                      Trần Miên Trường
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 111, ra ngày 1-8-1969)



Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

CHUYỆN MẤY CHÚ KHUYỂN - Văn Trung

 


Trời sinh ra giống chó là con vật biết hy sinh hớn tất cả các loài có vú khác, trừ loài người. Nhưng nhiều khi lòng hy sinh của con người lại do luật lệ ràng buộc, do những tấm gương sáng thúc đẩy, và thường khi do lợi lộc hay danh vọng chi phối. Riêng đối với mấy chú khuyển, sự hy sinh đến bỏ mình vì người khác của mấy chú không hề dính dáng tới những điều trên. Biết bao câu chuyện đã nói lên được lòng quả cảm bộc phát rất tự nhiên và đáng khâm phục của mấy chú.
 
 
Vì nghĩa quên thù
 
Ma-la-cốp là một chú chó rất lớn thuộc giống Đất Mới. Chú giữ nhiệm vụ canh gác một hiệu kim hoàn ở Ba-lê. Bọn thợ trong tiệm rất ghét chú vì chú thường theo dõi bén gót họ. Do đó, bọn thợ có ý hãm hại chú. Một hôm, một trong những người thợ trong tiệm tên là Giắc, dụ được Ma-la-cốp tới bờ một bến tàu, nằm bên dòng sông Sen. Anh này lấy nột sợi dây thừng, tròng một đầu vào cổ con vật, còn đầu kia cột chặt vào một tảng đá. Sau đó, anh ta xô con vật xuống sông. Nhưng chẳng may sợi dây lại mắc phải chân Giắc. Nên khi Ma-la-cốp té xuống, nó kéo luôn cả Giắc xuống theo. Trong khi đó, Giắc lại không biết bơi.
 
Ma-la-cốp ngoi được ngay lên trên trên mặt nước và bơi rất mạnh vào bờ, kéo theo cả tảng đá tuy nặng, nhưng không đủ sức dìm Ma-la-cốp xuống đáy sông. Ma-la-cốp nhận ra người thanh niên có dã tâm giăng bẫy giết mình. Giắc đang vùng vẫy và bắt đầu chìm. Không chần chờ, Ma-la-cốp phóng mình về phía trước cùng với hòn đá to lớn. Chú dùng mõm giữ lấy cổ Giắc để nâng cho cái đầu anh khỏi chìm xuống nước. Nếu chỉ có một mình thì dù hòn đá có nặng đi chăng nữa, Ma-la-cốp vẫn bơi được vào bờ một cách dễ dàng. Đằng này lại kéo thêm cả Giắc nên Ma-la-cốp khó vượt qua được sức gió và dòng nước ngược chiều.
 
Như thế, một là chết hết với nhau ở dưới sông, hai là để tự bảo vệ mạng sống, Ma-la-cốp chắc phải bỏ rơi con người độc ác đã muốn loại trừ chú. Nhưng không! Con vật dũng mãnh đã thắng lướt tất cả. Ma-la-cốp cố giữ cho cái đầu của địch thủ ngoi lên trên mặt nước cho tới khi có một khách bộ hành đi ngang qua. Người này đã cứu được cả hai.
 
Sau đó, Giắc vừa khóc vì cảm động, vừa kể lại đầu đuôi câu chuyện cho mọi người nghe. Từ đấy, Ma-la-cốp nổi tiếng khắp Ba-lê và được dân chúng mến thương. Đến khi Ma-la-cốp chết, rất đông thợ thuyền tiễn đưa chú tới nơi an nghỉ cuối cùng.
 
 
Những con chó khôn
 
Vào một đêm nọ, khi mọi người đang yên giấc, bỗng chị chó Đa-la hốt hoảng chạy ngược, chạy xuôi. Chị sủa ầm ĩ cả lên. Rồi chị nhẩy lên giường, lôi kéo chủ thức dậy, vì chị thấy lửa đã bắt đầu cháy ở trong nhà. Đến khi thấy ba đứa trẻ con của chủ đã được lính cứu hỏa đưa ra ngoài phố an toàn, Đa-la mới chạy về phía chuồng tìm kiếm lũ con mới sinh cách đó mấy ngày.
 
Nhiều con chó đã được dạy như những người lính canh đáng tin cậy. Chúng có đôi mắt rất tinh và chiếc mũi rất thính. Mỗi khi phát giác ra đám cháy, chúng biết sủa và đánh thức mọi người dậy. Đứng trước ngọn lửa đang hoành hành dữ dội, chúng tỏ ra sợ hãi lắm. Tuy nhiên, nhiều khi chúng biết hy sinh, tự động nhảy vào chỗ nguy hiểm để cứu mạng người, chẳng kể đến thân phận mình. Chính những lúc đó, người ta mới thấy nổi bật hẳn lên cái đặc tính quả cảm của dòng họ nhà khuyển. Chẳng hạn như trường hợp con Zi-dơ dưới đây.
 
Khi thấy nhà đang đêm bỗng bắt lửa, Zi-dơ đánh thức chủ dậy. Hai vợ chồng người chủ kịp chạy ra ngoài với đứa con thơ. Bà hàng xóm thấy vậy, lấy khăn bọc lấy đứa bé, rồi bồng về nhà bà ta. Sau đó, một người bà con của đứa bé chạy tới, hốt hoảng vì không thấy đứa bé đâu. Người này tưởng cháu mình con nằm ở trong nôi, mới vội chỉ tay vào ngôi nhà đang tràn ngập lửa đỏ, nói với Zi-dơ: "Zi-dơ! Vào nhà tìm bé đi! Mau!"
 
Zi-dơ vốn rất sợ lửa, nhưng nó hiểu đây là lời cầu cứu khẩn cấp, nên nó vâng lời ngay. Sau khi sủa to lên một tiếng, Zi-dơ phóng mình vào căn nhà đổ nát đầy khói lửa và rồi chịu chết ở trong đó. 
 
 
Lại một hành động dũng cảm
 
Tại một tiểu bang ở Ô-rê-gông, người ta đã dựng lên một tấm bia bằng cẩm thạch để tưởng nhớ đến Sép, một chú chó thuộc giống rất lớn, cũng bỏ mình trong đám cháy vì cử chỉ kiêu hùng của chú.
 
Mân, chủ của Sép đang làm việc ngoài đồng cùng với vợ. Hai người để đứa con nhỏ là Ly-ly ngủ trong một căn nhà gần đó. Bỗng Sép đánh hơi thấy mùi khen khét và nghe thấy tiếng nổ lách tách. Sép sủa vang mấy tiếng. Mân ngẩng lên, thấy nhà mình bị cháy. Hai vợ chồng vội chạy về. nhưng vì vướng phải nhiều bụi rậm và mô đất, nên khi về tới nhà, họ đã thấy cửa mở tung. Khói ở trong đang cuồn cuộn bốc ra bao bọc lấy họ. Mân nói với con chó đang run lên vì sợ: "Sép! Đi tìm Ly-ly mau!". Con chó quên cả sợ hãi. Nó lao mình như mũi tên vào màn khói lửa. Một phần mái nhà sập xuống ngay sau lưng Sép, làm gẫy vụn chiếc cửa ra vào. Lòng can đảm đã khiến Sép bình tĩnh lại. Sép tới được chỗ để cái nôi rồi tha bé gái tới một cái cửa sổ xa chỗ cháy nhất. Mân ngả người vào phía trong, đỡ lấy con.
 
Như vậy là Sép đã thi hành xong phận sự. Bây giờ nó có quyền phóng ra phía ngoài để lo an ninh cho chính nó. Sép nhảy qua cửa sổ. Nhưng trễ quá rồi! Bộ lông của Sép đã bị cháy hết và toàn thân đã phỏng nặng. Sép khụy dưới chân chủ và thở hơi cuối cùng.
 
Trước cái chết  dũng cảm của Sép, Hen-ri Đa-ni-en, chủ tịch Hội Bác Ái Ô-rê-gông tuyên bố: "Hành động phi thường của Sép đáng được con người ghi nhớ!"
 
 
Nhanh trí cứu chủ
 
Bo-bo cũng là một chú chó lớn. Chủ của chú là một tiều phu người Gia-nã-đại, tên Andre Minette (Ăng-đơ-rê Mi-nét). Nơi ở của Andre Minette nằm ở trong một khu rừng thưa, gần thác Sequin (Sơ-canh). Ông ở đây với vợ và đứa con trai nhỏ tên Giăng.
 
Một hôm, bé Giăng được cha đặt trong một chiếc xe hơi đậu bên lề một đồng cỏ, sát với khu rừng. Còn Andre Minette thì vào rừng làm việc cùng với Bo-bo. Thình lình Bo-bo chồm nhanh như tên bắn về phía bé Giăng. Người tiều phu thấy có ba con sói to lớn, màu xám ; tất cả đều gầy đét, đang xông về phía chiếc xe có bé Giăng nằm. Người tiều phu vì còn ở xa, nên không sao can thiệp kịp. Nhưng Bo-bo thì khác. Chú phóng mạnh về phía lũ sói để lo bảo vệ con của chủ. Bo-bo biết rằng một mình chú không thể chống lại ba kẻ thù hung bạo. Nhưng chú phải tìm cách cứu bé Giăng.
 
Thế rồi, thay vì tiến tới chỗ có chiếc xe hơi, Bo-bo lại dừng lại ở lưng chừng, ngay phía đằng sau lũ sói. Lũ sói xoay mình nửa vòng, chuẩn bị đương đầu với kẻ thù. Bo-bo nhảy dứ một cái để khiêu khích, cốt làm cho lũ sói quay hẳn mặt về phía Bo-bo mà quên cái đích chính là bé Giăng. Lũ sói mắt đỏ hoe vì tức giận, chúng vừa gầm gừ, vừa nhe những chiếc răng trắng hếu, dài và nhọn hoắt ra như muốn ăn sống, nuốt tươi kẻ địch. Chợt Bo-bo quay mình, cắm đầu chạy vào rừng. Cố nhiên lũ sói không chịu buông tha. Tất cả đều xông lên, đuổi bén gót Bo-bo.
 
Trong khi đó, Andre Minnette đã đủ thì giờ chạy tới chỗ bé Giăng đang ngủ. Vậy là bé Giăng thoát nạn.
 
Nhưng thay vào đó, Bo-bo đã bị đàn sói đuổi kịp và giết chết.
 
 
VĂN TRUNG       
(Phỏng theo Albert   
Payson Zerhunet)  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 100, ra ngày 29-7-1973)


Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2026

BONG BÓNG HAI ĐỒNG - Hoa Cỏ May

 

Em đòi mua bong bóng
Khi thấy người bán qua
Tay quơ quào muốn khóc
Làm ai cũng xót xa.
 
Bong bóng đẹp trăm màu
Nhưng hai đồng mắc lắm
Má buôn bán xa rồi
Tiền đâu mua với sắm?
 
Thôi em đừng khóc nữa
Trời đã đổ mưa hồng
Thấy không ngoài vũng nước
Bong bóng đang phập phồng.
 
Lời ca dao má dạy
Chập chững hát ru em
Gió đùa nghiêng võng lác
Mưa trăn trở giọt hiền.
 
Em ngủ rồi dễ dãi
Khát sữa nút tay không
Ngón hồng thôi quơ khóc
Ôi! Bong bóng hai đồng.
 
                         HOA CỎ MAY
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 111, ra ngày 1-8-1969)



Thứ Ba, 21 tháng 7, 2026

CHIẾC TỔ CHIM - Trần thị Phương Lan

 


Mấy ngày nay, trên cây lim xẹt trước cửa nhà tôi, có một đôi chim tới làm tổ. Tôi cũng không để ý gì cho lắm, cho tới khi chiếc tổ thành hình. 

Rồi chim mái đẻ trứng vào tổ từ hồi nào tôi cũng chẳng hay, vì tổ chim rất nhỏ, chỉ khoảng chừng 5cm chiều ngang, bằng phân nửa chiều dài; màu sắc nâu nâu nên dễ lẫn vào cành cây, cũng giống như màu lông của chim.

Mưa hay nắng, ngày hay đêm, từ lúc đó trở đi, chim mái cứ kiên nhẫn nằm ấp trứng. Nhiều hôm, những người phu làm đường gây náo loạn cả khu phố vào ban đêm vì tiếng máy đào vỉa hè, máy trộn bê tông ầm ầm, làm khói bụi và xi măng bay mù mịt; nhưng nhìn ra trên tàng cây, tôi vẫn lờ mờ thấy bóng chim mẹ nằm đó, lặng lẽ ấp trứng, che chở cho những đứa con còn chưa chào đời.

Thêm vài hôm nữa, rồi tôi thấy chim mẹ bay đi đâu mất. Tôi bèn Google thấy nói vì chim đói bụng nên đi kiếm ăn. Nhìn kỹ chiếc tổ nhỏ xíu, tôi chợt nhận ra thấp thoáng có vài bé chim non ngọ nguậy. Chim mẹ đi vắng vài tiếng rồi trở về với con, khiến tôi yên tâm hơn, khi thấy hình dáng chim mẹ ngồi yên chỗ cũ, trong cơn mưa nặng hạt.

Tôi chưa bao giờ thấy chim lại làm tổ ngay trong thành phố ồn ào náo nhiệt như thế này, vì cứ tưởng chim phải biết lựa những nơi đồng quê thanh vắng để dễ bảo vệ gia đình khỏi bàn tay phá phách của con người.

Nghe người ta nói rằng đất lành chim đậu, và chim đến làm tổ là có lộc lắm, may mắn còn hơn cả tổ ong. (Trước đây cũng có bầy ong đến xây một chiếc tổ trong khóm bông giấy nhà tôi.)

Hên đâu chưa thấy, chiều nay tự nhiên có một đám người lạ mặt ồn ào mang thang nhôm tới, bắc lên cao tít, rồi lấy đi chiếc tổ chim bé xíu gồm cả những bé chim non vừa mới chào đời. Ban đầu tôi không biết đám người rần rần nọ là ai. Hóa ra họ mướn cửa tiệm cách nhà tôi một căn, và người đàn ông trung niên nọ đã từng đặt mua một lồng chim, có shipper giao hàng tới tận nơi với giá một triệu. Hèn chi ông ta rành chim chóc sáu câu: Một tổ chim nhỏ bằng bàn tay và cũng đã được ngụy trang khéo léo mà vẫn không thoát khỏi cặp mắt cú vọ của ông ta.Tôi cứ tưởng chỉ có những đứa trẻ rắn mắt, nghịch ngợm mới dùng ná bắn chim hoặc sào để thọc tổ chim thôi, không ngờ cả những người lớn tuổi như thế kia mà cũng làm những việc vô ý thức như vậy.

Sáng nay nhìn ra khung cửa sổ, không còn thấy bóng chim mẹ ngồi im như tượng ngồi ấp trứng như bao ngày qua, và chiếc tổ chim bé xíu cũng chẳng còn, tôi chợt cảm thấy man mác một nỗi buồn pha lẫn sự trống vắng. 

Hình như đạo Phật có dạy rằng... Những ai kiếp này phá tổ chim, kiếp sau phải chịu cảnh mồ côi cha mẹ từ rất sớm.

Trần Thị Phương Lan      
(Bút nhóm Hoa Nắng) 

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2026

CON ĐẠI THỬ - Đặng Hoàng

 


Đại thử là một trong những sinh vật có túi đựng con trước ngực chỉ thấy có ở Úc Châu mà thôi.
 
Người ta phân ra nhiều loại đại thử:
 
- Đại thử nhỏ nhất (kangaroo rat) sống ở cánh đồng miền Bắc Úc Châu, dài bốn mươi lăm phân, đầu hơi giống thỏ, nhưng tai bé hơn. Hai chân trước rất ngắn, hai chân sau và đuôi dài. Đặc biệt là đuôi nó có chùm lông trắng. Vốn thuộc loại gặm nhấm, biết nhảy, sống trong những vùng khô khan, nó thường đào hang, lỗ thật lớn để ở, ban đêm mới đi kiếm ăn. Món ưa thích nhất của nó là quả dâu, lá cây, cỏ và côn trùng, cùng những hạt cây khô. Để có đủ lương thực dùng vào mùa đông, nó ngậm mồi trong túi hai bên má rồi đem về tổ cất đi. Loại này cũng thấy xuất hiện ở Mỹ Châu.
 
- Đại thử cổ lông đỏ (red necked kangaroo) sống ở vùng đồng cỏ.
 
- Đại thử chuyên sống trên cây (tree kangaroo).
 
- Đại thử lông màu xám (spur tailed kangaroo) thường gặp trong rừng sâu.
 
Ba loại sau cùng lớn cỡ một thước rưỡi khi ngồi, nếu nó đứng thẳng trên hai chân sau, có thể cao tới hai thước hơn. Con nặng nhất khoảng chín chục kilô. Đầu và mõm cũng như mầu sắc đại thử giống nai, nhưng tai lại tựa tai lừa, thẳng đứng chứ không cụp xuống. Nó không cắn, nhưng biết đá như ngựa. Hai chân trước ngắn thường co lên ít sử dụng ngoài những lúc cần vít cành cây xuống để ăn lá, mầm non và nâng con lên cho nó dễ dàng chui vào túi, hoặc quắp con chạy trốn khi nguy biến, hay giơ lên nhử nhử để tìm thế tung mình đá chết địch thủ bằng hai chân sau. Hai chân này dài và khỏe hơn. Nhờ chiếc đuôi lớn dài tới một thước rưỡi giữ thăng bằng với thân mình, đại thử không chạy, nhưng nhún đôi chân sau rồi văng mình về phía trước thật xa tới bẩy tám thước chẳng khác gì có lò xo búng nó đi. Đại thử phóng như bay với tốc độ từ ba mươi tới năm mươi cây số một giờ. Ngoài ra, nó có thể nhẩy qua các chướng ngại vật như bụi rậm, lùm cây, hàng rào, thợ săn, ngựa, cao cỡ hai thước dễ như chơi. Riêng những con sống trên cây như loài gấu, dám buông mình nhẩy từ trên cây mười lăm thước xuống đất mà chẳng hề hấn gì. Điều cần chú ý là chân đại thử giống chân chó, nghĩa là gồm bốn ngón, trong số này có một móng sắc như dao cạo rất lợi hại, thường được đại thử sử dụng để gây thương tích hay xé xác địch thủ.
 
Đại thử sống thành từng bầy và không ở một chỗ cố định. Chúng hay di chuyển nay đây, mai đó trên các cánh đồng cỏ hay sườn đồi, triền núi Úc Châu, do một con già nhất hướng dẫn. Tuy hiền lành, nhút nhát, nhưng khi cần tự vệ, chúng chiến đấu thật mãnh liệt. May mắn là khu vực chúng sống thường ít thú dữ, trừ chó sói và người đi săn.
 
Khi bất ngờ bị chó sói đuổi theo, đại thử vẫn giấu con vào các bụi cây rậm rạp để thoát thân, sau đó mới trở lại đón về. Nếu người ta đưa nhiều chó săn tới mà xem chừng có thể chống cự được, đại thử cố lừa chú chó nào lớ ngớ lại gần và đá một cái chết tươi, bằng không thì nhẩy bừa xuống hồ ao, lạch suối để tránh né, vì nó bơi rất giỏi. Chú chó săn dại dột bơi theo ư? Chắc chắn sẽ bị nó dìm chết ngay.
 
Tùy theo loại, có thứ thích ăn cỏ, là non, mầm cây hay sâu bọ. Những lúc vui đùa, nhờ chiếc đuôi làm điểm chuẩn, chúng đứng trên hai chân sau, giơ hai chân trước vờn vờn tát nhẹ nhau như võ sĩ đấu quyền anh vậy. Khi nghỉ ngơi, thì cái đuôi thành ghế dựa giúp chúng ngồi thẳng đứng, hai chân trước co lên, ngắm nhìn cảnh vật hoặc canh gác cho cả bầy ăn uống. Thảng hoặc chúng mới bò bốn chân.
 
Chỉ có đại thử cái mới có túi đựng con trước ngực mà thôi. Ngay khi mới lọt lòng mẹ, đại thử con nhỏ bằng con chuột cống, chưa mở mắt, chưa có lông đã biết bám vào bụng mẹ để lần mò bò lên tìm túi chui vào. Khoảng cách này thật ngắn, vậy mà nó phải chật vật hàng nửa tiếng đồng hồ mới leo tới nơi , rồi nhờ sự giúp đỡ của mẹ, nó chui tọt vào túi nằm nghỉ. Cứ như vậy trong vòng một tháng là nó lớn bằng con sóc, tháng tiếp theo nó to như con chó con. Tháng thứ tư, khi mở được mắt ra là lúc nó lớn bằng con khỉ. Giờ đây, chú đại thử tí hon thập thò ở cửa túi, ngó nghiêng cảnh vật bên ngoài với vẻ say mê thích thú. Dần dần, lông mọc dài, chân khá vững chú mới tập tễnh trèo ra, tụt xuống đất, nhưng chưa dám đi xa, mà chỉ quanh quẩn dưới chân mẹ thôi. Tới tháng thứ sáu, chú chính thức cứng cáp nên  được tự do đi lại, dưới sự hướng dẫn của bà mẹ. Từ nay chú không còn ở trong cái túi đen thui, nóng nực kia nữa, vì chú đã trưởng thành nghĩa là to gần bằng con gấu con rồi kia mà, đâu bé bỏng gì nữa.
 
Đại thử cái đẻ một con mà thôi, ít khi sinh tới hai, ba con một lượt, vì mỗi lần thụ thai cái túi ấy chỉ chứa được một con, nên phải chờ khi con thứ nhất lớn, thì đại thử mẹ mới tiếp tục đẻ con thứ nhì, thứ ba v.v...
 
Dù rất tinh mắt, thính tai, thính mũi, đại thử vẫn bị thợ săn bắn chết lấy thịt, nấu cháo nhất là món súp nấu bằng đuôi của nó ăn rất ngon. Còn bộ da dùng làm găng tay, ví, giầy, dép, thắt lưng, dây đồng hồ, bao thuốc... Ngoài ra, người ta lừa bắt đại thử bằng lưới, đoạn đem về nuôi và huấn luyện để làm trò trong các gánh xiệc vì nó hiền lành lại khá thông minh.
 
Trung bình, đại thử chỉ sống mười lăm năm mà thôi.
 
 
ĐẶNG HOÀNG      
(sưu tầm)            
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 44, ra ngày 25-6-1972)