Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

CUỘC XUẤT QUÂN TUYỆT VỜI CỦA NGÀN THÔNG - Thạch Thủ

 

Sáng thứ bẩy 13-4-71
 
Hơn 100 cặp mắt dán vào tấm bản đồ Sài-gòn Gia-Định. Tiếng anh Tổng Thư Ký Quyên Di vang lên một cách... khác thường. Thạch Thủ nói "khác thường" là vì hàng ngày giọng nói của Quyên Di vẫn được liệt vào hạng "chưa bể tiếng" hay như Thái Bắc gọi "thủy chung như nhất", nghĩa là khi mở mắt chào đời tiếng khóc của "thằng cu" Quyên Di như thế nào bi giờ... vẫn vậy!
 
Đó là sơ lược quang cảnh trước giờ "xuất quân" đi quảng cáo Ngàn Thông.
 
Vì "địa điểm hành quân" quá rộng lớn nên phải chi thành bốn khu vực mà Quyên Di đặt tên là "bốn vùng chiến thuật": Chợ lớn thuộc vùng 4 - Gia Định vùng 3 và Sàigòn lấy đường Phan Thanh Giản làm lằn mức cho vùng 1 và 2... Ấy cũng may là nhờ có quí vị học trò, không hiểu bắt được "tuy ô" ở đâu mà biết được ngày phát động quảng cáo Ngàn Thông, đã ùn ùn kéo tới "tình nguyện nhập ngũ". Ngàn Thông, báo của học trò có khác! Dĩ nhiên anh em trong tòa soạn chỉ "ô kê" các ngài con trai nào "cốt-tô" có dư sức khỏe và có vẻ... bụi đời một tí vì công việc tuy vui nhưng nặng nhọc, do đó đành mời các "thư sinh" khác về nhà "ngồi chơi xơi nước" và nhất là các đấng "kịp tóc" thì "trăm lạy ngàn lạy" quí cô nương "hoan hỉ" trở về "yên giấc nồng" vì "nghề" này có vẻ... trâu bò lắm, không xứng đáng với những bàn tay ngà ngọc!
 
10 phút sau, quân ta lên đường. Kẻ vác búa, xách đinh, người ôm giấy, cầm hồ... nhảy lên xe đạp, gắn máy túa đi khắp nơi. Bà con lối xóm ngơ ngác tưởng lại có vụ... xuống đường. Để trả lời, một "anh hùng" nhảy xuống xe dán "kịch" trên tường một tờ: "Học trò đọc Ngàn Thông". Hiểu ra, thiên hạ cười toe toét!
 
Thạch Thủ được "bộ tham mưu" trao cho bổn phận xem xét tình hình rồi về báo cáo. Vớ được chiếc Hon-da cổ lỗ sĩ nổ lớn như phản lực (!) của "ông" chủ nhiệm, Thạch Thủ chạy rông hết phố nọ đến phố kia. Nhận xét đầu tiên của Thạch Thủ là các trường nữ trung học là những địa điểm thu hút nhất. Chẳng thế mà các ngài con trai cứ nhất định chiếu cố tận tình các bức tường bao quanh các trường nói trên. Các ngài tỏ ra... hăng hái nhất, vui vẻ nhất và chịu chơi nhất, đặc biệt nếu vào giờ ra chơi của các "tà áo trắng" thì ôi thôi các ngài biểu diễn nhiều pha ngoạn mục "cóc" chịu nổi, nào công kênh nhau, nào trèo lên đầu lên cổ nhau... để dán những tấm bích chương cho thật cao, thật hách, cho thật "không giống ai" trên các thân cây, trên cổng trường và cả trên những bảng thông cáo của nhà trường. Ngược lại các ngài lại thờ ơ hay quên béng các trường nam sinh. Ai lại Võ Trường Toản, Trưng Vương sát nách nhau mà "bên ni" tuyệt nhiên không có lấy một bích chương trong khi "bên nớ" lại xanh xanh, đỏ đỏ cứ như bươm bướm. Gia Long, Lê Văn Duyệt, Marie Curie thì đếm không xuể còn Pétrus Ký, Chu Văn An, Jean Jacques Rousseau chỉ "lơ thơ tơ liễu buông mành"!. Thấy "hiện tượng giới trẻ" này Thạch Thủ chỉ biết khóc lên rằng "ông Trời ơi sao sinh ra tâm lý con người rắc rối như vậy" đồng thời trách thầm "bộ tham mưu" đã không đưa các đấng "kịp tóc" đi để... "cân bằng lực lượng"!
 
Điều đáng ghi lại đây nữa là các ngài con trai khoái dán vào những nơi nào có vẻ... bí hiểm: Bảng chỉ dẫn lưu thông hả? "Kịch" một tấm bích chương! Một tấm quảng cáo toán-lý-hóa? - "A lê" tờ Ngàn Thông đè lên! Bức tường này mới quét vôi lại đẹp quá! Thế là một dãy tờ Ngàn Thông chạy dài trên tường đến 2, 3 thước! Một chiếc xe du lịch đậu bên đường? - Ngó trước ngó sau không có ai, một "chàng" tiến lại nhờ... "giữ giùm" ít nhất hai bích chương. Thấy những cảnh "phản nghệ thuật" này, Thạch Thủ vứt xe chạy xuống khuyên can thì các ngài con trai nhe răng cười: "Không sao đâu anh. Cho họ xé, trước khi xé thế nào họ cũng phải đọc một lần. Như vậy là mình... quảng cáo rồi!" Thế thì biết ăn làm sao nói làm sao nữa bi giờ! Thạch Thủ chỉ cón biết kêu trời rồi "chém vè" lẹ.
 
Tiện đây Thạch Thủ xin đại diện đại gia đình Ngàn Thông xin quí vị "khổ chủ" cảm phiền, nếu có buồn, xin buồn chút chút rồi bỏ qua. Nhất quỉ nhài ma thứ ba học trò mà. Hơn nữa tuổi trẻ tuy nghịch ngợm nhưng không có ác ý, chỉ tại Tạo hóa phú cho cái tính dễ thương nhất: Nghịch!
 
12 giờ trưa, quân ta trở về hậu cứ. Tiếng cười, tiếng nói nổ như pháo. Người này khoe "thành tích", người kia kể lại "chiến công" thật là vui. Các ngài con trai đòi hỏi buổi chiều và ngày mai "đánh" nữa. Tuy nhiên, hiểu rằng chiều cuối tuần bao giờ cũng có nhiều "mục lả lướt" và không nên phí "sức lao động", "bộ tham mưu đành cảm tạ và tuyên bố "nghỉ dưỡng quân". Thế là cuộc hành quân đợt I chấm dứt trong thành công tốt đẹp.
 
Chủ nhật 14-4-1971
 
Một đặc điểm "lọa" nhất nước Đại-Ngu và chưa từng thấy trong lịch sử báo chí An-Nam ta là cả chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, cả thư ký tòa soạn, nghĩa là những "tai to mặt lớn" của tờ báo Ngàn Thông đều tay búa, tay hồ cùng tham gia thi hành nghĩa vụ... quảng cáo!
 
Sáng nay, quân ta khởi hành sớm. "Cánh quân" được chia thành ba mặt: Thái Bắc và "đệ tử" đi sang Bảy Hiền, Bà Quẹo... Quyên Di, vì "kẹt" dự lễ cưới của một người bạn, "xuất quân" muộn hơn, có nhiệm vụ "bổ túc" những nơi bị các ngài học trò bỏ quên ngày hôm qua. Hoài Mỹ, Thạch Thủ và một "môn đệ" đeo lên chiếc Honda cũ hướng về trung tâm Sàigòn.
 
Vì chở ba, trái luật lưu thông, Hoài Mỹ cứ phải tìm những con đường nào không có "người anh em bạn dân" mà đi. Tại những địa điểm đầu tiên, Trường Phan văn Huê, Cao Thắng và một vài tiệm bán nhạc, sách ở đường Lê Lợi, "phái đoàn" không gặp trở ngại nào, nhưng khi lên Taberd thì bị "đèn đỏ"! Số là ông gác dan trường này quá sốt sắng với nhiệm vụ và có lẽ vì "thương" những bức tường mới, nên cứ nhìn tụi Thạch Thủ hầm hầm như thầm bảo: "Chúng mày mà dán giấy thì ông oánh bỏ mẹ!" Tuy nhiên, đứng lâu thì "gối mỏi chân chồn", ông ta đành quay trở vào. Không bỏ lỡ cơ hội "ngàn năm một thuở", ba thằng đồng loạt "a-la-xô" dán chớp nhoáng được một số bích chương. Khi Thạch Thủ tới bức tường góc Hai Bà Trưng - Nguyễn Du thì một vị "bạn dân" vẫy lại. Thạch Thủ nghĩ thầm "chết cha! Sao quả tạ chiếu rồi".
 
- Ê, có giấy phép không?
 
- Dạ có.
 
- Người ta đâu có cho dán lên tường?
 
- Người ta không cho nhưng cảnh sát đâu có cấm!
 
Tiếp theo lời nói, Thạch Thủ tương luôn bốn tờ "Học trò đọc Ngàn Thông" lên tường trước con mắt ngơ ngác của người "bạn dân".
 
Bọn Thạch Thủ sau đó kéo qua Centre Cuturel Français. Mấy ông tây, bà đầm ra chỉ trỏ, nói năng xì-là xì-lồ - Coi "thiên hạ" như "nơ pa", ba thằng liền "đánh úp" các bức tường, thân cây bao quanh Trung Tâm Văn Hóa này.
 
Làm xong phận sự tại trường Văn Hóa Quân Đội, trường St Paul và Chủng Viện Giuse (Hoài Mỹ nói là "nhà tu mà không đọc Ngàn Thông thì chẳng chóng thì chầy cũng... hoàn tục"), bọn Thạch Thủ tạt qua Võ Trường Toản. Tới nơi, "phái đoàn" được chứng kiến một "pha độc nhất vô nhị": Quyên Di trong bộ đồ "vía", quần thẳng nếp, áo trắng bóc, cổ còn đeo tòng teng chiếc "cà vạt" đắt tiền, đang vạch hàng rào kẽm gai chui vào dán tờ "Ngàn Thông" lên tường của Nha Trung, Tiểu học. Mấy cô bán nước đá gần đó thấy vậy cùng che miệng cười. Thạch Thủ nghĩ: "Tên này ế... vợ là cái chắc", Được hỏi nguyên do, Quyên Di cho biết vì tiết kiệm thời giờ nên không kịp "lột xác"!
 
Và sau khi "thăm" một số địa điểm khác nữa như Hội Việt-Mỹ, trường Nguyễn Trường Tộ, Phước An, Nguyễn Duy Khang... cả bọn kéo về tòa soạn. Phái đoàn của Thái Bắc đã trờ về từ hồi nào và đang "ngáo" ngon lành...
 
Trưa hôm đó chị Quản lý đãi một bữa bánh xèo "tuyệt cú mèo"!
 
Cả buổi chiều quân ta nghỉ để lấy sức cho cuộc... dạ chiến!
 
Trời về tối, có gió mát và ánh đèn điện, đoàn quân lại lên đường. Thái Bắc thuộc loại... siêu thị (trên 19 mi-ốp-pi lận) nên "phái đoàn" sợ có "tai nạn lao động", trao cho nhiệm vụ xách lon hồ và ôm giấy, nhưng "chàng" không chịu, nhất định đòi đóng bích chương trên các thân cây hai bên đường. Đành chiều! Nhưng thỉnh thoảng người ta lại nghe Thái Bắc kêu: "ối! ái!". Thì ra thay vì lấy búa đóng vào đinh, "chàng" cứ nhằm ngón tay mà nện!
 
Có lẽ nhờ không khí đêm mát nên nhiều ý kiến nẩy ra. Nhiều người đã sáng chế nhiều cách dán bích chương thần sầu. Đây là vài "vụ" điển hình:
 
Trên bức tường trường Régina Pacis có những dòng chữ: "Đòi hỏi chấm dứt chiến tranh vô điều kiện là phản dân, hại nước". "Chàng" Hoài Mỹ đã "kịch" tờ Ngàn Thông lên chữ "chiến tranh" thành thử câu trên được sửa là "Đòi hỏi chấm dứt Ngàn Thông vô điều kiện là phản dân hại nước"!
 
- Chỗ khác, trên tường nhà thương St Paul nhan nhản những tờ giấy với dòng chữ "Toàn thể thương phế binh nhiệt liệt ủng hộ Ngày Phế Binh Việt Nam: 15-4-1971". Chỉ một phút sau dân chúng qua đường lại đọc: "Toàn thể thương phế binh nhiệt liệt ủng hộ Bán Nguyệt San Ngàn Thông"!
 
Địa điểm cuối cùng của cuộc "hành quân" là cánh phải trường Gia Long. Thạch Thủ được chỉ định "đóng" các thân cây dọc bên đường. Vừa mon men lại một gốc cây, Thạch Thủ dội ra liền: Kiến lửa! Thạch Thủ định rút lui thì Hoài Mỹ la lên: "Càng hay! Kiến sẽ giữ bích chương khỏi bị thiên hạ xé". Sau một hồi "đấu khẩu", Thạch Thủ đành phải "nhào dzô" và cứ thế đi tìm những gốc cây nào có kiến (càng nhiều càng tốt) để "đóng"! Kết cuộc hai chân của Thạch Thủ sưng lên và ngứa như bị... ghẻ tầu!
 
12 giờ đêm, Quyên Di ra lệnh "khao quân": Thịt bò viên! Quân ta hưởng ứng ngay. Một tô qua đi, Quyên Di nổi hứng: "mỗi người thêm một nữa" Lại một tô qua đi. Tráng miệng: "mỗi người một ly sâm bổ lượng"! Nhưng khi trả tiền, Quyên Di trợn trừng hai mắt như bị... kinh phong! Tay sờ hết túi quần đến túi áo. Thì ra "bố mày" để quên tiền... ở nhà! Thế là một màn góp nhặt từng đồng, từng đồng của mỗi người diễn ra. Tang thương quá! May phúc bảy mươi đời, số tiền tổng cộng lại không những đủ trả khoản phí ẩm thực mà còn dư đến những ba đồng bạc cắc!
 
Sau đó quân ta chia tay. Ai nấy "thơ thới hân hoan ra về" tìm giấc điệp. Đồng hồ điểm 1 giờ 5 phút sáng!
 
Những giai thoại về các ngày quảng cáo Ngàn Thông thì còn nhiều, không phải chỉ có ở Sàigòn mà tại các tỉnh cổ-động-viên" báo về cũng lắm chuyện cười "pể pụng" và "chảy nước mắt"; tuy nhiên vì trang báo có hạn, Thạch Thủ đành chấm dứt ở đây. Trong số báo tới Thạch Thủ sẽ kể cho bà con nghe về những ý kiến của bạn đọc góp vào việc thực hiện Ngàn Thông của chúng mình.
 
 
THẠCH THỦ      
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 2, ra ngày 20-5-1971)


Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

CHO BÉ THÁNG 5, CÓ NGÀY SINH NHẬT - Hoàng Thi

 
 
 Biết không anh đang về thăm?
Với lời thỉnh cầu của bé.
Như từ một khoảng xa xăm
Chúng ta có nhiều lời hẹn
 
Anh về trong sợi mưa bay
Cùng gói hành trang rất nhỏ.
Những bông hoa cuối của ngày 
Chào thay bé - choàng khăn đỏ
 
Anh về để mừng bé thôi
Đủ thấy lòng vui như hội
Bay từ một cõi xa xôi
Niềm vui về nghe rất vội.
 
Bay bay chiếc lá tháng năm
Giữa mưa trong vườn hạnh ngộ
Bé ơi bé là trăng rằm
Soi vào đời anh mọi chỗ.
 
Rồi ngày cũng tỏa hoa hương
Với bé giữa ngày sinh nhật.
Anh nghe có một con đường:
Tình yêu vào đời anh thật.
 
Sinh nhật bé giữa tháng năm
Nên mưa cũng tình hơn nắng.
Mừng bé anh mừng chiếc khăn
Để lau mắt thầm giọt lặng.
 
Anh biết bé là chim non
Thường vẩn vơ buồn dễ khóc.
Anh muốn là dấu triện son
Ngự trên cuộc đời bé ngọc.
 
Bé ơi! Hãy như là hoa
Để nghe lời anh tình tự
Bé ơi! Hãy mãi vời xa
Để đừng nhìn anh do dự
 
Sinh nhật bé thêm tuổi đời
Nến hồng rồi nhiều như nấm
Anh thấy trong ngày nghỉ ngơi
Có nỗi buồn vàng bất tận.
 
Nỗi buồn đến sau niềm vui
Nnen6 lời hoài nghi cũng nhỏ
Lòng anh một nỗi bùi ngùi
Cũng lan từ từ như gió.
 
Anh về ủ lấy hoa Cau
Để chờ tuổi đời của bé
Nghe như một bài kinh cầu
Rơi vào lòng anh rất nhẹ
 
Cuối ngày có giọt mưa sa
Vào buốt hồn anh lận đận
Bé ơi có thấy cành hoa
Nở vàng trong chiều mưa chậm?
 
                                   HOÀNG THI
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 25, ra ngày 5-5-1972)



Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

TRÊN ĐỈNH TRỜI NÀO - Linh Hương

 


Những gai len của chiếc áo lạnh màu nâu sậm em ôm trong tay chợt xốn lên trong lòng em một cách lạ kỳ, một vài khoảng đã thôi không làm ướt bàn tay bé ấp yêu, những ngón trắng xanh rời rã còn dùng để ngăn che biết bao nước mắt đêm qua. Suốt một buổi tối như thế và một buổi sáng đứng đây như thế, từ khung cửa sổ của phòng số 09 lầu ba bệnh viện nhìn xuống thảm cỏ vuông xanh mượt mà lấm tấm màu hoa sứ trắng rơi rụng trong bóng sương mờ, dáng đứng của hai bờ cây mềm mại như cô thiếu nữ giơ tay đỡ những dây hoa. Hàng ghế đá nơi đây chắc lạnh buốt sương, chả thế mà khoảng kính em áp má vào – sáng ánh đèn vàng ấm áp – vẫn rét tê người. Đừng nhắc em khung cảnh phòng yêu dấu em đang đứng, mặc dù đứng đây và nhìn ra thật xa, em vẫn nhớ rất rõ mỗi đồ vật yên lặng quanh em. Một cái giường nệm cao của bệnh viện, hai cái gối dầy đặt nơi đầu trong, toàn một màu trắng tinh sạch sẽ, cái tủ thuốc nhỏ ngay cạnh bên phải, ngăn trên cùng còn rất nhiều thuốc, thuốc viên, thuốc ống và chưa đóng khít hẳn, trên nóc tủ màu vân xanh lá cây viền những nẹp gỗ vàng, chệch khỏi phía giữa một chút có vết mờ, sần của một vệt khoai tán do mặt đáy của khay thức ăn đem lên hôm qua để lại, và kế chỗ em đứng là chiếc tủ vuông, to với những hộc dài. Trong đó, những thứ áo quần đồ lặt vặt vừa được đem đi cả, chỉ còn hai quyển sách có chữ ký em tặng… chữ ký của em, xếp trong góc. Một tháng trước em đã mua về, gò hàng chữ tặng: “Của Anh Hai em, những ngày chờ bình phục. Ký tên: Nguyễn Kim Thư”… Ô, đừng nhắc đến những chuyện làm em khóc… không bao giờ tự mình em nín được… Ôi, chắc là sương đổ ngoài trời chứ chả phải vì em mà kính nhòe đi thế đâu… Ô, giây phút cuối cùng mãi mãi đã không có em. Kim Thư tội nghiệp của Anh Hai. Chắc rằng em sẽ không bao giờ tin được có chuyện đó xảy ra, tối đó trước mặt em anh còn chuyện trò như thường và đi lựa thuốc để đúng giờ uống mà. Anh Hai, em đã không có diễm phúc chung giọt nước mắt đau đớn đầu tiên với mẹ, em đã chỉ hay để kịp đến và giữ lại chiếc áo len nầy, của anh, em đang ôm trong tay mà nghe nó làm nhói tim và chắc là còn hoài nhói tim. Người ta, mọi người đã đem mẹ về rồi, lần đầu tiên cô bé tội nghiệp của anh được quyền tự do lang thang, tự do đứng mất trí hàng giờ bên khung cửa sổ, trong căn phòng nầy. Chú Hy bảo sẽ trở lại rước em, cầu mong chẳng bao giờ chú ấy trở lại. Tha hồ tưởng tượng, đúng khung cảnh nầy, những câu anh và em nói hôm qua, tha hồ ríu rít những câu chuyện về mấy quyển sách, mấy bài toán khó trong lớp. Em của giáo sư Toán là nhất rồi, nhỏ Vân vẫn trầm trồ với em như thế. Nhưng bây giờ… bây giờ… có chết được không…, chắc là không bao giờ em tin được chuyện đó đã xảy đến và người ta đem Anh Hai đi. Hôm kia, mới hôm kia Anh Hai còn bảo khi nào bí đem toán vào cho Anh Hai giảng, mới hôm kia em còn nhìn thấy một con người sống, một con người linh động, còn nói, còn cười. Cảm giác buổi đầu vào thăm em vẫn nhớ rất rõ, trong khung cảnh mới mẻ bệnh viện mẹ dắt em vào, vì được chỉ trước và mẹ còn mắc nói chuyện với người quen, một mình em tìm đến phòng và mở cửa vào. Giường bệnh anh nằm bên nầy, dãy cửa sổ sáng buông màn xanh nhạt bên kia nắng lung linh rộn rã mà căn phòng thì buồn bã ngột ngạt xiết bao. Biết, thấy em vào anh ngồi ngay dậy, em a lại dang rộng hai tay, anh cũng mở rộng hai tay, một cái trên trán em và một cái trên trán anh. Vũ trụ, bầu trời ngoài cửa như ngừng lại, cô bé con vẫn còn hỏi trong cơn bàng hoàng muốn khóc: “Bao giờ anh mới về nhà hả Anh Hai?” Anh có nhớ không? Một lúc lâu không trả lời được, anh chỉ biết siết nhẹ bàn tay em và hỏi khẽ: “Mẹ đâu?” Đừng cấm em nhắc lại những chuyện đau buồn vì chính đó là giây phút em tin tưởng nhất Anh Hai sẽ ở mãi cùng mẹ cùng em trên cuộc đời nầy. Môi em đã cảm được bao mạch huyết nóng chạy dưới làn da trán, vòng tay nhỏ còn chạm được bờ tóc xanh và ánh mắt anh nồng ấm đến vô cùng.  

Em hứa là sẽ nhắc chuyện nầy lần cuối rồi thôi. Cũng như đứng đây lần cuối, khóc trong căn phòng sống mãi trong ký ức nầy. Nắng đã thấp thoáng chân trời hồng, một vài làn gió mỏng lùa qua khe cửa làm bay lên những sợi tóc tơ. Không một cái gì ngay bây giờ làm sáng được tâm hồn em ảm đạm và hong mát trái tim hâm hấp nước mắt. Thôi không còn ai để cô bé con hỏi thăm mỗi buổi học về, để đòi mẹ vào thăm, để hôn lên trán, để gởi hoa, gởi sách. Không còn ai để hứa ăn chay ba mươi hôm cho ngày bình phục, để lần những hạt chuỗi tròn trĩnh mỗi đêm. Và cũng không còn ai để giảng toán cho cô bé nữa đâu.
 
 
– Nào, lấy một viên bi đỏ trên 8 viên tất cả là tổ hợp một tám phải không… còn 5 viên trắng còn lại? Rất giản dị, xác suất để có một viên đỏ là đáp số của tổ hợp một tám trên tổ hợp một mười ba… vậy là xong… Bây giờ chúng ta làm bài mới… 
 
Cả lớp học như lung linh sau một làn sương mỏng. Buổi Toán Học đầu tiên thắp sáng trong lòng em huy hoàng kỷ niệm. Ồ, bảng đen đó, bục gỗ đó, viên phấn cầm tay như thế, đôi mắt hay ngẩng lên như suy nghĩ rồi cúi xuống ngay như thế, chỉ còn thiếu một giọng nói rất trầm rất ấm là cô bé của thầy có thể ngủ yên trên kỷ niệm dấu yêu tuyệt vời. Thầy, Thầy, tại sao Thầy không thể là Anh Hai, là Nguyễn Duy Ngọc đã bình phục. Bệnh của Anh Hai là tại trở trời thôi mà. Anh Hai không có… không có chết phải hôn Anh Hai. Hay là anh hai giả bộ ra Thầy để tụi em không nhận ra, để các cô học trò nhỏ sợ sệt. 
 
Ừ, mà hai tuần trước người ta đã đem Anh Hai đi, người ta đã dìu mẹ về nhà, em đã đứng một mình trong phòng bệnh, đã nước mắt ướt hai lưng tay. Ừ, mà bây giờ dẫu cho cô bé con đi hết chân trời góc bể, cũng không gặp được một người thật giống Anh Hai, huống nữa là trước mặt. Mãi mãi chữ Anh Hai sẽ không dùng để gọi một người nào và có người đó ngay trước mặt nữa. Thượng Đế, định mệnh đã cất đi chữ đó với em, Anh Hai, Anh Hai, Anh Hai có biết gì không, có nghe gì không? 
 
Tiếng thước kẻ vang cạnh bên làm em giật mình rời khỏi cơn suy nghĩ, đôi mắt em ngước lên chạm phải một vùng ánh sáng bao dung: 
 
– Này, cô bé, làm toán đi chứ, suy nghĩ gì vậy? 
 
Nụ cười Thầy nở nhẹ chợt ngừng lại, em biết mắt mình đang đỏ lên.
 
 
Cả lớp đang bị đe dọa trầm trọng, Thầy sẽ khảo bài trong giờ Toán mà chẳng ai thuộc bài cả. Em biết chắc thế vì em cũng không thuộc. Cả một tuần lễ thi liên tiếp mà môn Toán thi sau chót, đứa nào cũng gò mấy môn kia nên môn Toán chẳng nhớ gì cả. Sau khi chào Thầy rồi ngồi xuống, bao nhiêu quyển tập dưới hộc bàn lại giở ra, bao nhiêu cái miệng lép nhép. Em cũng hơi run, công thức biến đổi, sin, cos, p, q, lộn xộn trong bụng. Thầy liếc sơ qua cả lớp, Thầy cười. Thầy gọi nhỏ thứ nhất, nhỏ Lan đầu dãy, nhỏ siêng ghê lắm, đọc làu làu. Nhỏ Vân kế đó, hắn chỉ đọc một câu sin (p+q) là đứng cầm cờ. Nhỏ thứ ba, thứ tư, nhỏ thứ năm, bàn thứ hai là em, con bé đứng lên, mắt nhìn tuốt lên trần tìm chữ. Không có chữ nào hết. Em đọc công thức thứ nhất, Thầy lắc đầu, cái thứ hai Thầy lắc đầu luôn, hai tay em khoanh lại lạnh ngắt, đầu hơi cúi xuống. Thầy hất đầu nói, giọng phiền hà nhẹ nhàng: 
 
– Học trò giỏi mà như vậy đó. 
 
Học trò giỏi mà như vậy. Sao lớp học lặng như tờ? Em cố lấy hết can đảm: 
 
– Thưa Thầy, xin Thầy tha lỗi cho chúng con, suốt một tuần nay thi nên không dò bài được. Chúng con hứa ngày mai sẽ học bài thuộc và trả bài Thầy… 
 
Mồ hôi đổ dài sống lưng. Thầy nói thật hiền: 
 
– Lần đầu thầy tha. Phải rán học bài cho thuộc. 
 
Con bé lính quýnh nói, bây giờ lính quýnh ngồi xuống giữa tiếng thở phào vui mừng cả lớp. Nhỏ Mai kế bên véo một cái thật đau và nói khẽ vào tai em: “Giỏi, sao bữa nay nhà ngươi làm gan quá vậy?”. hai ba tiếng khúc khích sau lưng: “Ê, trả bài Thầy, trả bài Thầy hết còn đâu mà học, nhỏ?”. Em ngồi im, tựa mặt giữa hai lòng bàn tay lạnh ngắt. Thầy đứng lên bắt đầu viết tên bài mới trên bảng, những bụi phấn li ti vừa xóa rời khỏi bảng đang lấp lánh trong một vệt nắng. Em đang nghĩ gì vậy? Không, em không nghĩ gì cả, nhưng mà Thầy ơi, có phải ngay cả sự đầm ấm cũng mỏng manh như bụi phấn kia không?…
 
*
 
Trong ngôi trường nhỏ mới cất trên đỉnh đồi nầy, chỉ có căn phòng của Thầy là nhỏ nhất. Chỉ vừa đủ kê một bàn học, một kệ sách với 2 cái ghế hai bên. Chừng như đó là căn phòng rất thích hợp với Thầy nên ngoài giờ dạy Thầy ngồi rất thường trên đó, lưng quay ra ngoài, một mình, đầu cúi xuống trang giấy và chỉ ngẩng lên khi có tiếng gõ cửa làm rộn của mấy cô bé con. Trên bàn thỉnh thoảng có thêm một chậu hoa cắm những cây hoa màu bông lúa từng chùm dính dài theo ngọn. Ở bãi đất trống quanh trường không thiếu gì loại hoa đó. Nếu tự nhiên gặp chắc em không cho đó là một loại hoa, chỉ là một thứ cỏ dại. Nhưng một lần đi ngang phòng nhỏ của Thầy, căn phòng nhỏ mà vắng, tha hồ ngắm nghía sau khung kính rộng cái gì trong đó, màu vàng say sưa của loại hoa bông lúa, thứ có chùm hoa ngọn đầy nhất hơi trĩu xuống tựa trên lưng ghế đỏ. Tự dưng em thấy nổi bật một cái, cái gì quá đơn sơ, quá thuần khiết. Có lẽ tại em cứ nghĩ những con người Toán Học là những con người rắc rối, cái gì cũng thích vác ra chứng minh, nêu định luật, giả thuyết. Em thích Toán nhưng cũng thích mơ mộng, cái gì ở trên trời xa, không ai thấy được, bảo nó là cái gì, không ai chứng minh đó là sai được, không nêu giả thuyết để nó có thể là cái nầy, có thể là cái kia, không bắt nó chui vào một khuôn khổ, định luật được. Thế nên em yêu hoa bông lúa, như một đồng ý là càng gặp gỡ rắc rối bao nhiêu, con người sẽ yêu quí sự đơn sơ, mộc mạc bấy nhiêu. Nhưng hoa bông lúa quá đỗi mềm yếu, chỉ bao nhiêu ngọn gió từ trường đem về nhà, những đóa hoa nhỏ chẳng còn đầy nữa. Em chỉ có thể ngắm nó sau khung cửa nầy trên màu ghế đỏ vắng lặng. Mà dẫu có Thầy, cô bé học trò vẫn đứng ngoài ngạch cửa nầy, tha hồ cho tụi bạn vào hỏi Toán, hỏi bài. Cảm nghĩ đầu quá khắc sâu vào tim óc cô bé. Lỡ ra một ngày nào, nỗi buồn trở lại em sẽ gọi Thầy là Anh Hai đó thôi. 
 
*
 
Thưa Thầy,

Em nghĩ rất nhiều trước khi viết bức thư nầy cho Thầy. Em vừa đọc một câu chuyện, chỉ giống em lúc đầu mà không giống lúc sau. Cô bé trong truyện có Anh Hai làm Thầy giáo và dạy luôn cả cô bé. Một bữa cô bé không thuộc bài bị “Thầy” phạt trong lớp và về nhà được Anh Hai dỗ dành ủi an, thật dễ thương. 
 
Thầy ơi, lúc đầu em nghĩ không bao giờ gọi Thầy là Anh Hai được, hình như sẽ có lỗi to lắm, dám gọi Thầy là Anh Hai. Bây giờ thì em thấy rõ ra rồi. Anh Hai em rất giống Thầy và Anh Hai em cũng mất rồi. 

Thầy ơi Thầy, nếu Thầy chấp nhận, khi nào ra khỏi lớp Thầy sẽ là Anh Hai của em. Thầy có bằng lòng không?

Học trò Thầy     
Nguyễn Kim Thư. 
 
 
 Bức thư em gởi cho Thầy, chắc là ai đó thấy vắng Thầy lấy ra xem cười với nhau và quăng mất rồi. Cả một buổi học đầu tiên sau đó quan sát Thầy mà Thầy chẳng có phản ứng gì cả, Thầy vẫn tỉnh như không, Thầy vẫn nghiêm như thường và hình như hay rầy rà hơn. Hay là Thầy có đọc, bảo bức thư là trẻ con rồi liệng ra cửa sổ, nhưng em kiếm dưới cửa sổ không có để nhặt lại. Một tuần lễ, hai tuần lễ, bốn tuần lễ, Thầy không nói gì cả, bao giờ em cũng rất thuộc bài Thầy nhưng em buồn ghê lắm, em muốn bệnh, muốn trốn Thầy luôn.

Như hoa bông lúa bị tước đi những đóa hoa nhỏ, em xanh và gầy ra. Mấy đứa bạn đứa nào cũng bảo em là tại học khuya quá. Em không học khuya đâu, chỉ có suy nghĩ nhiều hơn thông thường thôi. Em hay lang thang một mình và ngắm một cách buồn bã những hoa bông lúa. Chắc là người yêu hoa nầy tâm hồn không đơn sơ như em tưởng đâu. Con người mà, có phải cùng chung huyết thống đâu mà thương với mến. Tự dưng em muốn khóc giữa bầu trời trống trải chung quanh và nhớ Anh Hai thật nhiều đó Anh Hai ơi. Nếu không vì Anh Hai, không cớ gì em làm một việc kỳ cục như vậy được.
 
Buổi chiều đến với bóng mát và gió lồng lộng làm rung những dáng cỏ mềm, nâng vạt áo em chới với trong gió. Thôi mình đi về nha. Thôi mình đi về nha. 
 
 
Lần nầy em không trốn được nữa rồi. Ma soeur bảo em lúc giờ ra chơi là ôm các quyển học bạ lên cho Thầy phê. Em dụ nhỏ Vân khiêng phụ nhưng hắn lắc đầu nguầy nguậy vì lẽ chỉ còn một số ít học bạ Thầy chưa phê, ôm lên không có gì nặng nhọc. Nhất là nhỏ Mai đang đứng ngoắt cô bé với cái máy ảnh đằng kia. Ô, khung cảnh nơi đây sẽ có bao nhiêu tấm hình đẹp. Nhỏ chạy đi mất. Mà cũng có gì phải sợ đâu nào, Thầy không chấp nhận thì thôi, chứ không lẽ Thầy nỡ la mình ư? 
 
Em nghĩ thế và đem lên, mở cửa vào lí nhí với cái người bất động bên trang giấy chằng chịt số, ký hiệu.
 
– Thưa Thầy, còn một số học bạ lớp… Thầy chưa phê, soeur hiệu trưởng bảo em đem lên cho Thầy. Thưa Thầy, em về. 
 
Em vừa định quay ra thì Thầy đã ngẩng vội lên, đôi mắt, ôi, đôi mắt từ lâu em cố nghĩ là không phải của Anh Hai. Trong đôi mắt, một đoạn phim đang quay lại thật chậm. Hai cánh tay cô bé giơ ra, đôi chân hơi chúi về phía trước trong bước chạy, Anh Hai ngồi trên giường, vòng tay cũng mở rộng, một cái trên trán em, một cái trên trán anh. Bao giờ anh mới về nhà hả Anh Hai. Đôi môi Anh Hai nhép lại: Mẹ đâu em. Mắt em nhòa ướt mất rồi, em xoay xoay đầu nhìn rõ đôi mắt ký ức. Môi Thầy cũng hơi mở ra. Không phải Mẹ đâu em. Em chớp nhanh mắt mấy cái. Giọng Thầy ấm lạ: 
 
– Thầy đã đọc bức thư của em. Thầy rất hiểu em. Hình như em chưa nói chữ mà em muốn nói…
 
Mắt em mở tròn nghẹn ngào:
 
– … Vâng… em muốn nói… muốn nói lắm chứ.
 
Nụ cười Thầy – không phải – Anh Hai nở mơ hồ. Em xoay đầu chỗ khác, mím chặt đôi môi rung động rồi cố gắng bật ra:
 
– Thưa Anh Hai, em về.
 
Cùng với câu nói, nước mắt cũng ứa trên mi. Hình như có một đóa hoa bông lúa rơi rất thầm ở trong phòng. Em bước vội đi.
 
*
 
Mùa mưa tới cũng là mùa hoa màu bông lúa tràn ngập cả một khoảng đồi. Em ưa những nhánh trĩu xuống, từng chùm, từng chùm hoa che lấm tấm từ ngọn đến cuống, màu vàng bát ngát. Thế mà hoa mềm yếu vô cùng, chỉ một làn gió nhẹ là bao nhiêu đóa rơi rụng. Hoa lại chẳng có gì đặc sắc so với những chùm hoa đỏ nở nồng nàn trên chót vót nhánh cây bên kia khe nước sâu luồn lỏi trong đá, cũng không đẹp bằng những đóa mắc cỡ kiêu sa với vài giọt sương lóng lánh, cũng không xinh bằng hàng cây lá xanh đậm chen vai dài theo lối ra cửa. Đôi khi những bàn tay nhỏ bé tình cờ tìm được những chùm hoa, ba bốn đóa một màu và màu nào cũng hay, dính liền nhau, rất hòa hợp, chỉ thêm một dải lụa vàng buộc bên dưới là giống hệt mấy bó hoa của các cô Công Chúa trong truyện cổ tích. Ngày xưa cũng một thời em chạy theo pensée, hồng nhung, cẩm chướng… nhưng bây giờ và mãi mãi có lẽ hoa màu bông lúa gây rất nhiều rung động trong em. Thế nên em yêu mùa mưa, mùa mưa tươi mát những ngọn hoa bông lúa, cả một cánh đồng bông lúa gờn gợn dưới mắt, chung quanh ngôi trường nhỏ cả một vườn hoa rộn rã nở mà hình như chỉ có em biết, đối với tụi bạn em hoa nầy chỉ là một thứ cỏ thường mà chẳng đẹp bằng cỏ nhung nữa kia. Cũng có lẽ màu bông lúa nhắc lại em một thuở vui buồn quá nhiều. Trong sự chờ đợi nỗi buồn thật khủng khiếp mà niềm vui cũng vĩ đại vô cùng. Em đã có kỷ niệm với một loài hoa, không cái gì bền vững hơn là sợi dây kỷ niệm, phải không, phải không Anh Hai. Em cũng muốn cho một người thứ hai biết được niềm vui của em. Chắc người ấy ngạc nhiên ghê lắm. 
 
Hôm em chỉ cho xem cánh đồng hoa dại, anh Hai không khỏi sững sờ buột miệng:
 
– Em cũng để ý đến hoa ấy à…
 
A! tại sao không chứ. Nầy, lần thứ nhất thích thú ngắm nó trong phòng Anh Hai nè, lần thứ hai buồn bã lang thang giữa những khoảng đường hoa rụng nè, lần thứ ba cảm động nhìn sóng bông lúa nhấp nhô, vàng mịn từ khung cửa sổ lầu cao nhất nè và bây giờ thì chỉ Anh Hai xem. Cái cười của Anh Hai cứ nở thật tròn mà có vẻ ngẩn ngơ. Anh Hai ơi, Anh Hai có biết cái gì Anh Hai làm, cái gì Anh Hai nói đều thật giống Anh Hai thật của em không. Mẹ không hay em có anh Hai khác. Tụi bạn thì đồng ý là em phải có Anh Hai khác. Riêng em, em cứ nghĩ là mỗi lần gọi Anh Hai, hỏi Toán anh hai, nghe Anh Hai nói, nói Anh Hai nghe, em cố lừa mình đây là Anh Hai thật, để khoảng trống vắng trong lòng, trong đời bớt đi một chút. Em cũng biết là “Anh Hai” rất cố gắng trong vai trò của mình. Những lần đầu tiên đó, ra khỏi cơn tưởng tượng, em thấy ghét em vô cùng, đáng lẽ em không nên thay thế Anh Hai em cách kỳ lạ thế. Nhưng Anh Hai thật đáng kính đáng yêu vô ngần mà Thầy cũng đáng kính đáng quí biết bao nhiêu. Vậy là Thầy mà cũng là Anh Hai của nửa năm học còn lại với cô bé con.
 
Anh Hai ơi, em vẫn còn nghĩ là đối với Anh Hai, em phải đứng thật xa và gọi Anh Hai rất thầm mới phải.
 
*
 
Lớp học hôm nay có một làn gió lạ. Ánh nhìn của tụi bạn hướng về em có vẻ tội nghiệp là lạ. Chữ “Thầy sắp đổi đi” nhỏ Mai nói cho nghe làm em cứng người trong khung ghế mới ngồi xuống. Suốt một buổi học em không hé môi nổi, nước mắt cứ chực trào ra. Chỉ cần ai hỏi em một câu gì em sẽ khóc liền cho xem. Nhưng may quá không ai hỏi cả, tụi bạn em đứa nào cũng hiểu đối với em sự ra đi của Anh Hai là một nỗi buồn lớn. 
 
Hôm nay Thầy không có vào lớp em, chỉ vào lớp bên cạnh. Giờ ra chơi em chạy lên phòng học của Anh Hai. Mãi gần đến khi chuông vào học, Anh Hai mới lên – chắc là phải từ giã lâu – Em đang chạy xuống lầu. Em nói hơi to:
 
– Anh Hai, khi nào Anh Hai đi?
 
Chữ Anh Hai thốt ra quá dễ dàng tự nhiên làm em muốn khóc trở lại. Anh Hai đáp:
 
– Thứ Hai tới, bằng máy bay quân sự.
 
Đấy, em lại chẳng nén được nước mắt rồi đấy, tay em run lên trong bờ vịn cầu thang, em nói thật nhỏ:
 
– Sao Thầy không đi dân sự, quân sự nguy hiểm lắm.
 
Thầy nhìn thẳng mắt em, ôn tồn:
 
– Nầy cô bé, đừng khóc như thế, lớn rồi nhé. Với lại không phải Anh Hai đi là đi luôn đâu nha…, thôi xuống học kẻo trễ…
 
Đó, chữ nha Anh Hai nhái em, em còn hỏi vói một câu chót rồi chạy xuống:
 
– Em vẫn viết thư cho Anh Hai được chứ?
 
Anh Hai cười buồn:
 
– Dĩ nhiên. Anh Hai sẽ để lại địa chỉ cho em.
 
*
 
Buổi tối hôm qua chờ sáng ngày Thầy đi trời mưa to quá, rào rạt trên mái nhà và em không ngủ được, em sợ hoa bông lúa rơi rụng, em sợ máy bay chao cánh. Lạ ghê cho buổi sáng đứng bên cửa sổ nầy, và nhìn xuống cánh đồng hoa màu bông lúa, nắng vàng ấm áp cho lòng em yên tĩnh, một cái gì như vẫn lắng đọng, như dạt dào của lần đứng bên cửa sổ lầu ba bệnh viện. Không phải hai bờ sứ hoa trắng, chỉ có hoa màu bông lúa vàng rợp gợn dài theo gió. Bầu trời trên đây xanh thật xanh cho cánh chim sắt tung bình an vùng không gian trong suốt pha lê. Hình như em có đến hai người anh. Đỉnh trời cao vút nào Anh Hai chắp cánh, một hôm tấm màn đen định mệnh đã rũ xuống và báo cho Anh Hai biết giờ cuối. Và vùng trời nào Thầy bạt gió đi xa. Chắc bây giờ thì Thầy đang giở xem bức thư nhỏ ; khi Thầy đang xem thì trong phòng học vắng nầy, cô bé học trò cũng ngóng nhìn lên trời xa tít tắp và lẩm nhẩm theo:
 
Thưa Thầy,
 
Chắc là em không đưa Thầy đi được mặc dù em rất muốn. Em cũng rất cám ơn Thầy đã mang đến cho em một người Anh Hai rất đáng kính đáng yêu. Nhưng có một điều em không dối em được, em phải nói thật: Không ai thay thế được Anh Hai em mà cũng không ai thay thế được Thầy. Thầy đang ở thật gần với Anh Hai em đấy. Thầy cứ hỏi xem, có phải mỗi lần em làm Toán lếu láo thì phải giơ hai bàn tay cho Anh Hai khẻ. Nhưng lần nầy em không viết thư láo lếu đâu. Mà chắc Thầy cũng không nghĩ thế vì Thầy rất hiểu em, chỉ có em tưởng tượng ra thôi. 

Thầy biết không, có rất nhiều lần em lộn Thầy với Anh Hai, nhất là dáng đi nhìn từ sau lưng. Em chỉ phân biệt được nhờ biết được một người có thực còn một người không có thực bao giờ nữa hết. Người ấy đã mãi mãi đi. Dù em chạm được mấy lần hôn trán, mấy bờ tóc xanh, dù mấy lần hỏi: Bao giờ Anh hai mới về nhà và nghe Anh hỏi lại: Mẹ đâu em. Dù em níu cả hai tay Anh bằng đôi tay nhỏ bé của em – đôi tay chỉ dùng để ngăn che nước mắt – Anh cũng vẫn cứ đi. Em vẫn còn ân hận tại sao lần cuối đó em không để ý nghe tim Anh Hai đập, hơi Anh Hai thở và cắn vào ngón tay Anh xem máu có chảy ra không. Em cũng vẫn không tin khi từ xe chú Hy bước xuống, chạy lên lầu ba và khóc sướt mướt trong hành lang từ phòng số 02 đến phòng số 09. 

Thầy, rồi hoa bông lúa sẽ nở mãi trong mùa Thầy đi. Câu: học trò giỏi mà như vậy sao, sẽ nhắc nhở em làm tròn bổn phận mình trong suốt con đường học còn lại. Những khung kính nơi đây còn vang động chữ Anh Hai lần gọi đầu tiên. Tiếng đó rất êm mà sao gọi khó quá phải không Thầy. Rồi căn phòng nầy sẽ có chủ mới, từ đây cho mãi về sau, dù đi ngang và có nhìn vào sau ghế đỏ vẫn có người ngồi, người đó sẽ không là Thầy nữa mà chắc hoa trên bàn không là hoa màu bông lúa nữa. Có một điều an ủi được em là Thầy đi, đi cho đến chân trời nào, góc bể nào, có thể không quay về nữa, nhưng em vẫn yên trí là Thầy vẫn còn trong bầu trời nầy, trong trái đất nầy, Thầy đang nói, đang cười, đang ngủ và đang sống, vùng đất Thầy ở vẫn có một cô bé học trò để tâm đến, để nhớ rằng có những ngày tháng trong đời, cô bé đã gọi Thầy là Anh Hai rất quý, rất cao cả ; để nghĩ rằng dù em ở trong hoàn cành nào và có ra sao vẫn có thể chạy đến với một người thật lạ mà cũng thật thân, thỉnh cầu họ bất cứ chuyện gì và người ấy bao giờ cũng chờ đợi em. 

Thầy, bây giờ em đang ở rất xa Thầy và gọi Anh Hai rất thầm mà Thầy vẫn nghe, vẫn biết, phải không?

Em.    
 
  
Linh Hương          
(bút nhóm Thương Linh)  

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 201, ra ngày 15-5-1973)



Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

THỔI MỘT NGỌN NẾN - Trương thị Ngọc Dung

 


Lúc này học trò bận ghê gớm, trường công cũng như tư đều xôn xao học bài thi đệ nhị lục cá nguyệt. Trong không khí "tụng niệm" í, em nhận được quyển Ngàn Thông. Từ lâu vưỡn lười biếng đọc "hắn" (đừng giận D Ngàn Thông nha), vả lại đang thời kỳ làm con "mọt sách" cưa mà, thành thử chỉ xem qua loa thôi. Rồi đến phiên nhỏ em, nhỏ này "mê" Ngàn Thông phải biết, lúc nào cũng "tớ thương Ngàn Thông như thương những quả ô mai mơ" nên xem kỹ lắm, mục mô cũng được mắt xanh của hắn ghé vào.
 
Hôm qua đang ngủ, bị hắn lôi dậy (bực mình quá) "chị D ơi, viết bài cho số đặc biệt đi, lấy báo tặng về đọc đỡ ghiền". Em gắt "có tiền mua mà đọc, ta không có thì giờ viết đâu". Hắn dụ khị "chị D phải để tiền coi phim chưởng chứ lỵ". Nghe nhỏ nói có lý, cho nên tuy bận "tụng niệm" em vẫn viết cho số đặc biệt những kỷ niệm để góp gió thương yêu thổi một ngọn nến cho ngày sinh nhật thứ nhất của Ngàn Thông.
 
Em "chơi" với Ngàn Thông từ tháng tư năm ngoái. Vì ngài Quyên Di dạy ở trường Nguyễn, nên em và lũ bạn nhận được tờ giới thiệu về Ngàn Thông sớm nhất. Ngàn Thông tờ báo của tuổi học trò Việt Nam (học trò ngoại quốc nên xê ra). Em đã viết khá nhiều vào bảng thăm dò ý kiến, nào là phải dành nhiều trang cho dân "kịp tóc" (ích kỷ chưa), nào là phải cho nhiều truyện dài thật thơ mộng, thật lãng mạn (gớm, dân C có khác). Mấy nhỏ bạn quỉ sứ được dịp viết nhăng nhít vào và len lén nhìn tờ của em nữa chứ! Ghét ghê nơi.
 
Hồi í, em còn ở trong tờ Thông Reo của trường, viết rất non kém và dở "èo" à. Thế mờ bé con "can đảm hết sức" (gần xỉu đó, vì em gầy lắm) để "sáng tác" vớ vẩn cho "bà con" đọc.
 
Ở Ngàn Thông có nhiều khuôn mặt quen thuộc. Vị Tiếu Ngạo tiên sinh nhé. Tụi cháu vưỡn nhớ phóng sự tếu "Trại hè Vũng Tàu" và "Buổi tĩnh tâm" của cụ đăng trên Thông Reo. Đứa nào đọc xong cũng cười muốn "chít". Vui ghê. Rồi mục gia chánh dạy làm "bánh nhân sỏi học đường" của ngài Đại Quấy, đúng là món khoái khẩu dành cho Thạch Thủ (vì Thạch Thủ là người đá, "cái răng... cái tóc" cứng thế nuốt mới vào).
 
Còn nhớ hôm gặp cha T để gửi bài cho Ngàn Thông. Cha bảo số một lên khuôn rồi D ạ! Buồn ghê gớm, tức nữa chứ. Rồi đến buổi sáng tan học về cô L dấu yêu nói: "D được giải nhì viết cho quê hương đó. Le nhỉ!" Em cười ngạc nhiên "thế hở, D viết dở thí mồ".
 
Bi giờ đến mục kể về những vị "tai mắt" trong ban biên tập nhé! Em mới biết ngài Quyên Di gần nửa năm nay qua sự giới thiệu của cô L (răng mà cô L quen nhiều thế nhẻ). "Ngày xưa còn bé", thấy Quyên Di đi trong trường nhưng chẳng biết ấy là tác giả "Tuổi trăng tròn". Bé con và lũ bạn gọi anh C thôi. Rồi Thái Bắc, anh L đó, mãi mơ mộng "Ngát trên lưng đồi" và lo cho "Gia đình yêu dấu" quên cả lì xì cho "Đàn trẻ ái mộ". Và Hoài Mỹ (eo ơi, ông chủ nhiệm mà em "lỡ dại" quên mất mặt rồi). Tiếp đó là chị Thúy Vũ. Chị Thúy Vũ ơi, cho D khen một tí nhé! Chị Thúy Vũ dễ thương ghê (nịnh gớm, nhớ thưởng ô mai nhá chị Thúy Vũ). Những buổi sáng mùa đông, chị mặc áo trắng hòa hợp với học trò trường Nguyễn, trông nhỏ bé như loài sơn ca. Nhưng đừng có "khi" nhé, xem nhỏ chứ dạy lớp 12 đó. Chị Thúy Vũ làm em nhớ mãi nhớ chiếc răng khóe ngộ nghĩnh. Người sau cùng em biết là ông Phỗng, tếu nhất, vượt cả cụ Tiếu Ngạo nữa. Ông Phỗng béo lắm cưa, gấp hai ngài Tổng thư ký.
 
Có lẽ Quyên Di chả bao giờ quên tiếng "nhà văn con gái" mờ mấy nhỏ bạn "quỉ sứ" của em hay gọi đùa. (Quyên Di đừng giận tụi D nhé, vì ban C ngoài văn chương và sinh ngữ còn có nghĩa là cười và chơi nữa mà).
 
Em biết khá nhiều về mấy "quan tai mắt" trong Ngàn Thông. Nhưng mờ quí vị ấy rất ít biết em. Có lẽ tại em "lươi huyền" chả bao giờ chịu đi họp. Đáng đánh đòn ghê.
 
Phục Ngàn Thông nhất ở cái không than vãn sự nghèo khó của mình, vẫn cố gắng vươn lên giữa thị trường sách báo đã bị lạm phát. Thích nhất những số báo chủ đề, hay, dễ thương và nhiều khi giá trị nữa là đằng khác.
 
Kỳ này Quyên Di bảo viết ít nên đến đây tạm ngưng vậy. Vì là kỷ niệm dành cho ngày sinh nhật thứ nhất của Ngàn Thông nên có hơi nhạt nhẽo. Đọc xong bạn nhớ bỏ "một ký muối" vào nhé!
 
 
TRƯƠNG THỊ NGỌC DUNG     
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 25, ra ngày 5-5-1972)


Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

NẰM NGHE MƯA - Thập Cẩm

 
 
Vườn hoang gội chút mưa buồn
Nằm nghe mưa cũng lạnh luồn hơi da
 
Hẳn là đã chết nhiều hoa
Nên con bướm nhỏ về qua không vào
 
Có đôi chim trắng hôm nào
Đã theo mây gió bay vào tịch liêu
 
Bây giờ cây lá quạnh hiu
Nhìn mưa đổ xuống mà xiêu thân gầy
 
Tai nghe giọt nước vơi đầy
Bỗng nghe hơi rét về vây quanh phòng
 
                                                  THẬP CẨM
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 222, ra ngày 1-5-1974) 



Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

CON MÈO BẠCH - Thành Mùa

 Xưa kia ở Gia-định có một ông nhà giàu tên là Hoàng.
 
Ông Hoàng có hai người con gái là Tâm, con bà trước, đã chết, và Yến con bà sau. Tâm lớn hơn Yến 3 tuổi và mồ côi mẹ từ lúc vừa lên hai. Muốn được rảnh rang, ông Hoàng bèn giao Tâm cho bà vú nuôi.
 
Chừng chín năm sau lúc Tâm mới 12 tuổi đầu, thì bà vú bị bệnh mà chết một cách bất ngờ, thành ra Tâm trở nên cực khổ trăm bề. 

Mẹ ghẻ của Tâm là một người đàn bà rất ác nghiệt, bà hành hạ Tâm đủ điều, vì nàng xinh đẹp hơn con bà. Tuy bị mẹ ghẻ ghét bỏ, nhưng gương mặt nàng vẫn giữ được nét vui tươi.
 
Còn Yến thì khác hẳn, nàng là con cưng, và được mẹ nuông chiều, nên chẳng coi Tâm ra gì. Đối với Tâm là chị cùng cha khác mẹ nhưng nàng không kính nể, mà còn chửi rủa thậm tệ. Đối với đầy tớ, chúng thấy Yến hỗn ẩu nên chăng ai ưa. Yến sanh lòng thù ghét bèn kiếm chuyện đuổi đi hết, để mẹ bắt một mình Tâm làm việc.
 
Tâm không vì việc cực nhọc mà buồn, nàng ân hận một điều là không được đi học, sợ sau này sẽ dốt nát. Những lúc rảnh rang khuya khoắt, nàng lén lấy sách ra học đọc và học viết một mình. Nhờ vậy mà không đầy một năm, nàng biết đọc biết viết rành rẽ, rồi cứ đó nàng đi mượn sách về tự học thêm.
 
Ngày kia, có một bà lão ăn mày chống gậy vào nhà xin cơm. Lúc ấy trong nhà đi khỏi, chỉ có Tâm và Yến ở nhà. Tâm thấy bà lão già nua, nên thương tình, lén lấy một lon gạo và móc túi cho bà một đồng. Yến trông thấy liền hất lon gạo, và giựt đồng bạc của Tâm bỏ vào túi. Tâm đỏ mặt và tức tối lắm, nàng chẳng dám trách Yến, nàng chỉ ôm mặt khóc. Trước tình cảnh ấy, bà lão vừa đi vừa bảo: "Mẹ gà con vịt chít chiu, mấy đời dì ghẻ nâng niu con chồng".
 
Khi hai ông bà về, Yến nói thêm và đổ thừa là Tâm cắp tiền và gạo cho ăn mày, còn mắng mẹ là gà, con là vịt.
 
Chẳng hiểu gì, ông nghe nói nàng ăn cắp và hỗn, thì ông nổi giận đánh cho nàng một trận.
 
Một hôm bà lão nọ trở lại trên tay ôm một con mèo trắng xinh đẹp, bà đợi nàng ra gánh nước thì bảo:
 
- Già rất cảm kích lòng tốt của cô, vậy già xin tặng cố con mèo trắng nầy, để có bạn cho đỡ buồn.
 
Nói xong bà không để cho Tâm kịp cám ơn, đã chống gậy đi mất. Tâm được mèo mừng lắm, ôm nó vào lòng vuốt ve một cách trìu mến. Nàng đem mèo vào nhà, giấu sau kẹt củi, đêm đến, nàng lèn đem cơm ra cho mèo ăn. Con mèo được nàng cho ăn đầy đủ, nên nó mập mạp và lông nó trắng như tuyết, hai con mắt thì rtong xanh như hai viên ngọc bích. Nàng đặt tên cho nó là Bạch.
 
Bạch rất khôn, Tâm có thể giao các món ăn cho nó gìn giữ. Nó ngoan ngoãn ngồi canh chừng chuột đến ăn vụng.
 
Một hôm nhằm ngày cúng cơm của mẹ Tâm, nên trong nhà nấu nướng bề bộn, Tâm làm việc không hở tay còn Yến và mẹ nàng thì ở trên nhà đánh tứ sắc với mấy bà khách.
 
Con Bạch đang ngồi gần một đĩa đựng khứa cá của Tâm vừa mới chiên để phòng anh chuột lắt đến ăn vụng, đàng kia Tâm đang bưng nồi cơm để gắp bớt than, chẳng may sẩy tay, nối cơm rớt xuống đất đổ tứ tung. Bạch hơ hải chạy lại, còn Tâm lo sợ cuống cuồng, lăng xăng đi đong gạo nấu nồi khác. Yến ở trên nhà nghe tiếng đổ bể bước xuống xem, thấy con Bạch đứng gần đó, liền đá cho nó một đá vào vũng cơm sôi làm cho nó đau đớn kêu meo meo rồi nhảy đi nơi khác.
 
Yến đá được con Bạch thì mừng lắm, muốn đập thêm một cây cho chết luôn, nên vừa vói lượm một khúc củi nàng vừa phóng tới để đập. Không ngờ con mèo lanh lẹ nhảy phóc lên vai và quào vào mặt nàng một cái dữ dội. Yến đau đớn rú lên, trong lúc hốt hoảng lại nhè đạp ấm nước đương sôi trên bếp, làm nước sôi văng phỏng cả hai chân. Nghe Yến là trối chết, mẹ yến lật đật chạy xuống bếp, và khi bà thấy mặt nàng bị mèo quào rướm máu, thêm bàn chân phỏng nước sôi đỏ lòm, thì bà quát mắt Tâm ầm ĩ.
 
Tâm nghe mắng vội chạy ra, tay còn bưng nồi gạo mới xúc. Bà mẹ ghẻ tru tréo bảo: "Mày chết với bà phen này" rồi bà kéo đầu Tâm xuống đánh túi bụi.
 
Vừa lúc đó ông Hoàng về. Nghe vợ thuật chuyện con mèo của Tâm quào mặt Yến, ông đùng đùng nổi giận và đánh nàng một trận trối chết.
 
Con Bạch nãy giờ lẩn trốn ở xó tủ, thấy chủ nó bị đánh nhiều quá nó vừa chạy quắn quít vừa kêu meo meo như điên dại. Nó không thể nói ra sự căm hờn của nó, nhưng trông ánh mắt của nó cũng có thể đoán ra rồi đây nó sẽ trả thù cho chủ nó.
 
Con Bạch chưa có dịp báo thù thì tai nạn khác đã đổ dồn đến.
 
Sau khi Yến bị mèo của Tâm quào mặt, hai mẹ con nàng tức lắm, nên cứ lừa dịp để đánh chết mới vừa lòng. Nhưng lùa mãi vẫn không đến được gần con mèo tinh khôn nên bà tức giận cành hông.
 
Hôm ấy nhà ông Hoàng có thết tiệc mừng ông hưởng lục tuần. Ông bèn hỏi ý kiến của mẹ con Yến, xem nên dọn những món gì đặc biệt để ông và mọi người vui nhậu. Mẹ con Yến thấy cơ hội đã đến liền nói: " Ông cứ đưa cho con Tâm một trăm đi chợ. Còn món nhậu có khó gì, ông bảo nó làm thịt con mèo xào lăn vài đĩa là nhậu số dách rồi"
 
Ông Hoàng không nỡ giết con mèo của con, nên ông làm thinh. Bà Hoàng hỏi: "Bộ ông muốn nuôi nó để nó quào mặt con Yến nữa hay sao?"
 
Ông Hoàng nghe vợ nhắc chuyện con mèo của Tâm quào mặt Yến nên ông gật đầu và lập tức kêu Tâm lên biểu bắt mèo làm thịt, đồng thời ông đưa trăm bạc cho nàng đi chợ. Nghe cha đòi ăn thịt con mèo, Tâm sửng sốt hỏi:
 
- Thưa cha, con Bạch có lỗi gì đâu mà cha bảo con làm thịt.
 
- Còn không lỗi à! Chớ không phải nó quào mặt con Yến sao? Thôi con đừng hỏi nó có lỗi hay không. Đừng cãi ba rồi ba giận đa con.
 
Sau khi nghe cha dặn, Tâm cầm trăm bạc đi xuống mà nước mắt ràn rụa. Nàng để trăm bạc trên tủ, vừa thay đồ để đi chợ. Còn việc con mèo, nàng định sẽ tính sau.

Thay áo xong nàng trở lại chỗ để tiền, thì trăm bạc đã biến đâu mất. Nàng hốt hoảng tìm kiếm lung tung. Thì ra khi Tâm đi thay áo, Yến đi qua trông thấy, liền lấy đi mất, và nàng lên nhà nói cho mẹ biết. Hai mẹ con thấy Tâm hốt hoảng thì bấm nhau cười khúc khích. Họ quyết chắc thế nào ông Hoàng cũng đánh nàng chết, khi khách đến mà không có đồ ăn.
 
Tìm một lúc không ra, Tâm ôm mặt khóc nức nở. Con Bạch chạy lăng xăng, nó kêu meo meo và liếm vào tay nàng, như muốn hỏi tại sao nàng lại khóc. Thấy Bạch, Tâm ôm nó vừa khóc vừa bảo: " Bạch ơi, cha chị bắt làm thịt Bạch để nhậu và đồng thời đưa cho chị một trăm đi chợ, nhưng tiền đã mất rồi Bạch ơi! Em có cách nào cứu chị không?"
 
Nghe Tâm nói, con mèo như hiểu biết, kêu meo meo mấy tiếng rồi nhảy vụt đi. Thấy vậy Tâm càng khóc thảm thiết: "Bạch ơi, sao mày bỏ chị mày đi, bộ chị nỡ nào cầm dao giết mày mà mày sợ! Sao mày chẳng ở nhà, tìm tiền giúp với chị mày!"
 
Khóc một lúc, Tâm đứng dậy, định lên nói thực với cha để xin tiền khác đi chợ. Nhưng nàng chưa kịp đi, thì con Bạch đã từ ngoài cửa nhảy vào, và đặt dưới chân nàng một con chim bồ câu mập mạp, rồi lẹ làng nhảy đi nữa. Tâm nhanh trí, biết nèo đi tìm mồi cứu mình, nàng lạ làng lượm chim đi làm lông rồi chặt ra nấu. Kế đó con mèo lại tha về một chú gà giò to béo, rồi một con bồ câu, mấy con se sẻ... Nó tha liên tiếp được khá bộn, và sau cùng nó tha luôn về 2 con chuột đồng nữa. Tâm mừng rỡ vì có món ăn, lại có chuột để làm thịt thế cho mèo. Nàng liền đem chuột đi thui. Đang thui con chuột chót, thì trên nhà có tiếng hỏi:
 
- Bộ con thui mèo đó hả, mau lên con, xào cho ba một đĩa đem lên trước đi.
 
Tâm hoảng hốt, và lo sợ nếu cha nàng xuống thấy con mèo con ngồi đó thì hỏng hết. Nàng liền xô con Bạch và nói: " Chạy trốn đi em ơi, mau lên". Con mèo xụ mặt kêu nhỏ mấy tiếng rồi chạy mất. Tâm làm chuột xong, xào một đĩa bự mang lên. Mẹ con Yến ngỡ đó là thịt con mèo của Tâm nên mừng lắm.
 
Đến trưa, bà Hoàng làm bộ gọi: "Tâm ơi! Các món ăn đã làm xong chưa, sao không dọn cơm cho khách ăn đi con". Nói xong hai mẹ con cười sung sướng. Nhưng vui chưa xong, thì hai mẹ con bà sửng sốt thấy Tâm thản nhiên dọn cơm lên, các món ăn thơm phức làm mọi người đều cảm thấy đói. Bữa tiệc hôm ấy, mọi người ăn ngon lành, nhứt là ông Hoàng. Ông lấy làm hãnh diện vì các món ăn thịnh soạn của Tâm. Riêng bà mẹ ghẻ thì cụt hứng và buồn hiu.
 
Từ đó bà lại ghét Tâm hơn, nên bà chỉ cho nàng mỗi ngày ba bát cơm dư. Vì ít cơm lại phải nhịn cho con mèo, nên càng ngày nàng càng ốm o gấy mòn. Gương mặt nàng trước kia xinh đẹp bao nhiêu, bây giờ khô héo và ủ rũ bấy nhiêu. Đã vậy, nàng còn phải ăn bận rách rưới, nên ai vào nhà ông Hoàng, đều ngỡ nàng là đứa ở chớ không phải con ông. Ôi! Trường đời là bể khổ. Tâm đã làm gì nên tội mà phải cam chịu cảnh đoạn trường nầy.
 
*
 
Một hôm, trời tối đen như mực, vào khoảng 12 giờ khuya, mọi người trong nhà đều yên giấc, thình lình có tiếng đập cửa trước nghe ầm ầm. Thôi rồi, bọn cướp đến ăn hàng. Phá được cửa chúng nhảy vào, hai đứa mặc toàn đồ đen, đứa mang dao đứa mang súng. Nghe ồn, ông Hoàng liền chui xuống gầm sặp trốn. Không tìm ra ông, chúng bắt mẹ con Yến trói lại rồi khảo của. Bà Hoàng khai với chúng là chìa khóa ông Hoàng giữ. Vì sợ chúng đánh nên Yến liền chỉ chỗ cha núp. Bắt được ông chúng đánh đập tàn nhẫn. Ông Hoàng cứng cỏi không chịu chỉ chỗ cất chìa khóa tủ. Tên đầu đảng tức giận, rút dao ra đâm. Ông Hoàng nhắm mắt chờ chết.
 
Nãy giờ Tâm mục kích được mọi việc. Khi thấy chúng đánh đập cha, nàng đau đớn quá lẽ. Đến khi thấy tên cướp hoa dao định đâm cha nàng quên hết sợ hãi liền chụp một khúc củi, nhảy ra, lấy hết sức mạnh, quật vào đầu tên cướp làm nó ngã gục bất tỉnh. Tên thứ hai thấy vậy, liền rút dao găm bên mình phóng tới. Tâm tin chắc sẽ chết dưới lưỡi dao oan nghiệt này. Nào ngờ, tên cướp chưa kịp ra tay thì đã la thất thanh hai tay ôm lấy mặt. Thì ra, con Bạch thấy tên cướp sắp giết chủ nó nhanh nhẹn phóng lên vai tên cướp, đưa chân quào vào mắt hắn làm cho mắt hắn bị lòi ra ngoài.
 
Công việc xảy ra quá sức tưởng tượng của ông Hoàng và hai mẹ con Yến. Họ cứ tưởng đây là mộng, nhưng khi Tâm đến cởi trói cho cha và hai mẹ con Yến, thì họ mới tỉnh ngộ. Ba người quá cảm động, chạy đến ôm lấy Tâm nghẹn ngào.
 
Mẹ Yến nói qua nước mắt:
 
- Bộ con không ghét dì ư? Con thật là cao thượng, con tha lỗi cho dì nhé. Dì đã hối hận quá rồi.
 
Yến cũng đến xin lỗi chị, rồi ông Hoàng cũng cầm tay nàng mà xin  lỗi. Tâm sung sướng quá, vì thấy hạnh phúc đã đếnmvới nàng. Mọi người đang vui vẻ, thì con Bạch đến bên Tâm kêu meo meo mấy tiếng. Tâm liền bồng con Bạch lên hun hít.
 
Hai vợ chồng ông Hoàng và Yến đều vuốt ve con Bạch. Con mèo như hiểu ý, thè lưỡi liếm tay mọi người và kêu những tiếng meo meo... Từ đó gia đình ông Hoàng trở nên đầm ấm. Còn Yến sau nầy nhan sắc của nàng cũng không xấu lắm, vì tính nết nàng đã đổi thay. Mà nết đã đẹp thì tự nhiên con người cũng trở nên thùy mị duyên dáng.
 
 
Thành - Mùa     
(Bảo-Lộc)       
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 17, ra ngày 25-5-1964)


Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

EM - Vãng Chuyên

 

 Buổi sáng em đến trường
Nghe thương quá là thương
Này trời xanh mây trắng
Và lúa vàng dâng hương

Trưa say nồng cơn nắng
Em vui trở về nhà
Con đường quen vắng lặng
Em về trong câu ca...

Bên mâm cơm nóng dẻo
Em ngửi mùi lúa thơm
Thầm ước mơ: "mau lớn
Để đáp đền công ơn"

Trăng lên ngập đồng xa
Em ra sân với bà
Ngủ ngoan trong câu chuyện
Mà vẫn cười ươm hoa...

                          VÃNG CHUYÊN
                                 (Biên Hòa)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973)