Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

LƠ-TƠ-MƠ VÀ HUNG THẦN - Nguyễn Tất Thắng

 Thuở xưa ở thành Lôcal trong xứ Tưởng Tượng có chàng lái buôn tên là Lơ-tơ-Mơ hiền lành chất phác. Có lẽ chính vì những điểm ấy mà bao phen trên đường đi buôn, chàng Lơ-tơ-Mơ ấy gặp không biết bao nhiêu chuyện nguy hiểm, tuy nhiên chàng vẫn tránh khỏi và vượt qua.
 
Một trong số những cảnh nguy hiểm mà chàng Lơ-tơ-Mơ kia gặp trên, tôi sẽ kể lại dưới đây cho các bạn nghe...
 
*
 
Hôm ấy, chàng Lơ-tơ-Mơ chuyển một số hàng hóa sang thành Lamin nước kế cận. Trên đường sang Lamin thành, chàng Lơ-tơ-Mơ phải vượt qua một cánh đồng rộng mênh mông - không một bóng người - nếu không nói là một cánh rừng thưa hoang vắng...
 
Hôm ấy, trời nắng gắt, mặt trời nóng bỏng ở trên cao, phóng những tia lửa như thiêu đốt xuống cánh đồng. Người và ngựa đều mệt lả, chàng Lơ-tơ-Mơ dừng nghỉ xả hơi dưới gốc một cây đào chĩu quả... nhìn những trái đào chín đỏ và mọng nước ấy chàng Lơ-tơ-Mơ ta thèm rỏ dãi...! Trong lúc cơn khát đang hoành hành, thấy cảnh ấy ai mà chẳng thèm, hơn nữa cây mọc giữa chốn đồng hoang thì có lẽ là vô chủ. Lập tức như một con vượn - thoáng cái - chàng Lơ-tơ-Mơ đã tót lên tới ngọn cây! Thôi, chung quanh cây trái như rươi, tha hồ mà no bụng! Chàng Lơ-tơ-Mơ ung dung "nhấm nháp", bỗng nghe có tiếng gió thổi rào rào và tiếng động ấy càng lúc càng to ra thêm. Ban đầu, chàng Lơ-tơ-Mơ còn ngỡ là gió nhưng sau thấy gió càng lúc càng dữ dội thì giật mình vì giữa trời nắng cháy da này làm gì có cơn gió lạ lùng vậy bao giờ - Lơ-tơ-Mơ liền ngừng ăn, cúi rạp mình xuống, đôi mắt trông về hướng có cơn dị phong kia...
 
"Trời đất thánh thần ơi!" - Lơ-tơ-Mơ kêu lên vì kinh hãi - từ đàng xa, trước mắt chàng, một bóng người khổng lồ, hai bên vai mọc hai cánh trông như chim đại bàng, đang bay dần về phía mình, bóng người khổng lồ ấy càng đến gần, trận cuồng phong càng trở nên mãnh liệt hơn, cành đào nghiêng ngả rào rào. Khi người khổng lồ chỉ còn cách Lơ-tơ-Mơ chừng ba trăm thước, thì chàng nhận ra đó là một hung thần mặt đỏ, râu xanh, mắt lồi, nanh bạc, hai lỗ tai nhọn và to như hai cái quạt, đôi cánh quạt vào không khí gây thành những trận gió ào ào như bão táp phong ba...!
 
Lơ-tơ-Mơ hồn phi phách tán, mặt tái mét, run cầm cập, cúi mình nấp vào cành lá um tùm mong tránh khỏi cặp mắt đằng đằng sát khí hung bạo kia. Nhưng xui thay! Lơ-tơ-Mơ có biết đâu rằng cây đào kia là nơi trú ngụ của hung thần nọ. Đến lúc hung thần bay đến gần cây, bọn ngựa của chàng sợ hãi hí lên inh ỏi. Với đôi mắt cú vọ cùng với sự tố cáo của bọn ngựa, hung thần đã phát giác ra sự có mặt của chàng và hành động trộm trái cây của lão.
 
- "Ha! Ha! Ha! - lão hung thần cười lên một cách khoái trá. Trong cảnh tĩnh mịch hoang vắng, tiếng cười của hung thần có một âm vang ghê rợn, với những kẻ gan góc hay can đảm đến đâu trong hoàn cảnh này cũng không khỏi khiếp vía bay hồn, huống hồ là Lơ-tơ-Mơ, một chàng lái buôn yếu bóng vía. Lơ-tơ-Mơ chết đứng trước cặp mắt tóe lửa của hung thần:
 
- "Ha! Ha! Tên lái buôn khốn nạn kia ơi! - hung thần cười thét bảo - Số ngươi đã tận rồi nên mới dám ăn trộm đào của ta. Ha! Ha! Ha! Mi sẽ chết. Ha! Ha! Mi sẽ chết, sẽ chết. Ha! Ha!"
 
Lơ-tơ-Mơ tuy đã chết khiếp trong lòng nhưng cố bình tĩnh nói:
 
- Cúi lạy ngài tha chết cho kẻ hèn này! Không phải kẻ hèn này cố tình trộm trái cửa người, song vì đang đói khát, lại gặp cây mọc giữa chốn đồng hoang, ngỡ là của vô chủ nên kẻ hèn này đã trộm ăn, xin ngài tha tội, kẻ hèn này mang ơn đời kiếp!
 
Nghe Lơ-tơ-Mơ bày tỏ, hung thần cười gằn:
 
- Hừ!... Thôi đừng nhiều chuyện, hãy nhảy xuống đất mau lên!
 
Nghe hung thần bảo, Lơ-tơ-Mơ thất kinh, song vì nể sợ nên chàng ta không dám trái lời. Từ trên cây nhảy xuống, Lơ-tơ-Mơ muốn sụm lưng, chân đứng muốn hết nổi nữa, nhưng chàng ta vẫn cố gượng đứng dậy, tay xá hung thần xin tha mạng. Với gương mặt lạnh như tiền, hung thần tuốt đao ra khỏi vỏ tiến lại gần Lơ-tơ-Mơ khoa đao lên. Lơ-tơ-Mơ hoảng sợ lạy như tế sao. Hung thần vẫn tiến lại túm lấy chàng vung đao toan chém. Nhưng như chợt nghĩ ra điều gì, hung thần liền bỏ Lơ-tơ-Mơ xuống đất, cười gằn:
 
- Này ranh con! Ranh con có muốn được sống không?
 
Khỏi cần nói các bạn cũng rõ câu trả lời của chàng Lơ-tơ-Mơ ra sao rồi. Bấy giờ hung thần mới nhe hàm răng chơm chởm nanh nhọn cười bảo chàng:
 
- Hừ, thế thì ranh con phải kể cho ta nghe ba câu chuyện...!
 
Lơ-tơ-Mơ mừng quá quên rằng trước mặt mình là hung thần nên vội ngắt lời:
 
- Dạ vâng ạ! Ngài muốn bao nhiêu chuyện kẻ hèn này cũng đều xin kể miễn là được sống...
 
Hung thần tỏ vẻ bằng lòng, bảo tiếp:
 
- Nhưng... Ngươi hãy nghe rõ đây... Ba câu chuyện phải cùng chung một ý nghĩa, nghe rõ chưa!
 
- "Dạ dạ vâng ạ!" - Tuy ngoài miệng nói thế song trong tâm Lơ-tơ-Mơ lấy làm sợ hãi vì ban đầu chàng ta cứ tưởng bở là ba câu chuyện khác nghĩa nhau nên mừng rơn, ai dè... Trong lúc Lơ-tơ-Mơ do dự chưa biết kể làm sao thì hung thần trợn mắt nhìn chàng thét bảo:
 
- Thế nào? Nhanh lên chứ! Nếu không thì hãy ngửa cổ mà chịu chết!
 
Lơ-tơ-Mơ sợ quá đành kể liều mặc dầu trong óc chàng không thể có 3 câu chuyện cùng một ý nghĩa như nhau.
 
*
 
Lơ-tơ-Mơ điềm tĩnh kể:
 
- Ngày xưa, ở đất Trung Hoa có hai vợ chồng nhà kia hạ sanh được hai người con trai, một người tên là Hiếu Minh và một người tên là Hiếu Đệ. Hiếu Minh là anh, tính tình gian tham, cay nghiệt, không biết thương người. Trái lại người em Hiếu Đệ thì ngay thẳng, tính tình thật thà chất phác lại biết thương người nên trong xóm ai nấy thảy đều thương mến, còn người anh thì chỉ mang lấy tiếng cười khinh bỉ...
 
Sau khi cha mẹ qua đời, Hiếu Minh vì lanh lợi gian tham nên tìm cách chiếm đoạt cả gia tài, chỉ chưa cho người em một cái rìu sắt. Sau khi chiếm đoạt cả gia tài to tát, người anh lại còn ác tâm tìm cách đuổi mát em mình ra khỏi nhà.
 
Âm thầm và lặng lẽ, Hiếu Đệ gạt nước mắt ra đi. Với cái rìu sắt ấy Hiếu Đệ làm nghề đốn củi đổi gạo, sống qua ngày...
 
Một hôm, sau khi đốn củi mệt mỏi, Hiếu Đệ nằm dài xuống đất nghỉ, nhưng vì quá mệt nhọc nên chàng thiếp ngủ lúc nào không hay...

Lúc ấy có một bầy đười ươi từ trong rừng kéo ra - lại nói trong bầy đười ươi này có một con làm chúa, hễ con chúa nói gì thì bầy bộ hạ đều răm rắp tuân theo. Lúc bầy đười ươi kéo từ trong rừng ra, đi ngang chỗ Hiếu Đệ ngủ, chúng tưởng Hiếu Đệ đã chết thật nên một trong bọn, có lẽ là chúa đàn - khẹc khẹc kêu lên:
 
- Khẹc! Khêc! Hầm vàng hay hầm bạc?
 
Bỗng dưng bầy đười ươi đồng thanh kêu lên:
 
- Hầm vàng! Hầm vàng! Khẹc khẹc!
 
Rồi sau đó hai con nắm tay, hai con nắm chưn khiêng Hiếu Đệ đi. Khi ấy Hiếu Đệ ngủ say quá nên không biết "on", "đơ" gì ráo!
 
Bọn đười ươi khiêng Hiếu Đệ xuống một thung lũng hẹp toàn đá, rồi ném chàng vào một cái hầm toàn vàng sáng chói. Xong xuôi bọn đười ươi kéo nhau đi mất.
 
Đến chừng Hiếu Đệ tỉnh dậy thấy mình nằm trong một cái hầm đỏ ối ánh sáng, đâu đâu cũng thấy vàng là vàng, chàng tưởng mình nằm mơ nên thử cắn vào tay xem có đau hay không. Đến khi nghe đau điếng thì mới tin là sự thật. Nghĩ có lẽ là Trời thương mình nên Hiếu Đệ liền quỳ lạy tạ ơn Trời Đất. Sau đó Hiếu Đệ hốt vài thỏi vàng dưới chân mình và tìm đường về nhà. Nhờ số vàng lượm được ấy, chẳng mấy chốc Hiếu Đệ đã trở nên giàu có.
 
Người anh gian tham Hiếu Minh, thấy em mình đột nhiên trở nên giàu sang thì đâm ra nghi ngại nên giả bộ tìm đến thăm và hỏi đầu đuôi tự sự. Hiếu Đệ thật thà kể rõ chuyện cho anh mình nghe.
 
Khi đã rõ được nguyên do, Hiếu Minh liền giả làm người đốn củi và cũng giả ngủ như em mình. Thế rồi cũng như lần trước, một bầy đười ươi hiện ra khiêng Hiếu Minh đi. Khi đến một ven núi cheo leo, bên dưới đầy đá nhọn lởm chởm, bầy đười ươi bỗng nhiên dừng lại, và cũng như lần  trước, con chúa hỏi:
 
- Hầm vàng hay hầm bạc?
 
Bầy đười ươi đồng thanh kêu lên:
 
- Hầm bạc! Hầm bạc!
 
Vì là giả ngủ, nên Hiếu Minh nghe rõ cả lời nói của bọn đười ươi. Lòng tham trỗi dậy, người anh gian tham kia quên mình đang giả ngủ, nên vùng la lên:
 
- Hầm vàng! Hầm vàng!
 
Tiếng la của Hiếu Minh làm cho bọn đười ươi giật mình, chúng vội bỏ người xuống chạy trối chết. Ngờ đâu chỗ ấy cận hố nên Hiếu Minh bị rơi xuống vực, đầu đập vào đá vỡ sọ chết tốt...!
 
Kể tới đây, Lơ-tơ-Mơ dừng lại nuốt nước bọt, đưa mắt nhìn hung thần dò ý kiến. Hung thần gục gặc đầu tỏ vẻ hài lòng:
 
- Khá lắm! Vậy ngươi hãy kể tiếp một chuyện khác cùng một ý nghĩa "tham thì thâm" mà ngươi đã kể.
 
Trong khi Lơ-tơ-Mơ lúng túng chưa biết ăn nói làm sao thì bỗng dưới đất có tiếng kêu "chít chít" và rồi một vật đen phóng vụt lên vai chàng. Khi nhìn kỹ mới biết là con chuột đen. Nó nói:
 
- Thưa ngài, chuột tôi có biết một câu chuyện cùng một ý "tham thì thâm" mà chàng này vừa kể. Nếu có thể, xin ngài cho phép tôi kể đỡ hộ chàng một câu chuyện, dám chắc ngài sẽ vừa ý lắm!
 
Hung thần trợn mắt nhìn chuột ta, nhe răng cười:
 
- Mày kể à...? Hà... thôi cũng được...!
 
Thế là chuột ta bắt đầu kể:
 
- "Xưa ở xứ Ba Tư có một người tên là Hà Chiều. Người nay có hai trăm con lạc đà dùng để chuyên chở hàng hóa thuê trong nước, lấy được rất nhiều tiền vận tải.
 
Một hôm, sau khi chuyển số hàng sang thành La Ma Cô trở về, vì mệt mỏi Hà Chiều liền dừng nghỉ bên một vách núi và lấy cơm nước ra ăn. Bỗng khi ấy có một vị thầy tu đi qua, thấy Hà Chiều ngồi nghỉ, ông cũng tạt vào nghỉ. Thấy ông lão đi đường xa chắc mệt, Hà Chiều liền mời ông cùng ăn uống với mình. Sau khi ăn uống xong, ông thầy tu lấy tay chỉ đàn lạc đà hỏi:
 
- Ông chỉ có bấy nhiêu lạc đà đấy ư...?
 
Hà Chiều bèn đáp:
 
- Vậy mà tôi tưởng đã là nhiều lắm...!
 
Vị thầy tu lắc đầu nói:
 
- Bao nhiêu lạc đà ấy dầu có cố lắm cũng chỉ mang được một ít vàng bạc châu báu mà thôi!
 
Nghe nói, Hà Chiều kinh ngạc trợn tròn đôi mắt:
 
- Trời ơi! Châu báu đâu mà nhiều quá thế hả Ngài?
 
Vị thầy tu chỉ tay vào núi, miệng nói:
 
- Trong ấy, nếu ông muốn lấy thì hãy theo tôi!
 
Thế rồi ông lão đưa Hà Chiều và đàn lạc đà vào sâu trong núi. Đến một vách đá sừng sững, vị thầy tu bèn bỏ vào đấy một nắm bột, và miệng lâm râm...
 
Bỗng một tiếng nổ ầm lên,  vách đá sừng sững ấy hốt nhiên xê dịch sang một bên. Từ trong động đá ánh sáng chiếu ra chóa cả mắt. Vị thầy tu đưa Hà Chiều vào động để hốt châu báu. Ôi! Một kho tàng vô giá, nào kim cương, nào ngọc ngà, vàng bạc vô số kể. Hà Chiều hốt lấy hốt để đem ra chất đầy cả mình lạc đà - Lại nói trước khi chịu đưa Hà Chiều vào kho tàng, vị chân tu có ra điều kiện là phải chia cho ông phân nửa số lạc đà đề dùng chở vàng ngọc, Hà Chiều không kịp suy nghĩ liền nhận lời - Trong khi Hà Chiều lo hốt châu báu thì vị thầy tu chỉ lấy có một cái hộp vuông nho nhỏ nắm trong góc. Sau khi ra khỏi động, vị thầy tu liền dùng phép chuyển tấm đá che động lại.
 
Sau khi chia tay vị thầy tu, Hà Chiều ngẫm nghĩ:
 
- Ồ! Ông ấy tu hành thì cần gì nhiều vàng bạc! Vậy ta sẽ hỏi xin ông lại năm mươi con lạc đà chở đầy vàng ngọc!
 
Nghĩ sao làm vậy, Hà Chiều chạy theo vị chân tu tỏ bày,,, Vị chân tu chịu. Thấy vị thầy tu chịu, Hà Chiều lại xin thêm ba chục con nữa, lần này vị thầy tu cũng chịu cho thêm 30 con. Thường thường thói đời hay "được voi đòi tiên" nên lần này Hà Chiều lại xin nốt hai chục con còn lại. Vị thầy tu cũng khứng chịu.
 
Hà Chiều mừng quá dẫn bầy lạc đà đi mau. Đi được một đỗi đường, Hà Chiều lại nghĩ:
 
- Ồ! Sao vàng bạc châu báu mà ông ta không lấy lại đi lấy cái hộp vuông nhỏ xíu đó? Hay là... phải rồi, chắc có gì bí ẩn trong cái hộp đó... ta phải theo hỏi cho rõ mới nghe!...
 
Nghĩ vậy, Hà Chiều liền đuổi theo vị thày tu hỏi:
 
- "Khi nãy Ngài có lấy một cái hộp, mà tôi không hiểu sao ngài lại đi lấy cái vật lạ lùng vậy, trong khi vàng bạc châu báu ngài lại không lấy? Trong ấy có gì bí ẩn hay ho xin Ngài tỏ rõ?..."
 
Vị thầy tu mỉm cười bảo:
 
- Đây là một cái hộp trong chứa một chất nhờn như mỡ đặc. Bôi chất này vào mắt trái sẽ thấy tất cả kho vàng trên quả đất này, nhưng tuyệt nhiên không được bôi vào mắt phải vì như thế mắt sẽ bị mù!...
 
Hà Chiều mừng quá, xin vị thày tu bôi chất mỡ vào mắt trái của mình. Thế là Hà Chiều thấy tất cả kho tàng trên quả đất. Lòng tham nổi dậy, Hà Chiều lại nghĩ:
 
- Nếu bây giờ ta bôi vào mắt phải chắc có lẽ sẽ trông thấy tất cả kho tàng hơn cả những kho tàng mà ta đã thấy!...
 
Nghĩ vậy Hà Chiều liền nhờ vị thày tu bôi vào mắt bên phải của mình. Vị thày tu không chịu, ngài bảo rằng:
 
- Ngươi hãy nghe ta! Nếu không đừng ân hận!
 
Nhưng vì lòng tham đã làm mờ cả lý trí nên Hà Chiều cố nài nỉ xin bôi cho bằng được. Thấy không thể nào cản được, vị thày tu bèn chìu ý Hà Chiều.
 
Sau khi bôi xong, Hà Chiều không còn thấy đường nữa, chàng ta hốt hoảng la lối um sùm. Bấy giờ vị thày tu mới thét:
 
- Khốn nạn thay cho ngươi! Đã tham thì phải thâm, từ đây ngươi sẽ phải chịu cảnh mù lòa đời đời kiếp kiếp!
 
Thét xong vị thày tu dẫn đàn lạc đà đi mất! 

Kể tới đây chuột ta hỏi hung thần:
 
- Thưa ngài! Có lẽ ngài vừa ý lắm?
 
Hung thần nhe răng cười hềnh hệch:
 
- Hay! Hay!
 
Rồi hung thần lại bảo:
 
- Còn một chuyện nữa! Một chuyện nữa ta mới tha cho tên này khỏi chết!
 
Nhưng chuột ta làm sao mà kể nữa được khi chỉ biết vỏn vẹn có mỗi một chuyện kể trên. Trong khi chuột và Lơ-tơ-Mơ còn đang bối rối thì bỗng từ trên cây có tiếng "chiêm chiếp" rồi một con chim trắng bay sà xuống đậu trên vai Lơ-tơ-Mơ. Chim nói:
 
- Thưa ngài! Chim tôi sẽ kể thay cho chàng này một câu chuyện cùng một ý nghĩa đó cho ngài nghe, hẳn ngài khứng chịu?
 
Hung thần bằng lòng.
 
Thế là chim ta khởi sự kể:
 
- "Ngày xưa, có một chàng nông phu tên là Chu Nam. Một hôm ra đồng làm việc - trong khi đào một cái lỗ để giồng cây, bỗng Chu Nam nghe lưỡi cuốc chạm phải một vật gì cưng cứng. Chu Nam lấy làm lạ và càng ra công đào lên. Thì ra đó là một cái hộp bằng sắt, trên có nắp đậy hẳn hoi. Chu Nam vội cúi xuống mở nắp hộp ra xem:
 
- "Ồ!" - Chu Nam Kêu lên.
 
Tiếng kêu vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ. Thì ra trong hộp sắt ấy chứa toàn là vàng sáng chói! Chu Nam vội vàng bưng hộp lên. Khi cái hộp chứa vàng ấy vừa được Chu Nam mang lên khỏi lỗ thì từ dưới lỗ lại hiện ra một cái hộp sắt khác. Chu Nam run lên vì mừng rỡ : hộp chứa đầy kim cương lấp lánh. Rồi cũng như lần trước, Chu Nam mang hộp lên khỏi đáy lỗ. Bấy giờ, dưới đáy lỗ lại hiện ra một cái hộp sắt khác. Nhưng cái này khác hẳn hai cái kia, nó được chạm trổ tuyệt mỹ và lạ hơn nữa là ở trên nắp hộp có ghi thêm mấy hàng chữ:
 
"Kẻ nào mở hộp này sẽ mất hai hộp kia và sẽ phải chết"
 
Chu Nam ban đầu không dám mở vì sợ chết nhưng sau vì lòng tham không đáy làm mờ cả lý trí nên không do dự, Chu Nam mở ra xem : Trong hộp không có lấy một thỏi vàng cũng như một viên ngọc nào, ngoài một luồng khói trắng tỏa ra. Chu Nam cả kinh toan phóng chạy nhưng đã trễ mất rồi, vừa hít phải khí ấy, Chu Nam đã thấy tay chân bủn rủn, đầu óc choáng váng rồi ngã đùng ra chết. Trước khi nhắm mắt Chu Nam cố quay đầu nhìn lại hai cái hộp sắt của mình vừa lấy lên nhưng không thấy bóng dáng chúng đâu nữa!... 

- Ha! Ha! Ha! - Hung thần bỗng dưng cười lên một cách khoái trá, ông vùng đứng dậy, gằn giọng bảo Lơ-tơ-Mơ:
 
- Ranh con! Giữ lời hứa ta tha cho ngươi tội chết và để thưởng công ta cho ngươi trọn cây đào đấy quả kia! Thôi ta đi!...
 
Nói xong, hung thần vùng vỗ cánh bay vút lên cao, biến mất dạng...
 
 
Nguyễn Tất Thắng      
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 27, ra ngày 25-4-1965)


Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

THÁNG HAI... THẾ LÀ HẾT TẾT! - Thơ Thơ

 
  
Hồ nước xanh trong
Má bé đỏ bừng
Khoát làn nước biếc
Lưu luyến xuân hồng

Anh đào lả tả
Rơi vướng tóc mây
Thuyền ai lướt nhẹ
Xuân vừa qua đây

Trời vào tháng hai
Tà áo trang đài
Mắt ai xao xuyến
Tìm xuân đêm ngày

Khung trời xanh ngắt
Mây trôi bồng bềnh
Gió đùa xao xác
Qua đám cỏ tranh

Bé đi tìm xuân
Trời đất xoay vần
Tháng hai vội vã
Cho lòng bâng khuâng

Mùa xuân vừa đến
Đã vội quay đi
Thế là hết tết!
Chiều rơi thầm thì...

                        Thơ Thơ
             (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

MỘT CHUYẾN PHIÊU LƯU - Nguyễn Lại Bình

 


Buổi tối hôm nay cũng như bao nhiêu buổi tối khác nhưng sao Thoại đâm ra hồi hộp lạ thường. Đêm không trăng. Trời tối đen ghê gớm. Ừ nhỉ! Người ta thường nói "Tối như đêm ba mươi" cũng phải đấy chứ. Thoại có nhận thấy gì ngoài vườn đâu, dù khoảng vườn hoa xinh xắn phía bên kia cửa sổ không lấy gì xa lắm. Thoang thoảng trong hơi gió miên man Thoại nhận ra hương thơm nhè nhẹ của những bông sứ trinh nguyên.
 
Thoại nôn nao ghê! Phải rồi, đêm nay là đêm giao thừa. Giao Thừa. Eo ơi! Sao âm vang của hai tiếng đó lại khiến Thoại rộn rã, cuống quít gớm ghê! Giờ nầy chắc ba má Thoại đang bận rộn kê lại cái bàn ở phòng khách hoặc trịnh trọng bày hoa quả trên cái bệ thờ cao, nghi ngút khói hương. Lễ vật đã sẵn, và họ chỉ còn chờ phút giao mùa. Sự tương hợp của một năm cũ và một năm mới mang một ý nghĩa thiêng liêng. Đó là giây phút khởi đầu cho một năm mới an vui và thịnh vượng như họ thường chúc nhau. Đó là giây phút người ta hướng tâm hồn về nguồn cội. Đón rước linh hồn ông bà về ăn tết là phong tục Việt, không ai quên được.
 
Ừa, mà sao tết đến nhanh ghê há! Tết đến hoài. Mới đấy, nhìn lại : đời đã chất chồng thêm một tuổi. Tự nhiên Thoại bật cười, chợt nghĩ mình cũng bày đặt suy tư vớ vẩn đấy nhỉ. Thoại bỗng ngồi thừ ra, đăm chiêu lạ. Thoại đang gợi nhớ những kỷ niệm quá khứ reo vui. Hồi nhỏ sao mà sướng thế, sao mà hồn nhiên thế. (Thật ra Thoại có lớn chi lắm đâu, năm nay mới lên lớp tám đó). Thoại như miên man trong cơn hồi tưởng. Những ngày tháng hạ chia ly, những ngày tựu trường sun họp. Chia ly nhưng vui vẻ, sum họp nhưng mỏi mệt (vì sắp phải chui đầu vào bốn bức tường ngăn chận sự tự do... chơi đùa).
 
Với Thoại, ngày khai trường sao giống ngày tết ghê nơi! Giống ở điểm Thoại được mặc áo quần mới để mang một cảm giác lạ, xốn xang, tưởng chừng như có hàng trăm cặp mắt đổ dồn về Thoại. Thoại mặc đồ mới, le ác. Và, Thoại không thể nào quên được đôi tai lùng bùng và đỏ rực lên. Chao ơi! Cái dáng điệu lúng túng một cách quê kệch, mà vui.
 
Đồng hồ thong thả gióng mười tiếng. Thoại chợt có ý nghĩ không biết đồng hồ có chạy sai không. Gì đâu mà lâu ghê gớm.
 
Thoại nảy ý định dạo vườn hoa một  vòng nhưng vì "nhân chi sơ tính bản... lười", nên thôi. Mới có mười giờ mà buồn ngủ ghê gớm. Thoại cố chống chọi với cơn buồn ngủ. Thoại cố mở to mắt ra. Cố gắng và cố gắng, vì mí mắt đang trĩu nặng. Thoại muốn thức trọn đêm giao thừa. Nhưng Thoại buồn ngủ quá đi thôi. Ngủ thật đấy.
 
*
 
Một con vật mềm, nhớp nhúa nhảy lên chân khiến Thoại giật mình tỉnh giấc. Một con cóc gớm ghiếc làm sao! Thoại bực dọc co chân đá một cái thật mạnh. Con cóc văng đi, lộn một vòng rồi gượng dậy được ngay.
 
Con cóc nhìn Thoại trừng trừng. Sóng mắt thật kinh khiếp. Con cóc rít lên... Thoại tưởng chừng như đang nghe một mụ ác tiên trút cơn thịnh nộ trong những lời nguyền.
 
Thoại như mê man trước trạng thái kỳ quái này. Không đời nào lại có thể xảy ra chuyện hoang đường như vậy. Thoại muốn bật cười nhưng giấc ngủ đã kéo đến. Đột nhiên Thoại sợ hãi bâng quơ tưởng như mình đang ngất đi.
 
*
 
Mặt đất đột nhiên rung chuyển như thể đang bị một nguồn chấn động dữ dội nào. Thoại mở mắt, choàng tỉnh. Chung quanh, mọi vật đều xa lạ. Thoại ngơ ngác nhìn quanh, lo sợ, rồi khóc. Thoại không hiểu gì cả. Thật kỳ quái! Đang ngồi ở nhà đón giao thừa, đột nhiên sao mình lại ở đây. Tĩnh vật vắng lặng đến rợn người.
 
Và, trong tột cùng của sự sợ hãi Thoại bỗng thấy bình tĩnh lạ thường. Trời hãy còn tối nhưng Thoại cũng nhận ra được trước mặt mình là một dãy núi hùng vĩ. Dãy núi có hình dạng một con mèo khổng lồ. Thoại sửng sốt, vì dãy núi chợt cao lần, cao lần và lừng lững tiến về hướng Thoại. Trời đất! Núi biết đi. Nhưng Thoại không kịp suy nghĩ gì cả. Mặt đất đang rền rĩ rung chuyển. Thoại kinh hãi thối lui, chạy trốn. "Núi" cứ bình thản đuổi theo. Thoại chạy trối chết. Đột nhiên một tiếng gầm gừ vang dội như sấm sét. Gió trào tới như một cơn lốc xoáy cuốn tung người Thoại lên. Thoại điếng hồn ngất xỉu.
 
Khi tỉnh dậy trời đã hừng sáng. Nắng ban mai nồng ấm mơn man da thịt Thoại. Theo thói quen nó cử động vài cái, co chân múa tay rồi mới đứng dậy. Vai nó ê ẩm. Bây giờ thì Thoại không muốn thắc mắc gì hết ngay cả sự có mặt của nó ở đây, không ai giải thích được cả. Thoại đã cố móc moi trí óc để tìm một giải đáp nhưng đành chịu. Gọi ký ức nó chỉ loáng thoáng nhớ được vài hiện  tượng kỳ quái : "núi" biết đi, động đất, giông bão... và sau cùng, những tiếng rú kỳ dị như tiếng chuột rít.
 
Thoại chệnh choạng đứng dậy, bụng đói meo, nó cố gượng đi tìm thức ăn. Nhưng Thoại té xuống vì vấp phải một cái gì đó, hình như một sợi dây. Đúng rồi! Đó là một sợi dây... và rất nhiều sợi dây chằng chịt cao trên đầu Thoại. Trời đất! Một lưới nhện khổng lồ. Thoại hoảng hồn lồm cồm ngồi dậy, chạy ngay.
 
Thoại chạy như bay về phía chiếc xe lửa đang đậu sẵn đằng xa. Nó bám đại vào "đuôi xe". Phải nói là đuôi xe mới đúng. Thoại rợn người. Đó là một "lão" thằn lằn vĩ đại. Thoại muốn nhảy xuống nhưng thôi : "xe" bắt đầu "chuyển bánh". Thoại vừa sợ vừa thích thú vì lần đầu tiên nó đi "xe lửa" chạy trên thiết "lộ" thẳng đứng. "Xe" chạy đến một khoảng đất phẳng thì ngừng lại. Chỉ đợi có thế Thoại nhảy xuống rồi co giò chạy một mạch. Rủi mà bác thằn lằn khám phá ra một hành khách đi lậu thuế thì nguy! 

Không nghi ngờ gì nữa, Thoại đang lạc vào xứ khổng lồ. Lạc vào xứ khổng lồ? Chao ơi! Thế giới mà nó tưởng chỉ có trong thần thoại, trong cổ tích thôi chứ. Thoại liên tưởng đến chàng Guiliver và những chuyến phiêu lưu dị kỳ. Nó đâm ra hứng thú vô cùng.

Bây giờ nắng đã lên cao. Trời xanh thắm, gió mát. Thoại nhìn quanh quất. Cảnh vắng teo. Bụng đói cồn cào, Thoại nhăn nhó vì không tìm được chút gì để ăn cả. Thình lình có tiếng động cơ vang lên. Một chiếc khu trục cơ đang vù vù bay đến. Thoại mừng quá reo lên kêu cứu. Nó cởi áo ra và quơ qua quơ lại. Máy bay đến gần làm Thoại vỡ mộng. Cái mà Thoại ngỡ là chiếc máy bay thực ra là một gã chuồn chuồn. Gã đã đến và đáp xuống phía trước Thoại một khoảng khá xa. Tuy vậy hơi gió do đôi cánh to tường của gã tạo nên cũng đủ khiến Thoại cơ hồ đứng không vững. Một tia sáng lóe lên trong óc, Thoại chạy vụt đến bên gã chuồn chuồn rồi nhảy phóc lên ngồi vắt vẻo ở cuối đuôi. Chẳng mấy chốc gã chuồn chuồn lại cất cánh tiếp tục cuộc hành trình mang theo một hành khách bất đắc dĩ.

Gió lồng lộng thổi vào Thoại khiến nó không dám khinh suất vội vã ôm chặt lấy đuôi gã chuồn chuồn. “Phi cơ” bay lượn cùng khắp. Thoại sướng mê tơi vì khung cảnh bên dưới Thoại tuyệt vời quá. Ngang qua một vườn hoa vĩ đại khoe màu, Thoại say sưa ngắm các chú bướm khổng lồ lượn quanh hoa ve vãn. Gã chuồn chuồn trông vậy mà cũng có tâm hồn nghệ sĩ ghê gớm. Gã tà tà lượn qua lượn lại vườn hoa rồi sau cùng mới chịu đáp xuống một bãi cỏ non. Thoại trèo xuống ngay. Nó không quên cám ơn bác chuồn chuồn dù gã không hề bận tâm về sự hiện diện của một hành khách tí hon trên đuôi gã nãy giờ.

Đói bụng quá, Thoại gặm đại vài cọng cỏ, ngon thật. Thoại tha hồ no nê. Vấn đề lương thực như vậy coi như đã tạm xong. Thoại yên tâm đi dạo cùng khắp.

Khi vượt khỏi cánh đồng cỏ non Thoại gặp ba chú kiến đang loay hoay khiêng mồi về “nhà”. Chú kiến đi đầu có vẻ yếu đuối, chân chú ta như muốn khụy xuống đi không nổi. Bản tính hào hiệp nổi dậy, Thoại vội chạy đến phụ một tay, nhưng chợt một tiếng quát thật to khiến Thoại giật mình sựng người lại.

- Đứng yên!

Quái lạ! Ai nói vậy? Thoại nhìn quanh quất. Chẳng có bóng người nào cả. Không lẽ kiến biết nói?

- Ăn cướp hả.

Đúng rồi! Kiến đầu đàn quát. Trời đất! Kiến biết nói nhưng Thoại không suy nghĩ lâu, nó đang bực mình về lời lẽ của chú Kiến vừa rồi. Rõ là làm ơn mang oán. Bọn Kiến mất lịch sự thật.

- Câm hở?

- Ừ.

- Ha! Ha! Câm mà biết nói.

Ba chú Kiến khoái trá cười vang. Thoại tức lắm nhưng cố làm thinh.

- Hỏi thiệt. Chú mày là cái giống gì vậy? Ở đâu tới?

- Người.

- Lạ thật. Tôi chưa nghe đến giống này bao giờ.

Một chú Kiến đề nghị:
 
- Hay ta bắt tên này về để ở sở thú coi chơi.
 
- Ý kiến hay!
 
- Nhào vô, anh em.
 
Thoại né tránh thật lẹ. Nó quyết tâm trả đòn một cách đích đáng. Thoại hét:
 
- Ba đứa đánh một hèn lắm!
 
- Nó nói cái gì vậy?
 
- Nó muốn một chọi một đấy.
 
- Ối! Cái thằng bá láp. Bộ nó không biết dân tộc mình mang một đức tính kiêu hùng sao: đoàn kết.
 
- Đúng. Đoàn kết đi liền với sự trường tồn của dân tộc.
 
- Hợp quần gây sức mạnh mà lỵ.
 
Thoại giận sôi. Thừa lúc cả ba đang huênh hoang chọc ghẹo, Thoại lao người vào chú đầu đàn đấm thiệt mạnh. Hai con còn lại hùa vô cứu. Chú kiến trong tay Thoại đột nhiên cứng đơ. Thoại hoảng hốt bỏ chạy. Hai con kiến còn lại không buồn đuổi theo. Chúng còn đang săn sóc đồng bọn.
 
Chạy một quãng xa không thấy ai đuổi theo, Thoại mới yên tâm lững thững bước. Trời nước mây. Tất cả đều đẹp. Thoại thầm nghĩ đến việc vừa qua mà mỉm cười. May thật, suýt nữa là khốn rồi. Nhưng Thoại đã lầm và hàng ngàn tiếng reo hò phía sau thay câu trả lời cho nó. Đông ơi là đông, kiến ở đâu mà đông thế. Hình như chúng đi trả thù cho đồng bọn. Thoại nhận ra hai tên đi đầu chính là hai con khi nãy. Chúng đang chỉ trỏ bàn định một việc gì. Thoại sợ quá, bỏ chạy. Đàn kiến ùn ùn rượt theo.
 
Tới một dòng sông Thoại mừng rỡ với hy vọng lũ Kiến tận đường - Nhưng, hình như bọn Kiến liều chết nhảy đại xuống sông. Thoại thắc mắc đến ngẩn người không hiểu bọn chúng làm chi cả. Trong khoảnh khắc lũ kiến đã tạo nên một cái cầu nổi và chiếc cầu nổi này có nhiệm vụ đưa đồng bọn sang sống. Bí đường rồi, Thoại vội chạy men theo sông rồi tìm một chiếc lá, leo lên, chèo ra giữa dòng. Bọn Kiến la ó rầm trời, đuổi theo.
 
Nhưng đột nhiên lũ Kiến chạy tán loạn lui về phía bên kia sông. Thoại ngơ ngác, mãi đến lúc mây đen kéo đến xám xịt cả bầu trời, Thoại mới hiểu khả năng thiên phú của lũ Kiến. Thoại muốn quay thuyền vào bờ nhưng không được. Mưa đã kéo đến, vội vã, dữ dội. Chiếc thuyền lá chòng chành muốn chìm khiến Thoại càng sợ hãi - Nước đã vào thuyền. Càng lúc càng nhiều, tỉ lệ với độ chìm của thuyền lá. Thoại mệt mỏi. Hy vọng thoát chết thật mỏng manh. Chiếc thuyền lá bị lật nhào hất tung Thoại xuống sông.
 
Chao ôi! Thoại trông thấy những họng cá đen ngòm đang đợi sẵn. Những hàm răng ngó phát ghê, Sắc, nhọn tựa lưỡi hái của tử thần.
 
Thoại rú lên...
 
*
 
- Gì vậy con?
 
Thoại thức  giấc. Mình mẩy sũng ướt mồ hôi. Người mẹ mắng yêu:
 
- Gớm! Con trai con đứa lớn cái đầu rồi mà còn mớ ngủ.
 
Thoại ấp úng:
 
- Ơ... ơ... dạ... con...
 
- Thôi đi ông tướng! Dậy mà đón giao thừa.
 
Thì ra đó chỉ là một giấc mơ. Thoại mừng rỡ "dạ" một tiếng thật to trước vẻ ngơ ngác của người mẹ. Nhưng rồi bà cũng nở một nụ cười. Đầu năm mờ!
 
*
 
Câu chuyện đến đây tạm kết thúc vì chẳng còn gì lạ lùng đáng nói cả. Duy chỉ có một điều ngạc nhiên là khi Thoại kiểm điểm những chi tiết trong giấc mơ thì thấy rất phù hợp thực tế: từ chỗ trốn con mèo đầu tiên, đến ổ nhện, phi trường chuồn chuồn, vườn hoa... Và, sau rốt là cơn mưa thoảng qua đêm rồi.
 
Thoại ngẩn người tự hỏi:
 
- Ta mơ hay tỉnh đây...
 
 
Saigon đầu xuân 1973      
NGUYỄN LẠI BÌNH     
 
(Trích từ bán nguyệt san Thằng Bờm số 22, ra ngày 1-3-1973)


Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

LÀM NGƯỜI... TA PHẢI... - Minh Quân


Bà tôi thường quan niệm rằng "Làm người ai cũng phải nên... lao động" Tôi rất ghét quan niệm đó. Tôi có địa vị, tiếng tăm... há không đủ rồi sao? Bất tất phải nghe lời một bà cụ già lẩm cẩm? Hôm vừa rồi, trong bữa ăn, bà tôi bảo tôi rằng:
 
- Cháu cần phải làm một việc gì, hay cố tập làm cho được một dụng cụ gì đó, chẳng hạn lấy đất sét nặn một cái dĩa, cưa ván gỗ đóng một cái bàn hay sơn cánh cửa... hoặc lấy vải kia cắt ra mà may một cái quần đùi, cùng lắm là chiếc khăn tay thử xem nào! Con trai con tráng mà lười biếng mỗi chút mỗi nhờ người khác chẳng đáng thẹn lắm ru?
 
Úi trời ơi! Tôi : một nhà văn, không những thế, tôi còn có bằng cấp đại học hẳn hoi mà lại đi hạ mình làm những công việc tay chân "hạ tiện" đó ư? Đâu có được! Nhưng tôi chưa kịp há miệng cãi một lời thì bà tôi đã nghiêm nghị tiếp:
 
- Bà thừa biết cháu nghĩ gì rồi, ai cũng nhận cháu là kẻ có tài, một nhà văn nổi tiếng... ngay bà, bà cũng công nhận điều đó nữa. Bà còn nhận rằng cái tài hút thuốc lá của cháu thì quả là ăn đứt mọi người, bằng cớ là tàn thuốc lá và khói thuốc lá của cháu ngập phòng. Nhưng theo ý bà thì cháu cần làm một việc gì, một vật gì cụ thể, một vật có thể sờ, nắm được, thấy được và là một vật thiết dụng kia. Cháu biết tại sao không" Đây, hãy nghe câu chuyện sau đây...
 
Chuyện gì? Chuyện gì mà bà tôi kể cho tôi nghe để cốt giải thích cho tôi về quan niệm "làm người phải nên... lao động" tôi nghĩ thầm trong bụng, lòng không vui nhưng kiên nhẫn lắng tai.
 
- Ngày xưa...
 
Mới nghe tới đó tôi nghĩ thầm thêm: "Trời ơi! Hết chuyện rồi bà đi kể chuyện cổ tích cho một nhà văn nổi tiếng" song vẫn không hề phản đối, để xem câu chuyện ra sao.
 
- Xưa lắm có một vị hoàng tử xứ Ba Tư cảm mến con gái bác chăn cừu. Chàng tâu với phụ vương rằng:
 
- Kính tâu phụ vương, con yêu cô gái chăn cừu và muốn được cùng nàng...
 
Chợt nghe qua, "mặt rồng" đổi sắc, ngài đập bàn quát lên:
 
- Ta đây là vua nước Ba Tư giàu có, con sẽ nối ngôi ta sau này. Hỡi vị hoàng tử ngu dại, si mê kia! Chớ yêu không phải chỗ! Dễ thường các đại thần, tể tướng hết nhẵn con gái rồi sao mà con lại...
 
- Kính tâu phụ vương! Con biết rằng việc này làm phật ý phụ vương, nhưng con nào muốn vậy. Khốn thay! Con rất mến nàng, kính xin phụ vương chấp thuận cho con cưới nàng làm vợ.
 
- Ta không cho! Ta không cho! Ta không muốn có con dâu hạ tiện, con kẻ chăn cừu!
 
- Như vậy thì con xin thề : con không lấy vợ từ giờ cho tới chết.
 
Nhà vua sửng sốt! Ôi chao! Nó là con mà nó không lấy vợ lấy ai nối ngôi ta về sau? Mà ta có một mình nó chứ phải nhiều nhõi gì cho cam! Ta cần có cháu bế mà! Ấy vậy là đức vua đành nhượng bộ. Ngài đấu dịu:
 
- Thôi! Cha cũng chiều con. Muốn lấy ai thì lấy. Duyên nợ với nhau, cha không cấm!
 
Nói đoạn, ngài cho gọi quân hầu đến truyền rằng:
 
- Ngươi kíp đến nhà gã chăn cừu, nói với hắn là Hoàng tử muốn cưới con gái hắn.
 
Quân hầu tuân lệnh đến nhà cô gái báo tin. Gã tưởng cô gái phải mừng rơn lên, ai ngờ cô điềm nhiên hỏi lại:
 
- Hoàng tử "nhà anh" có biết qua một nghề lao động nào không? 

- Hử? Cô hỏi cái gì?
 
Tên quân hầu tưởng mình nghe lầm, hỏi lại. Cô gái hỏi to:
 
- Hoàng tử "nhà anh" có biết qua một nghề lao động nào không? 

- Trời ơi! Cô rõ dở hơi! Cô há không biết rằng ngài sẽ thay vua cha trị vì vương quốc Ba Tư mênh mông, giàu có này ư? Ngài là vua, ngài cần gì phải...
 
- Biết vậy! Nhưng nếu hoàng tử "nhà anh" không biết một nghề lao động nào thì đừng hòng cưới được tôi. Tôi muốn thế. Hãy về báo tin đó cho ngài.
 
Tên quân hầu lủi thủi trở về, lòng đầy kinh ngạc. Nghe lời tuyên bố ngạo mạn của cô gái qua tên quân hầu kể lại - đức vua tưởng máu sô lên sùng sục trong huyết quản, quay lại con mỉa mai giọng, hỏi rằng:
 
- Thế nào? Hoàng tử duy nhất của ta! Con không hề biết một nghề lao động nào hết, con tính sao đây? Bỏ ý định ngông cuồng rồ dại kia chưa?
 
- Kính tâu phụ vương! Cũng chẳng khó khăn chi, con sẽ cố học lấy một nghề lao động vậy.
 
Hoàng tử nói bằng giọng rất tự nhiên, không phật ý chút nào. Thế rồi, chàng học nghề dệt thảm rơm, dệt rất nhiều loại, nhiều cỡ, nhiều mầu, nhiều kiểu. Chỉ trong ba ngày, chàng đã lành nghề, chàng dệt những tấm thảm tuyệt đẹp, cho tên quân hầu mang đến giao tận tay cô gái và nói rằng:
 
- Chính Hoàng tử đã thân hành dệt những tấm thảm rơm kia xin mang lại biếu cô, đó là bằng cớ về một nghề lao động vậy.
 
Cô gái lấy làm vừa ý.
 
Thế là hôn lễ tiến hành.
 
Họ rất hợp nhau.
 
*
 
Một hôm kia, Hoàng tử dạo chơi ở kinh thành Bagdad, vui chân dừng lại ở một hiệu ăn trông rất sạch sẽ, thanh lịch, và sau cùng hoàng tử bước vào trong, ngồi xuống một cái bàn, toan cất tiếng gọi thức ăn... Hoàng tử không ngờ rằng mình đã vô tình lọt vào sào huyệt của bọn bất lương, chuyên giết người, cướp của.
 
 Chúng bắt hoàng tử nhốt vào một ngục tối rất lớn cùng với nhiều người khác, cũng là nạn nhân của chúng và vốn là người có địa vị trong vùng.
 
Chúng đem những người béo mập ra giết đi, lấy thịt nuôi những kẻ gầy ốm nhất, coi đó như một trò tiêu khiển vậy. Hoàng tử là người gầy nhất trong số những người gầy lại không ai biết chàng là hoàng tử, nên chàng không bị chúng giết ngay. Hoàng tử lập mưu nói với bọn cướp:
 
- Tôi là thợ chuyên dệt thảm rơm, loại đắt tiền nhất, nhà vua vẫn mua thảm do tay tôi dệt. 

Bọn cướp liền mang rơm đến bảo chàng dệt thảm ngay. Trong ba hôm, hoàng tử dệt xong ba tấm thảm cực kỳ khéo đẹp. Hoàng tử bảo bọn chúng:
 
- Các ông mang những tấm thảm này đến dâng cho đức vua, thế nào ngài cũng trả cho các ông mỗi tấm một đồng vàng.
 
Thế là bọn cướp mắc mưu chàng. Thoạt trông thấy những thảm đó, nhà vua đoán ngay con trai chắc đang lâm nguy, ngài bèn gọi dâu đến phán rằng:
 
- Có người mang dâng ta mấy tấm thảm, ta đoán chắc do chồng con dệt, con có đồng ý với ta không?
 
Nàng cầm từng tấm lên xem rất kỹ và quả nhiên nhận thấy trong những đường dệt tinh vi đó có mật thư của chồng mình bằng chữ Ba Tư, lập tức nàng đọc cho vua cha nghe.
 
Đức vua liền phái rất nhiều quân lính đến ngay sào huyệt bọn cướp, vây bắt chúng không chừa sót một mạng nào và giải thoát hoàng tử cùng tất cả những nạn nhân của chúng, bị giam từ lâu. 

Hoàng tử trở về cung điện với cha và vợ.
 
Thoạt thấy nàng, hoàng tử làm một cử chỉ ưu ái và rất "hạ mình": Chàng quỳ xuống hôn chân vợ mà rằng:
 
- Anh rất cảm phục và biết ơn em, chính nhờ em mà anh sống đến ngày nay đó. Em đúng là vợ hiền của anh.
 
Riêng đức vua, ngài rất hài lòng về người con dâu khôn ngoan, vốn là con gái nhà chăn cừu nghèo khổ xưa kia.
 
*
 
- Đó, cháu thấy chưa? (bà tôi dịu dàng hỏi) Cháu đã biết cái lẽ tại sao bà vẫn cho rằng ai cũng phải biết một nghề lao động để phòng thân không?
 
- Cháu biết rõ lắm rồi - tôi vui vẻ nói - cháu sẽ để dành tiền, mua cưa, gỗ, ít tấm ván mỏng, trổ tài đóng vài chiếc ghế, song trước hết cháu đóng ngay cái giá đựng sách cho bà xem.
 
 
MINH QUÂN          
(phóng tác theo một truyện ngắn
 của William Sarnaoy) 

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Xanh số 38, ra ngày 1-3-1967)


 

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

GIÀN HOA GIẤY TRƯỚC CỔNG NHÀ - Cúc Hy


 - Khanh nằm nghỉ cho khỏe, Loan đi học.
 
- Nhớ chép bài hộ Khanh.
 
- Ừ, nhớ chứ.
 
Thanh Loan mỉm cười, khép hờ cánh cửa phòng. Khanh nằm nghe những tiếng chân nhịp nhàng reo trên bậc thang đi xuống. Tiếng chân vui vẻ tựa giọng cười, giọng hát. Bước chân đã thôi vang, Khanh nhắm mắt và muốn khóc. Khanh đi xuống đất, để nguyên bàn chân không giày, không dép. Nhìn qua khung của nhỏ, Thanh Loan lướt qua chùm cây với cái bóng trắng sáng như màu nắng. Khanh gọi: Thanh Loan, Thanh Loan. Hình như Loan chẳng hay biết, cứ đi lầm lũi về phía con đường bụi đỏ.
 
Tóc cũng không kẹp như mọi ngày, Thanh Loan đến vào buổi trưa gay gắt. Khanh nằm ngủ im trong phòng, trên tay vẫn còn cầm tờ tạp chí đọc dở dang. Loan ngồi sững trên ghế, lặng thinh. Gói cam vừa để trên bàn trĩu xuống như đôi tay Loan lúc ấy. Trơ vơ đến tội nghiệp.
 
Phòng Khanh hẹp, không đủ gió. Oi bức, khó chịu. Giống như cái lò lửa. Loan cười ngẩn ngơ nhớ tới câu nói của Khanh:
 
- Nhiều lúc Khanh cũng tự phục mình. Buồn cười thật.
 
Loan tròn xoe mắt:
 
- Kiêu ngạo, hư chưa!
 
- Hư gì? Phòng học của Khanh nóng vô cùng. Nóng như lò lửa. Thế mà Khanh giam mình ở đó suốt mấy tiếng đồng hồ. Đáng phục quá.
 
Loan cười theo Khanh:
 
- Sao Khanh không chịu điều hòa không khí?
 
- Bằng máy ấy à?
 
- Bằng quạt chứ.
 
- Nếu vậy quạt phải vặn số to nhất, chạy quanh năm suốt tháng.
 
Loan đứng dậy mở cặp lấy miếng bìa quạt cho bạn. Khanh nằm ngủ, tóc xõa trên gối đen rợn người. Nhẹ nhàng, Loan chậm những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, trên mang tai Khanh. Rất sẽ nhưng Khanh lại mở choàng đôi mắt.
 
- A, Loan! Đến từ lúc nào thế?
 
Loan nhìn đồng hồ:
 
- Trước đây 15 phút.
 
- Sao không gọi Khanh dậy?
 
- Ốm phải ngủ chứ. Khanh nằm ngủ trông dễ thương. Loan không nỡ đánh thức.
 
Khanh cười, bĩu môi. Xạo vừa thôi. Loan đứng bên cửa sổ, hái một chùm hoa giấy, màu đỏ thẫm. Loan nâng lên mũi.
 
- Hoa này không có mủi thơm, Loan nhé.
 
- Vâng, tôi biết rồi cô ạ.
 
- Thế sao còn ngửi?
 
- Chẳng hiểu nữa. Hỏi vớ vẩn.
 
- Loan đáp vớ vẩn.
 
Có lẽ Loan vớ vẩn thật. Nhưng không, Loan ngửi thấy hương thơm của chùm hoa, rất dịu dàng. Hình như của nắng sáng, của mưa chiều. Hương thơm man man.
 
- Chả biết bao giờ Khanh đi học lại.
 
- Gì cơ?
 
Mắt Khanh chớp lạ lùng, tiếng ướt sũng.
 
- Đừng buồn, thế nào Khanh cũng khỏi.
 
- Khanh sợ...
 
Một ngày nào, không còn trở lại trường. Một ngày nào, học hết giờ cuối cùng của thời niên thiếu. Và còn lại hai bàn tay ngu ngơ, lỡ đánh rơi tất cả. Bước những bước lạc lõng xuống cuộc đời.
 
- Khanh hay nói dại dột.
 
- Khanh nói thật.
 
- Nhiều khi sự thật chả nên nói tới. Ăn cam Khanh nhé!
 
Khanh lắc đầu. Ốm đau như thể một trạng thái bình thường, vô cùng quen thuộc. Gần gũi, thân thiết. Những thìa thuốc, viên thuốc vàng xanh. Những lọ dầu nồng nàn mùi bạc hà cũng đã là một người bạn, luôn túc trực trong cặp.
 
Bây giờ, Khanh thơ thẩn một mình với căn phòng cô độc. Loan đi rồi, trở lại không khí oi bức nặng nề. Ba giờ, Loan làm gì ở trường? Mở sách xem bài sắp học, dò lại mấy phương trình căn số. Hay Loan đang lang thang bên đám cỏ gấu sân trường, bên ghế đá. Không biết, Loan có nhớ Khanh không. Khanh mệt mỏi trong cơn bệnh hoạn. Khanh đau xót thương trường nhớ lớp. Chùm hoa giấy nằm nghiêng trên sàn gạch. Khanh cúi người xuống nhặt. Vẫn hương nhẹ tỏa. Ba giờ, Loan đang làm gì ở trường?...
 
 
CÚC HY       
(Hoa Tiên)     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 77, ra ngày 18-2-1973)


Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

HUẤN LUYỆN CHÓ KHÓ HAY DỄ? - Văn Trung

 

Tôi nuôi các con tôi như thế nào thì tôi cũng nuôi mấy chú khuyển của tôi như vậy: thân thiện, tán thưởng, vui đùa và tử tế là những điều tôi thường mang ra áp dụng với chúng.
 
Nhà bạn có nuôi chó không? Bạn đã có dịp tập cho chó của bạn làm một điều gì chưa? Tôi thiết tưởng bạn cần luyện cho chú biết vâng lời nếu bạn muốn chú luôn luôn làm vui lòng bạn và bạn có thể an tâm và hãnh diện "dung dăng dung dẻ" với chú nơi đây nơi đó.
 
Điều cốt yếu bạn phải làm, sau khi đã tập cho chú tuân theo lệnh bạn, là dạy cho chú biết phép lịch sự. Một con chó được huấn luyện tử tế sẽ không bao giờ dám sỗ sàng chồm lên ôm chầm lấy chủ, hoặc dùng những chân dơ bẩn in bừa bãi lên quần áo chủ. Nó cũng không bao giờ dám rít lên từng hồi, chạy qua chạy lại nhìn miệng chủ ăn. Một chú khuyển có giáo dục cũng biết tránh không dám ngồi chễm chệ trên những chiếc ghế quí, hoặc xục xạo làm huyên náo khi không có "lý do chính đáng".
 
Mỗi khi có người tới nhà, chú biết phân biệt kẻ quen người lạ mà có thái độ thích đáng. Đối với một người quen, chú sẽ niềm nở chạy ra đón tiếp và dẫn khách tới tận cửa. Nếu khách là một nhân vật lạ đáng kính, chú sẽ lặng lẽ để khách tiến vào nhà nhưng không quên "đề cao cảnh giác" giương to cặp mắt nhìn xoáy vào khách với thái độ "uết en si" (wait and see - chờ xem). Nếu có tính đa nghi, khuyển ta sẽ thủng thẳng lượn qua lượn lại ở phía xa, miệng "hô" lên vài tiếng nho nhỏ gọn gàng để báo cáo với chủ là có người lạ tới. Sau đó, chú sẽ tới đứng chẹn ngay trước cửa ra vào, miệng làu nhàu có vẻ khó chịu lắm nhưng vẫn để khách bước vào nhà.
 
Những chú chó "vô giáo dục" làm cho người ta khó chịu nhất là lúc nào ổng cũng sủa và vớ ai cũng rượt, gặp gì cũng săn. Loại chó này hiện thời có rất nhiều và đó cũng do sự sơ sót của ta không biết dạy chúng.
 
Một chú khuyển sau khi đã được huấn luyện về lễ phép và vâng lời rồi, sẽ được dạy làm ít trò vui. Điều này đối với giống chó rất tốt. Những trò này không có tính cách huyền bí hay ảo thuật gì, mà là những hành động vui vui ngộ nghĩnh ; chẳng hạn như mở cửa, đóng cửa hay mang những đồ vật lại cho bạn. Một chú khuyển khôn sẽ cảm thấy sung sướng khi thực hiện được một việc làm vui lòng chủ.
 
Trong giai đoạn tập cho nó biết làm trò, tôi thường khởi sự bằng những hành động được lập đi lập lại. Chẳng hạn như cách đây ít lâu, tôi có dẫn con Vện tôi ra sân - bấy giờ  nó vừa chẵn mười tháng - tôi ném một miếng cao su nhỏ vào một góc sân cho nó trông thấy (bạn có thể dùng một trái banh hay một cái que cũng được). Bạn thử đoán xem con Vện của tôi sẽ làm gì? À, cũng như hầu hết các chú khuyển khác, nó chạy theo vồ lấy miếng cao su, rồi lấy mõm day đi day lại.
 
Tôi bảo: "Mạng lại đây, Vện!" Nó nhìn lên giây lát rồi lại tỉnh bơ cúi xuống tiếp tục hành hạ miếng cao su.
 
Tôi lại nhắc: "Mang lại đây, Vện!" Nó dỏng tai lên, bỏ miếng cao su xuống rồi vội vã chạy về phía tôi. Tôi dẫn nó lại góc sân, làm cho nó ngoạm lấy miếng cao su đưa lên cho tôi. Sau đó tôi lại ném miếng cao su ra xa, con Vện lại vội đuổi theo, tôi tới giúp nó... Cứ thế tôi dợt với nó hàng chục lần, chủ đích làm cho nó hiểu rằng tôi muốn nó đem miếng cao su về cho tôi mỗi khi tôi ném ra. Sau cùng nó hiểu. Tôi vỗ nhẹ vào đầu nó, nói mấy lời khen ngợi và thưởng cho nó một miếng thịt.
 
Sau đó tôi tiếp tục dợt với nó nhiều lần nữa để cầm chắc nó đã nhớ kỹ công việc này và cũng từ ngày ấy, không bao giờ tôi ném một vật gì ra cho nó mà lại không bảo nó nhặt lại cho tôi.
 
Hai hôm sau tôi dạy Vện đóng một cái cửa ra vào đã hé mở. Tôi treo hờ miếng cao su vào cánh cửa rồi nói: "Đóng cửa lại, Vện!" Nó bèn chồm người lên đứng bằng hai chân sau, lấy hai chân trước vồ lấy miếng cao su. Lẽ dĩ nhiên sức mạnh đẩy tới của Vện đã làm cho cánh cửa khép kín lại.
 
Tôi tập đi tập lại nhiều lần "bài học" này với Vện và mỗi khi treo xong miếng cao su trên cánh cửa, tôi đều ra lệnh rõ ràng: "Đóng cửa lại, Vện!" Bạn cần nhớ một điều là lệnh mình đưa ra càng vắn tắt càng hay.
 
Về sau tôi không treo miếng cao su nữa nhưng vẫn nói: "Đóng cửa lại, Vện!" Đồng thời tôi cầm miếng  cao su ra hiệu. Lập tức Vện ta nhảy lên khép cửa vào. Trong các bữa ăn, mỗi khi tôi báo, Vện đều nhanh nhẹn ra khép chặt cửa lại.
 
Mấy ngày sau, tôi dạy nó lấy giầy lại cho tôi. Tôi khởi sự bằng cách ngồi xuống quăng chiếc giầy qua bên kia phòng. Con Vện chạy theo nhặt lại cho tôi (Đối với Vện, lượm lại một vật mà tôi quẳng ra bây giờ là một việc rất thường). Tuy nhiên, tôi vẫn lập lại công việc này nhiều lần, và mỗi lần, tôi đều nói rõ ràng: "Lấy giầy, Vện!".
 
Sau đó tôi tạm ngừng.
 
Tôi để giầy của tôi ở bên kia phòng rồi lấy báo ra coi. Vện đứng ngẩn ra và cho rằng trò chơi đã chấm dứt.
 
Chợt tôi nhìn vào nó, bảo: "Lấy giầy, Vện!" và chỉ về phía chiếc giầy. Hiểu ý, nó liền đi lấy giầy cho tôi. Tôi vỗ về Vện và cho biết rằng mình đã rất hài lòng về nó.
 
Khoảng 15 phút sau, Vện ta có dịp để thử lại trí nhớ của mình. Tôi lại để chiếc giầy của tôi ở bên kia phòng rồi nói: "Lấy giầy, Vện!" Chú ta đứng thộn mặt ra chẳng hiểu gì hết, ngay cả khi tôi lấy tay chỉ về phía chiếc giầy. Trong trường hợp này, tôi kiên nhẫn tập lại với chú từ đầu.
 
Thời gian cứ thế trôi qua, tôi đã huấn luyện cho Vện biết làm một số công việc dễ. Vện có thể lấy củi ở ngoài sân mang xếp gọn vào một chỗ ; hoặc chuyển từng đồ vật từ trong một phòng ra, mà mỗi lần chú đều không quên khép kín cửa lại. Chú còn có thể thi thố được một số trò vui khác nữa, đại khái cũng "sêm sêm" như mấy trò trên.
 
Tôi không hề đánh Vện một roi tuy mỗi khi mang Vện ra huấn luyện, tôi đều xách theo một cái hèo (một loại roi) để làm ra bộ ta đây hách... xì xằng. Chỉ khi một chú chó lạ tới phá đám hoặc một cuộc "cãi lộn" có thể diển ra giữa Vện và chú Vằn hàng xóm thì roi mới được mang ra dùng, nhưng không phải để quật thật sự mà chỉ cần ra oai cũng đủ dàn xếp câu chuyện. Càng ít dùng roi thì roi càng có hiệu lực với mấy chú khuyển.
 
Các cụ ta thường nói "dục tốc bất đạt", cái gì mà làm vội vàng thì khó thành công. Đối với giống chó cũng vậy, tôi không bao giờ hối hả bắt chúng làm điều này điều kia một cách hấp tấp, vì như vậy sẽ làm hư con chó đi. Tôi sẽ kiên nhẫn đứng chờ nếu chó ta còn muốn chơi thêm chút nữa. Tôi cũng thủng thẳng tập làm sao để bảo đảm rằng chú Vện của tôi đã hoàn toàn thuần thục trò chơi này ; sau đó tôi mới bắt đầu tập một trò chơi khác.
 
Điều quan trọng là bạn phải tỏ ra biết tán thưởng nhưng như thế cũng chưa đủ, Bạn còn phải tỏ ra say mê thích thú nữa mới được. Bạn cần làm sao để cho chú khuyển của bạn biết rằng bạn rất khoái những trò mà khuyển ta mang ra thi thố. Bạn chớ nên khinh thường giống chó. Chúng sẽ cảm thấy sung sướng gấp đôi khi biết bạn đang say mê theo dõi chúng.
 
Chó là một giống vật nhậy cảm vô cùng. Một khi bạn hết lòng tin tưởng và tỏ ra thân thiện với chúng, chúng sẽ luôn luôn muốn làm vui lòng bạn và tỏ ra có tinh thần tự giác biết sửa sai.
 
 
VĂN TRUNG         
 (Viết theo Scotly Allen)   
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 76, ra ngày 11-2-1973)


Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

THẰNG BƯ - Mặc Tuyền

 
Quả đúng như cái tên của hắn, thằng Bư có vẻ "bư bư" thế nào ấy. Tôi dám quả quyết mí lại các bạn rằng : con người của hắn chỉ lộ cái "bư bư" mỗi khi gặp bạn hắn mà thôi, còn như bây giờ bắt tôi "diễn tả" cho hết cái "bư bư" của hắn, tôi xin chịu, chẳng có đủ lời lẽ nào diễn tả nổi.
 
Cái đầu của thằng Bư quá khổ với cái mình, nghĩa là cái đầu của chàng ta rất bự. Hai con mắt hắn thật to, người ta thường gọi là mắt ốc bươu, ốc nhồi - Nhưng tôi thì lại khác, tôi nghĩ mắt hắn ta giống cái đèn ô tô!
 
Hai tay hai chưn của hắn ngắn ngủn, ủn ỉn như mấy củ khoai tây - Đã vậy hắn còn hay ở trần mặc quần xà lỏn, khoe cái "tứ chi" thiếu chiều dài của hắn.
 
Mấy đứa con nít đặt cho hắn cái biệt hiệu là Người Hùng Cô Đơn, bởi hắn chẳng chơi với ai cả, suốt ngày lủi thủi một mình.
 
Nhà của hắn ở ga xóm thơm, núp trong hàng rào dâm bụt. Suốt ngày hắn chỉ quanh quẩn trong hàng rào nầy, ít khi nào thấy hắn ra ngoài.
 
Chàng bư dường như rất yêu dấu mấy cây dâm bụt đó, hắn cứ săm soi mấy cái hoa ấy luôn.
 
Một buổi chiều, chàng Bư thấy hàng rào dâm bụt của mình động đậy, hắn ta chắc mẻm có kẻ đến hái trộm hoa của mình.
 
Hắn ta đi rón rén đến để tìm bắt kẻ cắp. Trước mặt hắn hiện ra một cô bé áo đỏ, đang với tay hái hoa. Hằn giận lắm, nhưng chỉ tằng hắng thật lớn.
 
Cô bé giật thót mình, quay lại thấy cái dáng "dị kỳ" của chàng Bư nên khóc ré lên!
 
Chàng Bư tự dưng thấy tội nghiệp, hắn làm thinh một lúc rồi chậm rãi nói:
 
- Muốn hái cái hoa nầy phải không?

Cô bé áo đỏ đã nín khóc, nhưng hãy còn sợ, lấm lét nhìn chàng Bư trong lúc hắn với cái tay ngắn ngủn hái hoa.
 
Ngắt được cái hoa, chàng Bư đưa cho cô bé, nhưng cô bé đứng làm thinh không dám lấy. Một lát, không biết nghĩ sao, chàng Bư cài hoa dâm bụt đỏ lên tóc cô bé rồi mỉm cười.
 
Cô bé vừa mắc cỡ vừa xấu hổ, cắm đầu chạy một mạch về nhà.
 
Chàng Bư đứng nhìn theo cô bé chạy tọt vào một căn nhà lớn có rào sắt hẳn hoi. Đứng lặng thinh một đỗi, chàng Bư rầu rầu ngồi bệt xuống đất, mắt nhìn hoa dâm bụt đỏ cành lá xanh. Hắn thấy mình phải cần có một cái gì đó mà nghĩ hoài vẫn không biết mình cần gì.
 
Ba ngày sau, chàng Bư mới hay mình thiếu một tình bạn. Từ nhỏ tới lớn hắn không có một người bạn nào, một phần hắn thích cô độc, một phần tại hắn xấu xí quá, không ai thèm chơi.
 
Chàng Bư thấy nhớ quay nhớ quắt cô bé áo đỏ. Hắn ao ước được làm bạn với cô bé, được dẫn cô bé chạy giỡn trên cánh đồng xanh, hắn sẽ cài lên tóc cô bé thật nhiều hoa dâm bụt, hoa dâm bụt đỏ trên má cô bé hồng - Hắn nghĩ vậy và cười một mình.
 
*
 
Mấy ngày sau, chàng Bư hái thật nhiều hoa dâm bụt đỏ đầy một giỏ, xách đến nhà cô bé đứng chờ đợi trước cổng rào.
 
Cô bé đã nhìn thấy hắn, ngỡ ngàng trước ánh mắt thân thiện của chàng Bư. Một lát cô bé rón rén chạy ra cổng, chàng Bư tươi cười trao giỏ hoa. Nhưng giữa lúc đó có tiếng quát tháo thật lớn:
 
- Hồng! Con không được phép thân thiện với thằng quái vật đó! Vào nhà mau!
 
Cô bé lấm lét nhìn hắn rồi buồn bã bước vào nhà.
 
Chàng Bư đứng một mình, hắn ứa nước mắt, cái đầu to của hắn như cúi gầm xuống, một lát hắn treo giỏ hoa trước cổng nhà cô bé.
 
Buồn bã hắn bỏ đi. Buổi chiều nắng tắt, thấm thía, bóng hắn xiêu xiêu in xuống cỏ khô, quay lại nhìn giỏ hoa, hắm lẩm bẩm:
 
- Giỏ hoa đó xin tặng, hỡi người bạn chưa quen mà phải quên rồi!
 
 
MẶC TUYỀN      
 
(Trích tuần báo Thằng Bờm số 18 (bộ mới), tuần lễ từ 11-12 đến 18-12-1972)