Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

CẬU BÉ CHĂN NGỖNG - Xuân Vũ

 


Ngày xưa, tại phố huyện Đồng An bên Tàu, có một người tên Củng Côn, vợ là Lý Thị. Hai vợ chồng rất giàu có nhưng phải cái hà tiện.
 
Mỗi lần bó buộc phải dự ma chay, cưới gả hay giỗ chạp của họ hàng bạn bè thời ông thở dài đi ra, mặt mày buồn xo, bà rền rĩ đi vô, héo ruột héo gan. 
 
Ông thường than thở với bà: 
 
- Bị mời thì lại tốn tiền mua lễ vật. Sao thiên hạ không quên phứt mình đi cho rồi.
 
Cứ mỗi lần như vậy, ông lại biểu bà tính xem trong nhà có thứ gì cho được thì đưa ra. Được cái bà cũng khéo thu vén lắm. Bà dành một cái tủ riêng để tích xúc các thứ lễ vật thường hay dùng trong các việc quan hôn tang tế : trà bánh, mứt, hương nến... Thứ để được lâu hỏng không nói làm chi nhưng cũng có thứ bà để mốc xanh mốc vàng cũng cứ thế đem tống khứ đi. Thường khi bà cũng ra vườn sau nhà ngắm những cây cam bưởi ổi. mãng cầu cùng là bụi chuối và đàn gà vịt, ngan ngỗng xem có thứ "cây nhà lá vườn" nào chịu đi thay cho chuỗi tiền của ông bà chăng.
 
Vợ chồng Củng Côn lại thường áp dụng một phương pháp cố hữu sau đây trong sự đưa lễ vật : dư biết là theo tục lệ hễ ông bà không đến "uống chén rượu nhạt" hay "sơi lưng cơm thường" với gia chủ thời gia chủ chỉ nhận một phần lễ vật còn bao nhiêu trả lại gọi là nhận tượng trưng, nhận làm thảo mà thôi.
 
Hai vợ chồng Củng Côn khai thác triệt để tục lệ này, nên lễ vật của họ bao giờ cũng chỉ có một món đáng giá để ở giữa hay ở trên, tùy trường hợp, xung quanh hay ở dưới thì độn toàn những lễ vật phụ rẻ tiền. Món đáng giá ấy cũng còn gọi là "món chủ chốt". Lý Thị thực tế hơn gọi là "món đưa ra rồi lại thu về gấp". Tùy theo mùa, tùy theo vụ, món chủ chốt và các món phụ thay đổi : khi thì là một buồng chuối to với một mâm vừa ổi xanh vừa mãng cầu cứng như đá, khi là buồng cau với mấy gói chè hạng xoàng, hương, nến v.v...
 
Vợ chồng Củng Côn lại khéo luyện được một anh người nhà để dùng vào công tác tế nhị này. Mỗi khi đem lễ vật đến, nó trịnh trọng đặt trước mặt gia chủ, khoanh tay bẩm báo, nói rõ lý do và đọc bảng kê khai lễ vật đàng hoàng chờ khi gia chủ tươi cười nhận đồ lễ tượng trưng thì nhanh như cắt nó nhắc ngay món "chủ chốt" ra, đặt về phía nó rồi để cho gia chủ tự ý lấy. Xong đâu đấy nó nhẹ nhàng đặt món chủ chốt vào mâm bưng lên rồi làm ra cái vẻ đau khổ xin gia chủ nhận thêm kẻo về nó bị chủ quở mắng.
 
Dĩ nhiên là nó thành công trong chiến thuật ấy rồi, vì chẳng lẽ gia chủ lại bảo nó đặt mâm xuống chọn lại?
 
Khỏi nói, nó được vợ chồng Củng Côn khen ngợi lắm. Chẳng thế lúc vắng mặt nó, Lý Thị thường bảo chồng:
 
- Mình tốt tay nuôi người mới được thằng này khéo vun về cho chủ.
 
Nhưng từ hơn tháng nay, nó xin về làm ruộng nên vợ chồng Củng Côn phải nhắn bà con ở miệt quê kiếm cho một người ở trẻ tuổi, nhặm lẹ để thay thế. Người ở mới này tên là Trương Tài, tuổi độ 18, khỏe mạnh, tuy sống ở đồng nhưng vì đã từng đi làm mướn cho các phú hộ trong vùng nên cũng lanh lợi. Nó lại có biệt tài bắt ngỗng không kêu, không giẫy đạp. Cái thuật này nó học lỏm được của một tên vô lại chuyên trộm vặt, hồi nó 8 tuổi, còn đi chăn trâu. 
 
Vừa vào làm việc, Trương Tài đã được vợ chồng Củng Côn thuyết cho một hồi : nào là ăn cây nào rào cây nấy, nào là phải biết lo việc của chủ như việc của mình. Dĩ nhiên vợ chồng Củng Côn cũng nói cho Trương Tài biết rõ phương pháp biếu lễ vật đặc biệt của vợ chồng nhà này. Nhờ nó sáng dạ và cũng có thủ đoạn nên mấy lần "xuất quân" nó đều đem được vật "chủ chốt" về.
 
Một hôm, cha vợ Củng Côn là Lý viên ngoại ăn sinh nhựt, cho người nhà sang kêu vợ chồng Củng Côn về dự tiệc. Hai vợ chồng toan đi cả song bàn đi bàn lại, tính hà tiện nổi lên như sóng cồn, át cả tình cha con. Thế là cả hai người quyết định không đi ăn sinh nhựt Lý viên ngoại. 
 
Củng Côn bèn bảo vợ sắp lễ vật cho Trương Tài đem qua mừng. Kỳ này đặc biệt nên món chủ chốt là chú ngỗng lớn nhứt nuôi trong nhà, các món phụ gồm có ít trái cây của vườn nhà, dăm gói chè hạng xoàng, hai chai rượu trắng mua ở tiệm chạp phô đầu phố.
 
Suốt tối hôm trước, Củng Côn dặn đi dặn lại Trương Tài:
 
- Mi có đem qua bển thì cũng cứ làm như những lần đến nhà khác nghe. Ổng lấy chi thì lấy nhưng con ngỗng phải đem về cho tao. Nếu mầy để ổng chụp mất con ngỗng thì Tết này ta trừ vào bộ quần áo không sắm cho nữa đa. Ổng có hỏi nói là ta bận việc nhà xin cáo lỗi nghe. Mầy nhớ phải đem con ngỗng về hiểu chưa? 
 
Trương Tài gật đầu lia lịa, miệng "dạ hiểu, dạ hiểu" liên hồi.
 
Sáng hôm sau nó rời phố huyện, tay xách cái giỏ bên dưới để lễ vật phụ, bên trên là con ngỗng lớn.
 
Gần tới trưa thì Trương Tài đến nhà Lý viên ngoại. Lý ông mừng lắm hỏi:
 
- Chủ ngươi đâu, có về uống rượu không?
 
Trương Tài để giỏ lễ vật xuống đất, chấp tay thưa:
 
- Thưa cụ, ông con bận việc không về được, biểu con đem lễ vật qua mừng cụ.
 
Lý ông ngồi trên giường vuốt chòm râu trắng gật gù đôi ba cái rồi lớn tiếng kêu người làm:
 
- Tú đâu, con đem cái mâm ra đây nghe.
 
Một người nhỏ thó, trạc tuổi Trương Tài từ trong nhà huỳnh huỵch chạy ra, tay cắp cái mâm đồng. Tú - tên của hắn - đặt cái mâm lên sập trước mặt Trương Tài và khoanh tay đứng chờ lệnh chủ.
 
Trương Tài nhắc con ngỗng để xuống đất, dẫm chân lên cẳng ngỗng. Con ngỗng dáng chừng bị ép mãi trong giỏ mỏi cánh nay được để ra đất mát nó đập cánh phành phạch.
 
Sợ e ngỗng vuột chạy, Trương Tài càng dậm mạnh chân lên cẳng ngỗng còn hai tay xếp vội mấy lễ vật phụ lên mâm. Xong xuôi, nó cúi xuống bồng ngỗng lên để đầu ngỗng gác lên thành mâm, đoạn lễ phép nói:
 
- Bẩm Cụ, ông con sai đem lễ vật qua mừng Cụ...
 
Trong lúc Trương Tài lo bày lễ vật ra mâm, thằng Tú ngắm con ngỗng một hồi rồi nó nhìn chăm chăm vào từng thứ Trương Tài bày ra mâm. Khi Trương Tài trịnh trọng bẩm báo với Lý ông thì thằng Tú cũng đã đánh giá xong lễ vật. Nó tự bảo chỉ có con ngỗng là đáng tiền còn bao nhiêu là đồ bỏ cả. Đoạn nó nhìn Trương Tài không chớp mắt như để thăm dò xem địch thủ mới này có lợi hại bằng người làm trước của Củng Côn không.

Lý viên ngoại đằng hắng một tiếng rồi chậm rãi nói:
 
- Tú đâu, lễ vật của con rể ta gởi qua đó, con lấy bậy một hai thứ chi đó làm thảo, còn bao nhiêu cho Trương Tài đem về.
 
Tú dạ một tiếng to đoạn xáp tới bên Trương Tài, hai đứa nhìn nhau y như hai võ sĩ sắp tranh tài. Trương Tài xem ra có vẻ lúng túng vì Tài chỉ quen đối phó với trường hợp gia chủ đích thân tiếp nhận lễ vật. Nó chưa biết phải xử trí ra sao trong trường hợp mới mẻ này.
 
Thằng Tú có lẽ biết vậy, nên nó từ từ giơ hai tay luồn xuống dưới bụng ngỗng nhắc bổng lên, miệng nói với chủ:
 
- Bẩm, con tính mình lấy chút đỉnh này thôi.
 
Lý viên ngoại buông xuôi một tiếng "ừ" không ra phản đối mà cũng không ra tán thành.
 
Trương Tài đứng sững nhìn thằng Tú bế con ngỗng "chủ chốt" đi vô nhà.
 
Rồi nó buồn rầu nhặt các lễ vật "phụ" xếp vô giỏ. Trương Tài vừa xếp xong thì Lý viên ngoại biểu:
 
- Thôi con xuống nhà dưới uống ba chén rượu mừng lão nghe.
 
Đoạn ông gọi người con dâu cả dạy dọn cơm rượu cho Trương Tài ăn uống trước để nó kịp trở về kẻo đường xa.
 
Nó được xếp ngồi một cỗ với 5 người trong làng đến làm giúp cho Lý viên ngoại từ sáng sớm. Xung quanh nó mọi người chén chú chén anh, cười cười nói nói vui như Tết. Riêng nó mặt mũi buồn thiu, tớp vài hớp rượu, nhắm vài miếng lòng lợn. Thỉnh thoảng nó lại ngước mắt nhìn thằng Tú chạy lên chạy xuống hầu nước khách trên nhà.
 
Ăn xong lưng chén cơm, nó đứng dậy, kiếm người dâu cả của Lý viên ngoại xin phép ra về. 
 
Trương Tài buồn bã xách giỏ bước đều. Trên đường về tỉnh tới gần một xóm kia cách thành vài cây số, đến một khúc quanh Trương Tài vừa ló ra khỏi hàng cây bên đường thì gặp một thằng bé lối 9, 10 tuổi vận quần áo nâu đã bạc mầu trờ tới. Nó nhìn Trương Tài rồi lại nhìn cái giỏ Tài đang xách rồi lại đi khuất vào bụi cây.
 
Trương Tài đi chừng 10 thước thì thấy thoai thoải bên trái đường, trên bãi cỏ xanh rờn, cạnh một cái ao gần cạn nước, có một bầy ngỗng trắng ước đến trăm con, nằm ngủ la liệt dưới bóng cây. Trương Tài ngó trước ngó sau thấy đường xá vắng hoe nó bèn bước đại xuống bên đường, lẹ làng nhằm phía gốc cây mọc gần bờ ao và phóng tới. Nó vừa nhìn thấy ở đấy chỉ có đôi ba con ngỗng lớn nằm mỗi con một góc. Nó lẹ làng lướt đến bên chú ngỗng bự đang nằm vùi đầu trong cánh ngủ. Nó khẽ đặt giỏ xuống cỏ và nhanh như cắt vươn tay mặt khóa chặt cổ con ngỗng dưới cánh, còn tay trái nó chụp lấy 2 chân ngỗng trói nghiến lại. Chú ngỗng bự chỉ khịt khịt được 2 tiếng nhỏ rồi nằm êm rơ trong tay Trương Tài. cả bầy ngỗng vẫn nằm im lìm ngủ trong bầu không khí oi ả của chiều hè.
 
Trương Tài lội xuống ao trấn con ngỗng xuống nước cho lông ướt mèm rồi nó lại lấy bùn trét đầy mình con vật.
 
Đoạn nó leo lên bờ, đặt ngỗng vô giỏ, chùi sạch sẽ chân tay rồi lẹ làng băng qua bãi cỏ bên lộ. Nó kéo cổ ngỗng ra cho khỏi nghẹt thở. Chú ngỗng nằm rung rinh trong chiếc giỏ chắc lấy làm khoái lắm, nghiêng nghiêng cái đầu, giương hai mắt tròn đen nháy, ngắm trời ngắm đất chẳng buồn nghĩ đến phản đối kêu la... Vừa lúc ấy thằng bé mặc quần áo nâu từ khúc quẹo đi trở lại phía bầy ngỗng tay ve vẩy cành tre nhỏ. Nó chăn ngỗng mà. 
 
Trương Tài giật mình tim đập như trống làng. Nó cố làm ra bình tĩnh bước đều trên lộ. Trương Tài mừng thầm không bị quả tang ăn cắp ngỗng lại càng hí hửng khi nghĩ rằng được con ngỗng này nó đã khỏi bị chủ phạt lại được thêm ít tiền còm khi bán được chỗ lễ vật phụ cho tiệm chạp phô trong thành trước khi về nhà.
 
Thằng bé chăn ngỗng đã bước xuống bãi cỏ không biết nghĩ sao lại lộn lên đứng trên bờ lộ hết nhìn bầy ngỗng lại nhìn theo cái giỏ của Trương Tài.
 
Nó nghĩ:
 
- Ủa cái gì lạ vậy cà? Rõ ràng mình vừa gặp thằng cha xách giỏ không có ngỗng, mà nay lại có cái gì thò lên như cái đầu ngỗng thế kia?
 
Vừa lúc ấy con ngỗng nằm trong giỏ Trương Tài nghiêng nghiêng cái đầu lên trời. Đúng đầu ngỗng rồi.
 
Nó lẩm bẩm : Thôi chết rồi, thằng cha này lợi dụng lúc mình đi tiêu nhè chụp đại con ngỗng của mình.
 
Nó ngó quanh quất xem có ai đi tới không. Nhưng giờ này chẳng có ai qua lại cả. Trên lộ chỉ có Trương Tài và nó.
 
Trương Tài càng lúc càng đi nhanh, cách chỗ bầy ngỗng khá xa rồi.
 
Thằng bé chăn ngỗng vụt chạy theo.
 
Nghe tiếng chân người đuổi theo, Trương Tài cũng vùng đi nhanh hơn, gần như chạy.
 
Thằng bé yếu hơn bắt không kịp vừa chạy lẹt đẹt vừa la lối om sòm:
 
- Ăn cắp ngỗng! Ăn cắp ngỗng! Bà con cô bác bắt dùm nó cắp ngỗng tôi!!...
 
Thấy khoảng cách giữa nó và Trương tài càng lúc càng xa, nó sợ mất ngỗng về chủ đánh chết, nên cố chạy theo vừa la vừa khóc. Tội nghiệp thằng nhỏ té lên té xuống mấy lần rách cả quần, trầy cả đầu gối.
 
Nó thở hổn hển như muốn đứt hơi... Nó thất vọng nghĩ, thôi đành chịu đòn vì mất ngỗng, rượt hết nổi rồi.
 
Nhưng may quá tên ăn cắp ngỗng bỗng nhiên đi chậm lại... Sao vậy? Nó chợt nhớ ra là sắp đến xóm ở ngoại ô châu thành. Nó thấy phấn khởi hơn lên. Nó không la khóc nữa, ráng sức chạy.
 
Phía trước mặt, dãy nhà lá đầu tiên đã xuất hiện giữa hàng cây xanh mát. Trương Tài từ nãy giờ đã đi chậm lại, thở mấy cái mạnh, lau sạch mồ hôi trán rồi thản nhiên đi qua xóm. Chú ngỗng vẫn nằm yên trong giỏ, thỉnh thoảng lại cọ đầu vào thành giỏ như gãi ngứa khiến cho những vết bùn ướt càng như bị miết chặt làm cho con vật có một hình thù quái gở nếu trở lại bầy tất bị đồng loại cắn đuổi đi.
 
Phía sau, thằng bé vẫn lẹt đẹt đuổi theo. Khi Trương Tài đi đến giữa xóm thì nó cũng lết gần tới đầu xóm. Nó bèn la chói lói:
 
- Ăn cắp ngỗng! Ăn cắp ngỗng! Bà con cô bác bắt dùm nó!
 
Người kế cận đổ ra hỏi. Nó trỏ theo Trương Tài. Tài cũng nghe tiếng la bèn cố tình đi chậm lại nữa để người ta khỏi nghi.
 
Mấy bà trong xóm lớn tiếng la dùm thằng bé chăn ngỗng. Cuối xóm có vài người đàn ông chạy ra cửa nhà ngó nhìn dường như chờ Trương Tài đi tới sẽ hay. Vừa lúc ấy một người bận áo đen ở châu thành cũng vừa về tới đó.
 
Thằng bé chăn ngỗng chạy tới nhận ra người vận áo đen sắp đi ngang qua Trương Tài là ông Bá, chủ nó nên nói lớn:
 
- Ông ơi! Chặn nó lại, nó cắp ngỗng nhà ta.
 
Ông Bá bèn nắm giữ Trương tài lại:
 
- Nó ăn cắp làm sao Chiêu Lộc?
 
Chiêu Lộc (tên thằng bé chăn ngỗng) chưa kịp trả lời thì Trương Tài đã hất bàn tay ông Bá ra và cự nự:
 
- Sao chú vô lễ làm vậy! Can cớ chi mà dám bắt giữ tôi?
 
Ông Bá cũng nổi đóa la lại:
 
- Giữa ban ngày ban mặt, đi ăn cắp ngỗng người ta còn già mồm nói không can cớ gì.
 
Trương Tài gân cổ cãi lại:
 
- Chú là đồ nhận bậy thì có. Ngỗng của chủ ta nuôi ở thành đem mừng nhạc gia ăn sinh nhựt nhưng ổng lại quả cho đem về. Ai thèm lấy ngỗng của chú?
 
Chiêu Lộc xía vô nói:
 
- Nó đi qua gần chỗ bầy ngỗng xách giỏ không. Chừng tôi đi trở lại thấy nó xách giỏ có ngỗng này. Chẳng là ăn cắp ngỗng ở bầy tôi sao?
 
Đôi bên lời qua tiếng lại cãi lẫy om sòm. Lối xóm kéo ra bu xung quanh, mỗi người thêm một câu thành ra ồn ào như họp chợ.
 
Sau có người bàn:
 
- Ai cũng nhận là ngỗng của mình. Thiệt khó nói quá, nay cứ đem lại thả nó vô bầy nếu nó nhập bầy thì phải là ngỗng nhà ông Bá, bằng nó không nhập bầy thì ắt là ngỗng của Trương Tài rồi.
 
Trương Tài nghe vậy mừng rơn nhưng giả bộ cự nự không chịu:
 
- Làm cái chi ức lòng người ta vậy. Trời nóng như vậy bắt đi trở lại một thôi đường, vả lại tôi còn phải về lo việc cho chủ, bộ ở không sao mà chiều đặng mấy người.
 
Nói rồi làm như rẽ đám người bu quanh để đi về thành.
 
Mọi người nhao nhao phản đối rồi hè nhau xô Tài quay lại chỗ bầy ngỗng. Tài làm bộ miễn cưỡng theo họ. Dọc đường y luôn miệng giao hẹn:
 
- Nếu nó không nhập bầy, mấy người phải để cho tôi về thành nghe. Nếu còn lộn xộn tôi trình quan à.
 
Một lát sau cả đám đông tới bãi cỏ có thả bầy ngỗng.
 
Trương Tài xuống bên đường lấy con ngỗng ra, cởi dây buộc và thả nó xuống đất. Đám đông reo hò ầm ỹ. Con ngỗng thấy bầy nhà vỗ cánh nhào tới. Bầy ngỗng thấy nó hình thù quái dị mình mẩy đen thùi rượt cắn không chịu cho nhập đàn. Đám đông lại reo hò ầm ỹ. Ai cũng bảo chẳng phải là ngỗng của ông Bá. 
 
Trương Tài điềm nhiên tiến lên chụp con ngỗng lấm bùn bỏ vào giỏ rồi đi lên lộ. Đến trước ông Bá và Chiêu Lộc hắn vênh mặt nói:
 
- Thầy trò nhà chú tầm bậy. Khi không ngỗng người ta nhận là của mình. Giầu mà còn tham.
 
Nói đoạn hắn bỏ đi thẳng, miệng mỉm cười đắc thắng.
 
Mọi người cũng xúm lại chê trách ông Bá quá tin người nhà mà nghi oan cho người ta. Ông Bá giận quá quay ra đánh Chiêu Lộc một cái bạt tai nẩy lửa.
 
Chiêu Lộc mếu máo nói:
 
- Rõ ràng lúc nó tới không có ngỗng, lúc nó đi qua lại có ngỗng. Nó cắp ngỗng mình ông ơi. Nó lại trét bùn lên ngỗng cho lạ hoắc để ngỗng nhà không nhận ra mà rượt cắn.
 
Nói rồi khóc hu hu. Ông Bá quát:
 
- Mày có im không? Thiệt là mày hại tao. Chắc mày lấy ngỗng tao đem bán rồi vu vạ cho người ta. Đồ ăn hại. Để chiều tối tao đếm lại ngỗng hễ thiếu con nào mày phải thường.
 
Chiêu Lộc nghe vậy khóc rống lên.
 
Ông Bá vẫn chưa nguôi giận toan sấn lại đánh nữa may được mọi người can ra.
 
Vừa lúc ấy có tiếng lính hô dẹp đường. Mọi người vội tránh sang hai bên. Lát sau một ông quan mặt đen sì cỡi ngựa đi tới, giữa hai hàng lính gươm giáo sáng lòa. Thì ra đấy là Bao Công đi thanh tra về. Bao Công là một vị quan nổi tiếng là cương trực, có tài minh xét nhiều vụ án bí mật.
 
Thấy đông người tụ họp ở giữa cánh đồng lại có đứa trẻ đang khóc, Bao Công bèn dừng ngựa lại cho lính kêu ông già đứng gần hỏi rõ chuyện ; đoạn truyền cho quân lính dẫn cả ba người : Ông Bá, Trương Tài, Chiêu Lộc đến trước mặt.
 
Bao Công biểu Trương Tài giơ ngỗng cho ông coi, ông cũng đòi xem cả giỏ nữa. Đoạn ông hỏi Trương Tài và Chiêu Lộc về các việc đã xẩy ra.
 
Nghe xong, Bao Công nói:
 
- Trương Tài khai nhận ngỗng của chủ y nuôi ở thành vừa rồi đem làm lễ vật mừng Lý viên ngoại nhưng Lý ông cho đem về. Còn Chiêu Lộc lại quả quyết Tài đã cắp ngỗng thuộc bầy của y. Nay đã xế chiều rồi, để mai ta xét xử cho. Bây giờ Trương Tài khá đem con ngỗng cho lính đem về nha rồi mai cả ba người đến công đường mà nghe ta phân xử.
 
Mọi người cúi đầu tuân lệnh. Về đến nha, Bao Công dạy lính đem nhốt ngỗng vào một cái lồng to để giữa sân trước công đường. Ông lại dặn chỉ cho ngỗng uống nước mà cấm cho ăn bất kỳ một thứ gì, dù là lúa cơm rau cỏ.
 
Một chú lính lệ nhỏ tuổi mới được tuyển vào làm việc mấy bữa, thấy lạ bèn hỏi bác cai già:
 
- Nghe đồn Bao đại nhơn đoán việc như thần. Chắc đại nhơn xem con ngỗng mà biết được ai ngay ai gian bác nhỉ? 
 
Bác cai già cũng chẳng biết nói sao chỉ ừ ào cho xong chuyện.
 
Sáng hôm sau, Bao Công ra sân truyền lính nhắc lồng ngỗng lên để ông coi. Chú lính lệ mới, núp bên hông nhà dòm ra, thấy Bao Công lom khom nhìn mặt đất, nhìn đáy lồng một lát, rồi lại nghe thấy Bao Công bảo bác cai già:
 
- Thôi để lồng xuống, cấm không được dọn dẹp vội.
 
Lại thấy Bao Công quay ra gọi thơ lại sắp giấy bút để ông làm án.
 
Chú lính trẻ tuổi lấy làm lạ lắm bèn đón dường bác cai già và hỏi:
 
- Con ngỗng nó làm gì thế hở bác? 
 
Bác cai già đáp:
 
- Thì nó bậy đầy ra đó chứ chú còn muốn nó làm gì nữa? Khi  nào quan truyền dọn chỗ ngỗng bậy thì chú mầy mở mắt cho to mà quét cho sạch. Phân ngỗng này xanh lè dọn không kỹ nó lẫn với rêu xanh ở mặt gạch, quan mà thấy thì mình ăn đòn đa.
  
Một lát sau, trống hầu thong thả điểm một hồi. Cửa nha từ từ mở rộng. Bộ ba ông Bá, Trương Tài và Chiêu Lộc kéo nhau vào sân chờ trình diện Bao Công.
 
Lính lệ vào bẩm. Bao Công truyền dẫn ba người đến trước công đường.
 
Bao Công nhìn Trương Tài bảo:
 
- Con ngỗng hồi hôm đúng là của Chiêu Lộc.
 
Trương Tài cãi liền:
 
- Hôm qua, ai cũng biết là ngỗng của tôi, nay Thượng quan lại nói ngược, bảo là ngỗng của Chiêu Lộc thiệt ức cho tôi lắm. Xin quan xét lại.
 
Bao Công cả giận đứng phắt dậy chỉ mặt Trương tài quát vang như sấm:
 
- Mi nuôi ngỗng ở thành thường cho nó ăn gì?
 
Trương Tài sợ lắm nhưng thu hết can đảm đáp:
 
- Cũng như những người khác ở thành, chủ tôi nuôi nó bằng lúa vì không sẵn cỏ, vì vậy nó mới béo.
 
Bao Công lại quát hỏi:
 
- Phân nó mầu gì?
 
Trương Tài bẩm:
 
- Dạ, mầu vàng.
 
Bao Công lại hỏi:
 
- Mi từng ở ruộng tất biết ở miệt quê người ta thường nuôi ngỗng bằng gì? Có cho ăn lúa không?
 
Trương Tài thưa:
 
- Dạ, thường thả nó ngoài đồng thành bầy, cho mò ốc, ăn cỏ, ăn rau chứ không cho ăn lúa. 
 
Bao Công hỏi tiếp luôn:
 
- Phân nó ra sao? Mầu gì?
 
Trương Tài dường như chợt hiểu dụng ý của Bao Công, lúng túng chưa trả lời thì Bao Công hỏi dồn:
 
- Phân nó mầu gì? Sao hỏi không nói, bộ mày điếc hả?
 
Trương Tài đáp:
 
- Dạ phân mềm, mầu xanh.

Bao Công không thèm ngó Trương tài nữa, quay lại bảo ông cai già:
 
- Lôi cổ nó ra, nhấc lồng ngỗng lên cho nó coi con ngỗng hồi hôm bậy phân gì? Vàng hay xanh?
 
Hai người lính xáp vô lôi Trương Tài ra sân nhấc lồng lên cho coi đoạn lại dẫn trở vô.
 
Bao Công hỏi:
 
- Mi có nhìn đó là ngỗng nuôi ở đồng quê và của Chiêu Lộc mà mi ăn cắp không?
 
Trương Tài đáp:
 
- Dạ đúng là ngỗng nuôi ở quê nhưng không phải là của Chiêu Lộc! Bởi nếu là của Chiêu Lộc tại sao nó lại không nhập bầy bữa qua?
 
Bao Công trợn tròn cả mắt, lông mày dựng ngược, quát lớn:
 
- Mày xảo trá đem ngỗng nhúng nước cho ướt lông rồi lấy bùn trét lem nhem, chừng lúc thả trở lại, bầy ngỗng thấy lạ tất phải cắn rượt không cho nhập bầy. Mi tưởng ta không biết sao?
 
Trương Tài cứng họng, hết đường chối cãi.
 
Bao Công dạy lính vật Trương Tài ra đất, nện cho 20 côn rồi đuổi về.
 
Rồi ông truyền trả lại con ngỗng cho Chiêu Lộc sau khi khen nó tinh mắt, có óc nhận xét và nhất là biết giữ của người ta đã tín nhiệm giao phó cho mình trông coi.
 
 
XUÂN VŨ thuật     
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 9, ra ngày 25-9-1963)


Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

QUA MẮT NHÌN LOÀI ONG - Trần Ngọc Kính

 

Có lẽ ai trong chúng ta cũng muốn biết sinh vật đã nhìn ngắm cảnh vật thiên nhiên chung quanh chúng ta như thế nào, và chắc các bạn trẻ của Thiếu Nhi đã tưởng rằng thú vật cũng nhìn thấy cảnh tượng y như con người.
 
Thực tế không đúng như vậy, vì giác quan của chúng rất khác biệt với giác quan của con người, và đặc biệt là thị giác, người ta đã nghiên cứu nhiều nhất ở loài ong. Các công việc tìm tòi này được thực hiện bởi một giáo sư Đức, ông Von Frisch và một nhóm chuyên viên, nhờ đó mà ngày nay người ta đã tìm biết được những bí ẩn về thị giác của loài ong, những bí ẩn nầy y như một huyền thoại.
 
Cơ quan của thị giác là mắt. Mắt của loài ong khác hơn mắt của con người, mặt trên của mắt có nhiều mặt như thể mặt của một viên kim cương, và mắt của một con ong thợ có đến 6.300 mặt nhỏ như vậy.
 
Khi ong nhìn một vật, mỗi mặt nhỏ nầy sẽ cho một ảnh của vật đó, nghĩa là mỗi mắt của ong sẽ nhận được 6.300 ảnh. nhưng tại bộ phận ghi nhận hình ảnh của ong (giống như bộ óc của con người), 6.300 ảnh nầy sẽ hợp nhau lại để cuối cùng cho ra một ảnh duy nhất và ong chỉ còn thấy có 1 mà thôi. Như người ta có 2 mắt, mỗi mắt sẽ ghi nhận 1 hình ảnh của vật, vậy mà cuối cùng ta chỉ nhìn thấy có một ảnh duy nhất của vật, cho nên con người và loài ong chỉ giống nhau ở điểm đó.
 
Các nhà khoa học đã chụp ảnh cây cỏ hoa lá cành bằng những ống kính có nhiều mặt tương tự như mắt của loài ong, và những tấm ảnh nhận được đã xác nhận rõ ràng hình ảnh thiên nhiên qua mắt nhìn của loài ong.
 
Các bạn biết không, kết quả cho thấy mắt của loài ong đã mang các chứng bệnh loạn thị, loạn sắc và cận thị.
 
Những hình ảnh qua mắt nhìn của nó đều thay đổi hình dáng (loạn thị), thay đổi màu sắc (loạn sắc), nó lại phải đến gần các vật mới nhìn thấy được (cận thị). Khoảng cách thấy rõ của ong ngắn hơn của con người đến 10 lần (có nghĩa là phải tới gần 2,5cm ong mới nhìn thấy rõ).
 
Nó chẳng nhìn thấy được màu đỏ, nhưng bù lại nó có thể nhìn thấy được các tia tử ngoại là những tia mà mắt người không thấy được. Con người chỉ nhìn thấy được bảy màu chính là tím, chàm, xanh dương, lục, vàng, cam, đỏ và các màu do sự pha trộn 7 màu chính đó.
 
Tia tử ngoại là tia ở ngoài màu tím và tia hồng ngoại là tia ở ngoài màu đỏ là những tia mà mắt người không nhìn thấy, trong lúc loài ong nhận được tia tử ngoại dễ dàng.
 
Ngoài ra vì mắt của loài ong có độ cong không đều, nó nhìn thấy hình ảnh của vật như bị kéo dài ra theo chiều đứng. Một cái hoa hình tròn nó sẽ nhìn thấy thành hình bầu dục.
 
Và thời gian lưu giữ hình ảnh trong mắt của loài ong ngắn hơn thời gian lưu giữ hình ảnh ở mắt ta nhiều. Vì thời gian lưu giữ hình ảnh ở mắt ta lâu, nên khi xem chiếu phim, mắt ta sẽ thấy các hình ảnh như liên tục, cử động thật tự nhiên.
 
Nếu một chú ong được đưa đi xem ciné, nó nhìn thấy nhanh quá nên sẽ thấy từng tấm ảnh lần lượt hiện lên màn ảnh một cách chậm chạp (theo nó) và do đó có lẽ nó sẽ chán nản vì hình ảnh không còn liên tục nữa.
 
Các bóng đèn điện của ta cũng vậy, nó sẽ thấy đèn như nhấp nháy chứ không có độ sáng đều đặn như mắt ta đã nhìn.
 
Nhờ một kỹ thuật tân kỳ người ta chụp ảnh một bó hoa bằng tia tử ngoại và các màu đen trắng, hình ảnh nhận được sẽ hơi mờ, thay đổi hình dạng và các màu sắc của bó hoa cũng sẽ thay đổi, như là:
 
Những lá màu xanh lục trở thành màu xám sậm có vài chấm vàng.
 
Những hoa màu đỏ trở thành tối đen.
 
Những hoa màu trắng trở thành xanh dương nhạt.
 
Những hoa màu vàng trở thành màu cam.
 
Đại khái các màu mà loài ong nhìn thấy đã thay đổi như vậy.
 
Và loài ong dù nhìn thấy cảnh vật khác người ta, các nhà bác học vẫn kết luận được rằng nó đã nhìn cảnh vật gần giống với con người nhất. Nói như vậy có nghĩa là những sinh vật khác sẽ nhìn thấy thế giới nầy theo một hình ảnh lạ lùng hơn nhiều.
 
Tuy nhiên, các bạn tưởng tượng xem, nếu bây giờ ta bỗng nhiên lắp được một ống kính giống hệt như mắt loài ong rồi mang vào mắt, chắc ta sẽ nhìn thấy cảnh vật quen thuộc chung quanh ta thành một cảnh lạ lùng thần tiên. Có phải vậy không các bạn?
 
 
TRẦN NGỌC KÍNH       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 6, ra ngày 19-9-1971)

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

TÔI ĐÃ ĐI TRÊN LỬA

 


RAJATEJA
 
Đây cũng chỉ là một hòn đảo như hàng ngàn đảo khác trên các bãi biển miền Nam bán cầu. Cũng cùng một khí hậu, cùng những loại cây cỏ thông thường. Quanh đảo cũng chỉ là vùng nước biển mênh mông. Nhưng Rajateja có một sắc thái riêng biệt, đó là quê hương xứ sở của những người đi trên lửa.
 
Sau đây là câu chuyện của một nhà thám hiểm da trắng đã có dịp thăm viếng đảo, tiếp xúc với thổ dân và đã từng "thử lửa".
 
Mời các bạn cùng đi với nhà thám hiểm. "- Trong những chuyến du hành trên các mặt biển miền Nam, tôi đã có dịp đổ bộ đảo Rajateja. Tôi đến đảo đúng thời gian thổ dân mở hội thường niên tế thờ Thần Lửa. Và tôi đã được mời tham dự buổi lễ tổ chức trong một khu rừng. Từ xế trưa, tôi đi theo các thanh niên có phận sự thiết lập "dàn hỏa". Đến địa điểm đã được lựa chọn - một khu vực khá rộng ở ven rừng - họ lăn những khối đá tảng từ một đỉnh núi gần đấy xuống đáy vực. Những thân cây lớn được chuyển tới phủ lên lớp đá tảng rồi nổi lửa đốt. Suốt nửa ngày lửa cháy rừng rực, nung đỏ những tảng đá dắn trong "lò". Đến chiều tối, các khối đá đã nóng bỏng, đỏ rực và sáng chói tựa một lò than hồng khổng lồ. Dân trong đảo tập trung quanh "dàn hỏa". Tiếng cười, tiếng nói, giọng hát, lời cầu nguyện vang lên, ồn ào như vỡ chợ. Đột nhiên im bặt. Đoàn người thờ lửa đã từ xa thong thả tiến tới. Người nào cũng ở trần, chân không, mình thoa đầy dầu dừa bóng loáng, tay cầm một nhánh cây xanh. Tirai Páo dẫn đầu. Y là chỉ huy nên đi trước, đầu cất cao, mắt ngước lên trời, tay nhẹ nhàng phe phẩy cành lá xanh. Tới gần lò lửa, y đập mạnh nhánh cây vào tảng đá ba lần, rồi ngâm nga bài kinh cầu nguyện của những người đi trên lửa. Dứt bài Tirai Páo và đoàn tùy tùng hăm hở tiến nhanh lại và bước mạnh lên những tảng đá nóng đỏ. Họ đi qua đi lại ba lần.
 
Đi ngang qua chỗ tôi đứng, Páo nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi với một giọng riễu cợt: 
 
"- Bạn có muốn đi theo phía sau tôi không?" Coi đó như là một thách thức, bị chạm tự ái, tôi quên mất sự nguy hiểm, bèn cúi xuống cởi giầy và dõng dạc đáp: "- Tôi sẵn sàng theo anh", Nhưng, tới gần các tảng đá đỏ, tự nhiên nỗi sợ hãi cố hữu của tôi đối với lửa khiến tôi run lên khi thấy vài cành cây rơi trên đống đá bốc lửa cháy tức khắc. Tôi muốn trở lui, tháo chạy. Nhưng không kịp, viên phù thủy đứng sau đẩy nhẹ vào lưng tôi. Thôi liều. Tôi nghiến răng và bước đại.
 
Những cảm giác rần rật như điện giật lan truyền khắp cơ thể tôi. Từng đám hơi rất nóng bao quanh khiến tôi phải nhắm mắt. Một luồng nhiệt khí dâng lên cuống họng làm tôi ngộp thở. Thêm một lúc nữa, chắc tôi chết ngạt mất. May! Qua được một chuyến. Tôi không còn đủ can đảm tiếp tục cuộc thử thách một lần nữa và tôi rời xa chỗ dự lễ. Sờ thử gan bàn chân, tôi rất ngạc nhiên nhận thấy vẫn mát như thường.
 
Sau đó và cho tới nay, đã nhiều lần tôi tự hỏi không hiểu tại sao tôi có thể chịu đựng được cuộc "thử lửa" nguy hiểm như vậy mà không hề hấn gì. Phải chăng có mãnh lực huyền bí của thần linh hỗ trợ? Và tại sao cơ thể con người lại có thể chịu được sự thiêu đốt của lửa mà không cháy? Tôi không hiểu và chẳng bao giờ hiểu tại sao".
 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 5, ra ngày 12-9-1971)


Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

ĐỨNG NÚI NỌ, TRÔNG NÚI KIA - Văn Trung

 


Kít-Ty là một chú mèo con rất xinh đẹp và dễ thương. Nhưng chẳng ai biết đến chú vì chú có cái tật lúc nào cũng lo bắt chước những con vật khác và không bao giờ bằng lòng với những gì chú đang có.
 
Một hôm, thấy mấy chú heo con đang cụi đất, Kít-Ty cũng hì hục làm theo. Nhưng cụi mãi, chú chỉ thấy đau mũi mà thôi, chứ mặt đất chẳng bị hây hấn gì. Sau chú khám phá ra rằng mũi chú đâu có phải là mũi heo, và chú bỏ ra đi.
 
Khi thấy đàn gà vỗ cánh, chạy tung tăng trong sân, chú cũng làm theo. Nhưng chú chợt nhớ: "Mình làm gì có cánh mà vỗ!" Rồi thấy mấy chị gà mái kêu "cục ta cục tác", Kít-Ty cũng kêu theo. Nhưng thay vì "cục ta cục tác", chú lại kêu "meo meo" nghe thật tức cười.
 
Một bữa khác, có một đoàn xiệc tới trình diễn tại địa phương chú, chú liền bỏ nhà đi xem. Chú tới nơi nhốt mấy con vật của đoàn xiệc. Trước hết, chú lại coi bác sư tử. Quan sát một lát, Kít-Ty lẩm bẩm: "Bác sư tử này trông giống mèo ghê. Chỉ khác cái mình quá đồ sộ mà thôi. Ta có thể bắt chước được bác."
 
Con sư tử chẳng nói, chẳng rằng, chỉ thủng thẳng đi qua, đi lại trong chuồng. Kít-Ty liền làm theo. Chú cũng đi đi, lại lại ngoài cửa chuồng. Sau đó, chú nói: "Bắt chước thế này dễ quá!"
 
Kế đến, Lít-Ty lại gần một chuồng khỉ. Một con khỉ đang trèo lên, tụt xuống trong chuồng. Kít-Ty nhủ thầm: "Mình cũng biết trèo chứ bộ". Nói xong, chú bắt chước trèo theo. Điều này chú làm một cách dễ dàng. Khi thấy con khỉ dùng đuôi, đánh đu thật tài tình trên song sắt, Kít-Ty lại nói: "Mình cũng có đuôi chứ bộ! Đánh đu thế này dễ ợt."
 
Nói đoạn, Kít-Ty chống hai chân trước xuống đất, chổng mông lên trời, rồi dùng đuôi cuốn lấy thanh sắt, định đu như chú khỉ kia. Chợt chú kêu lên: "Lạ vậy cà?! Sao mình đu mãi không được?" Suy nghĩ một lát, Kít-Ty nhận ra rằng bắt chước như con khỉ không phải là dễ vì Kít-Ty đâu có cái đuôi dài, mềm mại như đuôi khỉ.
 
Kít-Ty bỏ đi, tới xem một con voi. Kít-Ty muốn diễn lại cử chỉ của bác voi lắm, nhưng Kít-Ty cũng sớm nhận ra chú đâu có cái vòi như bác voi mà làm.
 
Con vật sau cùng mà Kít-Ty gặp tại gánh xiệc là một anh hươu có cái cổ rất cao. Kít-Ty thích thú nói: "Ồ! Bác hươu có cái cổ ngộ quá! Ta phải làm cho cổ ta dài như thế mới được." Kít-Ty cố nghển cao đầu, nhưng cái cổ của chú nhất định không chịu dài ra theo ý muốn của chú. Tức quá, chú dùng hai chân trước, ôm chặt lấy đầu, kéo mạnh ra phía ngoài. Chú nghĩ làm như vậy, cổ chú ắt phải dài ra. Nhưng sự cố gắng của chú thật vô ích. Sau cùng, Kít-Ty đành chịu thua, bỏ không bắt chước hươu nữa.
 
Mệt quá, Kít-Ty ngồi thừ ra suy nghĩ: "Ta cứ tưởng bắt chước những con vật này không có gì là khó. Nào dè! Đi đứng như bác sư tử thì dễ thật, nhưng không tài nào đu được như anh khỉ, nhất là làm cho cái cổ dài ra như cổ bác hươu thì lại càng không thể được."
 
Kít-Ty bỏ về nhà và từ đó không bao giờ nghĩ tới việc bắt chước những con vật khác nữa. Bây giờ Kít-Ty đã biết "âu thường thủ phận", đã biết vui với chính mình, không bao giờ màng tới cảnh "đứng núi nọ, trông núi kia", làm những điều lố bịch như từ trước tới nay nữa.
 
 
VĂN TRUNG         
(Theo Down Our Way)  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 128, ra ngày 1-9-1974)


Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

XIN LẠI LÀM CON CỦA MẸ - Trần thị Phương Lan

 

Khi chưa đến tuổi hiểu biết, tôi thường hay thầm giận má tôi, vì nghĩ má không thương tôi, hay chính xác hơn, không thương tôi nhiều như tôi muốn.
Mục đích tôi viết tùy bút này nhân dịp Vu Lan năm nay, là thử phân tích xem điều tôi nghi ngờ có đúng hay chăng.
1. Ưu tiên 1 của má tôi chính là ba tôi. Bằng chứng ư? Chính má tôi đã xác nhận trong một lần trò chuyện với tôi, rằng... Con có cả bầy, nhưng chồng chỉ có mỗi một, nên thương chồng nhứt là lẽ đương nhiên.
2. Má tôi theo xưa, trọng nam khinh nữ. Má tôi chuộng con trai hơn con gái. Sau này má tôi cũng (một cách kín đáo, khéo léo) thích cháu trai hơn cháu gái. (Dĩ nhiên tôi mà đã phát ngôn thì....luôn luôn... nói có sách mách có chứng).
3. Má tôi thích người đẹp trai. Bằng chứng hùng hồn là má lấy ba. Chồng cũng thế, mà con trai cũng vậy. Vì vậy con trai nào đẹp thì được má tôi thiên vị hơn những anh kém sắc!
4. Ngoài việc phải quán xuyến gia đình và công ăn chuyện làm ra, má tôi vẫn còn phải lo "đối ngoại". Má tôi phải đối nhân xử thế với họ hàng hai bên nội ngoại, hàng xóm láng giềng, bạn bè (phần lớn là của ba tôi), khách khứa, việc chùa chiền... sao cho trong ấm ngoài êm, không bị làng nước chê cười.
Tôi chỉ nghĩ được đến vậy, nhưng thử hỏi các bạn chứ, một thân má tôi bị chia năm xẻ bảy như thế, thì cái phần tình thương của má tôi dành cho tôi, sau những ưu tiên 1, 2, 3, 4... như kể trên thì khỏi nói chắc các bạn cũng đủ hiểu rồi!
Năm nay Vu Lan tôi không còn mẹ. Tôi sẽ tự cài lên áo mình một bông hồng trắng, và nhắn nhủ thầm với má tôi rằng: Nếu có kiếp sau, (cho dù có những lời tự sự trên) tôi vẫn xin một lần nữa lại được làm con của mẹ, một người mẹ nhân từ, phúc hậu nhứt mà tôi có may mắn được kề cận trong đời này.
 
Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

KÍNH VẠN HOA (KALEIDOSCOPE)

 Giới thiệu với các em một đồ chơi đẹp nhất thế giới : Kính vạn hoa.
 
 
Kính vạn hoa được sáng chế tại Anh Quốc vào thế kỷ 19 bởi ông David Beuster.
 
Vốn là người có học, hiểu biết rộng về văn minh Hy lạp, ông đã ghép ba tiếng:
 
Kalos = đẹp
eidos = hình ảnh
scopeo = tôi nhìn
 
thành tiếng Kaleidoscope (tôi nhìn những hình ảnh đẹp) để đặt tên cho chiếc kính do ông tạo ra.
 
Quả đúng như cái tên đẹp đẽ của nó, chiếc kính này là dụng cụ có thể cống hiến cho ta những hình ảnh lộng lẫy muôn màu không những để cho các em chơi mà còn để cho các họa sĩ, các nhà trang trí, các thợ thêu sử dụng để lấy hứng chọn màu sắc cũng như hình ảnh kiểu mẫu.
 
Kính vạn hoa gồm một ống hình trụ đáy là một miếng kính mờ bên trong có nhiều mảnh chai màu sắc khác nhau đặt giữa ba thanh kính nhỏ ghép thành khối ba góc. Hướng kính vạn hoa về phía có ánh sáng và nhìn vào trong kính qua một lỗ nhỏ ở đầu ống kính rồi xoay kính từ từ, chúng ta nhìn thấy một cảnh sắc hết sức huy hoàng dần dà thay đổi : Các mảnh chai nhiều màu phản chiếu vào gương thảnh nhiều hình. Khi các mảnh gương bị đảo lộn do tay cầm kính xoay ống kính, thì hình ảnh và màu sắc đổi khác.
 
Các em hãy theo dõi và tự thực hiện cho mình một chiếc kính vạn hoa để dòm chơi cho sướng con mắt.
 
Cách thực hiện : rất dễ. Các em hãy theo sự chỉ dẫn sau đây:
 
 
1) Tìm vật liệu cần thiết gồm : 
 
- Một ống tròn bằng cạc tông khá lớn (H1)
 
- Ba thanh kính như nhau và ngắn hơn chiều dài ống cạc tông độ hai phân (H 1)
 
- Một mặt kính tròn to bằng lòng ống cạc tông (đút lọt vào trong được) và trong suốt (H 1) 
 
- Một mặt kính tròn to bằng miệng ống cạc tông (không đút lọt vào trong được) và trong suốt (H 1)
 
- Một mặt kính tròn cũng to bằng miệng ống cạc tông (cũng không đút lọt vào trong được) nhưng mờ (H 1) 
 
- Các mẩu chai nhiều màu hoặc các mẩu vật liệu nhiều màu khác như đá, sứ, sành, giấy cứng màu. (H 2)
 
- Băng keo để dán.
 
2) Chế tạo bằng cách : 
 
- Ghép ba thanh kính thành khối ba góc (H 2)
 
- Đút khồi này vào ống cạc tông dựng đứng (H 3)
 
- Đút mặt kính nhỏ nhất vào lòng ống cạc tông chận trên đầu khối ba góc (H 4)
 
- Bỏ các mẩu chai... lên mặt kính (H 4)
 
- Dùng mặt kính to mờ đậy lên miệng ống (H 4) 
 
- Dùng băng keo dán chặt lại (H 4)
 
- Hơi nghiêng ống cạc tông, cho tay lòn xuống mặt dưới giữ cho khối ba góc khỏi tụt ra khỏi ống cạc tông và lật ngược ống cạc tông lại.
 
- Dùng mặt kính to trong suốt còn lại bịt miệng ống cạc tông (H 5)
 
- Ghép thêm lên mặt kính một miếng giấy cứng có đục lỗ ở giữa (H 5)
 
- Dùng băng keo dán chắc lại (H 5).
 
Thế là xong.
 
Bây giờ chỉ cần đặt mắt sau lỗ nhỏ và hướng ống kính về phía có ánh sáng các em sẽ thấy hình ảnh và màu sắc tuyệt vời (H 6). Nếu quay ống kính nhè nhẹ, các mẩu chai... bị xáo trộn sẽ cho các hình ảnh và màu sắc khác nhau (H 6)
 
Vô số các hình cân xứng qua tâm kính vạn hoa (H 6) có được là do sự phản chiếu ánh sáng màu của các mẩu chai... lên ba tấm gương nhỏ được ghép thành khối trụ ba góc.
 
Mỗi một mẩu chai cho một hình trong mỗi gương. Các hình này lại cho các hình trong mỗi gương khác.
 
Số hình tăng lần khi các góc do các tấm gương hợp thành nhỏ dần.
 
Nếu góc 120° thì có 360/120 = 3 hình ảnh.
 
Nếu góc 90° thì có 360/90 = 4 hình ảnh.

Tuy nhiên vì có 2 hình lồng nhau nên thật ra chỉ còn 360/90 - 1 = 4 - 1 = 3 hình ảnh.
 
Do đó khi góc gương của kính vạn hoa là 60 thì hình ảnh là 360/60 - 1 = 5.
 
Tính luôn cả mẩu chai thì có tất cả  6 hình đối chiếu qua tâm (do 1 mẩu chai mà có) (H 6) 
 
 
 (Trích tuần báo Thiếu Nhi số 4, ra ngày 5-9-1971)


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

NIÊN HỌC MỚI - Nhã Uyên

 

Xong ba tháng hết nghỉ hè nhập học
Hạ qua đi để sửa soạn mùa thu
Buổi sớm mai trời man mát sương mù
Em đi học, chim đón mừng ca hát

Hai bên đường rợp bóng me che mát
Gió nhẹ trêu làm má đỏ hây hây
Tay nắm chặt cho chiếc nón đừng bay
Theo cánh bướm châp chờn trên hoa nở

Và đều đặn em nghe từng nhịp thở
Và nhịp tim và nhịp guốc khua vang
Đến trường rồi em ngoan ngoãn xếp hàng 
Hát quốc ca bắt đầu niên học mới

Em biết hạ ra đi cho thu tới
Ơi thời gian mười mấy tuổi ngọc ngà
Ngày tháng qua cho năm cũ rời xa
Em là hoa nở trên cành xuân sắc 

Quần áo mới, mẹ sắm cho em mặc
Guốc đã cũ mua guốc mới em mang
Em xoã tóc hay thích kẹp nơ vàng
Em mới lớn còn đơn sơ giản dị

Buổi học đầu em hết cơn mộng mị
Lời thầy cô văng vẳng ở bên tai
Chăm học đi luôn cố gắng đường dài
Em mơ ước đến tương lai chưa biết

Như kinh cầu, em nhủ thầm tha thiết
Chớ lãng quên hay chia trí tâm thần
Biết tập trung tư tưởng để quen lần
Những mới lạ trong chương trình niên học.

                                                            Nhã Uyên