Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

MẮT MƯA - Trần Ngâm Dạ Vũ

 

Em đứng ngắm cành lá me xa vắng
Nghe trên vai lẳng lặng bóng thu về
Xót xa cho từng phiến lá u mê
Hờ hững như chiều êm qua cửa sổ
 
Trời tháng sáu đã bắt đầu mưa đổ
Con đường dài in dấu bước em đi
Mưa vẫn rơi chẳng xót cánh chim di
Ôi trắng xóa con đường em đi học
 
Trên thinh không nhánh sầu như vừa mọc
Khóc lá vàng mây trắng bỏ đi hoang
Buồn vời vợi như vào đến nghĩa trang
Em đang khóc hay mưa rơi trên mắt
 
Phím tơ đồng mơ màng đang réo rắt
Những cung âm vời vợi đỉnh thương đau
Trời mưa rơi em đừng vội bước mau
Dẫu xa xa chuông trường reo rộn rã 
 
Mưa đón em bằng âm thanh vồn vã
Để vành mi lấp lánh dấu mưa rơi
Mà em ngỡ nghìn giọt lệ tuyệt vời
Thành suối nước trong linh hồn hương ngát
 
Chân bước đi dập dìu em khẽ hát
Cho giọt mưa dịu vợi những xót xa
Cỏ xanh thơm nghe hơi thở thật thà
Của rong rêu bám trên vai đá cuội
 
Mây đan cánh trong suối ngàn mê muội
Để ươm thơm giọt nước mắt mặt trời
Em vào trường sao mưa vẫn còn rơi
Cho em nghe niềm vui trong cửa mắt
 
Và ngọn buồn đã âm vang héo hắt
Trên bảng dài và bàn học êm mơ
Nghe long lanh mắt tuổi dại ngây thơ 
Như lúc sáng bên thềm em hong tóc
 
                                 TRẦN NGÂM DẠ VŨ
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 7, ra ngày 5-8-1971) 



Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

ĐOÀN KẾT - Nguyễn Hữu Tâm

 

Đàn trâu đứng bên đường ăn cỏ
Chợt vừa nhìn thấy hổ bò ra
Không còn ngẫm nghĩ gần xa
Kêu gào đồng bọn năm, ba chụm vào
 
"Chúng ta hãy cùng nhau phải chống
Quyết giành về sự sống cho đàn
Hãy đoàn kết, chớ phân tan
Để xem nó có còn gan không nào"
 
Lời trâu đực hô hào vừa dứt
Bảy cặp sừng lập tức đưa ra
Đồng lòng quyết chí xông pha 
Cùng nhau chống xự dù sa hiểm nghèo
 
Hổ thấy vậy đâm "teo" ngao ngán
Giết làm sao cả đám trâu này
Thôi đành bỏ lỡ dịp may
Phải chi chúng nó không hay biết gì?
 
Đó cũng chỉ là vì đoàn kết
Cả đàn trâu thoát chết cùng nhau
Là người biết nghĩ trước sau
Đừng nên chia rẽ với nhau bao giờ.
 
                                          Nguyễn Hữu Tâm
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 94, ra ngày 15-8-1968) 


Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

MỘT TẤM LÒNG - Tô Hoàng Giang

 Hôm nay ngày chủ nhật. Thành phố Sàigòn hầu như đắm chìm trong biển lửa. Để thay đổi không khí, hàng ngàn chiếc xe nhà bóng nhoáng nối đuôi nhau vùn vụt rời khỏi "Hòn ngọc Viễn-Đông" để tiến dần về những miền thôn dã...
 
Nga cùng các em theo mẹ đi hóng mát tại Biên Hòa. Chiếc xe nhà hiệu 403 mới toanh nhằm hướng Biên Hòa vùn vụt lao tới. Ngồi trên xe, Nga thấy tâm hồn thoải mái và trí não thơ thới dưới làn gió mát hiu hiu... Đã qua khỏi xa lộ, xe ngừng lại, đậu sát lề đường, bên cụm rừng cao su mênh mông, bát ngát... Nga bước xuống xe làm vài động tác thể thao cho đỡ mỏi rồi nhìn mẹ đang ngồi lom khom bên lề đường để gọt bưởi cho lũ em của nàng ăn "giải khát" và cũng để coi chừng chúng nó tung tăng đùa giỡn.
 
Nga thong thả tẻ vào con đường mòn đất đỏ để tiến sâu vào cụm rừng cao su bát ngát... Nga chợt nghe có tiếng róc rách đâu đây, nàng liền quay mặt lại... Ồ... cả một đầm sen... Trong đầm hoa sen đua nở, vượt lên mặt nước trong xanh phẳng lì, trong những tàu lá tròn lơ lửng như chiếc bè buông trôi theo dòng nước cuốn. Một làn gió nhẹ thoảng qua. Hoa sen lắc lư, nghiêng ngả như thi nhau trình diễn những vũ khúc nhịp nhàng, lại thêm hương sen ngào ngạt thoảng qua làm cho người nữ sinh trẻ tuổi ngây ngất vì muôn ngàn ý nghĩ trong đầu. Bất chợt, Nga nhớ đến bài học thuộc lòng về hoa sen mà cô giáo lớp tư đã dạy cho nàng hồi tấm bé tại trường tiểu học Biên Hòa:
 
"Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn..."
 
Mải nhìn đầm xen, Nga không để ý gần đấy có một chiếc xuồng con đang dần dà lướt tới. Trên xuồng, một ông lão từ từ bơi và một cô gái lia tay cắt những bông sen, nhẹ nhàng đặt xuống mạn xuồng. Ngà nảy ra ý mua một bó sen về cho mẹ chưng ở bàn thờ Phật, và nàng kêu to:
 

- Chị ơi! Đến đây cho tôi mua một bó sen.
 
Cô gái quê hái sen đang cặm cụi bó hoa thành từng bó bị kêu bất ngờ ngước mặt lên rồi cúi mặt xuống. Tưởng chị hái hoa không nghe, Nga kêu lại lần nữa và lớn tiếng hơn. Ông già bơi xuồng lướt tới. Cô gái quê gọn ghẽ trong bộ đồ bà ba đen vá nhiều nơi, ngước mắt lên, vuốt mồ hôi trán, nhìn khách. Nga đăm đăm nhìn cô gái, chợt la lên:
 
- Trời ôi! Chị Thủy!
 
Cô gái kia mừng rỡ và ấp úng:
 
- Ồ... chị... Nga!
 
Rồi chẳng nói được một lời...
 
Nga và Thủy là hai bạn gái cùng học chung một lớp hồi còn nhỏ tại trường Biên Hòa. Cha Thủy làm ruộng ở làng còn cha Nga làm công chức. Hai người tuy hoàn cảnh gia đình có khác, kẻ giàu người khó nhưng vẫn mến nhau như chị em ruột.
 
Mấy năm lộn xộn, Thủy phải thôi học về làng, còn Nga theo gia đình về Sàigòn theo đuổi việc bút nghiên...
 
Sau phút bỡ ngỡ ban đầu, Nga ân cần hỏi bạn:
 
- Chị Thủy, hiện giờ gia đình chị ra sao?
 
- Ba má Thủy mất hết rồi Nga à, Thủy chỉ còn một thân thôi.
 
Thủy buồn bã đáp lời.
 
- Thế ông lão chèo xuống kia là ai vậy?
 
Lúc ấy, ông già buông cây dầm xuống và giở nón lá đội đầu ra, khoát nước rửa mặt thì Nga rú lên:
 
- Trời ơi! Thầy! Ôi, thầy sao đến nỗi nầy?
 
Ông lão ngơ ngác nhìn...
 
- Thầy còn nhớ con không, con là Nga đây, hồi trước con học với thầy ở lớp Nhì, trường Biên Hòa.
 
Ông lão suy nghĩ một chốc rồi thốt nhỏ:
 
- Thế à? Thầy không còn nhớ nữa.
 
- Ồ! Chị Nga còn nhận ra thầy à? Thầy khổ lắm chị ơi. Mấy năm lộn xộn thầy không làm việc với Tây cứ tản cư hết chỗ nầy đến chỗ khác rồi bị máy bay bắn phải cưa chân tại nhà thương rồi đến tin hai người con của thầy cũng bỏ mình trong khói lửa...
 
Nói đến đây, Thủy không ngăn được giòng lệ.
 
Ông giáo tiếp lời:
 
- Lúc ấy thầy bị tàn tật và cô độc bơ vơ thầy định xin vào trại dưỡng lão thì may gặp cháu Thủy đây đem về nuôi thầy như cha ruột dưới nếp nhà tranh ở xóm dưới kia. Nhờ có Thủy thầy cảm thấy bớt cô độc và được an ủi nhiều. Tội nghiệp, nó làm việc vất vả lắm. Suốt năm, hết cấy đến gặt lúa, hái sen đem bán để chi độ qua ngày.
 
Thủy đỡ lời:
 
- Nhờ có thầy em cũng thấy đỡ tủi phận côi cút chị ạ!
 
Nghe qua câu chuyện, Nga nghẹn ngào và cảm phục người bạn cũ, một người bạn "dưới manh áo rách, một tấm lòng son".
 
 
TÔ HOÀNG GIANG     
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 19, ra ngày 25-7-1964)


Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

MIỀN KÝ ỨC - Trần thị Phương Lan

 

Nhỏ ngồi bó gối
Trong căn bếp tối
Than đã gần tàn
Vo ve bầy muỗi

Những tháng năm xưa
Vào buổi chiều mưa
Nghe bà kể chuyện
Trên võng đu đưa

Bé Quàng Khăn Đỏ
Bạch Tuyết, Lọ Lem
Hay tích Tấm Cám
Bao chuyện thần tiên

Mùi bắp nướng thơm
Xôi nếp tỏa hương 
Nồi khoai mới luộc
Kỷ niệm thân thương 

Củi tí tách hồng
Mưa đổ ngoài sân
Bữa cơm đầm ấm
Chan hòa tình thân

Năm tháng dần trôi
Ngày xanh xa rồi
Trong căn bếp cũ
Bóng chiều nhẹ rơi...

             Trần Thị Phương Lan 
               (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

HAI CHỊ EM - Ý Nhi

 


Hà đang đọc truyện "Món quà đêm Noel" trong báo Tuổi Hoa thì Túy bước vào.
 
- Hà! Tuổi Hoa tao mới mua chưa xem mà mày dám lấy xem trước lại làm sút bìa nữa. Trả lại đây cho tao. Đồ phá như quỉ.
 
Hà xé tập báo vứt mạnh xuống đất. Nổi nóng, Túy tát em hai bạt tai và quát to:
 
- Phá này... đồ quỉ... đồ yêu...
 
Hà đau quá khóc thét lên.
 
Nghe tiếng  khóc, mẹ ở trong phòng vội chạy ra. Hà mếu máo:
 
- Tự nhiên chị Túy chỉ đánh con...
 
Túy trừng mắt:
 
- Tự nhiên hả? Báo Tuổi Hoa tao mới mua về chưa xem mà máy xé nát rồi còn nói nữa.
 
Mẹ dịu dàng bảo Túy:
 
- Em nó lỡ làm rách, con phải nhỏ nhẹ với nó chứ sao con lại đánh em. Con gái cần phải tập tánh hạnh cho dịu dàng chớ cộc cằn thì xấu lắm con ạ. Hơn nữa ở nhà có hai chị em thôi mà chúng con không biết nhường nhịn lẫn nhau thì mẹ buồn lắm.
 
Túy cúi đầu, hai hàng lệ từ từ lăn dài trên má.
 
Thấy thế Hà càng làm già:
 
- Ai biểu làm tàng không cho con coi thì con xé mẹ nhỉ!
 
Mẹ âu yếm vuốt tóc Hà:
 
- Thế thì Hà có lỗi rồi. Tại con làm rách báo của chị Túy chỉ mới đánh chứ. Thôi con lại xin lỗi chị Túy đi, ngoan mẹ thương.
 
Hà lắc đầu phụng phịu:
 
- Khi nãy chị Túy đánh con, bây giờ con không thèm xin lỗi chỉ nữa đâu.
 
Me khẽ bảo:
 
- Thôi Túy học bài đi, để mẹ cho tiền mua tờ báo khác. Còn Hà vào đây với mẹ.
 
*
 
Đồng hồ từ từ buông năm tiếng. Tuy đưa mắt nhìn ra ngoài sông. Ánh nắng vàng len vào cửa sổ đã dịu hẳn. Túy xếp vội sac1g vở bước ra vườn. Thấy Hà ngồi trong lòng mẹ ăn na, Túy tức lắm. Túy có cảm tưởng vì Hà mà mẹ đã quên Túy. Hà đã giành hết tình thương của mẹ rồi. Vì vậy mỗi khi hai chị em gây lộn là thế nào Túy cũng bị mẹ la mặc dù Hà có lỗi. Với điều ghen tị ấy nên mọi sự âu yếm của mẹ đối với Hà đều làm Túy ghét Hà thêm nữa.
 
Thấy Túy, Hà mừng rỡ:
 
- Chị Túy, lại đây ăn na với em.
 
Túy lườm Hà, bĩu môi:
 
- Tôi không cần.
 
Hà đưa mắt nhìn mẹ, có lẽ mẹ đã đọc được sự ganh ghét ấy qua ánh mắt Túy nên nhẹ nhàng kéo Túy ngồi xuống ghế, khẽ bảo:
 
- Sao con lại ganh ghét với em con. Con không biết nó bé nhất nhà sao. Mẹ không bao giờ có sự yêu Hà hơn con nhưng Hà nó bé nên mẹ cưng chiều nó như mẹ đã từng cưng chiều con hồi nhỏ. Không lẽ bây giờ con lớn như vậy mà mẹ còn ôm con vào lòng vuốt ve như hà sao? Còn những lúc chúng con gây lộn mẹ đã la con vì con lớn con cần phải nhường nhịn em, chứ Hà nó bé nó đâu có hiểu gì. 
 
Túy hối hận gục đầu vào lòng mẹ khóc nức nở. Bàn tay mẹ nhẹ nhàng vuốt tóc Túy. Bé Hà ngây thơ đứng nhìn Túy khóc. Mẹ kéo bé lại gần rồi áp đầu hai chị em vào lòng. Hà lấm lét nhìn Tuý.
 
- Mẹ ơi chị Túy còn ghét con không mẹ.
 
Túy nghẹn ngào:
 
- Từ nay chị không ghét Hà và cũng không đánh Hà nữa đâu.
 
Mẹ nhìn hai chị em mỉm cười sung sướng.
 
 
Ý-NHI (Đà-Nẵng)       
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 19, ra ngày 25-7-1964) 


Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

KHI BÉ GIẬN - Hương Huyền

 


- Bé ơi! Ra chị bảo nè.
 
- ! ? ! ?
 
- Bé ơi! Lấy giùm chị quyển sách cái.
 
Tiếng chị Phương từ nhà trên vọng vào. Mặc! Bé vẫn bịt tai giả điếc. Hổng phải là bé nhác đâu, mà, mà... bé ghét chị Phương lắm cơ. Mấy hôm nay chị Phương chả thèm chơi với bé nữa, nghĩ có tức hông. Cả ngày bé cứ thấy chị Phương ở trong phòng học, chị ấy cứ viết viết cái gì mãi. Chả bù với mọi hôm, chị ấy cứ dắt bé đi chơi hoài á! Chị Phương làm bộ học chứ bé biết rồi, chị ấy làm thơ đấy mà. Bé biết chuyện ni lâu rồi, bé định méc má cho chị ấy đáng đời, nhưng... bé còn thương chị Phương quá, bé không nỡ. Bi chừ thì bé cảm thấy ghét nhiều nhiều, bé chả thèm chơi với chị Phương nữa đâu.
 
Mấy bữa ni chị Phương bí mật ghê cơ, bé vừa bước vào phòng học là chị ấy đã xua tay:
 
- Thôi! Đi ra ngoài giùm chị, yên cho chị học.
 
Bé tức quá muốn cãi mà lại sợ nên nước mắt cứ trào ra. Càng nghĩ tới ngày trước bé  càng thấy tủi thân hơn. Lúc trước chị Phương lúc nào cũng nghĩ đến bé, lúc nào cũng chơi với bé cả. Thế mà bây giờ...
 
- Chị Phương ơi! Chơi bán đồ hàng với bé không?
 
- Quê lắm, chị không chơi đâu, chị lớn rồi chứ bộ nhỏ như cô đó.
 
"Lớn rồi". Từ ngày được đăng bài thơ trên Tuổi Hoa đến nay, chị Phương cứ lấy điệp khúc "chị lớn rồi" nói với bé hoài, bé chán ơi là chán. Chị ấy làm như đã lớn bằng ba không bằng. Bé quay đi rủ thằng Hùng:
 
- Hùng! Chơi với bé nha!
 
Cũng như chị Phương, Hùng từ chối ngay:
 
- Bé chơi đi, Hùng không chơi đâu, Hùng con trai mà chơi gì.
 
Thật tức ghê đi, trong nhà không ai thương bé cả, má lo việc má, chị Phương bận làm thơ, thằng Hùng thì khỏi nói, không bao giờ hắn chịu chơi với bé cả, cả nhà không ai thèm để ý đến bé hết. Được rồi, bé nhất định phải giận cho mà xem, mà lần ni bé giận thiệt cơ, chứ không như lần trước đâu. Thôi để bé giận đã nha, tới giờ ăn cơm rồi đó...
 
Bé lăn nhanh xuống gầm giường mở tròn mắt chờ đợi. Tiếng chị Phương gọi rồi tiếng má:
 
- Con bé làm bộ đó, chiều thế nào cũng vòi quá.
 
Nghe tiếng má, bé càng tức hơn lên mà quên cái bao tử của bé đang reo. Má không thèm kêu bé ăn cơm thì thôi, bé nhịn đói đến chết luôn. Eo ơi, nghĩ đến chết bé sợ quá, định bước ra thì tự ái bé lại sôi lên sùng sục. Nước mắt bé trào ra và bé ngủ quên lúc nào không biết.
 
Tỉnh dậy bé thấy người nóng ơi là nóng. Mồ hôi và nước mắt làm bé khó chịu vô cùng, thêm vào đó bụng bé đói cồn cào. Thôi! Bé chịu thua rồi. Cho bé ăn cơm với. Bé vừa định bước ra thì dừng lại, có tiếng má vào phòng. Thế là bé hơn rồi, má chịu thua bé trước.
 
- Bé ơi! Ra ăn cơm má thương.
 
Bé nín thở chờ đợi. Tiếng má thảng thốt:
 
- Ủa! Bé đâu rồi?
 
Cùng lúc đó bé nghe tiếng ba, chị Phương và thằng Hùng vào phòng. Bé thấy thương lạ, thì ra cả nhà ai cũng lo cho bé cả mà bé không biết. Hối hận dâng tràn, bé chạy ra ôm chầm lấy má, mếu máo:
 
- Má ơi!
 
Giọng má mừng rỡ:
 
- Trời ơi! Con tôi.
 
Qua màn lệ, bé thấy chị Phương dễ thương hơn bao giờ hết.
 
 
Hương Huyền       
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 110, ra ngày 15-7-1969)


Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

TRƯƠNG HÁN SIÊU - Đặng Hoàng

 


Trương Hán Siêu, tự là Thăng Phủ, hiệu Đôn Tẩu, người xã Phúc Thành (tức xã Phúc Am ngày nay), huyện Yên Minh (sau đổi là Yên Khánh), tỉnh Ninh Bình (Bắc phần).
 
Nhờ quen biết và năng đi lại giao thiệp với Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nên Trương Hán Siêu được tiến cử lên vua Trần Anh Tông (1293-1318) với chức Hàn lâm học sĩ cùng thời với tướng quân Phạm Ngũ Lão.
 
Vốn tài giỏi, khôn ngoan, khéo léo, Trương Hán Siêu hết lòng phục vụ cho quốc gia, dân tộc qua nhiều đời vua với các chức : Hàn lâm học sĩ (Trần Anh Tông), Hành Khiển (Trần Minh Tông 1314-1329), Môn hạ hữu tự lang trung (Trần Hiến Tông 1329-1341). Đời vua Trần Dụ Tông (1341-1369) Trương Hán Siêu cùng với Nguyễn Trung Ngạn soạn chung cuốn "Quốc triều dại điển" và phiên dịch "Huấn thư". Năm 1342, ông thăng Tả tư lang trung kiêm Lạng Sơn kinh lược sứ. Ba năm sau (1345) Trương Hán Siêu được cất lên chức Tả gián nghị đại phu, và tới năm 1351 trở thành Tham tư chính sứ.
 
Chúng ta đã biết, năm 1306 vua Trần Anh Tông gả em gái là Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân, vua Chiêm Thành và nhận hai Châu Ô, Châu Rí do Chế Mân dâng làm lễ cưới. (Hai châu này được đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu).
 
Dù Chế Mân dâng tặng đất, người Chiêm luôn luôn tìm cách gây hấn với nước ta để đòi lại và trả thù việc vua Anh Tông thân chinh cùng Trần Quốc Chấn và Trần Khánh Dư sang đánh Chiêm Thành năm Tân Hợi (1311) bắt vua nước này là Chế Chí đem về Thăng Long giam giữ cho tới khi chết. Cuộc xung đột kéo dài mãi tới đời Trần Dụ Tông lúc nhà Trần bắt đầu suy vi, người Chiêm đánh phá Hóa Châu. Vâng lệnh vua, Trương Hán Siêu lĩnh chức "Quân thần sách" đưa quân vào đối phó. Tuy là quan văn, ông cũng nhận trọng trách "Tiểu phủ sứ" rồi khôn khéo dùng mưu lược đánh tan quân Chiêm Thành, dù thời gian này ông gặp nhiều điều không ưng ý.
 
Năm 1354, niên hiệu Thiệu Phong thứ 14 đời vua Dụ Tông, Trương Hán Siêu lấy cớ đã có tuổi, sức yếu, hay đau ốm luôn nên dâng biểu về kinh sư xin từ quan để về làng dưỡng bệnh. Được triều đình chấp thuận, Trương Hán Siêu lên đường nhưng chưa tới nơi đã mất. Vua Dụ Tông thương tiếc vô cùng, ngài ban tặng ông chức Thái phó.
 
Trương Hán Siêu là người cốt ngạch văn chương, chính sự kiêm ưu khiến các vua tin dùng và kính trọng đến nỗi kêu là "thày" chứ không dám gọi tên.
 
Trương Hán Siêu là tác giả bài phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang phú) để tưởng nhớ chiến công hiển hách của tiền nhân, bài ký Tháp Linh tế (Linh tế tháp) và bia văn chùa Quang Nghiêm (Quang Nghiêm tự bi văn). 
 
 
ĐẶNG HOÀNG (sao lục)    
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 101, ra ngày 3-8-1973)