Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

QUA MẮT NHÌN LOÀI ONG - Trần Ngọc Kính

 

Có lẽ ai trong chúng ta cũng muốn biết sinh vật đã nhìn ngắm cảnh vật thiên nhiên chung quanh chúng ta như thế nào, và chắc các bạn trẻ của Thiếu Nhi đã tưởng rằng thú vật cũng nhìn thấy cảnh tượng y như con người.
 
Thực tế không đúng như vậy, vì giác quan của chúng rất khác biệt với giác quan của con người, và đặc biệt là thị giác, người ta đã nghiên cứu nhiều nhất ở loài ong. Các công việc tìm tòi này được thực hiện bởi một giáo sư Đức, ông Von Frisch và một nhóm chuyên viên, nhờ đó mà ngày nay người ta đã tìm biết được những bí ẩn về thị giác của loài ong, những bí ẩn nầy y như một huyền thoại.
 
Cơ quan của thị giác là mắt. Mắt của loài ong khác hơn mắt của con người, mặt trên của mắt có nhiều mặt như thể mặt của một viên kim cương, và mắt của một con ong thợ có đến 6.300 mặt nhỏ như vậy.
 
Khi ong nhìn một vật, mỗi mặt nhỏ nầy sẽ cho một ảnh của vật đó, nghĩa là mỗi mắt của ong sẽ nhận được 6.300 ảnh. nhưng tại bộ phận ghi nhận hình ảnh của ong (giống như bộ óc của con người), 6.300 ảnh nầy sẽ hợp nhau lại để cuối cùng cho ra một ảnh duy nhất và ong chỉ còn thấy có 1 mà thôi. Như người ta có 2 mắt, mỗi mắt sẽ ghi nhận 1 hình ảnh của vật, vậy mà cuối cùng ta chỉ nhìn thấy có một ảnh duy nhất của vật, cho nên con người và loài ong chỉ giống nhau ở điểm đó.
 
Các nhà khoa học đã chụp ảnh cây cỏ hoa lá cành bằng những ống kính có nhiều mặt tương tự như mắt của loài ong, và những tấm ảnh nhận được đã xác nhận rõ ràng hình ảnh thiên nhiên qua mắt nhìn của loài ong.
 
Các bạn biết không, kết quả cho thấy mắt của loài ong đã mang các chứng bệnh loạn thị, loạn sắc và cận thị.
 
Những hình ảnh qua mắt nhìn của nó đều thay đổi hình dáng (loạn thị), thay đổi màu sắc (loạn sắc), nó lại phải đến gần các vật mới nhìn thấy được (cận thị). Khoảng cách thấy rõ của ong ngắn hơn của con người đến 10 lần (có nghĩa là phải tới gần 2,5cm ong mới nhìn thấy rõ).
 
Nó chẳng nhìn thấy được màu đỏ, nhưng bù lại nó có thể nhìn thấy được các tia tử ngoại là những tia mà mắt người không thấy được. Con người chỉ nhìn thấy được bảy màu chính là tím, chàm, xanh dương, lục, vàng, cam, đỏ và các màu do sự pha trộn 7 màu chính đó.
 
Tia tử ngoại là tia ở ngoài màu tím và tia hồng ngoại là tia ở ngoài màu đỏ là những tia mà mắt người không nhìn thấy, trong lúc loài ong nhận được tia tử ngoại dễ dàng.
 
Ngoài ra vì mắt của loài ong có độ cong không đều, nó nhìn thấy hình ảnh của vật như bị kéo dài ra theo chiều đứng. Một cái hoa hình tròn nó sẽ nhìn thấy thành hình bầu dục.
 
Và thời gian lưu giữ hình ảnh trong mắt của loài ong ngắn hơn thời gian lưu giữ hình ảnh ở mắt ta nhiều. Vì thời gian lưu giữ hình ảnh ở mắt ta lâu, nên khi xem chiếu phim, mắt ta sẽ thấy các hình ảnh như liên tục, cử động thật tự nhiên.
 
Nếu một chú ong được đưa đi xem ciné, nó nhìn thấy nhanh quá nên sẽ thấy từng tấm ảnh lần lượt hiện lên màn ảnh một cách chậm chạp (theo nó) và do đó có lẽ nó sẽ chán nản vì hình ảnh không còn liên tục nữa.
 
Các bóng đèn điện của ta cũng vậy, nó sẽ thấy đèn như nhấp nháy chứ không có độ sáng đều đặn như mắt ta đã nhìn.
 
Nhờ một kỹ thuật tân kỳ người ta chụp ảnh một bó hoa bằng tia tử ngoại và các màu đen trắng, hình ảnh nhận được sẽ hơi mờ, thay đổi hình dạng và các màu sắc của bó hoa cũng sẽ thay đổi, như là:
 
Những lá màu xanh lục trở thành màu xám sậm có vài chấm vàng.
 
Những hoa màu đỏ trở thành tối đen.
 
Những hoa màu trắng trở thành xanh dương nhạt.
 
Những hoa màu vàng trở thành màu cam.
 
Đại khái các màu mà loài ong nhìn thấy đã thay đổi như vậy.
 
Và loài ong dù nhìn thấy cảnh vật khác người ta, các nhà bác học vẫn kết luận được rằng nó đã nhìn cảnh vật gần giống với con người nhất. Nói như vậy có nghĩa là những sinh vật khác sẽ nhìn thấy thế giới nầy theo một hình ảnh lạ lùng hơn nhiều.
 
Tuy nhiên, các bạn tưởng tượng xem, nếu bây giờ ta bỗng nhiên lắp được một ống kính giống hệt như mắt loài ong rồi mang vào mắt, chắc ta sẽ nhìn thấy cảnh vật quen thuộc chung quanh ta thành một cảnh lạ lùng thần tiên. Có phải vậy không các bạn?
 
 
TRẦN NGỌC KÍNH       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 6, ra ngày 19-9-1971)

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

TÔI ĐÃ ĐI TRÊN LỬA

 


RAJATEJA
 
Đây cũng chỉ là một hòn đảo như hàng ngàn đảo khác trên các bãi biển miền Nam bán cầu. Cũng cùng một khí hậu, cùng những loại cây cỏ thông thường. Quanh đảo cũng chỉ là vùng nước biển mênh mông. Nhưng Rajateja có một sắc thái riêng biệt, đó là quê hương xứ sở của những người đi trên lửa.
 
Sau đây là câu chuyện của một nhà thám hiểm da trắng đã có dịp thăm viếng đảo, tiếp xúc với thổ dân và đã từng "thử lửa".
 
Mời các bạn cùng đi với nhà thám hiểm. "- Trong những chuyến du hành trên các mặt biển miền Nam, tôi đã có dịp đổ bộ đảo Rajateja. Tôi đến đảo đúng thời gian thổ dân mở hội thường niên tế thờ Thần Lửa. Và tôi đã được mời tham dự buổi lễ tổ chức trong một khu rừng. Từ xế trưa, tôi đi theo các thanh niên có phận sự thiết lập "dàn hỏa". Đến địa điểm đã được lựa chọn - một khu vực khá rộng ở ven rừng - họ lăn những khối đá tảng từ một đỉnh núi gần đấy xuống đáy vực. Những thân cây lớn được chuyển tới phủ lên lớp đá tảng rồi nổi lửa đốt. Suốt nửa ngày lửa cháy rừng rực, nung đỏ những tảng đá dắn trong "lò". Đến chiều tối, các khối đá đã nóng bỏng, đỏ rực và sáng chói tựa một lò than hồng khổng lồ. Dân trong đảo tập trung quanh "dàn hỏa". Tiếng cười, tiếng nói, giọng hát, lời cầu nguyện vang lên, ồn ào như vỡ chợ. Đột nhiên im bặt. Đoàn người thờ lửa đã từ xa thong thả tiến tới. Người nào cũng ở trần, chân không, mình thoa đầy dầu dừa bóng loáng, tay cầm một nhánh cây xanh. Tirai Páo dẫn đầu. Y là chỉ huy nên đi trước, đầu cất cao, mắt ngước lên trời, tay nhẹ nhàng phe phẩy cành lá xanh. Tới gần lò lửa, y đập mạnh nhánh cây vào tảng đá ba lần, rồi ngâm nga bài kinh cầu nguyện của những người đi trên lửa. Dứt bài Tirai Páo và đoàn tùy tùng hăm hở tiến nhanh lại và bước mạnh lên những tảng đá nóng đỏ. Họ đi qua đi lại ba lần.
 
Đi ngang qua chỗ tôi đứng, Páo nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi với một giọng riễu cợt: 
 
"- Bạn có muốn đi theo phía sau tôi không?" Coi đó như là một thách thức, bị chạm tự ái, tôi quên mất sự nguy hiểm, bèn cúi xuống cởi giầy và dõng dạc đáp: "- Tôi sẵn sàng theo anh", Nhưng, tới gần các tảng đá đỏ, tự nhiên nỗi sợ hãi cố hữu của tôi đối với lửa khiến tôi run lên khi thấy vài cành cây rơi trên đống đá bốc lửa cháy tức khắc. Tôi muốn trở lui, tháo chạy. Nhưng không kịp, viên phù thủy đứng sau đẩy nhẹ vào lưng tôi. Thôi liều. Tôi nghiến răng và bước đại.
 
Những cảm giác rần rật như điện giật lan truyền khắp cơ thể tôi. Từng đám hơi rất nóng bao quanh khiến tôi phải nhắm mắt. Một luồng nhiệt khí dâng lên cuống họng làm tôi ngộp thở. Thêm một lúc nữa, chắc tôi chết ngạt mất. May! Qua được một chuyến. Tôi không còn đủ can đảm tiếp tục cuộc thử thách một lần nữa và tôi rời xa chỗ dự lễ. Sờ thử gan bàn chân, tôi rất ngạc nhiên nhận thấy vẫn mát như thường.
 
Sau đó và cho tới nay, đã nhiều lần tôi tự hỏi không hiểu tại sao tôi có thể chịu đựng được cuộc "thử lửa" nguy hiểm như vậy mà không hề hấn gì. Phải chăng có mãnh lực huyền bí của thần linh hỗ trợ? Và tại sao cơ thể con người lại có thể chịu được sự thiêu đốt của lửa mà không cháy? Tôi không hiểu và chẳng bao giờ hiểu tại sao".
 
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 5, ra ngày 12-9-1971)


Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

ĐỨNG NÚI NỌ, TRÔNG NÚI KIA - Văn Trung

 


Kít-Ty là một chú mèo con rất xinh đẹp và dễ thương. Nhưng chẳng ai biết đến chú vì chú có cái tật lúc nào cũng lo bắt chước những con vật khác và không bao giờ bằng lòng với những gì chú đang có.
 
Một hôm, thấy mấy chú heo con đang cụi đất, Kít-Ty cũng hì hục làm theo. Nhưng cụi mãi, chú chỉ thấy đau mũi mà thôi, chứ mặt đất chẳng bị hây hấn gì. Sau chú khám phá ra rằng mũi chú đâu có phải là mũi heo, và chú bỏ ra đi.
 
Khi thấy đàn gà vỗ cánh, chạy tung tăng trong sân, chú cũng làm theo. Nhưng chú chợt nhớ: "Mình làm gì có cánh mà vỗ!" Rồi thấy mấy chị gà mái kêu "cục ta cục tác", Kít-Ty cũng kêu theo. Nhưng thay vì "cục ta cục tác", chú lại kêu "meo meo" nghe thật tức cười.
 
Một bữa khác, có một đoàn xiệc tới trình diễn tại địa phương chú, chú liền bỏ nhà đi xem. Chú tới nơi nhốt mấy con vật của đoàn xiệc. Trước hết, chú lại coi bác sư tử. Quan sát một lát, Kít-Ty lẩm bẩm: "Bác sư tử này trông giống mèo ghê. Chỉ khác cái mình quá đồ sộ mà thôi. Ta có thể bắt chước được bác."
 
Con sư tử chẳng nói, chẳng rằng, chỉ thủng thẳng đi qua, đi lại trong chuồng. Kít-Ty liền làm theo. Chú cũng đi đi, lại lại ngoài cửa chuồng. Sau đó, chú nói: "Bắt chước thế này dễ quá!"
 
Kế đến, Lít-Ty lại gần một chuồng khỉ. Một con khỉ đang trèo lên, tụt xuống trong chuồng. Kít-Ty nhủ thầm: "Mình cũng biết trèo chứ bộ". Nói xong, chú bắt chước trèo theo. Điều này chú làm một cách dễ dàng. Khi thấy con khỉ dùng đuôi, đánh đu thật tài tình trên song sắt, Kít-Ty lại nói: "Mình cũng có đuôi chứ bộ! Đánh đu thế này dễ ợt."
 
Nói đoạn, Kít-Ty chống hai chân trước xuống đất, chổng mông lên trời, rồi dùng đuôi cuốn lấy thanh sắt, định đu như chú khỉ kia. Chợt chú kêu lên: "Lạ vậy cà?! Sao mình đu mãi không được?" Suy nghĩ một lát, Kít-Ty nhận ra rằng bắt chước như con khỉ không phải là dễ vì Kít-Ty đâu có cái đuôi dài, mềm mại như đuôi khỉ.
 
Kít-Ty bỏ đi, tới xem một con voi. Kít-Ty muốn diễn lại cử chỉ của bác voi lắm, nhưng Kít-Ty cũng sớm nhận ra chú đâu có cái vòi như bác voi mà làm.
 
Con vật sau cùng mà Kít-Ty gặp tại gánh xiệc là một anh hươu có cái cổ rất cao. Kít-Ty thích thú nói: "Ồ! Bác hươu có cái cổ ngộ quá! Ta phải làm cho cổ ta dài như thế mới được." Kít-Ty cố nghển cao đầu, nhưng cái cổ của chú nhất định không chịu dài ra theo ý muốn của chú. Tức quá, chú dùng hai chân trước, ôm chặt lấy đầu, kéo mạnh ra phía ngoài. Chú nghĩ làm như vậy, cổ chú ắt phải dài ra. Nhưng sự cố gắng của chú thật vô ích. Sau cùng, Kít-Ty đành chịu thua, bỏ không bắt chước hươu nữa.
 
Mệt quá, Kít-Ty ngồi thừ ra suy nghĩ: "Ta cứ tưởng bắt chước những con vật này không có gì là khó. Nào dè! Đi đứng như bác sư tử thì dễ thật, nhưng không tài nào đu được như anh khỉ, nhất là làm cho cái cổ dài ra như cổ bác hươu thì lại càng không thể được."
 
Kít-Ty bỏ về nhà và từ đó không bao giờ nghĩ tới việc bắt chước những con vật khác nữa. Bây giờ Kít-Ty đã biết "âu thường thủ phận", đã biết vui với chính mình, không bao giờ màng tới cảnh "đứng núi nọ, trông núi kia", làm những điều lố bịch như từ trước tới nay nữa.
 
 
VĂN TRUNG         
(Theo Down Our Way)  
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 128, ra ngày 1-9-1974)


Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

XIN LẠI LÀM CON CỦA MẸ - Trần thị Phương Lan

 

Khi chưa đến tuổi hiểu biết, tôi thường hay thầm giận má tôi, vì nghĩ má không thương tôi, hay chính xác hơn, không thương tôi nhiều như tôi muốn.
Mục đích tôi viết tùy bút này nhân dịp Vu Lan năm nay, là thử phân tích xem điều tôi nghi ngờ có đúng hay chăng.
1. Ưu tiên 1 của má tôi chính là ba tôi. Bằng chứng ư? Chính má tôi đã xác nhận trong một lần trò chuyện với tôi, rằng... Con có cả bầy, nhưng chồng chỉ có mỗi một, nên thương chồng nhứt là lẽ đương nhiên.
2. Má tôi theo xưa, trọng nam khinh nữ. Má tôi chuộng con trai hơn con gái. Sau này má tôi cũng (một cách kín đáo, khéo léo) thích cháu trai hơn cháu gái. (Dĩ nhiên tôi mà đã phát ngôn thì....luôn luôn... nói có sách mách có chứng).
3. Má tôi thích người đẹp trai. Bằng chứng hùng hồn là má lấy ba. Chồng cũng thế, mà con trai cũng vậy. Vì vậy con trai nào đẹp thì được má tôi thiên vị hơn những anh kém sắc!
4. Ngoài việc phải quán xuyến gia đình và công ăn chuyện làm ra, má tôi vẫn còn phải lo "đối ngoại". Má tôi phải đối nhân xử thế với họ hàng hai bên nội ngoại, hàng xóm láng giềng, bạn bè (phần lớn là của ba tôi), khách khứa, việc chùa chiền... sao cho trong ấm ngoài êm, không bị làng nước chê cười.
Tôi chỉ nghĩ được đến vậy, nhưng thử hỏi các bạn chứ, một thân má tôi bị chia năm xẻ bảy như thế, thì cái phần tình thương của má tôi dành cho tôi, sau những ưu tiên 1, 2, 3, 4... như kể trên thì khỏi nói chắc các bạn cũng đủ hiểu rồi!
Năm nay Vu Lan tôi không còn mẹ. Tôi sẽ tự cài lên áo mình một bông hồng trắng, và nhắn nhủ thầm với má tôi rằng: Nếu có kiếp sau, (cho dù có những lời tự sự trên) tôi vẫn xin một lần nữa lại được làm con của mẹ, một người mẹ nhân từ, phúc hậu nhứt mà tôi có may mắn được kề cận trong đời này.
 
Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

KÍNH VẠN HOA (KALEIDOSCOPE)

 Giới thiệu với các em một đồ chơi đẹp nhất thế giới : Kính vạn hoa.
 
 
Kính vạn hoa được sáng chế tại Anh Quốc vào thế kỷ 19 bởi ông David Beuster.
 
Vốn là người có học, hiểu biết rộng về văn minh Hy lạp, ông đã ghép ba tiếng:
 
Kalos = đẹp
eidos = hình ảnh
scopeo = tôi nhìn
 
thành tiếng Kaleidoscope (tôi nhìn những hình ảnh đẹp) để đặt tên cho chiếc kính do ông tạo ra.
 
Quả đúng như cái tên đẹp đẽ của nó, chiếc kính này là dụng cụ có thể cống hiến cho ta những hình ảnh lộng lẫy muôn màu không những để cho các em chơi mà còn để cho các họa sĩ, các nhà trang trí, các thợ thêu sử dụng để lấy hứng chọn màu sắc cũng như hình ảnh kiểu mẫu.
 
Kính vạn hoa gồm một ống hình trụ đáy là một miếng kính mờ bên trong có nhiều mảnh chai màu sắc khác nhau đặt giữa ba thanh kính nhỏ ghép thành khối ba góc. Hướng kính vạn hoa về phía có ánh sáng và nhìn vào trong kính qua một lỗ nhỏ ở đầu ống kính rồi xoay kính từ từ, chúng ta nhìn thấy một cảnh sắc hết sức huy hoàng dần dà thay đổi : Các mảnh chai nhiều màu phản chiếu vào gương thảnh nhiều hình. Khi các mảnh gương bị đảo lộn do tay cầm kính xoay ống kính, thì hình ảnh và màu sắc đổi khác.
 
Các em hãy theo dõi và tự thực hiện cho mình một chiếc kính vạn hoa để dòm chơi cho sướng con mắt.
 
Cách thực hiện : rất dễ. Các em hãy theo sự chỉ dẫn sau đây:
 
 
1) Tìm vật liệu cần thiết gồm : 
 
- Một ống tròn bằng cạc tông khá lớn (H1)
 
- Ba thanh kính như nhau và ngắn hơn chiều dài ống cạc tông độ hai phân (H 1)
 
- Một mặt kính tròn to bằng lòng ống cạc tông (đút lọt vào trong được) và trong suốt (H 1) 
 
- Một mặt kính tròn to bằng miệng ống cạc tông (không đút lọt vào trong được) và trong suốt (H 1)
 
- Một mặt kính tròn cũng to bằng miệng ống cạc tông (cũng không đút lọt vào trong được) nhưng mờ (H 1) 
 
- Các mẩu chai nhiều màu hoặc các mẩu vật liệu nhiều màu khác như đá, sứ, sành, giấy cứng màu. (H 2)
 
- Băng keo để dán.
 
2) Chế tạo bằng cách : 
 
- Ghép ba thanh kính thành khối ba góc (H 2)
 
- Đút khồi này vào ống cạc tông dựng đứng (H 3)
 
- Đút mặt kính nhỏ nhất vào lòng ống cạc tông chận trên đầu khối ba góc (H 4)
 
- Bỏ các mẩu chai... lên mặt kính (H 4)
 
- Dùng mặt kính to mờ đậy lên miệng ống (H 4) 
 
- Dùng băng keo dán chặt lại (H 4)
 
- Hơi nghiêng ống cạc tông, cho tay lòn xuống mặt dưới giữ cho khối ba góc khỏi tụt ra khỏi ống cạc tông và lật ngược ống cạc tông lại.
 
- Dùng mặt kính to trong suốt còn lại bịt miệng ống cạc tông (H 5)
 
- Ghép thêm lên mặt kính một miếng giấy cứng có đục lỗ ở giữa (H 5)
 
- Dùng băng keo dán chắc lại (H 5).
 
Thế là xong.
 
Bây giờ chỉ cần đặt mắt sau lỗ nhỏ và hướng ống kính về phía có ánh sáng các em sẽ thấy hình ảnh và màu sắc tuyệt vời (H 6). Nếu quay ống kính nhè nhẹ, các mẩu chai... bị xáo trộn sẽ cho các hình ảnh và màu sắc khác nhau (H 6)
 
Vô số các hình cân xứng qua tâm kính vạn hoa (H 6) có được là do sự phản chiếu ánh sáng màu của các mẩu chai... lên ba tấm gương nhỏ được ghép thành khối trụ ba góc.
 
Mỗi một mẩu chai cho một hình trong mỗi gương. Các hình này lại cho các hình trong mỗi gương khác.
 
Số hình tăng lần khi các góc do các tấm gương hợp thành nhỏ dần.
 
Nếu góc 120° thì có 360/120 = 3 hình ảnh.
 
Nếu góc 90° thì có 360/90 = 4 hình ảnh.

Tuy nhiên vì có 2 hình lồng nhau nên thật ra chỉ còn 360/90 - 1 = 4 - 1 = 3 hình ảnh.
 
Do đó khi góc gương của kính vạn hoa là 60 thì hình ảnh là 360/60 - 1 = 5.
 
Tính luôn cả mẩu chai thì có tất cả  6 hình đối chiếu qua tâm (do 1 mẩu chai mà có) (H 6) 
 
 
 (Trích tuần báo Thiếu Nhi số 4, ra ngày 5-9-1971)


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

NIÊN HỌC MỚI - Nhã Uyên

 

Xong ba tháng hết nghỉ hè nhập học
Hạ qua đi để sửa soạn mùa thu
Buổi sớm mai trời man mát sương mù
Em đi học, chim đón mừng ca hát

Hai bên đường rợp bóng me che mát
Gió nhẹ trêu làm má đỏ hây hây
Tay nắm chặt cho chiếc nón đừng bay
Theo cánh bướm châp chờn trên hoa nở

Và đều đặn em nghe từng nhịp thở
Và nhịp tim và nhịp guốc khua vang
Đến trường rồi em ngoan ngoãn xếp hàng 
Hát quốc ca bắt đầu niên học mới

Em biết hạ ra đi cho thu tới
Ơi thời gian mười mấy tuổi ngọc ngà
Ngày tháng qua cho năm cũ rời xa
Em là hoa nở trên cành xuân sắc 

Quần áo mới, mẹ sắm cho em mặc
Guốc đã cũ mua guốc mới em mang
Em xoã tóc hay thích kẹp nơ vàng
Em mới lớn còn đơn sơ giản dị

Buổi học đầu em hết cơn mộng mị
Lời thầy cô văng vẳng ở bên tai
Chăm học đi luôn cố gắng đường dài
Em mơ ước đến tương lai chưa biết

Như kinh cầu, em nhủ thầm tha thiết
Chớ lãng quên hay chia trí tâm thần
Biết tập trung tư tưởng để quen lần
Những mới lạ trong chương trình niên học.

                                                            Nhã Uyên

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

THU TỰU TRƯỜNG - Vũ thị Ca Dao

 

Lá cũng xôn xao buổi tựu trường
Muôn tà áo trắng nhẹ vương vương
Lá thu đổ xuống làm thảm trải
Những gót hài sen thoáng ngập ngừng

Cổng sắt trường em mở lối vào
Đợi đàn chim nhỏ mắt như sao
Lao xao trên áo trăm vạt nắng
Dội xuống bờ môi nụ đón chào

Xanh tóc, xanh hồ mắt mùa thu
Những cô bé xinh mộng đợi chờ
Áo trắng trinh nguyên tà e ấp
Lúc gió thổi về bao ý thơ

Líu lo chim nhỏ nhảy bước vui
Mắt biếc còn ngoan chẳng ngậm ngùi
Có nghe gió hát mùa nhập học
Rạng rỡ bờ môi những nụ cười.

                                     VŨ THỊ CA DAO
                                           (bn Hoa Tiên)

 (Trích tuần báo Thiếu Nhi số 60, ra ngày 15-10-1972)