Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

THẦN KIM QUI - Hà Đông

 

"Mẹc xà lù con nhà Hiệp! Làm phách? Lên mặt phít người ta ra. Đã thế ông khỏi thèm chơi với, xem nào, xem còn làm phách nữa không nào!" Thằng Thái vừa đi vừa lẩm bẩm chửi thề, nó vừa tức thằng Hiệp vừa thấy hơi tiêng tiếc. Tết ni mà không có thằng Hiệp chơi thì cũng buồn quá. Thằng bầy trò số dách mà cũng học giỏi số dách, chỉ tội nó hơi nghèo và không được học cùng trường với Thái. Trong số bạn của Thái chỉ có mỗi Hiệp là nghèo nhất, nhưng nhờ sự vui vẻ và duyên dáng mà Thái đã làm quen với hắn vào một buổi chiều mưa lâm râm, trước cổng trường Nguyễn Trãi.
 
Kể cũng lạ, ở nhà nó được pa-pa và ma-măng chiều kinh khủng, ra trường thằng bạn nào cũng nể mặt thế mà thằng Hiệp lại động một chút là đòi "moa phú" con người ta ra. "Ê la!" Thằng nhỏ hách xì xằng thật!
 
Vừa về đến nhà, Thái đã khó chịu vì ma-măng rồi. Chưa gì ma-măng đã réo ầm ĩ lên:
 
- "Thằng Cu con về học rồi kia à! Lại đây me thay áo cho nào Cu con".
 
Thái bực bội đứng dừng lại nhăn nhó.
 
- "Con đã nói với ma-măng mấy lần rồi, con nhớn rồi, đừng gọi người ta là Cu con nữa. Cu, cu, cu quê một cục".
 
Bà mẹ vừa lên đến nơi nghe con nói, cười xuề xòa:
 
- "Ừ nhỉ? Mẹ quên mất. Thôi, cậu "Giăng-mô-ních" lại đây tôi cởi áo cho nào!"
 
*
 
Cơm nước, ti vi ti veo xong xuôi, chơi một lát là Thái leo lên lầu, chả ngày mai là chủ nhật không có bài làm mà! Nằm trên giường, Thái vẫn thấy ấm ức trong lòng vì chuyện ban sáng, nỗi tưng tức theo nó vào giấc ngủ - Đang chập chờn, Thái bỗng giựt mình vì có tiếng gọi:
 
- "Cu Thái! Cu Thái! Dậy bảo cái này coi".
 
Mơ màng Thái nghe câu đó nhiều lần. Thức giấc, hắn càu nhàu: "Thằng nào láo thế hả? "Bú zù". Không có cu kiếc gì hết đó, có để người ta ngủ yên không?"
 
Đèn bật sáng, Thái chói mắt dẫy lên đành đạch. Nhưng một tiếng quát nghiêm nghị làm anh chàng cụt hứng:
 
- "Thằng ranh con láo thật. Mở mắt cho to xem kỹ ta là ai?"
 
Thái ngạc nhiên nhìn ông lão quắc thước trong bộ áo thụng màu vàng chấm gót, chòm râu bạc phất phơ, đôi mắt sáng như sao chiếu thẳng vào mặt Thái những tia giận dữ - Cu cậu hỏi run run nhưng cố làm mặt oai:
 
- "Ê! Toa là ai mà dám đột nhập vô nhà moa nửa đêm hả? A-lê, "Xoọc ti" mau kẻo moa suỵt bẹc giê ra, nó cắn chết bỏ giờ". 

Sự giận dữ làm sắc mặt ông lão trở nên đỏ bừng dễ sợ. Ông quát:
 
- "Thằng nhãi con mất dạy! Mày chưa biết ông là ai à? Ta là thần Kim Qui, người đã ban cho vua An Dương Vương chiếc móng rùa, nhờ đó mà nhà vua đã thắng trận, đánh đuổi được bọn Triệu Đà".
 
Mặt Thái trở nên hài hước:
 
- "Chà! Thời đại ni mà cũng có thần thánh đàng hoàng ta. Mà thần gì không thần, lại là thần Kim Qui, thần Kim Qui là cái quái gì?"
 
Ông lão cười gằn:
 
- "Mày là thằng Tây con, học trường Tây, tên Tây, thích nói tiếng Tây thì làm sao mày hiểu rõ được lịch sử Việt Nam mà hòng biết ta là ai, hả thằng mất gốc?"
 
Thái ức quá, nó hét to lên:
 
- "Nè, toa hỗn vừa vừa chứ nhé! Khi không ở đâu mà lại đây ngồi chửi người ta hả? Ngon quá há!"
 
Ông lão chả nói chả rằng búng tay cái tách, một cây phất trần hiện ra. Thái thấy vậy hết hồn, hắn gào to lên:
 
- "Ma-măng ơi! Pa-pa ơi! Ma giết con, quỉ nó giết con này!"
 
Tiện tay, thần Kim Qui hóa phép ra một sợi dây thừng và một núm giẻ. Thần tống luôn núm giẻ vào mồm Thái và trói nó nằm sấp trên giường. Xong xuôi, thần xoa hai tay thích thú:
 
- "Bây giờ tao mới sửa trị mày Tây con ạ! Nghe tao kể tội đây. Mày là một đứa mất dạy hư thân. Mày ỷ mày là con út nhà giàu, được nuông chiều là mày chả coi ai ra cái thá gì hết hả thằng ranh? Tội thứ nhất, hỗn hào với cha mẹ, đánh đập đầy tớ, phách lối với bạn bè. Tao đánh một roi. Nhớ đau mà chừa nhé!..."
 
"Đét"
 
Tiếng "đét" khô khan dễ sợ làm thằng Thái đau điếng người, hắn muốn gào to lên nhưng mắc kẹt núm giẻ, muốn xoa hai tay vào mông chịu cái lằn đỏ đau đớn kia nhưng hắn đã bị trói. Thái cựa quậy một cách yếu ớt, đáng thương.
 
- "Thế nào, cậu "Giăng mô ních" thử kêu pa-pa lên đánh tôi một trận xem nào. Chưa hết đâu, còn cái tội làm tàng làm phách nữa. Sáng nay, mày ỷ mày biết tiếng Tây, con nhà giàu, mày chọc một đứa bé tàn tật yếu đuối. Thằng Hiệp can, mày lại gây sự với nó rồi chửi nó là "măng giê ca ca" nữa. Thằng Hiệp nó ngu nó không tát mày vỡ mặt ra, chứ gặp đứa nào đanh đá thì mày đã bị một bài học nên thân rồi con ạ! Mày đầy đủ tiền bạc nên được đi học trường Tây thì mày vẫn phải nhớ nguồn, nhớ cội, nhớ lễ nghi phép tắc chứ. Tiếng Tây tiếng Mỹ là để học cho biết chứ không phải để lí le với bạn bè nhá, ranh con!
 
Học tiếng Ngoại Quốc là để đọc được sách báo hay của nước người hầu tô điểm thêm cho văn hóa Việt Nam chớ không phải để ăn hiếp bạn bè nghe chưa!
 
Học tiếng Ngoại Quốc là để bảo vệ danh dự dân tộc khi cần phải tranh luận bằng tiếng Ngoại Quốc chớ không phải để làm bồi, làm tay sai nghe chưa!
 
Người Việt phải hãnh diện khi nói tiếng Việt, tự hào làm người Việt, chứ đừng dại dột ngu đần xí xa xí xô tiếng ngoại quốc với người khác mà tưởng rằng họ sẽ nể mặt đâu. Mày nghĩ rằng người đi đường họ nghe thấy mày nói họ sẽ phục lắm hả. Lầm to rồi, ai mà da vàng mũi tẹt, bầy đặt xổ tiếng ngoại quốc ra với nhau giữa đường phố thì lắm người nghe thấy, họ quay đi, họ bĩu môi khinh bỉ đấy. Đừng tưởng bở nhá nhãi ranh. Một roi cho mày nhớ này!"
 
"Đét"
 
Tiếng đét lần này to hơn lần trước. Thằng Thái lại tiếp tục cựa quậy. Tuy Thái cảm thấy lời ông lão nói chí lý nhưng Thái chả hối hận gì về việc làm của nó cả. Nó còn rủa thầm ông lão trong bụng, rồi nước mắt nước mũi thi nhau tuôn ra bằng thích.
 
Thần Kim Qui thấy thế cũng tội nghiệp, nhưng tội thằng Thái nặng quá, không thể dung tha được. Thần tiếp tục hạch hỏi:
 
- "Mày ra trường người ta phát cho mày một cái tên Tây cũ rích từ thuở cốc đế nào, mày hí ha hí hửng đem về bắt cha mẹ, anh em không ai được gọi mày là cu Thái nữa mà phải gọi là "giăng mô ních mô niếc" gì đó cơ! Mày tưởng cái tên đó đẹp lắm hả. Đẹp chăng là cái tên cúng cơm mà bố mẹ mày đặt cho, nó đầy đủ cả i tờ, dấu huyền, dấu ngã kìa! Chứ còn cái tên kia để dành cho những người mũi lõ da trắng họ mang. Mày mà mang, người ngoài họ thấy họ rủa thầm mày là đồ thực dân vong bản đấy nhá! Thằng ranh con. Một roi nữa cho chừa".
 
Tiếng "đét" khô khan thứ ba kết thúc cuộc "xử giảo". Thần Kim Qui cởi hết trói cho thằng Thái. Nó khóc một cách say sưa nhưng không dám gào, nó nể mặt "lão" thần này lắm rồi.
 
Còn thần Kim Qui thì hỉ hả nói:
 
- "Thôi, bây giờ ta với mi đã thanh toán xong xuôi rồi. Tao biết mày sẽ không hối hận được đâu. Tao quyết định cho hồn mày qua bên Pháp. nhập vào một thằng Tây con rồi ở luôn bên đó. Bấy giờ mày sẽ tha hồ nói tiếng Tây, làm phách với Tây. Mày có muốn nói tiếng Việt cũng không được cơ mà, và lúc ấy mày sẽ hiểu rõ thế nào là tình yêu gia đình tổ quốc. Mày sẽ đau khổ vì thấy rằng trước kia mày cũng có, nhưng chính mày đã tự đánh mất nó đi rồi. Thôi, theo ta..."
 
Nói đoạn, thần Kim Qui giật tay thằng Thái. Như một cái máy, Thái theo ông lão bay qua cửa sổ. Nhưng đến khi nhìn ngoái lại, nó vẫn thấy chính nó đang nằm trên giường ngủ. Bấy giờ nó mới hiểu đó là xác của mình. Còn hồn thì đang bay theo ông lão đến tận Âu-Châu.
 
Tiếng không khí chuyển động bên tai nghe ù ù dễ sợ...
 
Đến một lúc lâu, gió đã bớt thổi mạnh, xung quanh tối đen như mực, đang chơi vơi trên không, Thái sợ quá thút thít khóc. Thần Kim Qui thì điềm nhiên nói:
 
- "Đến nơi rồi, nào, đi"...
 
Dứt lời thần khẽ đẩy, thằng Thái như quả sung rụng rơi tòn tọt xuống phía dưới... hắn ta sợ qua hét lên một tiếng rồi bất tỉnh...
 
Khi tỉnh dậy, Thái cảm thấy việc vừa xảy ra như một giấc mơ. Chung quanh nó một lô người Pháp, người nào người nấy đều lạ hoắc. Thái thắc mắc:
 
- "Thôi chết mình rồi, thì ra mình đang là một thằng Tây con bên Pháp đây. Dù linh hồn mình vẫn nguyên vẹn".
 
Thấy Thái tỉnh dậy, người nào cũng hỏi han, người nhận là cha, kẻ xưng mẹ... Mãi sau cu Thái mới biết mình vừa qua một cơn sốt, nó mở lời nói chuyện với mọi người thì lạ chưa, không còn là tiếng Việt Nam nữa mà lưỡi nó ríu lại, âm thanh phát ra toàn là tiếng Tây. Thái hãnh diện vì đã nói được tiếng Tây như gió, hắn nhủ thầm:
 
- "Thôi, thế cũng xong. Mình sẽ sống một cuộc sống như trăm ngàn người Pháp khác, với lại ở bên này, mình nhất định là phải sướng hơn rồi".
 
Và thế là Thái vui vẻ chấp nhận số phận của mình với những sung sướng vật chất và tình thương của người chung quanh.
 
Cứ như vậy, nếp sống xa hoa của Thái tiếp tục đã được ba ngày. Đến ngày thứ tư Thái buồn, nhớ gia đình chịu hết nổi. Ở đây nó cũng được nâng niu, chiều chuộng, sung sướng. Nhưng hơn bao giờ hết Thái đau khổ vì cảm thấy thiếu thốn tình phụ tử, tình mẫu tử tha thiết và cao quí mà bấy lâu nay nó hờ hững không cảm thấy được. Nhất là Thái thấy thiêu thiếu một cái gì không rõ nữa, chỉ biết là từ khi xa nhà đến hôm nay lúc nào Thái cũng bồn chồn khó chịu, như vừa đánh mất một cái gì cao quí nhất.
 
Thái cố gắng nhớ lại tiếng Việt Nam. Nhưng vô ích - Hắn chỉ mang máng hình dung ra một thứ tiếng thánh thót êm dịu như tiếng chim họa mi, còn thì nó không thể biết hơn được nữa. Nhìn những đại lộ rộng lớn thênh thang trước mắt, Thái tưởng tượng ra con đường hẻm xông mùi đất, mùi đất quê hương, mà nó và thằng Hiệp hay tụ họp bọn trẻ hàng xóm chơi bắn bi. Nhìn mấy hộp kẹo sô-cô-la xinh xắn trên bàn, Thái thẫn thờ nhớ lại những hộp kẹo mè xửng thơm ngon mà ngoại hay đem cho mỗi khi đi Huế về hoặc những hộp bánh cốm, bánh xu-xê, bánh giò... mẹ mua ở chợ Saigon.
 
Thái vội nuốt nước miếng và xua đuổi những hình ảnh thèm muốn ra khỏi đầu. Nhưng lạ thay, nó cứ luẩn quẩn chả chịu đi đâu cả. Thái lại phải ngồi nghĩ đến nào là thịt bò khô này, phở này, bánh cuốn Thanh Trì này, chả giò này, miến gà này... Trời ơi! Nhiều quá! Đếm không xuể mà cũng nhớ không hết những cái ngon cái lạ ở Việt Nam mà nó đã được thưởng thức qua.
 
Chết rồi! Đáng lẽ nếu Thái còn ở Việt Nam thì hôm nay đã được dẫn đi chợ tết vì đêm mai là đêm giao thừa rồi. Đau khổ, Thái tưởng tượng ra những phong bao lì xì đỏ chói dễ yêu, những tràng pháo nổ đì đùng chói tai, những cái bánh chưng to tổ bố trông ngon tệ. Và nhất là Thái nhớ lại Tết Mậu Thân vừa qua, cảnh chết chóc bom lửa bao trùm quê hương nó. Trời ơi! Nước nhà mình như vậy mà sao mình lại ở đây. Còn ba mẹ mình không biết đau ốm khỏe mạnh ra sao, bạn bè mình nữa, thằng Hiệp, thằng Thành, thằng Quí có còn nhớ mình không?
 
Thái cảm thấy xấu hổ khi tưởng tượng ra hình ảnh một đứa bé hống hách, hỗn hào, mất dạy đang tìm vui sướng yên lành ở ngoại quốc. Còn nơi chôn nhau cắt rốn nó lại nỡ bỏ ra đi trong khi chiến tranh ngập tràn khắp nẻo. Thái thấy một cái gì nghèn nghẹn nơi cổ, nước mắt nó lăn dài trên gò má, lòng nao nao. Tiện tay đang cầm cây bút, Thái tô lên tường một chữ S rồi tưởng tượng ra ngôi nhà xinh xắn của gia đình nó đang nằm gọn trong mảnh đất hình chữ S thân yêu này. Thái gục đầu khóc nức nở, nghe niềm hối hận dày vò khắp tâm hồn.
 
Một bàn tay nhẹ đặt trên vai Thái, nó giật mình quay lại, thì ra thần Kim Qui, nó rú lên mừng rỡ: 

- "Trời ơi! Thần Kim Qui ơi! Con hối hận rồi, ngài tha cho con nhờ đi hu... hu..."
 
Thần Kim Qui mỉm cười:
 
- "Ta đâu nỡ ác độc với một đứa trẻ biết phục thiện như con. Ta đã tha cho con rồi đấy. Bằng cớ là con đã nói được tiếng Việt Nam".
 
Thái sung sướng quá, nó nói huyên thuyên, vừa nói vừa lắng nghe lại những âm thanh yêu dấu mà nó đã bị mất ba ngày qua. Thái kể lể nỗi nhớ nhung gia đình và tình cảm thiêng liêng cao quí của đất nước mà nó vừa đột nhiên cảm thấy. Thái nhớ sông Hương núi Ngự, nhớ những đồi thông vi veo gió thổi, nhớ thác Cam Li, nhớ suối Lồ Ồ, nhớ Sàigòn náo nhiệt, nhớ những đêm tắt điện sợ ma... Thậm chí, Thái nhớ cả đến những anh xích lô đáng yêu da cháy nắng, gò lưng rỏ giọt mồ hôi... Thái thấy yêu, yêu tất cả, yêu từng hạt cát nhặt ở bờ biển Việt Nam, yêu từng lá cây rì rào kể chuyện trong gió chiều nhẹ thổi...
 
Thần Kim Qui thông cảm mỉm cười, thần cúi xuống ôm lấy Thái, con người nhỏ bé vừa được ông biến cải, làm cho nó trở thành một người Việt thật sự, không ngoại lai pha giống dù chỉ ở trong tâm hồn.
 
Sau đó, hai ông cháu bay lên cao, thần Kim Qui cõng Thái trên lưng. Mặt Thái đầm đìa nước mắt, nghẹn ngào nó hỏi:
 
- "Giờ đi đâu hả ông?"
 
Thần mỉm cười:
 
- "Đưa cháu về nhà để cháu làm người Việt, nói tiếng Việt, thờ phụng nước Việt. Cháu chịu không?"
 
Thái òa lên khóc thay cho tiếng trả lời. Trong tiếng khóc, chứa đựng cả một sự sung sướng vô bờ.
 
Khi đến một nơi mây bao bọc chung quanh dầy đặc, thần ngậm ngùi nói:
 
- "Đã đến rồi, thôi ông cháu mình từ biệt nhau là vừa."
 
Thái lưu luyến giữ tay thần lại nhưng ngài trả lời:
 
- "Ta mới làm được một việc nhỏ như một hạt cát trong bãi sa mạc, còn nhiều đứa trẻ cũng như cháu, chúng cần phải có ta giúp đỡ. Vậy thì thôi, ông cháu mình cứ chia tay, bao giờ có dịp ta sẽ ghé về thăm cháu. Thôi, cháu đi đi."
 
Rồi cũng một cái đẩy tay, Thái rơi tõm vào khoảng không trung, nó có một cảm giác bềnh bồng khoái cảm... rồi Thái mê man không biết gì nữa... cho đến khi có một cái gì êm êm dưới lưng, hình như Thái thấy mình đang nằm trên giường nệm, chung quanh nghe có tiếng khóc...
 
Mở bừng mắt ra, Thái biết là mình đang nằm trong phòng ngủ. Chung quanh ba mẹ, thằng Hiệp, anh Thanh, chị Ái và một ông bác sĩ quen vây bọc. Câu nói đầu tiên Thái nghe thấy là câu của mẹ. Mẹ sung sướng khóc to hơn:
 
- "Trời ơi! Con tôi tỉnh rồi."
 
Đoạn, bà ôm chầm lấy Thái. Thái sung sướng thốt lên:
 
- "Mẹ."
 
Rồi xiết chặt vòng tay qua thân hình mẹ, hít một hơi đầy ngực như muốn  hương vị tình mẫu tử ngưng đọng trong từng thớ thịt.
 
Mọi người xôn xao mừng rỡ. Nhất là thằng Hiệp, nó sướng lắm. Dù hay cãi nhau với Thái, nhưng nó yêu thằng này lắm, không hiểu tại sao?
 
Còn anh chị và ba Thái thì xúm quanh hỏi han Thái, ba cho biết Thái đã nằm ngủ như thế trong ba ngày liền. Đánh thức làm sao nó cũng không dậy. Có kêu bác sĩ nhưng vô ích. Cả nhà đều sợ Thái chết dù tim và mạch Thái vẫn đập bình thường. Thái mỉm cười sung sướng, nó nhảy phóc xuống giường rồi đi lại giữa nhà nói: "Thưa ba mẹ, trông con mạnh khỏe thế này mà, đâu có sao ạ!"
 
Ba mẹ ngạc nhiên trước cử chỉ lễ độ của Thái. Anh Thanh, chị Ái sung sướng vì hôm nay đột nhiên em mình lại vui vẻ dễ dãi chứ không cau có cục mịch như mọi khi. Còn Hiệp, hắn đứng lặng đi giây lát trước câu nói từ tốn không đa đá tiếng Tây của bạn. Nó linh cảm dường như có một sự ghê gớm lắm vừa xảy ra cho Thái khiến hắn thay đổi mau chóng như vậy.
 
Riêng ba thắc mắc hỏi han Thái đủ điều về giấc ngủ dai dẳng kia nhưng câu trả lời của Thái luôn là:
 
- "Thưa ba, con không biết"...
 
Thái không muốn kể cho ai nghe chuyện này, mà dẫu có kể cũng chả ai tin. Nhưng khi nhìn khuôn mặt ngạc nhiên của bạn nó, Thái lại đổi ý. Hắn háy mắt Hiệp: "Để tối nay, tồi nay giao thừa Thái sẽ kể cho bồ nghe về "vụ đó" và nhớ giữ bí mật nghe!"
 
Cả nhà ngơ ngác không hiểu gì, nhưng riêng hai đứa trẻ nhìn nhau thông cảm, chúng cười to, thật to và tưởng tượng ra một đêm giao thừa thật hạnh phúc mà chúng sắp được hưởng trọn vẹn.
 
 
HÀ ĐÔNG      
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 101, ra ngày 1-3-1969)


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

GIỮ LỜI HỨA - Đỗ Phương Khanh

 

Trong Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện như sau:
 
Duyên Lăng Quí Tử sang sứ nước Tấn có đeo thanh bảo kiếm qua chơi với vua nước Từ.
 
Vua nước Từ ngắm thanh kiếm ra dáng thích, muốn xin mà không nói ra.
 
Duyên Lăng Quí Tử, vì còn phải đi sứ Thượng quốc, tuy chưa dâng vua Từ được thanh kiếm ấy, nhưng trong tâm đã định cho.
 
Khi sang sứ Tấn xong, về qua Từ, thì vua Từ không may đã mất đành tháo thanh kiếm đưa cho Tự Quân. Các người theo hầu ngăn lại, nói:
 
- Thanh kiếm ấy là của báu của nước Ngô, không phải là thứ để tặng được.
 
Duyên Lăng Quí Tử nói:
 
- Không phải là ta tặng. Độ trước ta lại đây, vua Từ xem kiếm của ta, tuy chẳng nói ra, mà như dáng muốn lấy. Ta vì còn phải đi sứ Thượng quốc, chưa dâng được. Tuy vậy đã định cho. Nay vua Từ chết mà ta chẳng hiến thanh kiếm, thì ta dối tâm ta. Tiếc kiếm mà dối tâm, người liêm không chịu làm.
 
Nói xong, bèn tháo thanh kiếm đưa cho Tự Quân.
 
Tự Quân nói: Tiên quân tôi không có dặn lại việc ấy, tôi không dám nhận thanh kiếm.
 
Quí Tử bèn treo thanh kiếm vào cái cây ở mộ vua Từ, rồi đi.
 
CHÚ THÍCH : - Tấn : nước lớn thời Xuân-thu ở vào địa phận tỉnh Sơn-tây ngày nay - Bảo kiếm : thanh gươm quí báu. - Từ : tức là quận Đông-hải ngày nay - Thượng quốc : tiếng gọi tôn một nước to mạnh hơn mà mình phụ thuộc vào. - Tự-quân : vua mới lên ngôi. - Liêm : phân minh thẳng thắn. - Tiên-quân : tiếng để gọi vua cha đã mất.
 
Lời bàn. - Lúc vua Từ có ý lấy thanh kiếm, thì Quí Tử không tự ý đưa được, vì công việc phải làm còn chưa xong. Đến lúc Quí Tử có thể tặng thanh kiếm được, thì vua Từ không sao nhận được nữa, vì đã thác mất rồi. Giá phải người tầm thường, xử vào cái địa vị Quí Tử thì tuy trong bụng có điều hối hận, nhưng cũng tiếc thanh kiếm mà đem về nước. Nhưng Quí Tử vốn là người trong tâm đã nghĩ làm sao thì phải làm cho kỳ được như thế mới nghe, cứ đem thanh kiếm treo lại mộ vua Từ. Người ta tuy khuất, nhưng tâm mình vẫn còn, mà mình không muốn dối tâm mình, thực là liêm lắm, vậy chẳng bù với những kẻ đã tự mình dối mình lại đi dối cả thiên hạ, nhất là đối với người đã khuất tuy có hẳn lời hứa đinh ninh mà rồi nuốt ngay đi được.
 
Các em thân mến:
 
Trong số đầu năm, chị đã gửi tới các em lời cổ nhân khuyên chúng ta rằng "chớ để ngày mai". Tuy vậy, cũng có những việc không thể làm ngay, mà bắt buộc phải để ngày mai, ngày mốt v.v... thí dụ việc tặng kiếm của Duyên Lăng Quí Tử. Thanh bảo kiếm đối với người xưa là vật hộ thân, cứu mạng. Vua nước Từ thích quá, có ý muốn xin mà không dám nói ra, chính vì biết rằng trên đường thi hành sứ mạng, Duyên Lăng Quí Tử còn cần vật hộ thân. Quí Tử thông minh, hiểu rằng vua Từ muốn xin, bèn có ý định tặng để chiều bạn, thì Quí Tử là người hào phóng, rộng rãi, sẵn sàng tặng bạn vì thấy bạn thích, dù vật đó là bảo kiếm hộ thân của mình. Quí Tử đã xử theo ý nghĩa của câu "ở đời muôn sự của chung", vật báu trong thiên hạ cũng là của trời, mình có ơn phước, đã được dùng bảo kiếm bấy nay, thì "lộc bất khả hưởng tận", lộc trời cho không nên độc chiếm, riêng mình dùng mãi, dùng cho tới hết, nên Quí Tử không tiếc báu vật mà đã xử thế rất đẹp.
 
Sau khi làm xong việc, lúc trở về, định trao kiếm, thì người xưa đã chết. Giá mà trước đấy, Quí Tử đã hứa bằng lời, nhưng nay người mình định tặng đã qua đời thì thôi, tuy mình hứa mà người nhận không còn thì làm sao mà tặng, chuyện kể như là hết. Đây lại không có lời hứa gì cả. Người muốn xin cũng chưa nói ra lời, mình muốn cho cũng chưa hứa ra lời, thì câu chuyện lại chỉ đáng kể như không có gì cả. Nhưng đối với người quân tử, trọng Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, thì chỉ có lương tâm là đáng kể. Chỉ cần tự hứa với lòng là đã có giá trị như đinh đóng vào cột, không còn thay đổi gì nữa. Dù là thanh bảo kiếm hộ thân, Quí Tử cũng sẵn lòng cởi ra treo vào mộ, chỉ cốt để giữ một lời hứa chưa từng nói ra, thật là thái độ của bậc hiền nhân quân tử.
 
Mất thanh bảo kiếm, nhưng lương tâm Quí Tử thanh thản, ngàn đời sau còn ca ngợi hành động cao đẹp của con người biết tôn trọng chữ tín, thì dù thanh kiếm có mất đi, nhưng việc làm của Quí Tử cũng đem về cho Quí Tử một phần thưởng tinh thần vô cùng quí giá.
 
Lời gửi tới các em trong bài này, chị muốn bổ túc thêm cho bài "Chớ để ngày mai". Ở đó, có đoạn như sau:
 
"Hứa làm giúp ai, làm ngay cho xong việc. Để qua hôm sau, lỡ quên, thành người thất tín".
 
Xin các em thêm là:
 
"Nếu việc không thể làm ngay, nhưng lời hứa đã buông ra, thì dù gặp khó khăn tới đâu, cũng phải thi hành cho bằng được. Đó là khuôn vàng thước ngọc của người tín nghĩa".
 
Đời sống mọi người tuy ngắn ngủi, ít ai sống tới một trăm năm. Nhưng từ thời Xuân Thu tới nay đã trải qua mấy ngàn năm, mà tên tuổi con người tín nghĩa Duyên Lăng Quí Tử vẫn chói lòa trong ý nghĩ mọi người. Thân xác Quí Tử hẳn là đã tan rã thành tro bụi nhưng tiếng thơm vẫn lừng lẫy, làm gương sáng cho muôn đời các em ạ.
 
 
Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 121, ra ngày 15-2-1974)


Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

LỜI CỦA ĐÊM - Trần Thị Phương Lan

 
 
Đêm trăng huyền hư ảo
Hương thoang thoảng ngọt ngào
Bầy gió thầm khẽ hỏi
Đêm lấp lánh ngàn sao

Lá rơi xôn xao mãi
Thấm đẫm giọt sương đêm
Lũ côn trùng rên rỉ
Vang động khúc ru hiền

Chim ăn đêm hoảng hốt
Kêu rúc lanh lảnh dài
Ánh đèn đường soi rọi
Chờ tia sáng ban mai

Sương mù giăng lướt thướt
Ẩn hiện bóng ma trơi
Đời: như hư như thực
Lời: tan biến đầu môi

Trong đêm đen cô đọng
Đặc quánh dĩ vãng xa
Trang thơ ôm hoài niệm 
Thao thức dưới trăng ngà

Đêm là... đêm thôi nhé
Xin đừng dài thiên thu
Ngày mai trời lại sáng
Xóa tan áng mây mù

              Trần Thị Phương Lan
              (Bút nhóm Hoa Nắng)


Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

HƯƠNG THƠ ẤU - Trần thị Phương Lan

 

Nếu phải viết một cuốn hồi ký trọn đời không gián đoạn, có lẽ đó sẽ là một nhiệm vụ bất khả thi đối với riêng tôi, vì nhẩm tính lại, có những giai đoạn trong đời tôi không tài nào hồi tưởng lại được, cho dù đã cố gắng hết sức.

Duy chỉ có những mùi hương thời thơ ấu thì cứ sống mãi trong lòng, không hề nhạt phai.

Tôi đã từng được đọc một cuốn tiểu thuyết không thể nào quên, tên Perfume (Mùi Hương) của nhà văn người Đức Patrick Suskind. Nhân vật chính là một cậu bé mồ côi nhưng có một khứu giác nhạy bén xuất chúng. Một lần tình cờ cậu ta ngửi được làn hương mê hoặc, từ đó hầu như cậu ta đã chu du khắp thế giới và làm mọi cách để tìm thấy lại Mùi Hương Quyến Rũ đó, trong trăm ngàn cả mùi lẫn hương trên đời. Sau cùng cậu ta được toại nguyện, nhưng phải mang tội giết người. 

Đâu phải cứ là hoa thì sẽ có hương. Nhiều loại hoa tuy hữu sắc dù tôi rất thích, hay nói đúng hơn là chết mê chết mệt, nhưng lại chẳng hề lắng đọng chút dư hương gì, (dù màu hoa thắm không tàn trong tôi), và hoa lục bình là một.

Ai đã từng đọc qua những đoản văn, tùy bút... của tôi chắc cũng biết rằng tôi mãi yêu màu hoa tím của những bông hoa lục bình thuở còn thơ ấu. Ông giáo sư Luông lãng mạn, xa nhà, thuở ấy chắc chưa có người yêu, nên mỗi chiều thứ bảy, ông ta cứ dắt hai đứa bé gái hàng xóm là chị Tâm và tôi đi hái hoa lục bình ở một cái ao gần khu nhà công vụ. Thuở ấy Châu Đốc còn là một tỉnh lẻ nên vẫn vương nhiều sắc hoa đồng nội, như thường được miêu tả trong những ca khúc boléro dễ thương của những nhạc sĩ xa xưa như Mạnh Phát, Y Vân, Xuân Tiên, Trúc Phương...

Ngoài những cánh hoa lục bình tim tím đơn sơ nhưng gây nhiều xao xuyến, hè về khung trời Châu Đốc nhuộm thắm một màu đỏ mang mang niềm nhớ của hoa phượng vỹ. Thuở nhỏ chúng tôi không được phép đi băng qua lộ nếu không có người lớn đi cùng, cho dù những hương lộ ở Châu Đốc cứ gọi là vắng như chùa bà Đanh: Thỉnh thoảng chỉ có lác đác vài chiếc xe lôi đạp ngang qua, chậm rãi theo nhịp sống của tỉnh lỵ êm đềm. Chiều chiều, tôi chỉ còn cách đứng ở bên đây đường trước cửa nhà, nhìn qua bên kia là công viên/bồn kèn đối diện chùa Bồ Đề. Khung trời thơ ấu của tôi hoen đầy sắc hồng của những cánh hoa phượng vỹ tươi đẹp ấy, trộn lẫn tiếng cười vui của lũ trẻ em trai thường dùng sào tre hái hoa, khiến những cánh hoa phượng rơi tan tác trên những bãi cỏ xanh.

Châu Đốc không chỉ có hoa lục bình và hoa phượng, mà còn rất nhiều loại hoa khác tôi biết hay không được biết tên như hoa Cúc Ngũ Sắc được trồng chung quanh chu vi chùa Bồ Đề; hoa Soi Nhái trong Ty Thuế Vụ, sở làm của bác trai; hoa Đuôi Chồn trắng thơm phức trong vườn nhà bác giáo, hình dáng y như những chiếc đuôi lông xù của những chú chồn. Và còn không biết cơ man những loại hoa đầy sắc hương mà những chị Phật Tử đã tìm hái, tung dâng lên tượng Phật Thích Ca trong chùa Phật Học vào mỗi mùa Phật Đản.

Một mùa hè nữa lại sắp về. Tôi viết tùy bút này vì cứ thương nhớ luyến lưu mãi những mùi hương thơ ấu trong khung trời tuổi thơ ở Châu Đốc, và cả những nhân vật được nhắc đến trong bài viết này, những người đã từng là một phần trong những kỷ niệm êm đềm không thể nào phai trong đời...
 
 
TRẦN THỊ PHƯƠNG LAN
(Bút nhóm Hoa Nắng)  


Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

CHUYỆN BÉ NĂM XƯA - Nhã Uyên

 



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chiều chiều... bé đạp xe lang thang

Băng ngang nửa lộ bỗng đèn vàng

Phía kia xe máy lao vào bé

Xe đạp yếu mềm bánh niền cong


Anh chủ xe kia lại hỏi thăm

Dúi vào tay bé bạc năm trăm

Gượng đau ê ẩm:  trầy đầu gối

Bé sướt bàn chân chút tím bầm


Lại mau nước mắt khóc giữa đàng

Người qua kẻ lại xúm hỏi han

Chủ xe gắn máy cần đi gấp

Cho tên địa chỉ nếu thấy cần


Cả ngày tươi đẹp bỗng một hồi

Vừa  băng qua lộ gặp lôi thôi

May sao mà gặp người tử tế

Nhận liền phần lỗi chẳng tay đôi



Xe hư sửa được chỉ trầy chân

Vết thương đầu gối chóng bình an

Cả nhà an ủi thôi đừng khóc

Chuyện xảy ra rồi chớ thở than


Mẹ bảo bé không bị dập đầu

Chân đau rồi hết chẳng bao lâu

Khi xe sửa rồi, chân lành lặn

Tươi cười mẹ bảo :  "Có sao đâu!"


                                Nhã Uyên


Thứ Năm, 12 tháng 3, 2026

LỊCH SỬ TÀU THỦY - Nguyễn Thọ

 


Vào những thời xa xưa, việc di chuyển qua sông là một vấn đề nan giải đối với loài người.
 
Rồi về sau, do một tình cờ nào đó, loài người bắt đầu biết sử dụng những thân cây hoặc khúc gỗ lớn để di chuyển trên dòng nước. Đó là dấu hiệu đầu tiên trong việc chế tạp ra ghe thuyền về sau này. Sau đó, con người lại ghép những khúc gỗ lại với nhau để làm thành chiếc bè.
 
CHIẾC THUYỀN ĐẤU TIÊN
 
Khoảng thế kỷ 20 trước Tây Lịch, người Ai Cập đã chế ra chiếc thuyền có cánh buồm, dài hơn 30 thước, di chuyển nhờ tay chèo. Trên thuyền có nhiều nô lệ dùng để chèo thuyền, đó là chiếc thuyền xa xưa nhất thế giới.
 
Đến thế kỷ thứ 8 trước Tây Lịch, người Phénicien (sống ở dọc miền biển Địa Trung Hải) đã thực hiện những cuộc vượt biển thám hiểm miền bờ biển Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và đi vòng quanh Phi Châu trong 3 năm trên những chiếc thuyền lớn chạy bằng bơi chèo hay bằng buồm.
 
Đến đây, ngành hàng hải đã tạo được một vị trí khá quan trọng trong việc giao thương với những nước có nền văn minh cổ xưa trên thế giới.
 
Đến thế kỷ thứ 9 sau tây lịch dân Viking ở miền Bắc Âu đã dùng những chiếc thuyền khá lớn, chở một đoàn thủy thủ gồm chín mươi người vượt biển Đại Tây Dương đầy bão tố đi xuống phía nam xâm chiếm những thành phố miền bờ biển Âu Châu. Chính giữa thuyền có một cột lớn, để dễ dàng vượt biển. Chiếc thuyền của họ đã đạt được một vận tốc đáng kể.
 
Cũng thời gian này ghe thuyền của người Á Đông nhất là Trung Hoa đã đi tới Nam Dương, Ấn Độ và có lẽ tới cả Tây Phi Châu để giao thương. 

Từ thế kỷ 15 trở đi, lòng thuyền được khoét sâu và tròn như máng xối. Nhưng loại thuyền này không có người chèo như của dân Viking. Thay vào đó nó được hoàn bị nhiều cánh buồm lớn.
 
Vào thế kỷ này trở đi, thuyền  buồm phát triển rất mạnh và giao thương khắp nơi trên thế giới. Nhưng nó có cái bất tiện: khi gió lặng, thuyền buồm sẽ không di chuyển được vì nó tùy thuộc vào những sức gió.
 
Đầu thế kỷ 18, Denis Papin (1647-1714) nhà thông thái Pháp đã chế tạo được chiếc tàu thủy đầu tiên chạy bằng máy hơi nước sau khi nghiên cứu về máy này. Tháng 9 năm 1707, Papin cho tàu chạy thử trên sông Weser (thuộc nước Đức). Các thủy thủ và những người chèo thuyền mướn trên sông lo sợ cuộc chạy thử thành công thì quyền lợi của họ sẽ bị thiệt thòi nên hùa nhau lại đập phá tan tành chiếc tàu của ông. Papin buồn rầu trở, lại Anh Quốc nương náu rồi mất tại đây.
 
Sau Papin, nhiều nhà phát minh khác bắt đầu nghiên cứu về tàu thủy, nhưng nổi tiếng nhất là Robert Fulton (1765 - 1815) người Hoa Kỳ. Chiếc tàu thủy do ông chế tạo, mang tên Cleront được hạ thủy ngày 11-8-1807. Tàu này dài 150 bộ (chừng 50 thước) và rộng 30 bộ (khoảng 5 thước), chạy bằng máy hơi nước chế tạo tại Anh Quốc, có sức mạnh 18 mã lực. Tau Clermont được lái bởi hai bánh xe quạt nước đặt hai bên hông tàu (thay vì lái bằng chân vịt như tàu thủy ngày nay). Đám đông dân chúng đến chứng kiến ngày hạ thủy, đã vỗ tay hoan hô vang dội khi tàu Clermont từ từ chuyển động trên dòng sông với vận tốc đáng kể.
 
Tàu Clermont là một thành công vang dội lúc bấy giờ. Sự di chuyển của tàu Clermont trên sông Hudson, đã làm cho những người dọc ở hai bên bờ sông hoảng sợ khi họ trông thấy những cuộn khói tỏa ra tro đen ngòm bay mù mịt trên ống khói tàu. Sau đó tàu Clermont bắt đầu làm cuộc hành trình từ thành phố Albany dài 150 dặm trong 32 giờ liền. Chuyến về chỉ mất 28 giờ. Việc đáp tàu thủy quá mới mẻ đối với mọi người nên suốt cuộc hành trình lúc ban đầu không có một hành khách. Nhưng các chuyến tàu về sau này được mọi người nhận thấy sự tiện lợi nên bắt đầu hưởng ứng.
 
 
NGUYỄN THỌ       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 136, ra ngày 15-3-1975)