Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

TRƯƠNG HÁN SIÊU - Đặng Hoàng

 


Trương Hán Siêu, tự là Thăng Phủ, hiệu Đôn Tẩu, người xã Phúc Thành (tức xã Phúc Am ngày nay), huyện Yên Minh (sau đổi là Yên Khánh), tỉnh Ninh Bình (Bắc phần).
 
Nhờ quen biết và năng đi lại giao thiệp với Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nên Trương Hán Siêu được tiến cử lên vua Trần Anh Tông (1293-1318) với chức Hàn lâm học sĩ cùng thời với tướng quân Phạm Ngũ Lão.
 
Vốn tài giỏi, khôn ngoan, khéo léo, Trương Hán Siêu hết lòng phục vụ cho quốc gia, dân tộc qua nhiều đời vua với các chức : Hàn lâm học sĩ (Trần Anh Tông), Hành Khiển (Trần Minh Tông 1314-1329), Môn hạ hữu tự lang trung (Trần Hiến Tông 1329-1341). Đời vua Trần Dụ Tông (1341-1369) Trương Hán Siêu cùng với Nguyễn Trung Ngạn soạn chung cuốn "Quốc triều dại điển" và phiên dịch "Huấn thư". Năm 1342, ông thăng Tả tư lang trung kiêm Lạng Sơn kinh lược sứ. Ba năm sau (1345) Trương Hán Siêu được cất lên chức Tả gián nghị đại phu, và tới năm 1351 trở thành Tham tư chính sứ.
 
Chúng ta đã biết, năm 1306 vua Trần Anh Tông gả em gái là Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân, vua Chiêm Thành và nhận hai Châu Ô, Châu Rí do Chế Mân dâng làm lễ cưới. (Hai châu này được đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu).
 
Dù Chế Mân dâng tặng đất, người Chiêm luôn luôn tìm cách gây hấn với nước ta để đòi lại và trả thù việc vua Anh Tông thân chinh cùng Trần Quốc Chấn và Trần Khánh Dư sang đánh Chiêm Thành năm Tân Hợi (1311) bắt vua nước này là Chế Chí đem về Thăng Long giam giữ cho tới khi chết. Cuộc xung đột kéo dài mãi tới đời Trần Dụ Tông lúc nhà Trần bắt đầu suy vi, người Chiêm đánh phá Hóa Châu. Vâng lệnh vua, Trương Hán Siêu lĩnh chức "Quân thần sách" đưa quân vào đối phó. Tuy là quan văn, ông cũng nhận trọng trách "Tiểu phủ sứ" rồi khôn khéo dùng mưu lược đánh tan quân Chiêm Thành, dù thời gian này ông gặp nhiều điều không ưng ý.
 
Năm 1354, niên hiệu Thiệu Phong thứ 14 đời vua Dụ Tông, Trương Hán Siêu lấy cớ đã có tuổi, sức yếu, hay đau ốm luôn nên dâng biểu về kinh sư xin từ quan để về làng dưỡng bệnh. Được triều đình chấp thuận, Trương Hán Siêu lên đường nhưng chưa tới nơi đã mất. Vua Dụ Tông thương tiếc vô cùng, ngài ban tặng ông chức Thái phó.
 
Trương Hán Siêu là người cốt ngạch văn chương, chính sự kiêm ưu khiến các vua tin dùng và kính trọng đến nỗi kêu là "thày" chứ không dám gọi tên.
 
Trương Hán Siêu là tác giả bài phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang phú) để tưởng nhớ chiến công hiển hách của tiền nhân, bài ký Tháp Linh tế (Linh tế tháp) và bia văn chùa Quang Nghiêm (Quang Nghiêm tự bi văn). 
 
 
ĐẶNG HOÀNG (sao lục)    
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 101, ra ngày 3-8-1973)


Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

DẾ HANG RẮN... - T.Đ Tuấn Đoàn

 


Nắng trưa hè thật gay gắt, oi ả. Những tia nắng hực nóng làm đảo lộn mọi vật. Trung nhìn vật gì cũng thấy lờ mờ như có hai ba hình. Sân đất như bốc hơi hết cả. Từng kẽ nứt lộ dần ra. To, nhỏ, chằng chịt lên nhau như màng nhện... Trung che miệng ngáp uể oải. Mí mắt như nặng trĩu, mỏi mệt. Tứ chi rã rời, chán nản. Trung muốn ngủ một giấc thật dài. Đã mệt. Tỉnh táo. Trung gục xuống mặt bàn, hồn thả theo mây gió lang thang...
 
- Trung ơi! Đi bắt dế không?
 
Trung nhỏm dậy như lò xo. Sinh lực đã trổ lại. Mí mắt được gỡ chì. Tứ chi hết uể oải, chúng muốn hoạt động thật hăng, đi bắt dế là thú rồi! Trung nhìn quanh, anh nó đang ở dưới bếp nấu cơm. Chắc không ai biết, Trung lách vội ra cửa.
 
- Đi bắt dế không?
 
Trung đưa ngón trỏ lên miệng ra dấu yên lặng.
 
- Đi chứ! Nói bé thôi không anh tao nghe được là hết đi.
 
Hai thằng sánh bước dưới cơn nắng trưa hè. Bóng chúng cụt ngủn, không ra hình và uể oải làm sao ấy. Trung hỏi bạn:
 
- Bắt ở đâu mày?
 
Nhã trả lời:
 
- Ngoài đồng chứ còn ở đâu.
 
- Nhưng đồng nào?
 
- Đồng ông Tiếu.
 
Trung lè lưỡi:
 
- Eo ôi! Đồng ông Tiếu nhiều rắn lắm mày ơi!
 
Nhã nói, giọng khiêu khích, liều lĩnh:
 
- Mày dám đi không? Dế hang rắn đá cừ lắm.
 
Trung suy nghĩ, sợ thì sợ thật, nhưng cũng bõ công. Dế hang rắn xưa nay vẫn mang tiếng là lì, càng be và đá hăng. Nghĩ đến chú dế vô địch trong tay mình... Trung quên hết sợ, nó bảo bạn:
 
- Đi liền sợ gì.
 
Dưới cơn nắng cháy da, Trung lầm lũi đào bới. Nó chưa bắt được con nào cả trừ mấy chú dế chó hoặc dế mái. Thằng Nhã bắt được một con rồi. To và oai hùng lắm. Mồ hôi Trung nhỏ giọt xuống đất. Mắt nó hoa lên, như quay cuồng. Óc ham thích của nó đã thắng. Trung tỉnh táo lạ lùng... Hết sẩy rồi! Một chú dế lửa đang nằm gọn trong hang, hang to bằng bàn tay nó. Trung mừng quá, nó nhìn con mồi không chớp mắt. Con dế mới đẹp làm sao! Người nó rực như ánh nắng trưa hè. Đôi râu dài và đều đặn ngo ngoe đằng mặt. Cái đầu to và thân hình cân đối. Đôi càng rắn chắc và đẹp mắt. Đúng là dế hàng vương bá đây. Trung thò tay xuống chụp gọn... Miệng nó gọi to:
 
- Nhã ơi! Tao bắt được con dế hang rắn rồi.
 
Thằng Nhã chạy lại, luôn mồm hỏi:
 
- Đâu? Đâu?
 
Trung reo to:
 
- Đúng dế hang rắn rồi.
 
*
 
Quyền buồn bã nhìn em. Tội nghiệp thằng bé, suốt buổi trưa ngoài đồng mà không bắt được con dế nào. Tấm thân nhỏ, gầy yếu không đủ sức chống lại cái nắng chang chang của buổi trưa hè. Trung ốm, nó sốt liên miên. Mê sảng và luôn mồm nói đến dế. Dế than, dế lửa rồi dế hang rắn. Thằng bé chỉ muốn có dế để chơi. Quyền buồn bã lắc đầu, nó quay lại em. Trán thằng bé lấm tấm những giọt mồ hôi mê sảng. Gương mặt nó lúc ngủ mới dễ yêu làm sao. Cái trán nhô nhô với đôi má bầu bĩnh. Quyền tưởng chừng em nó là con búp bê bày tủ kính ngoài chợ.
 
- Dế hang rắn của tao chì quá.
 
Quyền cau mày lại. Sao thằng bé mê sảng toàn là dế thôi! Quyền thương em lắm, nhưng nó không biết phải làm sao bây giờ. Quyền nhìn cái ti vi bằng nhựa trong tay em nó mà nghĩ vẩn vơ. Cái ti vi này sáng nay nó được giáo sư thưởng vì bài luận của nó hay nhất lớp. Quyền cho em, nhưng thằng Trung có vẻ khoái dế hơn. Nó tỏ vẻ hững hờ sau vài phút ham thích. Quyền nghĩ đến thằng Tiến. Thằng Tiến đã nằng nặc xin nó đổi cái ti vi để lấy mấy con dế. Quyền không chịu, nhưng bây giờ nó nghĩ khác. Dế! Ừ! Dế! Quyền lấy cái ti vi trong tay em nó rồi chạy vù qua nhà thằng Tiến. Nắng buổi trưa hè làm Quyền chóa mắt, nó chạy mau hơn...
 
- Tiến ơi! Ra tao nói cái này!
 
Tiến gầy từ trong nhà chạy ra, tay bê bát cơm rang. Mồm đầy cơm nó hỏi:
 
- Cái gì?
 
Quyền rụt rè đưa cái ti vi ra. Nó nói nhỏ:
 
- Mày đổ cho tao mấy con dế.
 
Tiến gầy nuốt hết cơm hỏi dồn:
 
- Thật hả?
 
- Ừ!
 
- Mày đợi tao tí nhé.
 
Tiến hí hửng chạy vào nhà. Quyền ủ rũ đứng dưới cơn nắng trưa hè tháng sáu. Tay mân mê giải thưởng mà nó đoạt được. Nó vặn cho hình ảnh chạy mau trên khung nhựa như còn luyến tiếc vật mà mình đã đoạt được. Quyền thấy tiếc rẻ, nhưng nó thương em hơn cái ti vi nhựa. Quyền nắm chặt tay lại.
 
- Đây mày chọn đi.
 
Con nhà Tiến đã ra, nó thay bát cơm bằng cái hộp giấy vuông. Nó mở nắp hộp ra, hơn chục con dế bị giam lỏng trong đấy. Quyền trố mắt, nó không biết chọn con nào bây giờ. Thằng Tiến dục nó:
 
- Tao đổi cho mày 5 con đấy.
 
Những 5 con! Nó không biết chọn con nào bây giờ. Biết em nó thích con nào. Quyền hỏi:
 
- Mày có dế hang rắn không?
 
- Có chứ! Ba con lận.
 
- Mày bắt cho tao ba con dế hang rắn đi.
 
- Dữ vậy mày! Dế hang rắn đá gồ lắm!
 
- Tao chỉ lấy ba con thôi!
 
- Thật không?
 
- Thật!
 
- Vậy để tao bắt cho.
 
Quyền nhìn thằng Tiến, tay nó thoăn thoắt như người lành nghề. Quyền cầm hộp dế trong tay, lòng nó muốn nhảy theo tiếng gáy của ba con dế hang rắn. Quyền chạy bay về nhà... Nó đặt hộp dế ngay cạnh em nó, thằng bé đang ngủ say, chắc giấc ngủ mê sảng. Quyền múc cháo ra tô bưng lên... Nó lay em dậy:
 
- Trung! Dậy ăn cháo.
 
Thằng Trung mở mắt ra, nó nhìn tô cháo muốn lắc đầu... Không, rõ ràng có tiếng dế gáy. Không lầm được. Trung ngồi dậy. Tiếng gáy sát bên nó. Trung quay lại, vồ lấy hộp giấy mở ra xem. Đúng rồi! Dế hang rắn. Không phải một mà những ba con. Trung mừng quá, nó vội vàng ăn cháo lấy sức. Quyền nhìn em, lòng rộn rã niềm vui. Ngoài kia, trời còn nắng chang chang, nhưng nó không cảm thấy nóng. Tiếng dế gay như chung mừng với nỗi vui của nó...
 
 
T. Đ Tuấn Đoàn       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 50, ra ngày 6-8-1972)

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

BÓNG PHƯỢNG HỒNG - Thơ Thơ

  
 
Ngày phượng nở: Vào hè
Trường nức nở tiếng ve
Cánh cổng già khép lại 
Đón mùa hoa phượng về

Rồi trong nắng chói chang 
Lũ ve sầu râm ran 
Bầy chim ríu rít hót
Mừng gió hạ dịu dàng 

Em ngoái lại giảng đường 
Tà áo trắng vấn vương 
Chẳng còn bay trong gió
Lưu luyến niềm yêu thương 

Rồi tháng tám về đây
Phượng rầu rĩ khóm cây
Từng cánh buồn rơi rụng 
Làn gió chiều bay bay

Một ngày qua kẽ lá
Chẳng còn bóng phượng hồng
Mùa hè nay xa quá
Cho ngấn lệ rưng rưng 

                            THƠ THƠ 
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

CON BỌ GẠO - Đặng Hoàng

 


Từ muôn đời, vấn đề lúa gạo vẫn là mối băn khoăn lo lắng của loài người, vì loại nhu yếu phẩm này không thể thiếu hụt trầm trọng giữa lúc dân số ngày một gia tăng đông đảo khiến cuộc sống trở nên cam go, vất vả. Gặp những năm thiên tai như lụt lội, hạn hán thì không nói, bình thường lúc gạo thu hoạch đủ để phân phối đồng đều đi khắp nơi theo nhu cầu đã là điều may mắn, nhưng nếu công việc tiếp tế ấy được duy trì liên tục, nghĩa là số lượng sản xuất luôn luôn dư dả lại càng quý hơn. Do đó, phần dự trữ trong các kho hàng rất quan trọng. Tất cả phải được giữ gìn cẩn thận để chẳng những đề phòng kẻ phá hoại và ngăn ngừa thú vật đục khoét mà còn lưu tâm tới bọ gạo vẫn thường làm hư hỏng một số lượng đáng ngại.
 
Là một trong trăm ngàn thứ sâu chuyện hủy hoại hoa quả và các loại hạt giống nông nghiệp Curculiomidae, bọ gạo mang tên khoa học Sitophilus Oryza mà có lẽ các bạn đã từng thấy mỗi khi mẹ âu yếm gọi lại rồi đưa cho rá gạo và nhờ: "nhặt trấu, sạn hộ mẹ đi con, chóng ngoan" chẳng hạn.
 
Với loại gạo mới (thứ gạo mới xay, giã dưới sáu tháng thì chưa chắc gì bọ gạo có dịp tấn công, nhưng nếu đã từng "nằm" trong kho cả năm trời mới đáng ngại, vì chắc chắn với thời gian lâu như vậy số gạo sẽ bị chúng kéo tới mặc sức tung hoành.
 
Lẫn trong những hạt gạo trắng ngà, thỉnh thoảng lại có dăm bẩy con vật nhỏ bé - chỉ dài chừng hai hay ba, bốn ly là cùng - màu đen đẹn hoặc nâu nâu đang hốt hoảng chui chui, rúc rúc để lẩn trốn, và cũng có thể đi tìm những "búi" gạo do các sợi tơ trắng kết lại thành màng dính chặt bao bọc bên trong một con sâu. Đấy là bọ gạo và ấu trùng đấy.
 
Bạn có tin rằng chúng dư khả năng khoét thủng từng hạt gạo cứng lại lớn gấp đôi thân xác mình hầu lấy chỗ nương náu hay đẻ trứng sau khi đã no đủ thường xuyên không? Đối với chúng, chuyện đó chẳng khó khăn chút nào, bởi lẽ phương cách sinh sống của loài này là như vậy và chỉ có vậy mà thôi. Tùy từng loại, bọ gạo gặm hoặc đục hạt gạo để ăn, đồng thời tạo thành những lỗ tròn tròn xinh xinh đủ làm chỗ "chui ra chui vào".
 
Loại bọ gạo năng gặp nhất mang màu đen hoặc nâu sậm với chiếc mõm nhọn, nhỏ, ngắn (ở con đực) hay dài (ở con cái) bằng một phần năm thân xác. Mõm này hơi cong cong khoằm xuống giữa hai sợi râu nhô ngang rồi gãy góc hình thước thợ mọc chĩa về đắng trước. Râu đó cụt lủn ở ngang mõm nhưng chứa hai mấu to giúp chúng thăm dò "đường đi nước bước" cũng như tìm mồi. Ngay sau chiếc mõm là đầu bé cỏn con mang đôi mắt tí tẹo, thế mà từ cổ trở xuống cho tới lưng và bụng lại to chình ình. Vốn được xếp vào loại xén tóc, bọ gạo cũng có hai lớp cánh. Lớp ngoài nhẵn, cứng dùng che cở cho lớp cánh mỏng bên trong. Chính lớp cánh mỏng này mới cho phép chúng bay dễ dàng, trong khi lớp cánh ngoài chỉ xòe ra giữ thăng bằng chứ không hoạt động. Mỗi khi đậu xuống nơi nào xong, các cánh liền khép kín lại trên lưng ngay, bọ gạo dùng sáu chân ngắn bò đi kiếm mồi. Chúng di chuyển thật nhanh.
 
Thường thường con đực đứng  canh cho con cái đẻ trứng vào lỗ hổng trên hạt gạo. Chừng vài tuần sau, trứng nở thành sâu màu vàng tức ấu trùng. Chúng sống giữa những hạt gạo dính chùm chung quanh do chúng tự tiết ra một loại tơ trắng đục kết lại thành từng mảng. Phải chờ một thời gian sau nữa, ấu trùng mới trưởng thành rồi bò đi sinh sống và gieo giống như cha mẹ chúng.
 
Ngoài loại đó ra, chúng ta còn gặp bọ gạo màu nâu nhạt hoặc sậm hơn mà nhác trông hơi giống con bổ gỗ. Khác với loại trên, bọ gạo này không có mõm dài, đã vậy râu lại ngắn và mọc thành vòng cung hướng về trước. Đầu nhỏ chứa cơ quan gặm nhấm ; chúng còn khác ở chỗ ức ngắn nhưng lưng dài ngang cặp cánh cứng y hệt loài trên và bò thật nhanh cũng như bay lượn dễ dàng.
 
Về cách sinh sản cùng thơi gian biến thể từ trứng ấu trùng trước khi trưởng thành, cả hai loại giống hệt nhau.
 
Theo bảng thống kê thì mỗi năm bọ gạo vẫn phá hoại trung bình hàng trăm tấn các loại ngũ cốc, nhất là lúa mì, gạo trong các kho hàng trên thế giới - một con số tuy nhỏ nhưng cũng đủ dành cứu thoát bao mạng người. Để diệt trừ chúng, các khoa học gia tìm cách làm cho chúng lây bệnh "nan y" nghĩa là họ nuôi rất nhiều bọ gạo trong những hộp chứa thuốc diệt côn trùng với liều nhẹ, sau đó đem thả tất cả sống lẫn lộn cùng những con khác. Với cách đó, sự thiệt hại do loài này gây ra giảm đi rất nhiều.
 
Ngoài ngũ cốc, bọ gạo còn làm hư hỏng cây cối, hoa quả, nhà cửa v.v... nên chúng bị liệt vào loại có hại cần tận diệt.
 
 
ĐẶNG HOÀNG      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 127, ra ngày 1-8-1974)


Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

HOA TRẮNG CÒN CÀI... - Trần Miên Trường

 
 
Hoa trắng nở em cài lên mái tóc
Chim trên cành hót sớm giọng bình yên
Hồn mở rộng đón mây trời bích ngọc
Em tung tăng bước nhỏ thật ngoan hiền
 
Hoa trắng nở em cài lên áo trắng
Gió ở mô mà những sớm đến trường
Làm phiến lá rơi buồn con lộ nắng
Biết làm răng cho lá khỏi se hường
 
Trường em đó - Cây hiền sai trái ngọt
Chim mười phương về mở hội một phương
Trên cành liễu lời vàng ca thánh thót
Em nghe thương tuổi ngọc mộng bình thường
 
Tuổi thơ em mang niềm tin trong mắt
Dù thời gian làm úa vỡ dung nhan
Em vẫn xin tuổi trẻ mãi không tàn
Để hoa trắng còn cài lên áo trắng.
 
                                      Trần Miên Trường
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 111, ra ngày 1-8-1969)



Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

CHUYỆN MẤY CHÚ KHUYỂN - Văn Trung

 


Trời sinh ra giống chó là con vật biết hy sinh hớn tất cả các loài có vú khác, trừ loài người. Nhưng nhiều khi lòng hy sinh của con người lại do luật lệ ràng buộc, do những tấm gương sáng thúc đẩy, và thường khi do lợi lộc hay danh vọng chi phối. Riêng đối với mấy chú khuyển, sự hy sinh đến bỏ mình vì người khác của mấy chú không hề dính dáng tới những điều trên. Biết bao câu chuyện đã nói lên được lòng quả cảm bộc phát rất tự nhiên và đáng khâm phục của mấy chú.
 
 
Vì nghĩa quên thù
 
Ma-la-cốp là một chú chó rất lớn thuộc giống Đất Mới. Chú giữ nhiệm vụ canh gác một hiệu kim hoàn ở Ba-lê. Bọn thợ trong tiệm rất ghét chú vì chú thường theo dõi bén gót họ. Do đó, bọn thợ có ý hãm hại chú. Một hôm, một trong những người thợ trong tiệm tên là Giắc, dụ được Ma-la-cốp tới bờ một bến tàu, nằm bên dòng sông Sen. Anh này lấy nột sợi dây thừng, tròng một đầu vào cổ con vật, còn đầu kia cột chặt vào một tảng đá. Sau đó, anh ta xô con vật xuống sông. Nhưng chẳng may sợi dây lại mắc phải chân Giắc. Nên khi Ma-la-cốp té xuống, nó kéo luôn cả Giắc xuống theo. Trong khi đó, Giắc lại không biết bơi.
 
Ma-la-cốp ngoi được ngay lên trên trên mặt nước và bơi rất mạnh vào bờ, kéo theo cả tảng đá tuy nặng, nhưng không đủ sức dìm Ma-la-cốp xuống đáy sông. Ma-la-cốp nhận ra người thanh niên có dã tâm giăng bẫy giết mình. Giắc đang vùng vẫy và bắt đầu chìm. Không chần chờ, Ma-la-cốp phóng mình về phía trước cùng với hòn đá to lớn. Chú dùng mõm giữ lấy cổ Giắc để nâng cho cái đầu anh khỏi chìm xuống nước. Nếu chỉ có một mình thì dù hòn đá có nặng đi chăng nữa, Ma-la-cốp vẫn bơi được vào bờ một cách dễ dàng. Đằng này lại kéo thêm cả Giắc nên Ma-la-cốp khó vượt qua được sức gió và dòng nước ngược chiều.
 
Như thế, một là chết hết với nhau ở dưới sông, hai là để tự bảo vệ mạng sống, Ma-la-cốp chắc phải bỏ rơi con người độc ác đã muốn loại trừ chú. Nhưng không! Con vật dũng mãnh đã thắng lướt tất cả. Ma-la-cốp cố giữ cho cái đầu của địch thủ ngoi lên trên mặt nước cho tới khi có một khách bộ hành đi ngang qua. Người này đã cứu được cả hai.
 
Sau đó, Giắc vừa khóc vì cảm động, vừa kể lại đầu đuôi câu chuyện cho mọi người nghe. Từ đấy, Ma-la-cốp nổi tiếng khắp Ba-lê và được dân chúng mến thương. Đến khi Ma-la-cốp chết, rất đông thợ thuyền tiễn đưa chú tới nơi an nghỉ cuối cùng.
 
 
Những con chó khôn
 
Vào một đêm nọ, khi mọi người đang yên giấc, bỗng chị chó Đa-la hốt hoảng chạy ngược, chạy xuôi. Chị sủa ầm ĩ cả lên. Rồi chị nhẩy lên giường, lôi kéo chủ thức dậy, vì chị thấy lửa đã bắt đầu cháy ở trong nhà. Đến khi thấy ba đứa trẻ con của chủ đã được lính cứu hỏa đưa ra ngoài phố an toàn, Đa-la mới chạy về phía chuồng tìm kiếm lũ con mới sinh cách đó mấy ngày.
 
Nhiều con chó đã được dạy như những người lính canh đáng tin cậy. Chúng có đôi mắt rất tinh và chiếc mũi rất thính. Mỗi khi phát giác ra đám cháy, chúng biết sủa và đánh thức mọi người dậy. Đứng trước ngọn lửa đang hoành hành dữ dội, chúng tỏ ra sợ hãi lắm. Tuy nhiên, nhiều khi chúng biết hy sinh, tự động nhảy vào chỗ nguy hiểm để cứu mạng người, chẳng kể đến thân phận mình. Chính những lúc đó, người ta mới thấy nổi bật hẳn lên cái đặc tính quả cảm của dòng họ nhà khuyển. Chẳng hạn như trường hợp con Zi-dơ dưới đây.
 
Khi thấy nhà đang đêm bỗng bắt lửa, Zi-dơ đánh thức chủ dậy. Hai vợ chồng người chủ kịp chạy ra ngoài với đứa con thơ. Bà hàng xóm thấy vậy, lấy khăn bọc lấy đứa bé, rồi bồng về nhà bà ta. Sau đó, một người bà con của đứa bé chạy tới, hốt hoảng vì không thấy đứa bé đâu. Người này tưởng cháu mình con nằm ở trong nôi, mới vội chỉ tay vào ngôi nhà đang tràn ngập lửa đỏ, nói với Zi-dơ: "Zi-dơ! Vào nhà tìm bé đi! Mau!"
 
Zi-dơ vốn rất sợ lửa, nhưng nó hiểu đây là lời cầu cứu khẩn cấp, nên nó vâng lời ngay. Sau khi sủa to lên một tiếng, Zi-dơ phóng mình vào căn nhà đổ nát đầy khói lửa và rồi chịu chết ở trong đó. 
 
 
Lại một hành động dũng cảm
 
Tại một tiểu bang ở Ô-rê-gông, người ta đã dựng lên một tấm bia bằng cẩm thạch để tưởng nhớ đến Sép, một chú chó thuộc giống rất lớn, cũng bỏ mình trong đám cháy vì cử chỉ kiêu hùng của chú.
 
Mân, chủ của Sép đang làm việc ngoài đồng cùng với vợ. Hai người để đứa con nhỏ là Ly-ly ngủ trong một căn nhà gần đó. Bỗng Sép đánh hơi thấy mùi khen khét và nghe thấy tiếng nổ lách tách. Sép sủa vang mấy tiếng. Mân ngẩng lên, thấy nhà mình bị cháy. Hai vợ chồng vội chạy về. nhưng vì vướng phải nhiều bụi rậm và mô đất, nên khi về tới nhà, họ đã thấy cửa mở tung. Khói ở trong đang cuồn cuộn bốc ra bao bọc lấy họ. Mân nói với con chó đang run lên vì sợ: "Sép! Đi tìm Ly-ly mau!". Con chó quên cả sợ hãi. Nó lao mình như mũi tên vào màn khói lửa. Một phần mái nhà sập xuống ngay sau lưng Sép, làm gẫy vụn chiếc cửa ra vào. Lòng can đảm đã khiến Sép bình tĩnh lại. Sép tới được chỗ để cái nôi rồi tha bé gái tới một cái cửa sổ xa chỗ cháy nhất. Mân ngả người vào phía trong, đỡ lấy con.
 
Như vậy là Sép đã thi hành xong phận sự. Bây giờ nó có quyền phóng ra phía ngoài để lo an ninh cho chính nó. Sép nhảy qua cửa sổ. Nhưng trễ quá rồi! Bộ lông của Sép đã bị cháy hết và toàn thân đã phỏng nặng. Sép khụy dưới chân chủ và thở hơi cuối cùng.
 
Trước cái chết  dũng cảm của Sép, Hen-ri Đa-ni-en, chủ tịch Hội Bác Ái Ô-rê-gông tuyên bố: "Hành động phi thường của Sép đáng được con người ghi nhớ!"
 
 
Nhanh trí cứu chủ
 
Bo-bo cũng là một chú chó lớn. Chủ của chú là một tiều phu người Gia-nã-đại, tên Andre Minette (Ăng-đơ-rê Mi-nét). Nơi ở của Andre Minette nằm ở trong một khu rừng thưa, gần thác Sequin (Sơ-canh). Ông ở đây với vợ và đứa con trai nhỏ tên Giăng.
 
Một hôm, bé Giăng được cha đặt trong một chiếc xe hơi đậu bên lề một đồng cỏ, sát với khu rừng. Còn Andre Minette thì vào rừng làm việc cùng với Bo-bo. Thình lình Bo-bo chồm nhanh như tên bắn về phía bé Giăng. Người tiều phu thấy có ba con sói to lớn, màu xám ; tất cả đều gầy đét, đang xông về phía chiếc xe có bé Giăng nằm. Người tiều phu vì còn ở xa, nên không sao can thiệp kịp. Nhưng Bo-bo thì khác. Chú phóng mạnh về phía lũ sói để lo bảo vệ con của chủ. Bo-bo biết rằng một mình chú không thể chống lại ba kẻ thù hung bạo. Nhưng chú phải tìm cách cứu bé Giăng.
 
Thế rồi, thay vì tiến tới chỗ có chiếc xe hơi, Bo-bo lại dừng lại ở lưng chừng, ngay phía đằng sau lũ sói. Lũ sói xoay mình nửa vòng, chuẩn bị đương đầu với kẻ thù. Bo-bo nhảy dứ một cái để khiêu khích, cốt làm cho lũ sói quay hẳn mặt về phía Bo-bo mà quên cái đích chính là bé Giăng. Lũ sói mắt đỏ hoe vì tức giận, chúng vừa gầm gừ, vừa nhe những chiếc răng trắng hếu, dài và nhọn hoắt ra như muốn ăn sống, nuốt tươi kẻ địch. Chợt Bo-bo quay mình, cắm đầu chạy vào rừng. Cố nhiên lũ sói không chịu buông tha. Tất cả đều xông lên, đuổi bén gót Bo-bo.
 
Trong khi đó, Andre Minnette đã đủ thì giờ chạy tới chỗ bé Giăng đang ngủ. Vậy là bé Giăng thoát nạn.
 
Nhưng thay vào đó, Bo-bo đã bị đàn sói đuổi kịp và giết chết.
 
 
VĂN TRUNG       
(Phỏng theo Albert   
Payson Zerhunet)  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 100, ra ngày 29-7-1973)


Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2026

BONG BÓNG HAI ĐỒNG - Hoa Cỏ May

 

Em đòi mua bong bóng
Khi thấy người bán qua
Tay quơ quào muốn khóc
Làm ai cũng xót xa.
 
Bong bóng đẹp trăm màu
Nhưng hai đồng mắc lắm
Má buôn bán xa rồi
Tiền đâu mua với sắm?
 
Thôi em đừng khóc nữa
Trời đã đổ mưa hồng
Thấy không ngoài vũng nước
Bong bóng đang phập phồng.
 
Lời ca dao má dạy
Chập chững hát ru em
Gió đùa nghiêng võng lác
Mưa trăn trở giọt hiền.
 
Em ngủ rồi dễ dãi
Khát sữa nút tay không
Ngón hồng thôi quơ khóc
Ôi! Bong bóng hai đồng.
 
                         HOA CỎ MAY
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 111, ra ngày 1-8-1969)