Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2026

NIỀM NHỚ - ĐT

 

Tôi ôn xong bài học ngày mai thì thấy quyển vở rơi ra mảnh giấy nhỏ. Tò mò, tôi nhẩm đọc: "Chương là mất hộp mầu của anh Châu rồi chị. Chị xin giùm em nghe". Nhìn dòng chữ lem nhem trên trang giấy học trò, tôi bật cười. Thằng Chương ngồi chép bài bàn bên lén ngó tôi. Tôi định hỏi nó thì có tiếng anh Châu quát vang: "Đứa nào lấy phá mầu anh!?" Bé Chung mách. Tiếng chân chạy rầm rầm, anh Châu từ lầu phóng xuống. Người vận chiếc quần soọc đầy vết phẩm. Sợ thằng bé khóc, tôi bảo: 
 
- Chương thích gì thì phải xin phép. Lại xin lỗi anh Châu đi không anh giân đó.
 
Thằng bé vội vòng tay xin anh Châu tha lỗi. Anh rầy nó vài câu. Thấy nó ủ dột, tôi dỗ dành:
 
- Để mai chị mua cho Chương hộp mầu Chương tô nghen. 
 
Con bé Chung thấy vậy cũng vòi vĩnh anh Châu. Anh nhấc con bé lên xoay mấy vòng. Nó cười nắc nẻ. Trong nhà ai cũng nuông bé ấy nhất. Bé Chung là út và rất thông minh, thường tìm cách nghịch cả nhà.
 
Nghe phòng học vang tiếng cười, ba đi xuống. Thằng Chương và con Chung tranh nhau ôm lấy ba. Ông vui vẻ hôn các con rồi bế bé Chung trên tay và định cõng cả thằng Chương thì con bé em tuột xuống giành dắt ba lên nhà. Chúng tôi cười vui trước cử chỉ trẻ con ấy. Anh Châu cúi xuống kênh thằng bé Chương vào phòng ngủ.
 
Trên đầu giường, ảnh mẹ hiền hòa nhìn sinh hoạt gia đình. Ba nằm trong màn ru hai đứa bé. Tôi vặn thấp ngọn đèn chụp ở phòng. Gian nhà chìm dần vào sự tĩnh mịch.
 
Đồng hồ trên tường ngân nga sáu tiếng. Tôi choàng tỉnh vì nghe có tiếng róc rách ở buồng tắm. Anh Châu thường có thói quen tắm sớm sau buổi tập thể dục. Tôi kéo chăn đắp các em. Nom chúng đáng yêu như những thiên thần bé bỏng.
 
Tôi ra mở tung cửa sổ. Gió tạt vào vương lẫn mùi hoa dạ lý. Tôi hít một hơi dài và sâu. Gió sớm thổi hây hây. Căn phòng ngủ thoảng ngát hương đêm. 
 
Trời bừng nắng. Trên sân thượng thằng Chương đang đứng xem anh Châu vẽ. Bức họa dần thành hình gói ghém niềm thương về xứ mẹ. Anh Châu khẽ ngâm câu thơ của Anh Tuyến:
 
"Ngoài sân vàng vạn thọ
Bên hè xanh liếp rau"
 
Ba tôi dắt con Chung theo ra. Ông ngắm nhìn anh Châu chấm phá những nét mầu đậm nhạt. Bàn tay gầy với những ngón xương xương của anh phát những ngọn cọ mềm trên khuôn vẽ làm tôi thấy thương anh hơn.
 
Sau khi mẹ mất ít lâu thì có tin ngoại đau. Ba bỏ công việc thu xếp về quê ngay. Thấy chúng tôi ngoại mừng ứa nước mắt. Gương mặt bà nhăn nheo với mái tóc bạc trắng. Ngoại run run vuốt ve từng đứa cháu và ân cần dặn dò. Đêm đó ngoại mất. Ba đã buồn càng buồn hơn. Trước khi trở lên Saigon, ba còn phụ chúng tôi tưới nước các luống rau và những vồng khoai, nương sắn sau nhà. Nếp nhà buồn quạnh quẽ. Tia nắng chiều quê ngày ấy hắt hiu. Chúng tôi từ giã thửa đất thân yêu mà mới năm nào còn rộn rã tiếng cười, giờ đìu hiu, quạnh vắng.
 
Nắng đã lên cao chan hòa khắp nơi. Vẻ mặt ba trầm buồn. Anh Châu vẫn sừng sững nhìn cảnh họa. Tôi nghẹn ngào chớp nhanh mắt. Hình ảnh một buổi chiều nhạt nắng ở quê ngoại vụt linh động và nhạt nhòa trên khung vải. 
 
 
ĐT                       
Kỷ niệm lần về thăm quê ngoại  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 14, ra ngày 14-11-1971) 


Thứ Năm, 5 tháng 11, 2026

THÁNG MƯỜI MỘT NẮNG PHAI - Thơ Thơ

 

Tháng mười một mây bay
Trời mây xám giăng đầy
Gió lạnh về hiu hắt
Mưa rét mướt đêm nay

Tháng mười một phố vắng
Chó sủa ran vu vơ
Đứng dưới giàn hoa tím
Lâm thâm trời đổ mưa

Tháng mười một đèn vàng
Ngắm mây trời đi hoang
Lá rơi ngoài ngõ tối
Chân bước buồn lang thang

Tháng mười một nắng phai
Lá rơi rụng u hoài
Cánh chim bay về tổ
Hoàng hôn vội chiều nay

Tháng mười một thơm hương 
Quỳnh hoa nở trong vườn 
Đóa quỳnh muộn phảng phất 
Tháng mười một vấn vương 

Tháng mười một không tên
Nhớ dãy phố giăng đèn
Nhớ cây thông xanh đỏ
Bao giờ đến Noël?

                                Thơ Thơ 
                    (Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2026

MỘT CUỘC ĐUA KỲ LẠ - Tha Phương Hận Thư Sinh

 


Một thế kỷ trước đây nhà văn hài hước của Hoa Kỳ Mark Twain đã viết một truyện khôi hài nhan đề "Tài nhảy trứ danh của con ếch". Đó là một câu chuyện gian lận, điển hình cho phong tục của miền Tây Hoa Kỳ trong thế kỷ vừa qua. Truyện kể một người lạ mặt lẻn vào trong trại của những người đi tìm vàng và dùng những viên chì trong đạn ghém nhét vào trong người con ếch sắp tranh giải nhảy xa. Đến khi người ta đem nó ra thi nhảy, "thì nó cứ đứng ỳ xác ra không cử động nhúc nhích được, như bị trời trồng vậy".
 
Truyện ngắn trên đây đã mở đường cho nhà văn hài hước Mark Twain tiến lên đài danh vọng.Vào ngày chủ nhật tháng 5 năm 1965, dưới ánh nắng xán lạn như để suy tôn nhà văn hào đã khuất, 23.000 người nô nức kéo nhau đến trại Angels, tiểu bang Californie, để tham dự một cuộc chơi thể thao vừa lạ lùng vừa vô lý, mệnh danh là Đại Hội Thi Ếch Nhảy Xa.
 
Đây là giai đoạn chót của thời kỳ vui nhộn ở Angels. Đại hội lần này có tính cách đặc biệt quan trọng, vì năm 1965 là năm kỷ niệm đệ bách chu niên ngày phát hành tập truyện hài hước của Mark Twain.
 
Cuộc thi gay cấn đó đến nay mọi người còn nhớ rõ ràng. Thế nên, vừa nghe nói tới ếch Phi Châu, ai cũng hồi hộp.
 
Luật lệ cuộc thi đã được xác định qua lời tuyên bố của ông Urle Minte, Thị trưởng Thị xã Ếch kiêm Trưởng ban tổ chức. 
 
- Ếch dự thi phải nhảy 3 lần. Cấm không được đụng mình ếch sau lần nhảy thứ nhứt. Khoảng cách được tính là khoảng cách từ điểm khởi hành đến chỗ ếch chạm mặt đất sau lần nhảy thứ ba.
 
Cuộc thi năm 1965 diễn ra trong cảnh tức cười và ầm ĩ. Một anh ếch vừa được đặt ngồi ở điểm khởi hành, tức thì người "dô kề" dậm chân, dậm tay, huýt sáo, thọc gậy, chọc lét, tìm cách dày vò ếch của mình và nhảy cà tưng chung quanh để kích thích nó.
 
Muốn ếch nhảy vọt thật xa, phương pháp thông thường là thúc mạnh vào đít ếch và đập nhẹ vào dưới cằm nó. Nhưng thực ra không ai biết được động lực nào phát động ý muốn nhảy của giống ếch.
 
Khi ếch đã nhảy ra khỏi điểm khởi hành rồi, người "dô kề" liền chạy theo ngồi thụp xuống bên cạnh, đập chân mạnh, la hét, cầu khẩn, khích lệ, huýt gió đến nỗi thở không ra hơi. Đám đông cũng gào thét để mách nước và thổi còi ầm ĩ. Thật không sao diễn tả nổi sự bộc lộ khuynh hướng của con người, một thứ khuynh hướng man rợ và cổ xưa thúc đẩy người ta khắc phục nổi mà thường thường là hoài công vô ích.
 
Có 42 con ếch tranh giải. Đây là những "đấu thủ" đã được tuyển chọn trong số 2.000 "đấu thủ" khác, sau khi qua vòng loại ở các địa phương, tại Hoa Kỳ cũng như tại các quốc gia khác. Nơi đây qui tụ những con ếch nhảy tài nhất của Mỹ Châu, phần nhiều thuộc giống Rana Catesbeiana, và một con ếch duy nhất, có biệt tài từ Phi Châu gửi sang.
 
Giải thưởng 1.000 đô la sẽ dành cho "tuyển thủ" nào phá được kỷ lục quốc tế đã được lập trước đây với 5 thước 21. Nếu không có ai phá kỷ lục, thì con nhảy xa nhất sẽ được giải thưởng 300 đô la.
 
Trong số ếch tranh giải, phải kể đến anh ếch Nuclear Ned, tay cừ khôi trong toán tuyển thủ của xứ Clark. Chả vì xứ Clark thuộc tiểu bang Nevada, gần nơi thí nghiệm nguyên tử của Hoa Kỳ, cho nên anh ta mới có cái tên dữ dội như vậy. Vả chăng, anh cũng có một sức mạnh phi thường không kém chi nguyên tử. Trong cuộc thi tại Nevada, anh đã nhảy một khoảng xa ghê gớm: 5,72 thước. Đến dự đại hội này, anh ngự trong chiếc thùng bọc sắt.
 
Ông bầu của anh và những người săn sóc anh tuyên bố anh mang rất nhiều chất phóng xạ trong người, đến nỗi nước da của anh sáng lấp lánh trong đêm tối.
 
Ban tổ chức đại hội bầu cử một phái đoàn đến quan sát hiện tượng ấy. Khi phái đoàn trở về, các nhân viên ông nào cũng say ngất ngư, mũi các ông còn bóng loáng hơn nước da của Nuclear Ned, và ban tổ chức đã phải nghe một phúc trình vừa rời rạc vừa chẳng chứng minh được gì cả.
 
Anh ếch đại diện duy nhất của Phi Châu cũng làm cho nhiều người tranh giải lo âu hồi hộp.
 
Một tay "tuyệt phích" quả quyết rằng giống ếch Phi Châu tung người mạnh như thuốc nổ vậy. Người ta chưa quên rằng kỳ đại hội 1950, chỉ một chút nữa, giải thưởng về tay anh ếch Phi Châu. Anh này thuộc loại ếch xanh do ông Jonathan Leaky ở Johanne Sburg ghi tên. Những người dự thi nắm ấy kể lại rằng anh ếch xanh đo được chừng 5 phân, chân dài gấp đôi mình. Nhưng điều lạ lùng nhất là mồm anh dài và nhọn hoắt.
 
Trong vòng thi loại, anh nhảy xa 8,53 thước nghĩa là gần gấp đôi kỷ lục thế giới hồi đó, Nhưng đến khi người ta đem anh ra nhảy thi ở đại hội, anh ngồi lì ở điểm khởi hành, mắt nhấp nháy. Theo luật lệ của cuộc thi, anh phải nhảy trong vòng 15 giây, nếu không sẽ bị tuyên bố bỏ cuộc. Thế mà anh cứ ỳ ra đấy, mặc dù chung quanh người ta tìm cách cổ võ kích thích anh. Cuối cùng đến giây thứ 18 anh mới thấy hứng tung mình ra xa 9 thước 75. Suýt soát có 3 giây đồng hồ và chỉ một chút nữa là những anh ếch Mỹ Châu phải ôm hận muôn đời.
 
Anh ếch Nuclear Ned, mặc dầu có một tiềm lực vô cùng phong phú, chỉ nhảy xa được 2,75 thước. Con Marke đã từng trổ tài với 3,57 thước, cố gắng nhảy 3 lần liên tiếp mà không ra khỏi đường vòng bao quanh điểm khởi hành. Rốt cuộc, con nhảy độ chót thắng cuộc. Đó là con Hops, thuộc lò Leonard Hall và Bill Proctor ở La Fayette, tiểu bang Californie. Với 3 lần nhảy, nó vượt khoảng xa 4,48 thước và đoạt giải 300 đô la. Năm trước, con Busty của lò ếch này đã lập kỷ lục quốc tế.
 
Câu chuyện hài hước đã làm Mark Twain nổi tiếng là câu chuyện về một sự gian lận. Cho nên người ta không lấy làm lạ khi thấy mỗi lần thi ếch nhảy xa, các chủ ếch tìm hết phương kế để chiếm giải.
 
Ông Orval Faubus, Thống đốc tiểu bang Arkansas, có lần gởi tới dự thi một con ếch dài 74cm, đo từ mõm đến móng chân.
 
Ông Urle Minte cho biết Ban tổ chức chưa từng thấy con ếch nào to như thế. Nhưng vì nó to quá nên không cất mình lên được.
 
Loại ếch to này là ếch cái, vì ếch cái bao giờ cũng to con hơn ếch đực. Ếch cái cũng biết kêu, nhưng không mấy khi sử dụng tiếng kêu... Có lẽ vì thế mà đa số ếch đực có vẻ hiền hòa, một sự hiền hòa giả tạo bề ngoài. 
 
 
(Theo Reader's Digest)         
THA PHƯƠNG - HẬN THƯ SINH
(Bút nhóm Mầm Non)         
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 63, ra ngày 5-11-1972) 


 

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

VIỆT NAM, NƯỚC TÔI

 


* Đàn bầu là một nhạc khí hoàn toàn Việt Nam. Đàn chế tạo rất giản dị, chỉ có một dây nên còn có tên là Độc huyền cầm.
 
* Người Việt ta có tục thờ Thành Hoàng là vị thần bảo hộ dân lành. Nơi thờ phụng vị Thành Hoàng của làng gọi là Đình. Đình cũng được dùng làm nơi sinh hoạt chung cho dân trong làng nữa. 
 
* Thi sĩ Vũ Anh Khanh nổi tiếng với bài thơ về Tha La.
 
Đây Tha La Xóm Đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh
 
Tha La là tên một họ Đạo Thiên Chúa được lập đầu tiên tại Tây Ninh.
 
DUNG CHI
 
(Tuổi Hoa số 212)
 
* Địa danh Nha Trang do tiếng Ea Tran hay YJa Tran của Chiêm đọc trại ra. Ea hay YJa nghĩa là nước hay sông. Tran nghĩa là lau lách.
 
* Hát xẩm là lối hát kiếm ăn của những người tàn tật. Có bài ca rằng : "Có con dế mèn, hát trong đêm thâu, hát xẩm không tiền..."
 
DUNG CHI
 
(Tuổi Hoa số 213)
 
* Việt Nam ta có một vật dụng tên là Nóp. Đó là một cái bao dài chừng 2 thước, rộng độ 0,7 thước vừa dùng làm mùng (màn) vừa dùng làm mền (chăn). Dân quê chui vào trong nóp để ngủ. Dĩ nhiên là bị ngộp, không quen ắt không chịu được, nhưng chắc chắn tránh được muỗi, nhất là muỗi độc miền Đồng Tháp Mười.
 
* Đặng Dung là một tướng của Giản Định Đế trong thời kháng Minh có để lại một bài thơ thuật hoài rất được truyền tụng, trong đó có hai câu:
 
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
 
dịch là:
 
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay
 
Ý nghĩa hẳn đúng đến muôn đời.
 
* Bộ sử ký đầu tiên của nước ta là bộ Địa Việt Sử Ký do Hàn Lâm Học Sĩ Lê Văn Hưu soạn vào thế kỷ thứ 13, dưới triều vua Trần Thánh Tôn.
 
DUNG CHI
 
(Tuổi Hoa số 214) 
 
* Chõng là một loại sập bằng tre, mặt là những thanh tre nhỏ xếp liền nhau theo chiều dọc. Ở thôn quê, người ta thường kê chõng ở hiên nhà để ngủ trưa.
 
* Phan Đình Phùng, một anh hùng Kháng Pháp, đã bắt tay vào việc mộ quân ngay khi nhận được hịch Cần vương, cũng là lúc ông đang mang tang mẹ, Sau một thời gian dài chiến đấu chống giặc, ông bị bệnh mất. Giặc Pháp tìm được tử thi của ông, đổ dầu đốt thành tro rồi còn rải tro đó ra nhiều nơi cho mất dấu tích. Tưởng không còn gì dã man cho bằng!
 
* Định Tường là một xứ có nhiều trái cây nổi tiếng. Ta có thể kể : Mận Hồng đào ở Trung Lương, Vú sữa Lò rèn ở Long Định, Cam mật Cái Bè, Ổi xá lỵ An Hữu, Xoài cát Mỹ Thuận. 
 
(Tuổi Hoa số 216) 


 

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

KHO VÀNG HỌ VŨ - Bích Thủy

 


Cả đêm hôm trước Kim Thanh trằn trọc không ngủ. Không khí thanh thoáng tĩnh mịch miền cao nguyên làm cô nữ sinh ngày đầu về nghỉ lễ tại quê nhà thấy khác lạ với khung cảnh nội trú của trường học.
 
Nhưng không phải chỉ có nhớ trường mà Kim Thanh khó ngủ. Suốt niên học, Kim Thanh hằng mong tới ngày nghỉ lễ, để được về thăm cha mẹ, sống ít ngày dưới mái nhà thân yêu. Đối với một nữ sinh lưu trú, ngày được về nhà cha mẹ, vẫn là ngày vui mừng, háo hức. Tâm trạng vui mừng vì được gần cha mẹ, xen lẫn với nỗi luyến tiếc nhà trường, tạm xa thày xa bạn đã làm cô bé không sao ngủ được.
 
Thật khuya, Kim Thanh vẫn còn nằm nghe những tiếng động quen thuộc đánh thức bao kỷ niệm êm đềm của thời thơ ấu. Tiếng gió rung nhẹ ngoài vườn, tiếng dế rả rích đầu hiên và xa xa tiếng ốc rúc từng hồi ngoài điếm canh, thỉnh thoảng lại nổi lên vang vọng trong đêm trường tịch mịch.
 
Kim Thanh không ngủ vì còn một duyên cớ khác nữa. Hồi chiều, mẹ cô có cho biết, dạo này vì làm ăn thất bại, nên ba cô dự tính sẽ bán khu ấp này đi để trả nợ, rồi đi nơi khác tìm kế mưu sinh. Mặc dầu con đương ở tuổi hồn nhiên thơ trẻ, được mẹ cho biết như thế Kim Thanh cũng thấy tê tái trong lòng. Cô ngước nhìn mẹ, nhận thấy trên khuôn mặt hiền hậu của mẹ nhuốm vẻ âu sầu lo lắng, khiến cô càng áy náy, thấy thương cha mẹ nhiều hơn.
 
Tuy chưa nhìn rõ cuộc đời, nhưng nghe nói phải bán nhà Kim Thanh cũng bị những lo sợ vẩn vơ ám ảnh. Vì vậy sáng nay khi trở dậy, Kim Thanh buồn bã không muốn ra khỏi phòng. Cô đưa mắt nhìn những đồ đạc trong phòng, từ cái bàn, cái tủ, chiếc ghế, đến bức tranh treo trên tường đều như nói lên những điều luyến tiếc. Con Lu lu thấy chủ đã dậy, ve vẩy đến gần rồi nằm phục dưới chân.
 
Kim Thanh cúi xuống vuốt ve con vật, mơ màng, tâm sự với nó:
 
- Buồn quá Lu lu nhỉ. Thật tao không ngờ lại có chuyện buồn như thế này. Mới ngày hôm qua, ở trường, tao còn mong mỏi được về nhà, thế mà về đến nơi thì lại được tin ba má sắp phải bán nhà!...
 
Thế là hết Lu lu ạ! Ruộng vườn, nhà cửa, gia súc rồi sẽ về tay người khác. Ồ, chỉ trừ có mày thôi. Tao sẽ xin ba má giữ mày lại!
 
Con Lu lu hình như cũng hiểu những lời tâm sự của cô chủ. Nó mở hé một mắt ra, thở dài, rồi lại lặng lẽ nằm im.
 
Kim Thanh tiếp:
 
- Mày biết không, thế mà ai cũng tưởng nhà mình giầu. Tại vì cơ nghiệp này đã được xây dựng từ lâu đời rồi. Đến đời ông nội, thực ra thì ông cũng giầu lắm. Nhưng tại ông muốn khuếch trương nhiều công việc khác, song chẳng may gặp toàn thất bại, nên khi ông chết, tiền bạc để lại chẳng còn được bao lăm. Ba má đã phải cố công gánh vác mới giữ vững được di sản này cho tới ngày nay. Tội nghiệp cho ba má! Bao nhiêu công lao cực nhọc, thức khuya dậy sớm mà vẫn không khá hơn được, cứ mỗi ngày mỗi sa sút thêm. Nhà cửa lâu ngày không có tiền tu sửa, đâm ra hư hỏng dột nát hết rồi!...
 
Chắc khi tính chuyện bán ruộng đất nhà cửa, ba má phải khổ tâm lắm. Nhưng cũng đành vậy chứ Lu lu nhỉ!
 
Với số tiền bán cái ấp này, ba má có thể mua một căn nhà kiểu mới ở tỉnh. Ba sẽ kiếm việc khác làm ăn, má sẽ đỡ vất vả, còn mình thì cũng khỏi ở nội trú trong trường... Kể ra thì mình vẫn thích ở trong trường mà khỏi phải bán nhà. Nhưng hoàn cảnh bắt buộc thì cũng đành chịu vậy.
 
Thôi, còn được ở nhà ngày nào, mình cứ tận hưởng ngày đó, phải không Lu lu?
 
Giữa lúc Kim Thanh đang lẩm bẩm với con chó như thế thì chợt nghe có tiếng mẹ gọi. Cô vội chạy ra thưa: 
 
- Dạ! Má gọi con!
 
Bà Thông nhìn con gái bảo:
 
- Sao dậy muộn thế con? Đi ra ăn sáng với ba chứ. Ba đang chờ con đấy! 
 
Thấy con gái, ông Thông cười bảo:
 
- Ba má chờ con lâu rồi. Ăn điểm tâm đi rồi ra vườn mà chơi. Con nên lợi dụng mấy ngày nghỉ ở nhà quê cho khỏe.
 
Kim Thanh lén nhìn cha, biết cha thương mình mà làm ra bộ thản nhiên vui vẻ, chứ kỳ thực những nếp nhăn hằn trên trán ông đã chứng tỏ rằng tâm trí ông chẳng được thảnh thơi.
 
Cô nghe cha hỏi tiếp:
 
- Sáng nay con có đi chơi đâu không, hay định ở nhà làm gì?
 
Bà Thông nói xen vào:
 
- Sáng nay con nên dọn hộ má căn phòng dành riêng cho khách. Chiều nay có hai cô bạn của con về chơi phải không?
 
Nghe mẹ nhắc đến bạn, Kim Thanh bỗng quên hết mọi phiền muộn, sung sướng ôm lấy mẹ:
 
- Thế mà con quên mất. Vâng, con đã xin phép mà cho con Hạnh, con Tuyết về chơi với con vài ngày. Chắc chiều nay là chúng nó tới. Vậy để con đi dọn phòng cho chúng nó má nhé.
 
Ừ, con xem lại giường chiếu cho tử tế và mở các cửa sổ ra cho thoáng... xong rồi con muốn đi chơi đâu thì đi.
 
Kim Thanh làm theo lời mẹ dặn. Sau khi đã quét dọn sạch sẽ, trải lại giường chiếu tử tế cô đứng ngắm căn phòng với vẻ mãn ý:
 
- Thế này cũng tạm được rồi. Nhưng giá có ít hoa cắm trong bình nữa, căn phòng sẽ đẹp hơn. Đẻ mình kiếm thử xem...
 
Kim Thanh chạy ra vườn. Gặp thím Năm, thím bảo:
 
- Trong vườn chỉ có mấy bông nhài đã sắp tàn. Còn hồng thì mới trổ nụ. Nếu muốn có nhiều hoa em lên trên đồi mà hái.
 
*
 
Một lát sau Kim Thanh cùng con Lu lu lên đồi. Kiếm cùng khắp chốn, mới hái được một ít bông dừa. Đã thất vọng toan trở về thì chợt Kim Thanh dừng lại trước một khu đất hoang, cỏ mọc um tùm, xen lẫn với những bụi sim, và nhiều cụm hoa dại. Về mùa hè, Kim Thanh thường ra đấy hái sim chín và nhặt nấm.
 
Rải arc1 trong khu đất này còn sót lại ít nhiều dấu vết của tường hoa, thềm gạch theo lối kiến trúc cổ, đã đổ nát. Hình như xưa kia, ở nơi đây có một dinh thự do dòng họ Vũ xây lên. Qua một biến cố nào đó, dinh thự này đã bị tàn phá, đốt cháy. Gia đình họ Vũ kẻ bị giết, kẻ phiêu bạt đi chốn khác. Sau cơn binh lửa, ông Cố nội của Kim Thanh trở về đất cũ xây dựng cơ nghiệp mới, và cơ nghiệp ấy để lại cho con cháu tới ngày nay.
 
Đứng nhìn quanh một lượt, Kim Thanh mừng rỡ reo lên:
 
- Ô, có bông hoa đẹp quá.
 
Gần lối đường mòn, len lỏi giữa đám cỏ may có thấp thoáng một cụm mẫu đơn màu đó.
 
Kim Thanh mừng rỡ chạy đến. Vừa lúc ấy cô chợt nghe có tiếng nói:
 
- Chào cô Kim Thanh. Cô ra đây chơi có một mình thôi?
 
Kim Thanh nhận ra người vừa nói là bà Đức. Ở vùng này tất cả trẻ con đều biết bà, và đều gọi bà là "mụ điên". Sự thật, bà Đức vì già yếu nghèo nàn, sống cô độc không bà con thân thích nên tính nết bà cũng có vẻ bất thường lẩm cẩm. Hình như trong đời bà, gặp toàn những điều đau khổ, con cái chết hết nên cuộc sống cơ cực khác thường của bà có vẻ kỳ dị khiến bọn trẻ mất nết hễ thấy bóng bà thường hay chạy theo chế riễu.
 
Kim Thanh đem lòng thương hại người đàn bà khốn cực ấy. Cô bênh vực bà Đức mỗi lần bà bị bọn trẻ trêu chọc. Và bà Đức mỗi khi thiếu thốn, đói khổ cũng biết tìm đến nhờ sự giúp đỡ của gia đình Kim Thanh. Lần nào Kim Thanh cũng xin cha mẹ cho gạo, cho tiền, và quần áo cũ giúp bà. Vì vậy bà Đức có một cảm tình đặc biệt đối với Kim Thanh.
 
Hôm ấy, bà Đức đi kiếm ít rễ cây đem bán cho các hiệu thuốc nam, qua đây gặp Kim Thanh, bà đứng lại, ngắm nhìn cô bé với vẻ trìu mến khác thường. Bà ngây người bảo:
 
- Chà, cô dễ thương quá, cô Kim Thanh ạ. Mới có ít tháng lên tỉnh học trở về, nom cô nhớn hẳn lên. Chừng nào thì cô ra làm cô giáo?
 
Đối với bà Đức hình ảnh một cô giáo hiền dịu vẫn là hình ảnh đẹp nhất bà dành cho Kim Thanh.
 
Kim Thanh cười đáp:
 
- Còn lâu lắm mụ ạ. Còn phải học ê xương nữa!
 
Bà Đức cũng cười tiếp:
 
- Mụ mong đến ngày em làm cô giáo lắm. Chừng ấy mỗi ngày mụ sẽ hái một bó hoa thật đẹp đem đến trường cho em.
 
Kim Thanh cảm động nói:
 
- Cám ơn mụ lắm. Nhưng đến lúc ấy chắc Kim Thanh không còn ở đây nữa!
 
Thấy bà Đức ngẩn người sửng sốt, cô tiếp:
 
- Tại vì, ba má em sắp rời đi nơi khác, không ở đây nữa.
 
- Tại sao thế?
 
Kim Thanh buồn rầu xòe hai bàn tay:
 
- Tại... không cò tiền, nên phải bán ấp!
 
Nói xong, Kim Thanh vén cỏ, cúi ngắt bông mẫu đơn.
 
Bà Đức im lặng đứng nhìn rồi nói:
 
- Em đi kiếm hoa phải không? Em có thích hoa Tầm  xuân không? Mụ biết một chỗ có nhiều hoa Tầm xuân rất đẹp. Đi, mụ chỉ cho mà hái.
 
Nể lời, Kim Thanh theo chân bà Đức. Qua lối đường mòn, tới một lòng thung nhỏ, có nhiều cây cỏ rậm rạp, bà Đức chỉ cho Kim Thanh một bụi tầm xuân bông nở chi chít đầy cành.
 
- Đó em thấy chưa. Chỗ này ít có ai lui tới, chỉ riêng mụ hay đến kiếm rễ cây mới biết mà thôi. Em tha hồ mà hái nhé! 
 
Rồi bà ngậm ngùi tiếp:
 
- Khu này cũng thuộc vào phần đất của họ Vũ nhà em đấy. Nếu phải bán đi, thật là uổng!
 
Và bà thở dài, lẩm bẩm:
 
- Còn mụ cũng mất nơi nương tựa!...
 
Nhưng Kim Thanh không để ý mấy đến lời bà Đức nói. Những bông tầm xuân rực rỡ giữa đám lá xanh tươi, làm cô quên hết. Cô vui mừng bảo:
 
- Cám ơn bà! Hoa đẹp thật. Em sẽ hái thật nhiều đem về nhà. Chắc các bạn em sẽ thích lắm!
 
Từ giã bà Đức, Kim Thanh cùng con chó tung tăng chạy đến chỗ có bụi tầm xuân, kiễng chân tìm những cành có nhiều hoa vin xuống để hái.
 
Mải dướn mình ngắt những bông hoa đẹp, Kim Thanh không để ý đến đám đất bở chân cô đang dẫm lên. Bỗng nhiên Kim Thanh thấy khoảng đất dưới chân mình sụt xuống, lôi cô ngã xuống một hố sâu. bị ngã bất thần lại thêm con Lu lu ngã theo đè nặng trên mình, Kim Thanh bàng hoàng tưởng như bị chôn dưới huyệt sâu. Con Lu lu vùng dậy sủa lên hoảng hốt, và cào bới lung tung. Định trí lại, Kim Thanh quan sát chỗ mình bị ngã. Cô bị một phen hoảng vía hơn là bị đau. Chỗ đất sụt tuy khá sâu nhưng có thể leo lên được. Đang thử tìm lối nào thuận để trèo lên cho khỏi vướng rách quần áo, Kim Thanh bực mình vì con chó cứ lồng lộn cào bới nên quay lại mắng con vật.
 
Chẳng may, trượt chân, Kim Thanh lạng chúi người đi, và để chống đỡ cho khỏi ngã, tay Kim Thanh va vào một vật cứng lộ dưới lần đất bở. Vật cứng đó, làm Kim Thanh chú ý. Cô nâng con Lu lu lên, giúp nó ra khỏi hố, rồi tò mò xem xét. Vật cứng tay Kim Thanh vừa va phải, hình tròn giống như một chiếc thạp sành thường người ta vẫn dùng để đựng nước, đựng gạo. Bới rộng đất ra, Kim Thanh thấy chiếc thạp ấy có nắp đậy kín. Càng lấy làm lạ, Kim Thanh cố tìm cách để mở. Loay hoay một lúc, vừa nhắc được chiếc nắp lên, cô đã sửng sốt kêu:
 
- Trời!
 
*
 
Kim Thanh tưởng như mảnh trời trong sáng ở trên đầu bỗng nhiên tối sầm lại. Và những bông hoa tầm xuân rực rỡ trên cành tự nhiên biến tỏa thành những đốm sao bay chập chờn trong khoảng không gian mù mịt. Tai cô nghe u u như có tiếng sáo diều vang vọng trong đầu...
 
Không! Tất cả những điều ấy chỉ là vì Kim Thanh quá xúc động, tim bị đập mạnh nên choáng váng mất một lát.
 
Cô tỉnh lại ngay khi nghe có tiếng con Lu lu sủa và tiếng mẹ lo lắng gọi:
 
- Kim Thanh! Kim Thanh!
 
Kim Thanh đặt tay trên ngực thở một hơi dài, cố gắng thưa:
 
- Con đây má!
 
- Chết chửa, con làm sao thế này? Tay con bị chảy máu. Có việc gì không con?
 
Kim Thanh kéo mẹ ngồi xuống:
 
- Không sao đâu má. Con chỉ bị xây xát qua loa thôi. Nhưng má trông đây này!...
 
Đến lượt bà Thông sửng sốt ôm lấy ngực:
 
- Trời! Vàng! Vàng ở đâu mà nhiều thế?
 
Kim Thanh vừa cười vừa khóc, thuật lại đầu đuôi, từ lúc cô gặp mụ Đức, lúc hái hoa rồi bị ngã vì đất sụt, và tình cờ tìm ra được chiếc thạp đựng đầy vàng này. Lúc ấy con Lu lu cũng đã đưa ông Thông tới. Ông chưa hiểu chuyện gì, còn đang lo lắng cho con gái thì Kim Thanh đã ôm lấy cổ cha:
 
- Ba ơi, vàng! Vàng nhiều không thể tưởng tượng được. Con vừa tìm thấy đây này.
 
Ông Thông cúi xuống xem xét rồi lẩm bẩm:
 
- Đây đúng là vàng của các cụ khi xưa chôn giấu. ba có nghe ông nội căn dặn: trong đất này, tổ tiên có chôn một kho vàng... Ba vẫn tưởng chỉ là chuyện bày đặt, để con cháu giữ lấy đất hương hỏa để lại, ai ngờ mà là chuyện có thật.
 
Vuốt ve Kim Thanh, ông tiếp:
 
- Đây cũng là lộc tổ tiên dành cho con đấy... Ba má rất mừng và cũng đỡ lo!
 
*
 
Từ đó Kim Thanh không còn bận tâm về việc cha mẹ phải bán ấp nữa. Trái lại nhà cửa còn được tu bổ sửa chữa lại, coi thật khang trang đẹp đẽ, nổi nhất trong vùng.
 
Còn bà Đức, bây giờ bà cũng có riêng một căn nhà xinh xắn, và không ai còn chế riễu bà là mụ điên nữa. Có người còn săn đón quà cáp cho bà luôn, hy vọng vẩn vơ được bà chỉ cho một kho vàng nào khác nữa!...
 
 
BÍCH THỦY    
 
(Trích từ tập truyện nhi đồng Tuổi Hoa số 6, phát hành tháng 11, 1962)


Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

MIỀN TRUNG - Trần Ngọc Hưởng

Nhọc nhằn ngày lũ (ảnh : Duy Phong)


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
Kĩu cà kĩu kịt… miền Trung
Nhấc lên một phút… nặng rung hai đầu
Lời nguyền địa lý mà đau
Trăm nghìn bão lũ nối nhau hoành hành
 
Thắt lòng trĩu nặng tâm linh
Nửa đêm thức giấc oằn mình đội mưa
Trường Sơn ơi! Bạc tóc chưa?
Quặn đau khúc ruột bao mùa thiên tai 
 
Hương Giang nhíu mặt cau mày
Thu Bồn nước lạnh dân gầy tê chân
Mưu sinh một cuộc tảo tần
Áo tơi chật chội mưa dầm mênh mang
 
Bồng bềnh Quảng Ngãi, Quảng Nam
Bão dông mấy nhịp lang thang… Tràng Tiền!
Trĩu vai mềm mẹ và em
Chiếc đòn gánh gánh truân chuyên… mảnh đời
 
Kĩu cà kĩu kịt… mồ hôi
Chiều hôm lặn phía chưa nguôi… nhọc nhằn
Bão xa thôi lại bão gần
Lắng nghe bất chợt bần thần miền Trung
 
                                               Trần Ngọc Hưởng

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

ỐC LUỘC - Quyên Di

 

Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương xứng đáng được tuyên phong là “đệ nhất ỡm ờ.” Bà tả một vật, thì rõ là tả cái vật ấy, nhưng đọc lên, ai cũng liên tưởng đến một vật khác. Thí dụ bà tả cái quạt giấy:
 
Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dáng (dính dán) tự bao giờ.
Chành ra ba góc, da còn thiếu,
Khép lại hai bên, thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng:
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
 
Hay bà tả quả mít:
 
Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dày.
Quân tử có thương thì đóng nõ,
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay.
 
Lại có cái con kia, không biết là may hay không may, được bà chúa để mắt tới, đó là con ốc. Chắc là đã săm soi, ngắm nghía con này khá lâu, bà chúa mới hạ bút, tả:

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

Bà chúa chỉ dạy cách ăn ốc, làm sao lấy được con ốc ra khỏi vỏ, nhưng vì cách nói ỡm ờ của bà, người đọc liền nghĩ (tầm bậy) sang chuyện khác. 
 
Vì bài thơ “Con Ốc” này mà suýt nữa anh Tuấn bị bố tôi phạt.

Anh Tuấn là anh cả trong nhà. Anh đẹp trai, răng khểnh, ăn nói có duyên, lại có khiếu văn chương, văn nghệ. Về sau anh lớn lên, nhiều cô chết mê chết mệt vì anh. Anh Tuấn hơn tôi chín tuổi. Dạo ấy anh khoảng mười bốn, mười lăm.

Gia đình chúng tôi quen biết chú Mấm. Chú người nhà quê, thật thà, chất phác, rất tốt bụng. Chúng tôi là gia đình đi tản cư mà chú cứ xem như là thượng khách trong làng không bằng. Đến nhà, chuyện trò với bố mẹ tôi hay bố mẹ chị Bích Khuê (cũng là gia đình tản cư, được người dân xứ đạo cho ở chung nhà với gia đình tôi,) chú xưng là “con.” Nói mãi, chú đành đổi “con” thành “cháu.” 
 
Anh Ngọc và tôi rất mê chú Mấm. Chú đến nhà, làm đủ thứ đồ chơi cho anh em chúng tôi. Sao chú khéo tay thế không biết! Chú làm diều đẹp ơi là đẹp. Diều thả bay cao ơi là cao. Sáo diều vi vu hay ơi là hay. Mê nhất là có lần chú làm cho anh em chúng tôi cái xe ô-tô. Thân xe bằng các-tông. Bốn bánh xe bằng bốn cái nắp chai bia. Chú nhặt ở đâu được một tấm gương vỡ, tìm cách cắt một miếng vuông vắn làm kính xe. Xe ô-tô lại có gắn cái kèn nhỏ, bóp kêu toe toe. Đẩy cái xe thì nó lăn bánh được. Anh Ngọc và tôi ngồi cách nhau mấy sải tay, đẩy xe qua lại. Lâu lâu một đứa lại bóp kèn kêu toe toe rồi cả hai cười như nắc nẻ. Hôm ấy, đi ngủ, anh Ngọc nhường cho tôi nằm ôm cái xe ô-tô suốt đêm.
 
Sáng hôm ấy, chú Mấm lại đến nhà, khệ nệ mang theo một cái rổ. Mẹ tôi hỏi: “Anh Mấm đem gì đến đấy?” Chú Mấm vừa thở vừa nói: “Bẩm ông bà, cháu mới ra ao, bắt được rổ ốc vặn. Gớm, sao hôm nay chúng nó ở đâu kéo đến đông quá đi mất. Ốc này béo ra phết. Cháu đem đến để các ông bà và các cô cậu xơi cho biết quà quê. Để cháu luộc cho.” Mẹ tôi cười, bảo: “Cám ơn anh cho quà. Tôi biết luộc. Xế chiều mời anh sang xơi nhé.” 
 
Anh chị em chúng tôi và cả chị Bích Khuê đang chơi quanh đấy. Anh Tuấn, không biết xem được thơ bà Hồ Xuân Hương trong sách nào, thấy ốc, liền buột miệng đọc ngay: “Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi. Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi. Quân tử có thương thì bóc…” Bố tôi đằng hắng một tiếng và lườm anh. Anh Tuấn im bặt, không dám đọc nốt bài thơ. Bố tôi không cho anh đọc tiếp, vì thấy có chị Bích Khuê đứng đấy. Từ khi chúng tôi còn nhỏ bố đã căn dặn không được nói những lời sỗ sàng với phụ nữ hay khi có mặt phụ nữ. Anh Tuấn im miệng đúng lúc, nhưng chị Bích Khuê chắc cũng biết bài thơ ấy, mặt chị đỏ như quả nhót chín.
 
Chú Mấm về rồi, tôi giục mẹ: “Mợ ơi, mợ luộc ốc cho chúng con ăn ngay đi.” Mẹ tôi trả lời: “Không luộc ngay được đâu, chú mình! Phải làm cho ốc sạch đã." Rồi mẹ đem rổ ốc vào bếp. Chị Bích Khuê đi theo, nói: “Bẩm bác, cho cháu học bác cách rửa ốc, luộc ốc ạ.” Chị Bích Khuê đi theo mẹ tôi thì tôi cũng đi theo chị.
 
Thấy chị Bích Khuê ngoan ngoãn, dễ bảo, mẹ tôi nhờ: “Cô Bích Khuê giúp tôi vo rá gạo này nhé, để nhát tôi thổi cơm chiều. Cô nhớ đừng bỏ nước vo gạo đi, phí. Nước ấy để ngâm cho ốc nhả sạch các chất bẩn ra đấy.”
 
Chị Bích Khuê nhanh nhẹn: “Bẩm bác, cháu vo gạo ngay ạ.” Thế rồi đôi bàn tay tháp búp, trắng hồng của chị khoắng trong rá gạo ngâm trong chậu đồng đầy nước mưa. Tôi đứng nhìn, xoè bàn tay mình ra, tay mình không có những ngón tháp bút xinh đẹp như chị. Thấy tôi đứng ngẩn ra nhìn tay chị, mẹ tôi giục: “Cu cậu giúp mợ chọn ốc nhé.” Tôi ngây thơ hỏi: “Chọn ốc như thế nào hở mợ?” Mẹ tôi vừa thận trọng đổ rổ ốc vào một chậu nước khác, vừa thong thả bảo tôi: “Chú mình làm theo mợ đây. Miệng con ốc có cái vảy, gọi là cái yếm đậy bên trên. Ốc tươi thì yếm đậy hờ hờ thôi. Đụng vào cái yếm, ốc thụt ngay vào, khép yếm kín mít. Ốc chết thì yếm thụt sâu xuống, có đụng vào cũng không thấy nhúc nhích gì. Chú mình lấy con ốc ấy ra, bỏ đi. Như thế mẻ ốc luộc mới ngon được.”
 
Chỉ một chốc, gạo đã vo xong mà ốc cũng chọn xong. Mẹ lại thận trọng trút rổ ốc tươi ấy vào chậu nước vo gạo. Xong xuôi, mẹ giải thích: “Có mấy cách ngâm ốc cho chúng nhả các chất bẩn ra cơ. Ngâm nước vo gạo là một cách. Ngâm trong chậu nước có thả trong ấy một con dao là một cách khác. Kim khí cũng khiến cho ốc nhả các chất bẩn ra. Cách thứ ba nữa là ngâm ốc với giấm có pha thêm ớt. Cách này làm cho ốc rất mau nhả chất bẩn, nhưng làm xong lại phải rửa ốc bằng nước sạch. Chung quy, ngâm ốc vào nước vo gạo vẫn là cách truyền thống, an toàn nhất. Cô Bích Khuê nhớ lấy nhé.” Chị Bích Khuê nhỏ nhẹ và lễ phép: “Bẩm, cháu nghe kỹ và ghi nhớ ạ.”
 
Tôi hỏi: “Mợ ơi, bây giờ mình làm gì? Như mợ bảo phải đợi chừng hai tiếng ốc mới nhả hết các chất bẩn ra thì lâu quá!” Mẹ tôi bảo: “Ấy, muốn có miếng ăn ngon thì cũng phải công phu, phải mất thì giờ chứ. Nhưng cũng chẳng lâu lắm đâu. Trong lúc chờ cho ốc sạch, mình chuẩn bị món nước chấm. Với lại Chúc ra vườn hái cho mợ một ít lá chanh nhé.” Tôi hỏi: “Hái bao nhiêu hở mợ?” Mẹ đáp: “Chừng một vốc tay thôi. Mình luộc ốc với lá chanh cho ốc thơm.”
 
Tôi ra buồng ngoài rủ anh Ngọc ra vườn hái lá chanh. Mùa này chanh đã ra hoa, lá non không còn bao nhiêu, nhưng mẹ tôi đã dặn: “Hái lá chanh già cũng không hề chi. Mình ăn gà luộc, cần lá chanh non thái nhỏ tăng, còn luộc ốc thì lá chanh già cũng vẫn dùng được.” Hai anh em chạy ra vườn. Bên vại nước mưa, một cây chanh cành lá rườm rà, không biết đã mọc ở đấy từ thuở nào. Hoa chanh thơm, trắng lấm lấm đầy cả các cành. Anh Ngọc khôn ngoan hơn tôi, dặn: “Chúc hái lá thôi, đừng hái hoa với lại đừng làm hoa rụng nhé, để hoa nó kết quả.” Tôi làm theo. Vì phải thận trọng không hái lầm phải hoa và không cho hoa rụng nên hai anh em làm cũng hơi lâu. Hái lá chanh xong, tôi định đem vào khoe mẹ, nhưng anh Ngọc đã bảo: “Mợ chưa nói, nhưng chúng mình làm trước đi. Chúc theo anh ra cây bưởi, bẻ mươi, mười lăm cái gai. Gai bưởi mà để khêu ốc thì nhất đấy. Nhưng mà Chúc phải khéo kẻo gai bưởi nhọn nó đâm chảy máu tay đấy.” Tôi lon ton đi theo anh. Sao anh Ngọc biết bẻ gai bưởi để khêu ốc mà tôi không biết nhỉ! Mà anh có lớn hơn tôi bao nhiêu đâu. Mình khờ thật! Tôi vừa theo anh vừa nghĩ như thế!
 
Chỉ một thoáng, lá chanh cũng hái xong, gai bưởi cũng bẻ xong. Hai anh em đem vào nhà, xuống bếp khoe mẹ. Tôi liến thoắng: “Mợ ơi, mợ không dặn nhưng Chúc biết gai bưởi khêu ốc là tốt nhất nên bẻ cho mợ hơn chục cái gai bưởi đây." Mẹ tôi khen: “Hai anh em ngoan lắm. Xứng đáng được thưởng ăn ốc luộc.” Anh Ngọc nhìn tôi, mủm mỉm cười. Anh không tranh công với tôi, mặc dù chính anh dạy tôi là ăn ốc thì phải dùng gai bưởi mà khêu. Thấy mớ gai bưởi, mẹ tôi ngâm nga câu ca dao: “Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân… Cái anh chàng si tình ấy đến là khổ! Trèo lên cây bưởi, vừa bị kiến cắn vừa bị gai cào…” Rồi mẹ nhìn chị Bích Khuê, cười nhè nhẹ: “Chắc mai sau cô Bích Khuê làm khối anh chàng phải trèo lên cây bưởi.” Chị Bích Khuê hai má đỏ au, hàm răng trên cắn nhẹ bờ môi dưới. Chị nói lảng: “Gần bếp lửa, nóng quá bác ạ.”
 
Thấy chỉ có lá chanh, chị Bích Khuê hỏi mẹ tôi: “Bẩm, mình không dùng lá bưởi để luộc chung với ốc ạ?” Mẹ tôi nói: “Cũng có nhiều người luộc cả lá chanh lẫn lá bưởi với ốc. Nhưng tôi thì chỉ dùng lá chanh thôi. Lá chanh thơm dịu, còn lá bưởi thì hơi hắc. Gia đình tôi có người họ hàng ở trong Nam, họ nói rằng trong ấy người ta luộc ốc với sả, cũng thơm lắm.”
 
Rồi mẹ tôi bảo hai anh em tôi: “Thôi, cho hai chú chàng ra ngoài chơi. Nhát ốc luộc xong, mợ cho ăn.” Anh Ngọc vâng lời, ra ngay. Tôi thì cứ luẩn quẩn trong bếp, xem chị Bích Khuê được mẹ tôi dạy pha nước mắm chấm ốc luộc. Thấy thế, mẹ tôi cũng không nói gì.
 
Mẹ tôi, rất ân cần, chỉ dạy chị Bích Khuê làm món nước chấm:
 
“Ốc ngon mà không có bát nước chấm ngon, cái ngon giảm đi nhiều. Có những nhà chỉ pha nước mắm ngon với giấm hay với chanh, với gừng, thế là xong bát nước chấm. Nhưng cầu kỳ hơn thì mình phải dụng công. Đây, nước mắm ngon, hai thìa nhé. Nước mưa đun cho nóng âm ấm, một thìa. Quả chanh lúc nãy tôi nhờ cô Bích Khuê cắt đôi đấy, vắt nước ra, sao cho đầy một thìa. Hũ đường cát vàng đây, cô xúc cho ba thìa. Rồi nhé. Bây giờ củ gừng cô đập dập ra, tỏi bóc sẵn rồi, cũng đập dập rồi băm nhỏ. Quất tươi, lấy hai quả, thái mỏng ra. Lá chanh, thái nhỏ tăng nhé. Rau mùi, thái và băm nhỏ. Đây… làm theo tôi nhé: đổ hai thìa nước mắm, một thìa nước ấm, ba thìa đường vào bát. Cô lấy đôi đũa này, khuấy cho đều tay. Đổ gừng, tỏi, ớt, rau mùi vào bát. Cho thêm cả thìa nước cốt chanh vào. Lá chanh thái nhỏ rồi, phải không? Cô cũng cho vào bát nước chấm. Hai quả quất thái khoanh mỏng, ta cho vào bát nốt. Vị quất chua chua ngọt ngọt rất dịu, lại thêm mùi tinh dầu của vỏ quất tiết ra khiến cho bát nước chấm thơm ngon vô cùng. Ớt thì tuỳ đấy, gia đình chúng tôi không ăn cay lắm. Có thế thôi, xong món nước chấm.” 
 
Chị Khuê Bích vừa nghe mẹ tôi hướng dẫn, vừa thoăn thoắt hai tay làm theo. Chị khéo quá.
 
Xong xuôi, bây giờ là việc chính: luộc ốc. Gọi là việc chính, nhưng lại rất nhanh, vì tất cả đã được chuẩn bị sẵn rồi.
 
Mẹ tôi dặn chị Bích Khuê: “Người ta cứ đố nhau nói câu “nồi đồng nấu ốc, nồi đất nấu ếch,” lúc đầu nói chậm, càng về sau càng nói nhanh mà không bị nhịu giọng thì được cho là giỏi. Nhưng thực tế thì không nhất thiết phải luộc ốc bằng nồi đồng. Cứ nồi đất mà dùng. Nồi có đáy mỏng vừa phải chứ đừng dày quá. Nồi mà đáy dày, phải luộc lâu, ốc lâu chín, có khi bị dai, kém ngon kém ngọt. Lá chanh đây, rửa sạch, cho vào nồi cùng với một bát giấm bỗng. Rổ ốc đã được chọn kỹ và rửa sạch rồi, ta nhẹ tay trút nào nồi, đổ thêm một bát nước và một dúm muối. Nhớ là chỉ một bát con nước thôi, cô nhé. Nhiều nước quá, vị ngọt của ốc sẽ mất đi, kém ngon."
 
Nồi ốc đã được chuẩn bị xong. Mẹ tôi khơi cho lửa trong bếp cháy lớn lên. Chỉ một lúc sau, nước trong nồi ốc sôi trào ra. Mẹ tôi chờ một phút rồi mở vung nồi. Mùi ốc thơm xông lên ngào ngạt.
 
Mẹ tôi dặn chị Bích Khuê câu cuối: “Bí quyết luộc nồi ốc ngon là khi nồi ốc chưa sôi thì tuyệt đối không mở vung ra. Ta cũng không nên dùng đũa đảo ốc trong nồi. Làm như thế ốc bị đứt ruột, khó khêu, khiến cho mất hứng thú người ăn ốc.”
 
Mẹ tôi lấy tro vùi than củi trong bếp, nhanh tay đổ nồi ốc ra rổ cho ráo nước, rồi bà giục chị Bích Khuê:
 
“Cô sang nhà ngang mời ông bà cùng sang đây ăn ốc. Phải ăn nóng thế này, ốc mới ngon.” Chú Mấm cũng được nhắn sang ăn ốc luộc, nhưng chú cám ơn và nhất mực từ chối. Chú bảo bên nhà chú ăn mãi rồi.
 
Chỉ dăm phút sau, cả hai gia đình ngồi vòng tròn trên chiếu mà trung tâm là rổ ốc và bát nước chấm. Anh Tuấn vừa thấy rổ ốc đã lại nhanh miệng đọc câu thơ nhại giọng thơ Hồ Xuân Hương: “Thân em như thể ốc mà thôi. Thơm tho hương ngát khiến bồi hồi. Quân tử nhìn em ao ước mãi. Vừa giòn vừa béo, nhỉ, chao ôi!”
 
Bố tôi không kịp ngăn anh Tuấn lại, chỉ lườm anh một cái rồi đằng hắng. Chị Bích Khuê, mặt lại đỏ như quả nhót chín. Bố mẹ chị ấy cười hiền hoà. Ông bố chị lấy ra chai rượu trắng, xách theo từ lúc nào không biết, mời bố tôi: “Cám ơn ông bà Chánh cho chúng tôi xơi ốc luộc. Dân dã thế mà ngon đáo để, ông Chánh nhỉ. Ta làm với nhau mấy tợp rượu đưa cay nào.” Tôi ngồi cạnh chị Bích Khuê, thấy hai má chị đỏ chín. Sao mà chị đẹp thế. Anh Ngọc hồn nhiên, vừa ăn ốc vừa xuýt xoa khen ngon. Mẹ tôi ngồi cạnh anh Tuấn, để nhỡ anh có xuất khẩu thành thơ… Hồ Xuân Hương nữa thì kịp bấu vai anh kẻo anh bị bố mắng.
 
Tự nhiên, hạnh phúc đến với tôi một cách bất ngờ khi chị Bích Khuê vừa khêu ốc cho tôi vừa nói: 
 
“Chúc hái lá chanh với bẻ gai bưởi vất vả nhỉ. Đây, chị thưởng cho hai con ốc tướng này!” Lúc ấy tôi chỉ kịp hưởng hạnh phúc mà không thắc mắc gì. Lớn lên, có lúc nhớ lại những ngày tản cư cũ, tôi mới thắc mắc: “Sao hôm ấy chị Bích Khuê chỉ thưởng cho mình hai con ốc tướng mà không thưởng cho anh Ngọc nhỉ?” Rồi tôi tự giải đáp điều thắc mắc của chính mình: “Chắc chị ấy đền công cho mình vì chỉ trước hôm ấy ít lâu, mình tặng cho chị tràng hoa xoan tím nhạt và thơm ngát. Chắc thế!”
 

Quyên Di