Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

47 CHÀNG HIỆP SĨ - Vĩnh Quyền

 


Nhà quí tộc A-Sa-Nô, lãnh chúa lâu đài A-Kô được lệnh đến học tập lễ nghi với quan thị thần Ki-Ra để thay mặt Phó Vương tiếp đón sứ giả của Thiên Hoàng nhân dịp đầu xuân.
 
Ki-Ra, một nhà quí phái có tuổi, rất được Phó Vương tin cẩn, mến yêu. Không những khéo léo trong công việc, hắn còn có tài nịnh bợ và biết đoán trước ý thích thầm kín của các cấp chủ tướng. Càng tỏ ra vồn vã, dễ sai đối với người trên bao nhiêu, đối với kẻ dưới ông lại lên mặt bấy nhiêu. Một bên thì luồn cúi quỵ lụy, bên khác thì vênh váo khoe khoang. Con người hai mặt đó che giấu một tâm hồn thấp kém tham lam: Tham lam danh vọng, tham lam tiền bạc.
 
Trái lại, A-Sa-Nô còn trẻ, đứng đắn, biết tự trọng. Chàng không chịu đem vàng ngọc đến đút lót cho Ki-Ra mà chỉ gởi biếu cho ông ta một tác phẩm mỹ thuật quí giá.
 
Không có tiền, Ki-Ra không chỉ dẫn lễ nghi, lại có ý muốn làm nhục nhà quí phái trẻ tuổi.
 
Trong lúc sửa soạn nghênh tiếp Thiên sứ (sứ giả của Thiên Hoàng) tại cung điện Phó Vương ở Yê-đô (nay là Tô-ky-ô) trước các đại thần, các nhà quí phái, Ki-Ra ngạo mạn bảo A-Sa-Nô:
 
- Nhà tiểu quí tộc ơi! Tại triều đình này thì anh mất thớ rồi. Anh ở một cái lâu đài về miền quê có khác gì con ếch ngồi đáy giếng trông trời bằng một chiếc vung? Khi người ta bắt con ếch bỏ vào ao, nó tưởng rằng cái ao to lớn lắm nên chẳng biết đường nào mà đi. Đến khi đi, lại đâm vào cọc bể đầu chết tốt! Ha ha! Anh chỉ là loại ếch đó thôi! Khốn nạn con ếch quê mùa!
 
A-Sa-Nô không nén được giận, đỏ mặt lên hỏi:
 
- Thưa ngài, phải chăng ngài bảo tôi là con ếch?
 
Ki-Ra không trả lời, mỉm cười một cách khinh bỉ, nói tiếp:
 
- Cái băng giầy của ta bị tuột dây, hãy thắt lại cho ta... Nói thế, chứ quê kệch như anh thì có được việc gì nên thân đâu! Ha ha!
 
A-Si-Nô rút kiếm, một đường kiếm vung lên. Chàng quyết chém kẻ đã sỉ nhục chàng. Nhờ có mũ đội đầu, Ki-Ra chỉ bị thương vội vàng bỏ chạy. A-Sa-Nô rượt theo muốn đâm chết kẻ thù. Các lãnh chúa khác ngăn giữ chàng lại và ghé vào tai bảo thầm:
 
- Ngài không nhớ rằng rút kiếm trong cung điện Phó Vương thì bị tử hình sao?
 
A-Sa-Nô biết rõ điều luật đó lắm, nhưng thà chết còn hơn bị nhục. Người ta thấy chàng rất bình tĩnh trên nét mặt đầy can đảm.
 
Theo luật pháp thời bấy giờ, A-Sa-Nô bị xử tử hình, tài sản bị sung công và phải giải tán hết các hiệp sĩ (các lãnh chúa đều có rất nhiều hiệp sĩ để giữ trật tự cho khu vực mình).
 
Án tử hình, đối với các nhà quí tộc, các võ sĩ được đặc biệt đổi ra mổ bụng tự sát.
 
Trước khi thi hành lệnh trên, A-Sa-Nô gọi người gia nhân dặn dò:
 
- Sau khi ta mổ bụng tự sát hãy mang con dao dính máu của ta trao cho Ô-i-Si, người chỉ huy đoàn võ sĩ của ta và bảo cho hắn biết: Ta chết vì tên thù nghịch Ki-Ra. Hắn sẽ hiểu biết bổn phận của hắn!
 
*
 
Ô-i-Si được tin vị lãnh chúa của mình đã chết, liền cho tập hôp 300 võ sĩ tại lâu đài A-kô, thắp hương tưởng niệm người quá cố và trưng cầu ý kiến về việc trả thù.
 
Một võ sĩ hăng hái nói:
 
- Chúng ta không thể trả lâu đài này cho vị Phó Vương đã kết án tử hình chúa tể của ta.
 
Một võ sĩ khác hưởng ứng:
 
- Phải đó! Chúng ta cần chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng...
 
Ô-i-Si bình tĩnh nói:
 
- Các bạn hãy suy xét bình tĩnh trước khi bày tỏ ý kiến của mình xem có phải bổn phận ta là chống đối với vị Phó Vương không? Hành động như vậy, có phải tuân theo ý muốn của lãnh chúa chúng ta không? Hay kẻ thù nghịch của chúng ta là Ki-Ra?
 
Nhiều võ sĩ cũng trả lời một lượt:
 
- Phải, phải. Chính Ki-Ra mới là kẻ gây nên tội ác. Chính Ki-Ra mới là mục tiêu để chúng ta báo thù.
 
Một võ sĩ mưu lược hơn gật gù bảo rằng:
 
- Nhà đạo đức xưa đã nói: "Người ta không đội trời chung với kẻ lăng mạ chủ mình", Huống hồ, nay kẻ lăng mạ ấy cũng là tên sát nhân. Chúng ta có bổn phận trả thù và trả thù ngay.
 
Ô-i-Si ung dung đáp:
 
- Phải, chúng ta có bổn phận trả thù cho chủ nhưng các bạn nên biết Ki-Ra là một thằng hèn nhát, lại thêm có thế lực. Tất nhiên nó cho canh gác, phòng thủ cẩn mật hơn. Điều cần biết là phải bắt được nó mà lúc này chúng ta chưa thể lấy sức mạnh đột nhập lâu đài của nó được.
 
Nghe thấy chuyện khó khăn, phần đông các võ sĩ đầu ngã lòng, nản chí. Họ không còn ý tưởng việc chống đối Phó Vương nữa.
 
Tuân theo luật pháp, họ cùng nhau giải tán mỗi người đi mỗi ngả.
 
Lợi dụng cuộc hội họp, Ô-i-Si đã tìm hiểu và đo lường được một phần nào tâm trạng của các võ sĩ. Trong lúc chào nhau chia tay, Ô-i-Si bí mật lưu giữ chừng 50 người, xét ra có thể tin tưởng ở nghị lực và lòng trung thành của họ, để bàn chuyện riêng.
 
Lập tức Ô-i-Si cho thám thính về những hành động của Ki-Ra. Viên thị thần gian ngoan ấy đã cho mộ thêm vệ binh, ngày đêm tuần phòng chặt chẽ, ngăn ngừa trước mọi cuộc trả thù của các thuộc hạ A-Sa-Nô. Các tôi tớ trong nhà, Ki-Ra cho lựa chọn kỹ càng, phải là những kẻ sống trên miếng đất của hắn. Lại phải trải qua nhiều cuộc điều tra khe khắt về tính nết cũng như về hạnh kiểm. Khách khứa ra vào, vệ binh xét hỏi rất gắt gao và luôn phải canh chừng. Những người bán hàng cũng cấm hẳn, không được bước chân vào tới cửa lâu đài.
 
Ô-i-Si quyết định chờ đợi một thời gian cho viên thị thần hết lo sợ, hết nghi ngờ, lơ là sự canh gác nên tuyên bố tạm hoãn cuộc báo thù cho chủ.
 
Trừ ba võ sĩ vì còn mẹ già, 47 võ sĩ đều rút kiếm thề nguyện hy sinh tính mệnh trả thù cho lãnh chúa A-Sa-Nô. Họ bắt đầu bỏ cái danh "võ sĩ", cái danh mà mọi người trong xã hội thời đó đều tôn trọng, nể vì. Một số làm thợ, một số nữa buôn bán.
 
Dù đi buôn hay làm thợ... họ đều quanh quẩn ở Yê-đô. Họ tìm đủ mọi cách ra vào lâu đài Ki-Ra, ghi chép tỉ mỉ từng cửa ngõ, phòng ngủ, phòng khác, kho hàng tới kho lương thực, không sót chốn nào!
 
Cũng có kẻ đi làm ăn xa, nhưng họ vẫn có liên lạc mật thiết với vị chỉ huy họ.
 
Về phần Ô-i-Si, chàng biết rằng Ki-Ra gờm chàng lắm. Chắc lúc nào cũng bị theo dõi, dò xét liền liền. Chàng tỏ vẻ chán chường, không thiết gì đến chuyện đời nữa. Bán hết cả cung kiếm, chàng mua một cái nhà nhỏ ở cách xa thành phố Tô-ky-ô (Yê-đô) cho dân quê vay lãi lấy lời, và sống như một kẻ phóng đãng.
 
Suốt ngày la cà ở các phòng trà, rượu Sa-Kê nốc hết bình này đến bình khác. Trêu ghẹo, cợt nhả với các vũ nữ.
 
Thỉnh thoảng, người ta thấy chàng quá say nằm chết giấc trên vỉa hè phố vắng.
 
Một hôm, có một hiệp sĩ thuộc phái Sát-sư-Ma trông thấy chàng trong tình trạng nửa sống nửa chết ấy, nổi giận mắng rằng:
 
- Đáng lẽ mày phải luôn luôn lo nghĩ đến mối thù giết chủ, không ngờ mày lại ham sống một cuộc đời du đãng vô loại, quên hết bổn phận làm người. Thực mắc cỡ thay cho cái danh võ sĩ! Đồ vô liêm sỉ! Đồ hèn nhát!...
 
Hiệp sĩ nhổ toẹt vào mặt Ô-i-Si, đá cho một cái khinh bỉ bỏ đi.
 
Vợ Ô-i-Si cũng bắt đầu lo ngại cho cuộc sống của chồng. Rồi một hôm kia nàng bạo dạn khuyên chồng. Không ngờ Ô-i-Si hất hủi và ly dị luôn cả người vợ đẹp đẽ dịu hiền.
 
Sáng hôm sau, người vợ dắt hai đứa con nhỏ ra đi, để lại đứa con lớn theo ý muốn của chồng.
 
Khi chắc chắn trong nhà không còn một ai, Ô-i-Si ngây ngất nhìn vào chỗ vợ thường ngồi, ôm mặt khóc nức nở, vì người đàn bà ấy là người hắn thương yêu, quí mến độc nhất trên đời. Hắn nhẫn tâm đuổi đi để cho mọi người thêm khinh ghét hắn hơn nữa. Cảnh chia ly này thực là một cuộc hy sinh đau lòng trong công cuộc phục thù cho chủ.
 
Những hành động xấu xa của Ô-i-Si trong hai năm trời được báo cáo đầy đủ cho Ki-Ra biết. Muốn được an tâm hơn viên thị thần quyết định mở cuộc điều tra một lần cuối cùng nữa. Hắn phái người thân tín quyến rũ một võ sĩ quen biết Ô-i-Si, xúi đến thân mật hỏi chuyện, thăm dò thái độ chàng.
 
Võ sĩ trách viên chỉ huy rằng:
 
- Bạn là thủ lãnh đoàn võ sĩ A-Sa-Nô. Sao bạn không lo nghĩ đến việc báo thù cho chủ? 
 
Ô-i-Si thở ra nặc mùi rượu:
 
- Lúc đầu, tôi cũng nghĩ tới vì mến tiếc A-Sa-Nô và hơi uất hận về hành vi Ki-Ra. Sau tôi suy xét kỹ càng, làm thế nào để chống đối với kẻ thù có uy thế được? Tấn công vào lâu đài của hắn ư?... Cũng được nhưng rồi sẽ ra sao? Nếu bại chúng tôi đều bỏ xác trong đám loạn quân. Nếu thắng, chúng tôi xử tử kẻ thù, và đồng thời cũng nhận được lệnh của Phó Vương mổ bụng tự sát. Chết bằng cách này hay chết bằng lối khác vẫn là cái chết mà thôi. Tôi, tôi muốn sống, tôi yêu rượu Sa-Kê. Tôi thích say như mấy vần thơ. 
 
Rồi Ô-i-Si ngâm:
 
Say sưa thực cũng hư đời.
Hư thời hư vậy, say thời cứ say.
Đất say đất cũng lăn quay,
Trời say trời cũng đỏ gay mặt trời.
 
Ô-i-Si rủ bạn cùng đi uống rượu. Dọc đường người bạn nói rằng:
 
- Thôi rồi, tôi chợt nhớ: hình như bữa nay là ngày giỗ thứ hai A-Sa-Nô thì phải?
 
Ô-i-Si chẳng thèm suy nghĩ:
 
- Có lẽ đúng đấy. Dù sao cái kỷ niệm cũng không cấm ta ăn một bữa thật ngon, uống một bữa thật say!
 
Các tin tức về hành động đốn mạt của viên chỉ huy đều giống như nhau. Ki-Ra thật tin tưởng không còn ai có ý muốn báo thù mình nữa. Hắn cho một nửa số vệ binh nghỉ việc và rất hài lòng vì đã rút bớt nhiều chi phí trong sự canh phòng, để dành được một số tiền khá lớn.
 
Ô-i-Si cũng được báo cáo ngay sự chểnh mảng tự vệ của viên thị thần.
 
Giờ phục hận sắp điểm!
 
*
 
Các võ sĩ đã được lệnh của vị chỉ huy về họp kín đáo tại Yê-đô.
 
Trong số các võ sĩ, chỉ có Sam-Pê vắng mặt. Sau khi A-Sa-Nô chết được vài tháng, Sam-Pê xin phép cha mẹ cho đi tìm công việc làm ăn khác, nhưng người cha ngăn cản bảo rằng:
 
- Con lấy cớ đi tìm việc, phải chăng là để mưu giết kẻ thù? Chuyện sát nhân ấy không lợi cho ai cả, mà gia đình chúng ta sẽ bị tan nát. Con hãy quên thù oán đi, lấy vợ và làm việc ngay ở nhà!
 
Sam-Pê bó buộc phải vâng lời cha dạy, nhưng rất khổ tâm không tỏ được lòng trung thành với chủ. Bên vì hiếu bên vì bổn phận con người võ sĩ. Hai cái nghĩa vụ cùng nặng nề ấy luôn luôn xung đột, khiến anh chỉ có cách là đi tìm cái chết.
 
Đúng ngày giỗ đầu A-Sa-Nô, hướng về Yê-đô, Sam-Pê mổ bụng tự sát!
 
Ki-Ra từ khi được tin đích xác kẻ cầm đầu đoàn võ  sĩ A-Sa-Nô sống bê tha, rượu chè trai gái, hắn thật yên tâm vui hưởng khoái lạc, không còn một chút thắc mắc nào đến tội ác khi xưa. Nay yến mai tiệc hắn thi nhau thù tạc với các quan khách, đền bù lại những lúc bị khóa miệng vì lo âu.
 
Cũng do sự coi thường đó nên bọn võ sĩ mới biết rõ ràng tới ngày 20 tháng giêng viên thị thần thết tiệc mời sáu vị đại quan ăn uống tại nhà. Tất nhiên chủ nhân phải có mặt tiếp đãi khách khứa.
 
Nắm được tin tức chắc chắn, vị chỉ huy đoàn võ sĩ quyết định ngay đêm hôm đó phải mở cuộc tấn công vào lâu đài Ki-Ra.
 
Buổi sáng ngày sau Ô-i-Si họp tất cả anh em trong một cái quán vắng vẻ, nghiêm trang nói rằng:
 
- Lãnh chúa của ta chết oan uổng đã trên hai năm. Ở bên kia thế giới ngài đang chờ đợi việc làm của chúng ta và ngài sắp sửa được hài lòng.
 
Tôi biết các bạn đây là những võ sĩ giỏi, trung thành. Các bạn đã hy sinh nhiều để làm tròn bổn phận của mình. Hiện nay đã là giờ phút để chúng ta thi hành nghĩa vụ lớn lao nhất cho lý tưởng cao cả của kẻ cầm kiếm. Chúng ta quyết hy sinh tính mạng cho lãnh chúa thân mến của chúng ta. Vậy các bạn đã sẵn sàng chưa?
 
Các võ sĩ rút kiềm đồng thanh trả lời:
 
- Chúng tôi đã sẵn sàng!
 
Ô-i-Si nói tiếp:
 
- Kẻ thù của chúng ta là Ki-Ra. Chúng ta chỉ cần một cái thủ cấp của hắn ta mà thôi. Chúng ta không nên sát hại kẻ vô tội. Nhất là đàn bà trẻ con và các người già cả.
 
Các võ sĩ lại đồng thanh trả lời:
 
- Phải lắm!
 
- Nhưng với những kẻ đương đầu chống đối lại chúng ta phải tùy liệu mà hành động.
 
- Đồng ý!
 
Ô-i-Si phác họa chương trình tấn công. Họ chia làm hai toán: Một toán đánh mặt trước và một toán đánh mặt sau lâu đài. Ô-i-Si chỉ huy toán một. Con của chàng, Yô-si-Đa là hướng dẫn toán hai. Vượt qua tường thành, các võ sĩ chiến đấu theo tiếng trống. Ai thấy Ki-Ra ở đâu phải thổi còi báo hiệu cho mọi người tới tập họp ở đó.
 
Tối hôm 20 tháng giêng, trăng sáng mờ mờ, gió thổi lạnh buốt, tuyết xuống như mưa rào. Đúng giờ đã định, nửa đêm toán võ sĩ bận áo giáp khoác ngoài áo tơi đen, tay cầm vũ khí, họ yên lặng ra đi. Họ từ từ tiến bước qua các khu phố vắng tanh đầy tuyết phủ. Gần đến cây cầu một người tò mò hỏi:
 
- Các ông đi đâu mà mang nhiều kiếm thế?
 
Một võ sĩ lên tiếng:
 
- Chúng tôi không phải là giặc cướp. Chúng tôi không phải là kẻ sát nhân, chúng tôi đi báo thù cho chủ đã bị một tên thị thần hèn nhát hãm hại.
 
Câu trả lời thẳng thắn làm toại ý người chơi đêm.
 
Đã đến trước lâu đài Ki-Ra. Toán hai tách riêng đi quanh ra phía sau.
 
Ném thang dây lên tường, hai võ sĩ trèo vào trong phá cửa. Toán một nhảy xô vào như một cơn gió lốc. Quân canh xin dung mạng và được đứng riêng ra một nơi.
 
Vào vườn đám vệ sĩ rút kiếm ra ngăn cản. Tiếng trống trận đầu tiên nổi lên.
 
Các võ sĩ hăng hái chiến đấu, hạ hết người này đến người khác. Trong lúc náo nhiệt ồn ào căn nhà đại sảnh bốc cháy. Ô-i-Si ra lệnh:
 
- Xong đây, chúng ta phải dập tắt lửa, đừng để cháy lan ra khu vực dân chúng.
 
Họ chạy ùa vào các gian phòng lục soát, tha hết đàn bà con trẻ đang ôm nhau khóc lóc. Vẫn không thấy Ki-Ra, kẻ hèn nhát đã lẩn tránh mất trong khi đánh nhau chăng?
 
Võ sĩ Du-ta-Rô nẩy ra ý kiến, tìm chỗ viên thị thần nằm ngủ, lấy tay sờ vào chăn mền hãy còn nóng ấm. Chắc kẻ thù chưa kịp trốn tránh đâu xa. Chàng lấy kiếm rạch nát một bức tranh lụa vĩ đại treo ở cuối phòng. Bức tranh to lớn kia rách nát để lộ một con đường đi bí mật. Theo con đường đó chàng lần tới một cái sân con và mấy gian nhà xép. Một người bận quần áo ngủ lủi trốn sau một đống củi. Du-ta-Rô nắm cổ lôi ra hỏi:
 
- Tên là gì? Nói mau!
 
Người ấy run lập cập không trả lời. Giơ đèn ló lên soi rõ mặt trắng bệch của lão thị thần.
 
Một tiếng còi nổi lên vang dậy. Tất cả các võ sĩ chạy vội đến.
 
Ô-i-Si bảo:
 
- Chắc là Ki-Ra đó. Xem trán hắn có vết thẹo do nhát kiếm của chủ chúng ta để lại không? Ha ha!... Đây rồi không sai.
 
Lão già vẫn im lìm. Trời rét mà mồ hôi nhỏ giọt khắp trên mặt hắn.
 
Ô-i-Si quỳ xuống, trịnh trọng nói rằng:
 
- Tôi xin nghiêng mình để tỏ lòng tôn kính tuổi già và tước vị của ông. Chúng tôi xin lỗi đã gây náo nhiệt trong đêm tối tại lâu đài ông. Nhưng ông phải biết tại sao bữa nay lại có mặt chúng tôi ở đây. Hân hạnh tự giới thiệu với ông, tất cả chúng tôi là võ sĩ nhà quí tộc A-Sa-Nô, lãnh chúa lâu đài A-Kô. Chúng tôi đến đây để trả thù cho chủ. Chắc rằng ông không lạ với lý do ấy nữa. Bây giờ tôi xin ông cái thủ cấp và kính mời ông tự mổ bụng cũng như lãnh chúa chúng tôi đã mổ bụng trước kia vì ác ý của ông...
 
Lão già Ki-Ra sợ quá, mất hết tinh thần. Liếc tả nhìn hữu, chợt thấy một lối đi, tưởng như có thể thoát được liền nhảy xô tới định chạy trốn, nhưng bị giữ lại ngay.
 
Ô-i-Si rút ở thắt lưng ra một con dao găm, con dao của A-Sa-Nô đã tự sát, đâm vào cổ lão già Ki-Ra.
 
Xong bảo Du-ta-Ra đương cầm gươm tuốt trần:
 
- Bạn có công tìm thấy Ki-Ra, xin nhường bạn cái vinh dự chặt đầu kẻ thù của chúng ta.
 
*
 
Mặt trời vừa ló dạng, Ô-i-Si tay cầm dao găm, tay cầm đầu Ki-Ra cùng đoàn võ sĩ xếp hàng nghiêm chỉnh đi qua thành phố Yê-đô để tới nghĩa địa Sên-Ga-Ku-Di, nơi an nghỉ cuối cùng của lãnh chúa A-Sa-Nô.
 
Trên đường đi dân chúng rất ngạc nhiên, nhưng khi hỏi chuyện họ vỗ tay hoan hô ầm ỹ. Vì tất cả mọi người đều cho rằng: Bổn phận báo thù chủ là một nghĩa vụ thật cao quý. Đâu có ghê tởm như những kẻ sát nhân tầm thường?
 
Qua lâu đài ông hoàng Sên-Đai, ngài mời đoàn võ sĩ dừng chân giải khát.
 
Tiếng đồn việc hành hình tên thị thần gian tham đã lan tới tận đền Sên-Ga-Ku-Di. Tu viện trưởng của thành phố cũng nghiêm trang nghênh đón và hướng dẫn đoàn võ sĩ tới ngôi mộ A-Sa-Nô.
 
Ô-i-Si ra giếng ngôi đền, múc nước rửa sạch đầu Ki-Ra vì luật lệ: Kẻ dưới khi ra mắt người trên phải sạch sẽ. Ki-Ra hiện giờ là kẻ dưới A-Sa-Nô.
 
Viên chỉ huy đặt lên mộ chiếc thủ cấp, đứng ngay ngắn cúi giập đầu ba lần, thắp hương khấn:
 
- Hồn lãnh chúa A-Sa-Nô xin chứng giám. Với con dao mà lãnh chúa đã tự sát, chúng tôi đã trả được thù cho lãnh chúa. Xin lãnh chùa linh thiêng hãy nhận lấy chiếc đầu của kẻ thù đây.
 
Hướng lại vị tu trưởng, chàng trịnh trọng thưa:
 
- Xin ngài làm ơn cho chôn cất chúng tôi ở gần ngôi mộ của chủ chúng tôi sau khi chúng tôi mổ bụng tự sát. Chúng tôi hoàn toàn tin ở tấm lòng nhân đức của ngài.
 
Vị tu trưởng lệ tràn hai khóe mắt, gật đầu ưng thuận.
 
Tinh thần võ sĩ công nhận viêc báo thù là bổn phận thiêng liêng, nhưng pháp luật thì sẽ trừng trị kẻ giết người.
 
47 chàng hiệp sĩ nhận được lệnh Phó Vương phải tự sát.
 
Tất cả đều mổ bụng chết. Tất cả đều được chôn cất tại nghĩa địa đền Sên-Ga-Ku-Di chung quanh mộ của A-Sa-Nô.
 
Trong nghĩa địa đó, còn một ngôi mộ thứ 49 là mộ chàng hiệp sĩ phái Sát-su-Ma, người đã mạt sát Ô-i-Si xưa kia. Nghe được chuyện các võ sĩ hành quyết Ki-Ra, chàng mới hiểu mình nông nổi đã kết tội lầm một võ sĩ kiên quyết. Hối tiếc không đủ, chàng tới trước mộ Ô-i-Si tạ tội rồi mổ bụng chết theo. Người ta thấy tấm lòng dũng cảm của chàng nên chôn ngay bên cạnh mộ Ô-i-Si.
 
*
 
Ngày nay người Nhật bản vẫn tới nghĩa trang Sên-Ga-Ku-Di dâng hương để tỏ lòng tôn kính người xưa.
 
Các bậc cha mẹ cũng vẫn dắt con em đến đó chiêm bái và kể lại câu chuyện cũ, mong dạy các em một bài học hào hùng, nghĩa hiệp, trung thành.
 
 
VĨNH QUYỀN      
 
(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa Thú Quê)  
 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

DI VẬT CỦA PENNY PLUMER - Hạnh Trân

 


Ghiền hút thuốc, hoặc tệ hại hơn nữa là hút cần sa, chích ma túy, là một thảm trạng đang xảy đến cho thanh thiếu niên trong hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Họ chỉ biết khoái cảm nhất thời, và không nghĩ đến hậu quả tàn khốc của nó. Ở đây, HẠNH TRÂN xin giới thiệu đến các bạn lá thư của một người mẹ, gởi đến cho đứa con trai 16 tuổi ghiền hút thuốc lá của bà, sau cái chết của đứa con gái 18 tuổi, vì chứng bịnh ung thư. Mong những người trẻ chúng ta nhận thức được hiểm họa của thuốc lá, của ma túy, để tránh và khuyên nhủ bè bạn của chúng ta lánh xa và ngăn ngừa chứng bịnh cho đến bây giờ vẫn được coi là bất trị, đã từng làm bao nhiêu người khốn khổ, đớn đau.

*

THƯ CỦA BÀ MARY PLUMER, GỞI CHO CON TRAI MÌNH LÀ CHRIS

CHRIS thân yêu của mẹ,

Hôm nay mẹ viết thư cho con, vì chị con là PENNY đã chết, vì bịnh ung thư. Điều này, dĩ nhiên, là con đã biết. Con đã trở về nhà năm ngày trước khi chị con chết, để nói chuyện với chị, vui đùa với chị, và tin tưởng với cha mẹ là một phép mầu nào đó sẽ giúp chị con sống. Con đã chịu đựng 2 ngày khi chị con ở trong tình trạng hôn mê và ngất thở, và đã đóng vai hướng dẫn, như một người đã trưởng thành trong thời gian tang lễ của chị con.

Bây giờ con đã trở về trường nội trú - cách xa nhà - như ngày nào con đã ở đấy trong thời gian PENNY lâm bịnh. Để cho con ở xa nhà là việc cha mẹ đã cân nhắc kỹ càng. Cha mẹ không thấy lợi nếu giữ con ở nhà để chờ đợi trong văn phòng bác sĩ, hay trong dưỡng đường, trong bịnh viện.

Nhưng bây giờ cha mẹ lại hoang mang. Bởi vì nếu để con ở nhà thì sẽ có lợi hơn. Đáng lẽ con phải ở bên cạnh PENNY, trong bịnh viện. Và đáng lẽ con phải đối diện trực tiếp với chứng bịnh ung thư.

Việc con ở nhà sẽ có lợi hơn. Vì rõ ràng là con không tin rằng ung thư là một cái gì phải làm con lo lắng. Hai đêm trước đây, trước ngày con trở về trường, con đã hôn mẹ khi đi ngủ, và trong phút giây đó, mẹ biết là con đã hút trở lại.

Con đã quên hẳn là PENNY dự định viết một cuốn sách về ung thư rồi phải không? Chị con đã biết chứng bịnh nguy hiềm của mình trong 3 tháng, và rất ước ao được diễn tả căn bịnh này cho những đứa trẻ như con. Bạn thân của chị con là LINDA cũng hứa sẽ trang trí cho cuốn sách.

CHRIS ạ, LINDA đã ngưng hút, vì LINDA đã có dịp tốt hơn con là nó thăm PENNY mỗi ngày trong việc cố gắng chống lại bịnh ung thư. Và LINDA đã bỏ hút vào cái ngày khi PENNY nhìn nó - đôi mắt xanh nhìn đôi mắt nâu - và nói: "Tao ở đây, với những điều mà tao không thích, và cơ hồ mày đang cố gắng để tránh xa".

Đó là lý do tại sao bây giờ cha mẹ phủ nhận việc con ở xa nhà.

LINDA thấy chân và mặt PENNY càng ngày càng ốm. Nó nhận thấy cô học sinh đệ nhị cấp học nhảy đã bắt đầu mất sức, ngày càng sa sút và phải cố gắng lắm mới leo nổi những bậc thang. LINDA nhẫn nhục chịu đựng với PENNY trong những tuần cha mẹ chờ đợi PENNY hồi sức, dù không tin tưởng lắm.

Sau lần mổ đầu tiên, PENNY bình phục một cách thần tình. Sau 60 ngày tung hoành, chứng ung thư có vẻ chịu dừng lại. PENNY định ngày đi bơi và tìm cả được việc làm để kiếm thêm tiền may áo quần đi học.

Tuy nhiên, đến một ngày kia, PENNY phải bỏ ngang công việc. Chị con buồn nôn và yếu đến ngã bịnh lại. Kế đó, người của chị con bắt đầu phồng lên như đầy nước, càng ngày càng sưng cho đến một ngày chị con phát khóc: "Má ơi, làm sao chứ không thì con sắp vỡ tung ra đây".

Cha mẹ gọi điện thoại cho y sĩ đem PENNY đến nhà thương. Nơi đây họ dùng một ống tiêm để rút chất nước trong người PENNY ra. Và chị con về nhà, cảm thấy đỡ hơn.

Sau đó không lâu, một nhóm chuyên viên quyết định cố gắng chích một chất hóa học trong vòng 2 tuần. Sau đó, PENNY có thể về nhà trong một tháng, và trở lại điều trị 2 tuần nữa. Bấy giờ, lần đầu tiên, chị con mới nhận thấy là việc nhập học cao đẳng sẽ bị trì hoãn. Nhưng tinh thần chị con rất vui vẻ, chịu đựng sự điều trị và là quen với việc chống lại chứng ung thư cho đến khi toàn thắng. Chị con ước ao, một cách tuyệt vọng, là chóng được bình phục.

Tại bịnh viện, PENNY phải chịu chích mỗi giờ một lần. Hóa chất đã chận được bịnh ung thư ; nhiều chất thuốc đã thắng được chứng nôn mửa mà hóa chất đó có thể gây ra ; chất bạch đản nhân tạo đã thay thế chất đạm đang dần mất vì chất lỏng xâm lấn trong người ; thuốc trụ sinh đã ngăn được truyền nhiễm ; các chất bổ được đưa vào mạch máu PENNY.

Sau nhiều giờ như thế, kim chích cũng trở thành vô dụng. Da PENNY đã sưng lên với những chỗ phồng vàng rực như thứ chất nước đã bị đẩy, ngấm lạc vào những vùng da thịt khác. Kim chích cứ bị đẩy ra, và sau đó lại được ấn vào.

Đấy là một lý do kỹ thuật đã khiến một nữ y tá giỏi trở nên vụng về. Nhưng ngay cả những người tài cũng phải gặp trở ngại khi những mạch máu bị lạm dụng quá và cánh tay đã bị bầm tím vì những vết do kim không chích vào được.

LINDA đến bịnh viện mỗi ngày, đôi bạn chúng nó chơi cút bắt hàng giờ, và trò chuyện, và vờ như PENNY đã bình phục. Mãi về sau cho đến ngày LINDA không thể nói chuyện với PENNY được chút nào nữa ; vì PENNY phải chịu chụp thuốc để nằm im cho dịu cơn đau. LINDA đã chờ bên giường khi PENNY rên rỉ và làm những cử động vô ý thức trong giấc ngủ. Chị con thường chồm lên và vùng khóc nức nở, rồi thức giấc. Dần dần, chị con có thể kể lại được giấc chiêm bao và nói chuyện... cho đến một lúc, chị con cảm thấy cần thiết, biết hỏi đến việc tiêm thuốc khác.

Hầu hết những nỗi đớn đau của PENNY đều gây ra bởi những vết sưng do ung thư trong phổi chị con. Những vết u này đã sinh ra sự tích tụ của chất nước mủ. Chất này đã làm cho chị con mất sức, ngạt thở, cho đến khi chịu hết nổi, chị con la lên: "Bác sĩ, con không thể thở nữa, bác sĩ không thể làm gì giúp con thở được ư?"

Vì thế, người ta đã làm những gì họ có thể làm. Vị y sĩ tử tế, tốt bụng của chúng ta, người đã thương PENNY vì chị con đã mỉm cười can đảm chịu đựng, cũng như chị con thương ông ta vì đôi bàn tay nhân ái, dịu dàng, người đã đưa vào một chiếc kim dài giữa những xương sườn của chị con và từ từ rút ra từng kim chích chứa đầy chất nước lền màu cam, đầy chất đạm và những chất sống khác. Sau đó, một ống tiêm khác cũng được ấn vào phía dưới bụng của chị con, nơi đây, ông ta cũng rút ra 2 phần tư khác cũng cùng thứ nước lền này.

Cùng lúc, một chất phóng xạ, mua về từ Nữu Ước, được đưa vào vùng phổi của PENNY để cố gắng ngăn chận sự bành trướng dữ tợn của căn bịnh. Bị trói gọn lại như nằm trong một cái ống, PENNY cảm thấy khó khăn để tạo một vị thế an toàn trên giường. "Má, con đã làm gì lỗi?" Một ngày nọ chị con đã hỏi má như vậy "tại sao con không bình phục hở má?" Không có lấy một câu trả lời. Chị con không làm gì lỗi cả, và những vị bác sĩ không biết làm gì cho phải, dù họ đã tranh đấu như mãnh hổ để giành lại sự sống cho chị con. Nhưng chứng ung thư bành trướng mỗi ngày một nhanh.

Những tuần cuối làm PENNY quá yếu đến không viết nổi cuốn sách mà chị con muốn tặng con và em con, những đứa trẻ có vẻ nghĩ rằng hút thuốc là đúng. PENNY đã chết vì ung thư, chứng bịnh đã phát xuất ở dưới bụng chị con và lan tràn đến gan, đến phổi. Chị con chết vì một kẻ thù làm chị con ngạt thở, kẻ thù không thể được tha thứ, được hiện diện trong thuốc thang, trong lời cầu nguyện. Trong những ngày đau đớn ấy, vì chị con trở nên ngày càng sa sút, cha mẹ đã hỏi nhiều vị bác sĩ học thức uyên thâm chỉ độc một câu hỏi: "Tại sao? Tại sao PENNY lại bị ung thư?".

Một chuyên viên về chứng bịnh này đã trả lời câu hỏi của cha mẹ: "Đây thật là một câu hỏi cực kỳ khó khăn khi trả lời. Vì có hàng trăm loại ung thư khác nhau. Và cho đến nay, chúng tôi đã biết được nguyên nhân trực tiếp của một vài loại thôi. Và trong những loại này, người ta sẽ không tin là nó có được".

Con cũng sẽ không tin, có phải không CHRIS? PENNY đã mắc phải điều mà chị con không muốn, và chị con ao ước là con phải nhận thức rằng điều đó sẽ xảy đến cho con.

Con không nghe lời chị con sao CHRIS?

Thương yêu,

Mẹ của con : MARY PLUMER


HẠNH TRÂN       

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 202, ra ngày 1-6-1973)

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

CON CÁO VÀ CON NHÍM MỎ VỊT - Đặng Hoàng

 Mới đọc qua đề, chắc hẳn nhiều bạn ngạc nhiên lắm. Làm gì có con cáo hay nhím nào với chiếc mỏ như vịt bao giờ. Nhím là nhím, cáo là cáo và vịt là vịt chứ tại sao vừa nửa con thú này lại nửa con thú nọ, lẫn lộn với nhau như vậy? Thế nhưng, đây là hai con vật thật và sống trong thời đại chúng ta chứ không phải chuyện thần thoại đâu.
 
Thật thế, các khoa học gia cùng một số người khác cho rằng tổ tiên chúng thuộc loại đa giống, hay nói cho rõ hơn, mang hình dáng của loài bò sát, có vú kiêm loài chim. Nhưng theo nhiều nhà động vật học thì ngay từ nguyên đại đệ II, cách đây chừng một trăm tám chục triệu năm, chúng đã xuất hiện trên trái đất, và chỉ được công nhận như loài bò sát mà thôi.
 
Với đặc tính chung là rất nhút nhát, chuyên hoạt động về đêm, chúng không sinh con mà lại đẻ một hay hai (họa hoằn lắm mới ba) trứng mầu trắng, dài chừng hai phân, do một lớp màng bao bọc bên trong lần vỏ cứng và nuôi con bằng sữa. Chúng ăn sâu bọ, mối, côn trùng, nòng nọc, tôm, cua, ốc cùng những con cá nhỏ dưới hồ, ao, lạch, đầm lầy, khe suối tại vùng rừng núi Úc Châu cùng các quần đảo miền Nam Thái Bình Dương. Người ta phân ra hai loại:
 
- Con cáo mỏ vịt sống cả trên cạn lẫn dưới nước, năng gặp nhất tại Úc ở vùng Vitoria, Queenland, Nouvelles-Galles và đảo Tasmania. Sở dĩ nó mang tên này là vì toàn thân, suốt từ đầu tới đuôi đều bao phủ một lớp lông rậm hung hung nâu xám như cáo, đặc biệt là đầu và chiếc mỏ mầu vàng, khum khum giống vịt, với lỗ mũi nhỏ nhô lên chính giữa phía trên. Mỏ này được một làn da mỏng che chở giúp nó nhận ra mùi vị con mồi. Hai mắt và lỗ tai bé tí cũng do một lớp da che kín mỗi khi nó lặn xuống nước kiếm ăn. Riêng chiếc đuôi dầy, to, rất khỏe, dài chừng mười lăm phân, chỉ bằng một phần tư thân mình. Giữa năm móng vuốt sắc bén ở mỗi chân là một lớp màng mỏng nối liền với nhau. Màng này gấp nếp lại được để lúc cần thì đào đất, bằng không, nó trở thành mái chèo khi bơi lội. Nguy hiểm nhất là dưới mỗi bàn chân, xen kẽ những móng vuốt có một cái ngạnh chứa đầy chất độc là vũ khí tự vệ duy nhất giúp nó chống lại kẻ thù.
 
Cáo mỏ vịt đực dài sáu mươi phân, lớn hơn con cái chút đỉnh, nặng từ tám, chín tới mười bẩy lí lô, ăn rất khỏe. Người ta thấy một con cái nuôi trong vườn bách thú đã "xực" hết một kí lô côn trùng, tôm, cua, cá suốt đêm mà vẫn không đủ.
 
Hầu như suốt ngày cáo mỏ vịt chỉ lo bơi lội kiếm ăn hay đào hầm bên cạnh bờ nước dài từ bốn tới mười tám hoặc ba chục thước, rồi dùng đuôi trát nhẵn hai bên bờ đường hầm. Dĩ nhiên đây là công việc của con đực xây tổ ấm, nhưng khi con cái sắp đẻ, thì nó lại tự chọn một hầm khác do chính nó sửa soạn, đoạn tha rác rưởi, lá cây cùng mọi thứ rễ về làm nệm. Sau đó, nó bít kín lại bằng đất, với mục đích đánh lạc hướng kẻ thù và nhất là giữ cho nhiệt độ bên trong luôn luôn ẩm ướt, rồi ở đó để ấp trứng trong vòng hai tuần lễ trứng mới nở. Thời gian này, sữa bắt đầu tiết ra ở vú để nuôi con, vì chúng không mở mắt trong ba tháng. Mẹ chúng chăm nuôi mãi tới tháng thứ sáu là lúc đủ sức mới được mẹ dẫn theo đi kiếm ăn. Điểm lạ lùng là dù ở dưới nước, chúng vẫn bú sữa mẹ được.
 
Giống hệt như vịt, khi ở dưới nước, cáo mỏ vịt có thể cắm đầu xuống sâu để mò thức ăn trong vòng một phút, sau đó nó mới ngóc lên để thở.
 
- Con nhím mỏ vịt chỉ sống trên cạn gồm sáu loại hay xuất hiện ờ Úc Châu, Tasmania và Noevelles-Guiné. Dĩ nhiên là thân hình nó có những lông dài như nhím và chiếc mỏ, dài nhưng hơi nhỏ, và đặc biệt là nó còn có chiếc lưỡi dài đầy chất nhờn dùng để bắt côn trùng như con thực nghị vậy. Hơn nữa, con nhím mỏ vịt cái cũng đẻ trứng nhưng lại đặt trong cái túi trước ngực cho tới khi trứng nở và nuôi con ngay trong túi chẳng khác gì con đại thử. Dĩ nhiên nó cũng có sữa cho con bú như cáo mỏ vịt vậy. Trung bình nhím mỏ vịt dài vào khoảng ba mươi tới bốn mươi phân, nặng cỡ sáu, bẩy kí lô. Chân của nó có ngón nhưng không có lớp màng dính liền lại như cáo mỏ vịt.
 
 
ĐẶNG HOÀNG       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 43, ra ngày 18-6-1972)

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

EM YÊU AI - Đinh Thụy Minh Châu


Bé đặt con Miu vào lòng và đưa tay vuốt nhẹ bộ lông óng mượt của nó. Bé vẫn thích làm bạn với con Miu hơn con Tou Tou, vì Tou Tou dữ lắm, nó hay theo liếm chân bé hoài đi. Bé "o xịt" nó ra rồi đấy. Bây giờ bé chỉ chơi với con Miu thôi. Mỗi buổi tối, khi cả gia đình sum họp ở trên nhà, bé ôm con Miu ngồi cạnh bên mẹ để nghe chị Thảo và anh Hiếu học bài. Con Miu ngoan lắm, nó nằm cuộn tròn trên đi văng chăm chú nhìn chị Thảo học a, b, c. Thỉnh thoảng Miu kêu lên "meo meo" thích thú vì chị Thảo đánh vần vấp bị ba la. Bé không biết chị Thảo học cái gì mà chị ấy khóc hoài, "lêu lêu" nhé! Mai mốt được đi học bé sẽ chăm chỉ không khóc nhè như chị Thảo đâu. Tuy thế chị Thảo có cả một lô bài hát thật hay. Hôm trước chị ấy dạy bé hát: "Em có đôi bàn tay trắng trắng xinh xinh, em không vọc đất để dành ăn cơm". Bài hát đó thật dễ, bé đọc có hai lần là thuộc liền hà. Bé hát cho ba mẹ và cả nhà nghe nữa. Chị Thủy khen nức nở làm mũi bé phồng to bằng... bằng quả cà chua í.
 
Bé đưa tay dụi mắt, cả nhà đang coi Ti vi ở dưới nhà để mình bé ở đây. Chị Thủy từ dưới lên hỏi:
 
- Bé sao đó? Buồn ngủ hả?
 
Bé lắc đầu. Chị Thủy ngồi xuống bên bé, xốc bé làm con Miu hoảng sợ chạy mất. Nước mắt bé đã ươm đầy hai bên khóe, bé dậm chân:
 
- Tại chị đó... hu... hu...
 
Chị Thủy vuốt tóc bé:
 
- Nín đi chị thương, vào ngủ kẻo ba đánh đòn!
 
- Hông! Bé hổng ngủ đâu!
 
Vừa lúc ấy mẹ đi lên. Bé òa lên khóc to hơn nữa. Mẹ ngạc nhiên:
 
- Gì đó Thủy?
 
- Bé Thuận không đi ngủ nè mẹ!
 
Bé chen vào:
 
- Hông! Con hông buồn  ngủ.
 
Mẹ ngồi xuống đi văng ôm bé vào lòng: 
 
- Sao con khóc? Nói mẹ nghe!
 
Lúc ấy cả nhà bu quanh bé. Bé gục đầu vào lòng mẹ:
 
- Hu... hu... con... khát... sữa... mà chị Thủy... biểu... con... ngủ, làm... con Miu... chạy đi mất hu... hu...
 
Cả nhà ồ lên cười. Bé xấu hổ ôm thật chặt lưng mẹ và đưa tay quẹt nước mắt.
 
Một lát sau, chị Thủy lên đưa bình sữa. Bé túm lấy tu một hơi thật ngon lành. Chị Thảo thì thầm bên tai bé:
 
- Đừng khóc nữa, chị dạy cưng hát nghe!
 
Bé ngậm đầu núm vú khe khẽ gật đầu. Chị Thảo cất tiếng hát:
 
Nếu hỏi rằng em yêu ai?
Thì em rằng em yêu ba nè...
Thì em rằng em yêu má nè...
 
Bé hỏi chị:
 
- Hổng có yêu con Miu hả chị Thảo?
 
Chị Thảo lúng túng nhìn quanh rồi kề vào tai bé:
 
- Chị hổng biết!
 
Chị Thảo và bé cười lên ròn rã.
 
Mẹ tát nhẹ vào má bé:
 
- Con khỉ! Lúc nãy khóc, bây giờ cười. Coi! Cái miệng méo xẹo kìa!
 
Cả nhà cùng cười thật vui.
 
Bé lên giường ngủ, lẩm bẩm lại bài hát chị Thảo dạy:
 
Nếu hỏi rằng em yêu ai?
Thì em rằng em yêu ba nè...
Thì em rằng em yêu má nè...
 
Bé mỉm cười đi vào giấc mộng. Đôi môi hồng méo xệch và cặp mắt nhỏ vẫn còn đọng lại giọt nước mắt lóng lánh...
 
 
ĐINH THỤY MINH CHÂU       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 41, ra ngày 4-6-1972)


Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

PHƯỢNG VÀ HẠ - Nhã Uyên

 

Phượng ơi, phượng nở kề cận ngày thi
Để bé cặm cụi bên đèn bên sách
Hạ ơi, hạ về đưa tiễn xuân đi
Để bé nói lời giã từ xa cách

Lờ lững trên không những áng mây trôi
Một sáng mờ sương không còn đi học
Chín giờ buổi mai mặt trời chưa mọc
Trên cành phượng thấm giọt mưa đầm đìa

Hạ ơi, hạ trốn trong mưa làm chi
Để bé dỗi hờn tìm hạ khắp chốn
Phượng ơi, phượng tươi phượng đẹp làm chi
Để  bé soi gương thấy mình thiếu thốn

Sách báo hỗn độn góc phòng búp bê
Cặp mắt pha lê mỉm cười nhìn bé
Phượng đỏ cúi đầu mưa tạt bên lề
Từng cơn gió về rung rinh cành nhẹ

Hạ ơi, hạ biết bé buồn hay không
Hãy dừng cơn mưa đừng làm giông tố
Phượng ơi, dù mưa muốn làm tan vỡ
Phượng tươi xóa lấp khoảng trống mênh mông

Hạ ơi, sáng ni bé sẽ làm chi
Cho hết thời gian mưa qua ướt đất
Phượng ơi, cánh phượng thấm mưa ngại chi
Vẫn tươi vẫn đẹp một màu bắt mắt

Soi gương, chải đầu, mỉm cười mím chi
Bé chẳng đi đâu, bé chẳng làm gì
Thẫn thờ cả buổi, phượng ơi, hạ ơi
Mưa rơi, lá rơi, hạ về, phượng đỏ

Lật  xem cuốn tập lưu bút  tuy nhỏ
Hình ảnh ban xưa tưởng đã không rời 
Cảm thấy trong tim nỗi buồn vô cớ
Nên bé gọi thầm phượng ơi, hạ ơi!

                                                  Nhã Uyên


Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

VÁCH ĐÁ SƯƠNG MÙ - Hạnh Vi

 

Buổi sáng trong thung lũng trời đầy sương mù, những lớp sương trắng vướng víu thật dịu dàng trên ngọn cỏ, hàng thông đứng im lìm dưới chân núi thấp, mặt trời chưa lên. Cảnh vật ngủ say trong không gian tinh khiết và huyền hoặc thoang thoảng trong hơi sương. Quỳnh Chi đã ngửi được mùi đất và tiếng đàn quen thuộc của Thuyên. Quỳnh Chi bước thật nhẹ đến hàng hiên nhà Thuyên và dừng lại dưới gốc cây phong lan chăm chú nghe đàn. Tiếng đàn thật êm, dìu dặt trong căn nhà có khung cửa xanh xinh xắn đưa ra. Quỳnh Chi tưởng tượng đến bàn tay Thuyên đang lướt nhẹ nhàng trên phím, Thuyên có một chân bị tật nhưng ngược lại Thuyên có đôi tay rất đẹp và tài đánh đàn thật hay.
 
Bỗng tiếng đàn im bặt và tiếng "lịch kịch" của đôi nạng gỗ đi về phía cửa. Cửa xịch mở, Thuyên reo lên:
 
- Chi đấy hả? Biết ngay mà.
 
Quỳnh Chi ngạc nhiên:
 
- Biết gì?
 
Thuyên mang đôi nạng đến bên cạnh Quỳnh Chi mỉm cười đáp:
 
- Biết có Quỳnh Chi đứng ngoài nầy. 
 
- Thật? 
 
- Ừ! Chi không tin à?
 
Quỳnh Chi mím môi:
 
- Không! Sao Thuyên biết được?
 
- Chi đến lúc nào Thuyên không biết, nhưng đang đàn Thuyên chợt có linh cảm như đang có người đứng ngoài cửa nghe lén và Thuyên đoán người đó là Chi chứ không ai khác.
 
Quỳnh Chi nghiêng đầu, nheo mắt chọc Thuyên:
 
- Tài thật!
 
Thuyên cũng bắt chước Quỳnh Chi nghiêng đầu, nheo mắt cười. Không khí tĩnh mịch như loãng đi trong tiếng cười của đôi chim non. Thuyên đưa tay vuốt một chiếc lá non ướt hơi sương và đưa mắt nhìn lên những chùm hoa phong lan trên cao. Quỳnh Chi đưa mắt nhìn theo bạn hỏi:
 
- Thuyên thích hoa nầy lắm, phải không?
 
Thuyên gật đầu, mơn man chiếc lá trên má nói:
 
- Những lúc buồn Thuyên thường ra đây nói chuyện với cây hoa nầy, nên Thuyên yêu nó lắm!
 
Quỳnh Chi kinh ngạc nhìn bạn:
 
- Nói chuyện với cây hoa nầy?
 
- Ừ! Lạ lắm sao mà Chi ngạc nhiên?
 
- Chi không tin, cây làm sao nghe được tiếng người?
 
Thuyên thản nhiên đáp:
 
- Ai nói với Chi là cây không nghe được tiếng người? Thuyên tin là nó nghe được, nó hiểu được, nó còn biết cả tánh tình của Thuyên, nó biết Thuyên thích nó nên nó luôn luôn đi theo Thuyên. Mỗi buổi sáng khi vừa mở mắt ra Thuyên đã ngửi ngay được hương hoa Lan, trưa cũng ngửi được, chiều cũng ngửi được, ngay cả lúc lên giường ngủ hay ngồi đánh đàn Thuyên đều ngửi được hương hoa Lan. Như thế nó chả hiểu và thương Thuyên lắm sao. Chi tưởng chỉ có loài...
 
Quỳnh Chi vẫn kinh ngạc, nhìn bạn nói thao thao bất tuyệt, gương mặt thật nghiêm nghị không chút bỡn cợt. Quỳnh Chi không ngờ cô bạn bé nhỏ hay buồn của mình lại có óc tưởng tượng phong phú đến thế. Thảo nào đã có lần Quỳnh Chi hỏi Thuyên: "Ở mãi trong căn nhà nhỏ, không đi chơi, không có bạn bè Thuyên có thấy buồn không?" Thuyên đã trả lời cho Quỳnh Chi như thế nầy: "Sao Chi biết Thuyên không có bạn, bạn Thuyên đông lắm chứ, chúng ở đây chung quanh nhà Thuyên, chúng ở từ ngoài ngõ đến trong phòng, chúng là những cỏ cây và vật dụng quen thuộc của Thuyên, Chi không biết chứ chúng ngoan và dễ thương ghê lắm". Lần đó Quỳnh Chi tưởng Thuyên nói đùa nào ngờ Thuyên nói thật. Quỳnh Chi ngầm nể phục bạn. Tuy nhiên cô bé vẫn phá Thuyên:
 
- Chắc Thuyên đọc nhiều chuyện thần thoại?
 
- Không. Thuyên nói thật. Chi không tin thì thôi.
 
Thuyên nói, mắt vẫn nhìn lên cây hoa Phong Lan, vẻ mặt đầy tin tưởng. Quỳnh Chi không muốn phá vỡ niềm tin của bạn nên bảo Thuyên:
 
- Mình đi chơi một chút.
 
- Đợi Thuyên một tí nhé!
 
Thuyên quay vào nhà và trở ra với chiếc áo len trên mình, màu len thật trắng như màu sương mù. Thuyên rất thích màu trắng nên áo của Thuyên toàn màu trắng. Có lần đi dạo với Thuyên trong thung lũng vào buổi sáng, Quỳnh Chi nói:
 
- Trông Thuyên mặc áo trắng đẹp và ngoan như một nàng công chúa lạc trong rừng.
 
Thuyên cười thật buồn:
 
- Công chúa què Chi ạ!
 
Từ lần đó không bao giờ Chi dám khen Thuyên xinh như "Công Chúa" vì Chi biết Thuyên mang mặc cảm bị tật nguyền.
 
Đôi bạn đi loanh quanh trong thung lũng, chúng không thể nắm tay nhau hay kề vai thân thiết nhưng chốc chốc chúng lại nhìn nhau, ánh mắt dịu dàng và thân ái. Nắng sớm đã lên, sương mù tan dần, bầu trời thật xanh và trong vắt. Từ trong những vách đá cao phủ đầy rêu từng đàn chim túa ra lao xao trong nắng, chúng bay dập dìu và kết thành từng hình chữ V nhỏ xíu. Thuyên nhìn chim bay mà ước ao mình được tung tăng như thế. Bỗng Thuyên đứng lại dưới chân núi bảo với Quỳnh Chi:
 
- Chi này! Mình leo núi chơi nhé!
 
- Leo núi?
 
Quỳnh Chi kinh ngạc lập lại lời bạn. Thuyên gật đầu:
 
- Ừ, xem thử trên ấy có những gì. 
 
- Không được đâu. Thuyên không leo núi được đâu, chân yếu lắm đấy Thuyên  không biết à.
 
Thuyên mỉm cười, cương quyết:
 
- Chân Thuyên không yếu, Thuyên leo được, để Thuyên leo cho Chi xem.
 
Thuyên nói xong bước nhanh lên tảng đá. Quỳnh Chi hốt hoảng chạy theo bạn dỗ dành:
 
- Thuyên, nguy hiểm lắm đó, đừng leo.
 
Thuyên vẫn mím môi không nói nhưng chân vẫn bước từ tảng đá nầy đến tảng đá khác, chiếc nạng gỗ khua trên đá nghe "lịch kịch". Quỳnh Chi không biết làm sao hơn là leo bên Thuyên.
 
Thuyên vẫn leo hăng hái lên cao dần, cô bé thích thú trong khi Quỳnh Chi sợ cuống chân. Một chốc sau hình như đã nghe mỏi Thuyên dừng lại thở. Quỳnh Chi nhìn những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán bạn, nhỏ nhẹ:
 
- Đừng leo nữa Thuyên, mình về nhé?
 
Thuyên nhìn lên vách đá cao, nơi đàn chim bay ra lúc nãy, nói:
 
- Mình leo đến vách đá đó hãy về.
 
Quỳnh Chi hốt hoảng:
 
- Không được, đừng leo cao nữa. Thuyên không nghe, Chi về ngay bây giờ, không bao giờ đến nhà Thuyên nữa.
 
Thuyên thấy bạn giận lo lắng bảo:
 
- Thôi, không leo cũng được, để hôm khác vậy.
 
Quỳnh Chi lắc đầu:
 
- Không. Thuyên  phải hứa với Chi là đừng bao giờ leo nữa.
 
Thuyên cười lặng thinh. Quỳnh Chi lay tay bạn:
 
- Nhé! Thuyên đừng leo núi nữa nhé!
 
Thuyên quay mình lại:
 
- Mình xuống núi đi Chi.
 
Quỳnh Chi lặng thinh theo bạn, lòng vẫn ái ngại nhưng liếc thấy vẻ mặt lạnh căm căm của Thuyên, Chi không dám nhắc chuyện leo núi nữa. Chi vốn biết tánh Thuyên bình thường rất ngoan nhưng khi quyết định việc gì thì rất bướng.
 
Nắng lên cao gay gắt nóng, đôi bạn đi bên nhau không nói. Quỳnh Chi nhìn Thuyên đi chậm chạp, đôi vai nhấp nhô theo nhịp bước của đôi nạng trong tay. Chi thương hại bạn, chắc hẳn đã có lần Thuyên ước mơ được lành chân, để được chạy nhảy tung tăng như bao đứa trẻ khác cùng lứa tuổi với Thuyên. Trời đã bắt Thuyên chịu tàn tật vì thế khi chào đời Thuyên đã bị què, con chim xanh đã gãy một chân, con bướm vàng đã mất đi chiếc cánh thì vùng trời xanh mây trắng đối với chúng là cả một sự ước mơ vĩ đại cũng như Thuyên, vách núi kia không khó khăn lắm với một người có đôi chân bình thường nhưng với Thuyên nó cao vời vợi.
 
- Chi nầy!
 
- Gì?
 
- Bao giờ Chi đi?
 
- Mai Thuyên ạ!
 
- Mai?
 
- Ừ, mốt là ngày khai trường nên mai Chi phải đến trước để lấy phòng.
 
Thuyên chớp mắt, giọng thật nhỏ:
 
- Thuyên ở đây một mình, không có Chi buồn ghê lắm.
 
Quỳnh Chi an ủi:
 
- Bãi trường hay có dịp nghỉ Chi về với Thuyên.
 
- Có lâu lắm không Chi.
 
- Không biết được, mà... chắc mau.
 
- Ở trường Chi có nhiều bạn lắm?
 
- Không nhiều đâu, Chi không thích ai bằng Thuyên cả.
 
Thuyên chớp mắt cảm động:
 
- Cám ơn Chi.
 
Chi cười, cố gây vui cho bạn. Cô bé reo lên:
 
- Tới nhà rồi đấy. Thuyên đàn cho Chi nghe nhé?
 
Thuyên cười theo bạn:
 
- Đàn dở đừng cười nghe.
 
- Thuyên mà đàn dở thì ai đàn hay?
 
Đôi bạn rẽ vào lối đất quen thuộc. Hương hoa Lan thoang thoảng trong gió. Thuyên đi trước Chi theo sau, tóc Thuyên bay quấn quít trên mặt Chi, Chi khẽ hít, tóc Thuyên thơm nhẹ nhàng. Màu tóc không đen nhưng tóc mềm và óng ánh trong nắng.
 
Thuyên ngồi bên chiếc đàn đặt cạnh khung cửa sổ có chắn rèm xanh, mái tóc để nghiêng về một phía, cô bé bắt đầu dạo đàn, bàn tay thành thạo lướt thoăn thoắt trên phím, điệu nhạc phát ra vui tai nhưng nghèn nghẹn ở cổ. Thuyên vẫn đàn say mê, hàng mi dài không lay động, cô bé đàn từ bản này sang bản khác, điệu nhạc nối tiếp nhau trầm bổng vang vang khắp căn phòng, dường như Thuyên quên mọi vật chung quanh, quên cả cô bạn bên cạnh mình, cô bé đàn không biết mệt, đôi tay không ngừng nhịp nhàng trên phím. Cho đến khi Quỳnh Chi đặt tay lên tay Thuyên:
 
- Thôi Thuyên ạ!
 
Thuyên ngửng mặt lên nhìn Chi, một giọt nước mắt chạy nhanh xuống má.
 
- Chi không thích Thuyên đàn nữa sao?
 
- Không, thích lắm chứ.
 
- Để Thuyên đàn tiếp cho Chi nghe nhé?
 
- Thôi, Chi phải về, Thuyên... ở lại đừng buồn nhé! Có dịp Chi sẽ về thăm Thuyên.
 
Thuyên ngồi sững sờ trong khi Quỳnh Chi chạy nhanh ra cửa, chân đụng phải chiếc nạng của Thuyên rơi xuống gạch. Tiếng kêu khô khan.
 
*
 
Mùa hè đã đến, Quỳnh Chi trở về thung lũng, cô bé nao nức đến gõ cửa nhà của cô bạn thân yêu, người mở cửa không phải là Thuyên mà là má Thuyên.
 
- Thưa bác, Thuyên đâu ạ?
 
- Thuyên à?
 
Bà thẫn thờ đưa mắt nhìn ra xa nơi vách đá có tổ chim. Bà không nói nhưng sự im lặng tràn ngập nỗi bàng hoàng. Quỳnh Chi nghe như toàn thân mình lạnh băng. Chi hốt hoảng quay lại phía đỉnh cao có sương mù mù. Chi hình dung màu áo trắng sương mù của Thuyên mới hôm nào còn đi với Chi qua những cành thông rủ thấp ở trên ấy. Chi bỗng bật lên tiếng khóc. Chi quay lại phía bà mẹ Thuyên. Bây giờ khuôn mặt của bà cũng đầm đìa nước mắt. Chi nghẹn ngào không nói được câu nào. Chi lẳng lặng bước xuống sân. Trời hôm nay nằng lên muộn nên trên những chòm thông cao còn vương vấn những giải sương trắng xóa. Gió rì rào thổi qua những rặng thông già. Một vài cành khô rơi đâu đó trong vườn gây thành tiếng khô khan. Chi chợt nhớ đến tiếng động khô khan ngày nào năm ngoái, Chi đã đụng vào làm rớt chiếc nạng gỗ của Thuyên. Chỉ có khuôn mặt của Thuyên là bị nhạt nhòa theo từng giọt nước mắt đã ướt đẫm trên mắt Chi... Thuyên ơi...
 
 
HẠNH VI        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 93, ra ngày 10-6-1973)