Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

MỘT CHUYẾN PHIÊU LƯU - Nguyễn Lại Bình

 


Buổi tối hôm nay cũng như bao nhiêu buổi tối khác nhưng sao Thoại đâm ra hồi hộp lạ thường. Đêm không trăng. Trời tối đen ghê gớm. Ừ nhỉ! Người ta thường nói "Tối như đêm ba mươi" cũng phải đấy chứ. Thoại có nhận thấy gì ngoài vườn đâu, dù khoảng vườn hoa xinh xắn phía bên kia cửa sổ không lấy gì xa lắm. Thoang thoảng trong hơi gió miên man Thoại nhận ra hương thơm nhè nhẹ của những bông sứ trinh nguyên.
 
Thoại nôn nao ghê! Phải rồi, đêm nay là đêm giao thừa. Giao Thừa. Eo ơi! Sao âm vang của hai tiếng đó lại khiến Thoại rộn rã, cuống quít gớm ghê! Giờ nầy chắc ba má Thoại đang bận rộn kê lại cái bàn ở phòng khách hoặc trịnh trọng bày hoa quả trên cái bệ thờ cao, nghi ngút khói hương. Lễ vật đã sẵn, và họ chỉ còn chờ phút giao mùa. Sự tương hợp của một năm cũ và một năm mới mang một ý nghĩa thiêng liêng. Đó là giây phút khởi đầu cho một năm mới an vui và thịnh vượng như họ thường chúc nhau. Đó là giây phút người ta hướng tâm hồn về nguồn cội. Đón rước linh hồn ông bà về ăn tết là phong tục Việt, không ai quên được.
 
Ừa, mà sao tết đến nhanh ghê há! Tết đến hoài. Mới đấy, nhìn lại : đời đã chất chồng thêm một tuổi. Tự nhiên Thoại bật cười, chợt nghĩ mình cũng bày đặt suy tư vớ vẩn đấy nhỉ. Thoại bỗng ngồi thừ ra, đăm chiêu lạ. Thoại đang gợi nhớ những kỷ niệm quá khứ reo vui. Hồi nhỏ sao mà sướng thế, sao mà hồn nhiên thế. (Thật ra Thoại có lớn chi lắm đâu, năm nay mới lên lớp tám đó). Thoại như miên man trong cơn hồi tưởng. Những ngày tháng hạ chia ly, những ngày tựu trường sun họp. Chia ly nhưng vui vẻ, sum họp nhưng mỏi mệt (vì sắp phải chui đầu vào bốn bức tường ngăn chận sự tự do... chơi đùa).
 
Với Thoại, ngày khai trường sao giống ngày tết ghê nơi! Giống ở điểm Thoại được mặc áo quần mới để mang một cảm giác lạ, xốn xang, tưởng chừng như có hàng trăm cặp mắt đổ dồn về Thoại. Thoại mặc đồ mới, le ác. Và, Thoại không thể nào quên được đôi tai lùng bùng và đỏ rực lên. Chao ơi! Cái dáng điệu lúng túng một cách quê kệch, mà vui.
 
Đồng hồ thong thả gióng mười tiếng. Thoại chợt có ý nghĩ không biết đồng hồ có chạy sai không. Gì đâu mà lâu ghê gớm.
 
Thoại nảy ý định dạo vườn hoa một  vòng nhưng vì "nhân chi sơ tính bản... lười", nên thôi. Mới có mười giờ mà buồn ngủ ghê gớm. Thoại cố chống chọi với cơn buồn ngủ. Thoại cố mở to mắt ra. Cố gắng và cố gắng, vì mí mắt đang trĩu nặng. Thoại muốn thức trọn đêm giao thừa. Nhưng Thoại buồn ngủ quá đi thôi. Ngủ thật đấy.
 
*
 
Một con vật mềm, nhớp nhúa nhảy lên chân khiến Thoại giật mình tỉnh giấc. Một con cóc gớm ghiếc làm sao! Thoại bực dọc co chân đá một cái thật mạnh. Con cóc văng đi, lộn một vòng rồi gượng dậy được ngay.
 
Con cóc nhìn Thoại trừng trừng. Sóng mắt thật kinh khiếp. Con cóc rít lên... Thoại tưởng chừng như đang nghe một mụ ác tiên trút cơn thịnh nộ trong những lời nguyền.
 
Thoại như mê man trước trạng thái kỳ quái này. Không đời nào lại có thể xảy ra chuyện hoang đường như vậy. Thoại muốn bật cười nhưng giấc ngủ đã kéo đến. Đột nhiên Thoại sợ hãi bâng quơ tưởng như mình đang ngất đi.
 
*
 
Mặt đất đột nhiên rung chuyển như thể đang bị một nguồn chấn động dữ dội nào. Thoại mở mắt, choàng tỉnh. Chung quanh, mọi vật đều xa lạ. Thoại ngơ ngác nhìn quanh, lo sợ, rồi khóc. Thoại không hiểu gì cả. Thật kỳ quái! Đang ngồi ở nhà đón giao thừa, đột nhiên sao mình lại ở đây. Tĩnh vật vắng lặng đến rợn người.
 
Và, trong tột cùng của sự sợ hãi Thoại bỗng thấy bình tĩnh lạ thường. Trời hãy còn tối nhưng Thoại cũng nhận ra được trước mặt mình là một dãy núi hùng vĩ. Dãy núi có hình dạng một con mèo khổng lồ. Thoại sửng sốt, vì dãy núi chợt cao lần, cao lần và lừng lững tiến về hướng Thoại. Trời đất! Núi biết đi. Nhưng Thoại không kịp suy nghĩ gì cả. Mặt đất đang rền rĩ rung chuyển. Thoại kinh hãi thối lui, chạy trốn. "Núi" cứ bình thản đuổi theo. Thoại chạy trối chết. Đột nhiên một tiếng gầm gừ vang dội như sấm sét. Gió trào tới như một cơn lốc xoáy cuốn tung người Thoại lên. Thoại điếng hồn ngất xỉu.
 
Khi tỉnh dậy trời đã hừng sáng. Nắng ban mai nồng ấm mơn man da thịt Thoại. Theo thói quen nó cử động vài cái, co chân múa tay rồi mới đứng dậy. Vai nó ê ẩm. Bây giờ thì Thoại không muốn thắc mắc gì hết ngay cả sự có mặt của nó ở đây, không ai giải thích được cả. Thoại đã cố móc moi trí óc để tìm một giải đáp nhưng đành chịu. Gọi ký ức nó chỉ loáng thoáng nhớ được vài hiện  tượng kỳ quái : "núi" biết đi, động đất, giông bão... và sau cùng, những tiếng rú kỳ dị như tiếng chuột rít.
 
Thoại chệnh choạng đứng dậy, bụng đói meo, nó cố gượng đi tìm thức ăn. Nhưng Thoại té xuống vì vấp phải một cái gì đó, hình như một sợi dây. Đúng rồi! Đó là một sợi dây... và rất nhiều sợi dây chằng chịt cao trên đầu Thoại. Trời đất! Một lưới nhện khổng lồ. Thoại hoảng hồn lồm cồm ngồi dậy, chạy ngay.
 
Thoại chạy như bay về phía chiếc xe lửa đang đậu sẵn đằng xa. Nó bám đại vào "đuôi xe". Phải nói là đuôi xe mới đúng. Thoại rợn người. Đó là một "lão" thằn lằn vĩ đại. Thoại muốn nhảy xuống nhưng thôi : "xe" bắt đầu "chuyển bánh". Thoại vừa sợ vừa thích thú vì lần đầu tiên nó đi "xe lửa" chạy trên thiết "lộ" thẳng đứng. "Xe" chạy đến một khoảng đất phẳng thì ngừng lại. Chỉ đợi có thế Thoại nhảy xuống rồi co giò chạy một mạch. Rủi mà bác thằn lằn khám phá ra một hành khách đi lậu thuế thì nguy! 

Không nghi ngờ gì nữa, Thoại đang lạc vào xứ khổng lồ. Lạc vào xứ khổng lồ? Chao ơi! Thế giới mà nó tưởng chỉ có trong thần thoại, trong cổ tích thôi chứ. Thoại liên tưởng đến chàng Guiliver và những chuyến phiêu lưu dị kỳ. Nó đâm ra hứng thú vô cùng.

Bây giờ nắng đã lên cao. Trời xanh thắm, gió mát. Thoại nhìn quanh quất. Cảnh vắng teo. Bụng đói cồn cào, Thoại nhăn nhó vì không tìm được chút gì để ăn cả. Thình lình có tiếng động cơ vang lên. Một chiếc khu trục cơ đang vù vù bay đến. Thoại mừng quá reo lên kêu cứu. Nó cởi áo ra và quơ qua quơ lại. Máy bay đến gần làm Thoại vỡ mộng. Cái mà Thoại ngỡ là chiếc máy bay thực ra là một gã chuồn chuồn. Gã đã đến và đáp xuống phía trước Thoại một khoảng khá xa. Tuy vậy hơi gió do đôi cánh to tường của gã tạo nên cũng đủ khiến Thoại cơ hồ đứng không vững. Một tia sáng lóe lên trong óc, Thoại chạy vụt đến bên gã chuồn chuồn rồi nhảy phóc lên ngồi vắt vẻo ở cuối đuôi. Chẳng mấy chốc gã chuồn chuồn lại cất cánh tiếp tục cuộc hành trình mang theo một hành khách bất đắc dĩ.

Gió lồng lộng thổi vào Thoại khiến nó không dám khinh suất vội vã ôm chặt lấy đuôi gã chuồn chuồn. “Phi cơ” bay lượn cùng khắp. Thoại sướng mê tơi vì khung cảnh bên dưới Thoại tuyệt vời quá. Ngang qua một vườn hoa vĩ đại khoe màu, Thoại say sưa ngắm các chú bướm khổng lồ lượn quanh hoa ve vãn. Gã chuồn chuồn trông vậy mà cũng có tâm hồn nghệ sĩ ghê gớm. Gã tà tà lượn qua lượn lại vườn hoa rồi sau cùng mới chịu đáp xuống một bãi cỏ non. Thoại trèo xuống ngay. Nó không quên cám ơn bác chuồn chuồn dù gã không hề bận tâm về sự hiện diện của một hành khách tí hon trên đuôi gã nãy giờ.

Đói bụng quá, Thoại gặm đại vài cọng cỏ, ngon thật. Thoại tha hồ no nê. Vấn đề lương thực như vậy coi như đã tạm xong. Thoại yên tâm đi dạo cùng khắp.

Khi vượt khỏi cánh đồng cỏ non Thoại gặp ba chú kiến đang loay hoay khiêng mồi về “nhà”. Chú kiến đi đầu có vẻ yếu đuối, chân chú ta như muốn khụy xuống đi không nổi. Bản tính hào hiệp nổi dậy, Thoại vội chạy đến phụ một tay, nhưng chợt một tiếng quát thật to khiến Thoại giật mình sựng người lại.

- Đứng yên!

Quái lạ! Ai nói vậy? Thoại nhìn quanh quất. Chẳng có bóng người nào cả. Không lẽ kiến biết nói?

- Ăn cướp hả.

Đúng rồi! Kiến đầu đàn quát. Trời đất! Kiến biết nói nhưng Thoại không suy nghĩ lâu, nó đang bực mình về lời lẽ của chú Kiến vừa rồi. Rõ là làm ơn mang oán. Bọn Kiến mất lịch sự thật.

- Câm hở?

- Ừ.

- Ha! Ha! Câm mà biết nói.

Ba chú Kiến khoái trá cười vang. Thoại tức lắm nhưng cố làm thinh.

- Hỏi thiệt. Chú mày là cái giống gì vậy? Ở đâu tới?

- Người.

- Lạ thật. Tôi chưa nghe đến giống này bao giờ.

Một chú Kiến đề nghị:
 
- Hay ta bắt tên này về để ở sở thú coi chơi.
 
- Ý kiến hay!
 
- Nhào vô, anh em.
 
Thoại né tránh thật lẹ. Nó quyết tâm trả đòn một cách đích đáng. Thoại hét:
 
- Ba đứa đánh một hèn lắm!
 
- Nó nói cái gì vậy?
 
- Nó muốn một chọi một đấy.
 
- Ối! Cái thằng bá láp. Bộ nó không biết dân tộc mình mang một đức tính kiêu hùng sao: đoàn kết.
 
- Đúng. Đoàn kết đi liền với sự trường tồn của dân tộc.
 
- Hợp quần gây sức mạnh mà lỵ.
 
Thoại giận sôi. Thừa lúc cả ba đang huênh hoang chọc ghẹo, Thoại lao người vào chú đầu đàn đấm thiệt mạnh. Hai con còn lại hùa vô cứu. Chú kiến trong tay Thoại đột nhiên cứng đơ. Thoại hoảng hốt bỏ chạy. Hai con kiến còn lại không buồn đuổi theo. Chúng còn đang săn sóc đồng bọn.
 
Chạy một quãng xa không thấy ai đuổi theo, Thoại mới yên tâm lững thững bước. Trời nước mây. Tất cả đều đẹp. Thoại thầm nghĩ đến việc vừa qua mà mỉm cười. May thật, suýt nữa là khốn rồi. Nhưng Thoại đã lầm và hàng ngàn tiếng reo hò phía sau thay câu trả lời cho nó. Đông ơi là đông, kiến ở đâu mà đông thế. Hình như chúng đi trả thù cho đồng bọn. Thoại nhận ra hai tên đi đầu chính là hai con khi nãy. Chúng đang chỉ trỏ bàn định một việc gì. Thoại sợ quá, bỏ chạy. Đàn kiến ùn ùn rượt theo.
 
Tới một dòng sông Thoại mừng rỡ với hy vọng lũ Kiến tận đường - Nhưng, hình như bọn Kiến liều chết nhảy đại xuống sông. Thoại thắc mắc đến ngẩn người không hiểu bọn chúng làm chi cả. Trong khoảnh khắc lũ kiến đã tạo nên một cái cầu nổi và chiếc cầu nổi này có nhiệm vụ đưa đồng bọn sang sống. Bí đường rồi, Thoại vội chạy men theo sông rồi tìm một chiếc lá, leo lên, chèo ra giữa dòng. Bọn Kiến la ó rầm trời, đuổi theo.
 
Nhưng đột nhiên lũ Kiến chạy tán loạn lui về phía bên kia sông. Thoại ngơ ngác, mãi đến lúc mây đen kéo đến xám xịt cả bầu trời, Thoại mới hiểu khả năng thiên phú của lũ Kiến. Thoại muốn quay thuyền vào bờ nhưng không được. Mưa đã kéo đến, vội vã, dữ dội. Chiếc thuyền lá chòng chành muốn chìm khiến Thoại càng sợ hãi - Nước đã vào thuyền. Càng lúc càng nhiều, tỉ lệ với độ chìm của thuyền lá. Thoại mệt mỏi. Hy vọng thoát chết thật mỏng manh. Chiếc thuyền lá bị lật nhào hất tung Thoại xuống sông.
 
Chao ôi! Thoại trông thấy những họng cá đen ngòm đang đợi sẵn. Những hàm răng ngó phát ghê, Sắc, nhọn tựa lưỡi hái của tử thần.
 
Thoại rú lên...
 
*
 
- Gì vậy con?
 
Thoại thức  giấc. Mình mẩy sũng ướt mồ hôi. Người mẹ mắng yêu:
 
- Gớm! Con trai con đứa lớn cái đầu rồi mà còn mớ ngủ.
 
Thoại ấp úng:
 
- Ơ... ơ... dạ... con...
 
- Thôi đi ông tướng! Dậy mà đón giao thừa.
 
Thì ra đó chỉ là một giấc mơ. Thoại mừng rỡ "dạ" một tiếng thật to trước vẻ ngơ ngác của người mẹ. Nhưng rồi bà cũng nở một nụ cười. Đầu năm mờ!
 
*
 
Câu chuyện đến đây tạm kết thúc vì chẳng còn gì lạ lùng đáng nói cả. Duy chỉ có một điều ngạc nhiên là khi Thoại kiểm điểm những chi tiết trong giấc mơ thì thấy rất phù hợp thực tế: từ chỗ trốn con mèo đầu tiên, đến ổ nhện, phi trường chuồn chuồn, vườn hoa... Và, sau rốt là cơn mưa thoảng qua đêm rồi.
 
Thoại ngẩn người tự hỏi:
 
- Ta mơ hay tỉnh đây...
 
 
Saigon đầu xuân 1973      
NGUYỄN LẠI BÌNH     
 
(Trích từ bán nguyệt san Thằng Bờm số 22, ra ngày 1-3-1973)


Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

LÀM NGƯỜI... TA PHẢI... - Minh Quân


Bà tôi thường quan niệm rằng "Làm người ai cũng phải nên... lao động" Tôi rất ghét quan niệm đó. Tôi có địa vị, tiếng tăm... há không đủ rồi sao? Bất tất phải nghe lời một bà cụ già lẩm cẩm? Hôm vừa rồi, trong bữa ăn, bà tôi bảo tôi rằng:
 
- Cháu cần phải làm một việc gì, hay cố tập làm cho được một dụng cụ gì đó, chẳng hạn lấy đất sét nặn một cái dĩa, cưa ván gỗ đóng một cái bàn hay sơn cánh cửa... hoặc lấy vải kia cắt ra mà may một cái quần đùi, cùng lắm là chiếc khăn tay thử xem nào! Con trai con tráng mà lười biếng mỗi chút mỗi nhờ người khác chẳng đáng thẹn lắm ru?
 
Úi trời ơi! Tôi : một nhà văn, không những thế, tôi còn có bằng cấp đại học hẳn hoi mà lại đi hạ mình làm những công việc tay chân "hạ tiện" đó ư? Đâu có được! Nhưng tôi chưa kịp há miệng cãi một lời thì bà tôi đã nghiêm nghị tiếp:
 
- Bà thừa biết cháu nghĩ gì rồi, ai cũng nhận cháu là kẻ có tài, một nhà văn nổi tiếng... ngay bà, bà cũng công nhận điều đó nữa. Bà còn nhận rằng cái tài hút thuốc lá của cháu thì quả là ăn đứt mọi người, bằng cớ là tàn thuốc lá và khói thuốc lá của cháu ngập phòng. Nhưng theo ý bà thì cháu cần làm một việc gì, một vật gì cụ thể, một vật có thể sờ, nắm được, thấy được và là một vật thiết dụng kia. Cháu biết tại sao không" Đây, hãy nghe câu chuyện sau đây...
 
Chuyện gì? Chuyện gì mà bà tôi kể cho tôi nghe để cốt giải thích cho tôi về quan niệm "làm người phải nên... lao động" tôi nghĩ thầm trong bụng, lòng không vui nhưng kiên nhẫn lắng tai.
 
- Ngày xưa...
 
Mới nghe tới đó tôi nghĩ thầm thêm: "Trời ơi! Hết chuyện rồi bà đi kể chuyện cổ tích cho một nhà văn nổi tiếng" song vẫn không hề phản đối, để xem câu chuyện ra sao.
 
- Xưa lắm có một vị hoàng tử xứ Ba Tư cảm mến con gái bác chăn cừu. Chàng tâu với phụ vương rằng:
 
- Kính tâu phụ vương, con yêu cô gái chăn cừu và muốn được cùng nàng...
 
Chợt nghe qua, "mặt rồng" đổi sắc, ngài đập bàn quát lên:
 
- Ta đây là vua nước Ba Tư giàu có, con sẽ nối ngôi ta sau này. Hỡi vị hoàng tử ngu dại, si mê kia! Chớ yêu không phải chỗ! Dễ thường các đại thần, tể tướng hết nhẵn con gái rồi sao mà con lại...
 
- Kính tâu phụ vương! Con biết rằng việc này làm phật ý phụ vương, nhưng con nào muốn vậy. Khốn thay! Con rất mến nàng, kính xin phụ vương chấp thuận cho con cưới nàng làm vợ.
 
- Ta không cho! Ta không cho! Ta không muốn có con dâu hạ tiện, con kẻ chăn cừu!
 
- Như vậy thì con xin thề : con không lấy vợ từ giờ cho tới chết.
 
Nhà vua sửng sốt! Ôi chao! Nó là con mà nó không lấy vợ lấy ai nối ngôi ta về sau? Mà ta có một mình nó chứ phải nhiều nhõi gì cho cam! Ta cần có cháu bế mà! Ấy vậy là đức vua đành nhượng bộ. Ngài đấu dịu:
 
- Thôi! Cha cũng chiều con. Muốn lấy ai thì lấy. Duyên nợ với nhau, cha không cấm!
 
Nói đoạn, ngài cho gọi quân hầu đến truyền rằng:
 
- Ngươi kíp đến nhà gã chăn cừu, nói với hắn là Hoàng tử muốn cưới con gái hắn.
 
Quân hầu tuân lệnh đến nhà cô gái báo tin. Gã tưởng cô gái phải mừng rơn lên, ai ngờ cô điềm nhiên hỏi lại:
 
- Hoàng tử "nhà anh" có biết qua một nghề lao động nào không? 

- Hử? Cô hỏi cái gì?
 
Tên quân hầu tưởng mình nghe lầm, hỏi lại. Cô gái hỏi to:
 
- Hoàng tử "nhà anh" có biết qua một nghề lao động nào không? 

- Trời ơi! Cô rõ dở hơi! Cô há không biết rằng ngài sẽ thay vua cha trị vì vương quốc Ba Tư mênh mông, giàu có này ư? Ngài là vua, ngài cần gì phải...
 
- Biết vậy! Nhưng nếu hoàng tử "nhà anh" không biết một nghề lao động nào thì đừng hòng cưới được tôi. Tôi muốn thế. Hãy về báo tin đó cho ngài.
 
Tên quân hầu lủi thủi trở về, lòng đầy kinh ngạc. Nghe lời tuyên bố ngạo mạn của cô gái qua tên quân hầu kể lại - đức vua tưởng máu sô lên sùng sục trong huyết quản, quay lại con mỉa mai giọng, hỏi rằng:
 
- Thế nào? Hoàng tử duy nhất của ta! Con không hề biết một nghề lao động nào hết, con tính sao đây? Bỏ ý định ngông cuồng rồ dại kia chưa?
 
- Kính tâu phụ vương! Cũng chẳng khó khăn chi, con sẽ cố học lấy một nghề lao động vậy.
 
Hoàng tử nói bằng giọng rất tự nhiên, không phật ý chút nào. Thế rồi, chàng học nghề dệt thảm rơm, dệt rất nhiều loại, nhiều cỡ, nhiều mầu, nhiều kiểu. Chỉ trong ba ngày, chàng đã lành nghề, chàng dệt những tấm thảm tuyệt đẹp, cho tên quân hầu mang đến giao tận tay cô gái và nói rằng:
 
- Chính Hoàng tử đã thân hành dệt những tấm thảm rơm kia xin mang lại biếu cô, đó là bằng cớ về một nghề lao động vậy.
 
Cô gái lấy làm vừa ý.
 
Thế là hôn lễ tiến hành.
 
Họ rất hợp nhau.
 
*
 
Một hôm kia, Hoàng tử dạo chơi ở kinh thành Bagdad, vui chân dừng lại ở một hiệu ăn trông rất sạch sẽ, thanh lịch, và sau cùng hoàng tử bước vào trong, ngồi xuống một cái bàn, toan cất tiếng gọi thức ăn... Hoàng tử không ngờ rằng mình đã vô tình lọt vào sào huyệt của bọn bất lương, chuyên giết người, cướp của.
 
 Chúng bắt hoàng tử nhốt vào một ngục tối rất lớn cùng với nhiều người khác, cũng là nạn nhân của chúng và vốn là người có địa vị trong vùng.
 
Chúng đem những người béo mập ra giết đi, lấy thịt nuôi những kẻ gầy ốm nhất, coi đó như một trò tiêu khiển vậy. Hoàng tử là người gầy nhất trong số những người gầy lại không ai biết chàng là hoàng tử, nên chàng không bị chúng giết ngay. Hoàng tử lập mưu nói với bọn cướp:
 
- Tôi là thợ chuyên dệt thảm rơm, loại đắt tiền nhất, nhà vua vẫn mua thảm do tay tôi dệt. 

Bọn cướp liền mang rơm đến bảo chàng dệt thảm ngay. Trong ba hôm, hoàng tử dệt xong ba tấm thảm cực kỳ khéo đẹp. Hoàng tử bảo bọn chúng:
 
- Các ông mang những tấm thảm này đến dâng cho đức vua, thế nào ngài cũng trả cho các ông mỗi tấm một đồng vàng.
 
Thế là bọn cướp mắc mưu chàng. Thoạt trông thấy những thảm đó, nhà vua đoán ngay con trai chắc đang lâm nguy, ngài bèn gọi dâu đến phán rằng:
 
- Có người mang dâng ta mấy tấm thảm, ta đoán chắc do chồng con dệt, con có đồng ý với ta không?
 
Nàng cầm từng tấm lên xem rất kỹ và quả nhiên nhận thấy trong những đường dệt tinh vi đó có mật thư của chồng mình bằng chữ Ba Tư, lập tức nàng đọc cho vua cha nghe.
 
Đức vua liền phái rất nhiều quân lính đến ngay sào huyệt bọn cướp, vây bắt chúng không chừa sót một mạng nào và giải thoát hoàng tử cùng tất cả những nạn nhân của chúng, bị giam từ lâu. 

Hoàng tử trở về cung điện với cha và vợ.
 
Thoạt thấy nàng, hoàng tử làm một cử chỉ ưu ái và rất "hạ mình": Chàng quỳ xuống hôn chân vợ mà rằng:
 
- Anh rất cảm phục và biết ơn em, chính nhờ em mà anh sống đến ngày nay đó. Em đúng là vợ hiền của anh.
 
Riêng đức vua, ngài rất hài lòng về người con dâu khôn ngoan, vốn là con gái nhà chăn cừu nghèo khổ xưa kia.
 
*
 
- Đó, cháu thấy chưa? (bà tôi dịu dàng hỏi) Cháu đã biết cái lẽ tại sao bà vẫn cho rằng ai cũng phải biết một nghề lao động để phòng thân không?
 
- Cháu biết rõ lắm rồi - tôi vui vẻ nói - cháu sẽ để dành tiền, mua cưa, gỗ, ít tấm ván mỏng, trổ tài đóng vài chiếc ghế, song trước hết cháu đóng ngay cái giá đựng sách cho bà xem.
 
 
MINH QUÂN          
(phóng tác theo một truyện ngắn
 của William Sarnaoy) 

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Xanh số 38, ra ngày 1-3-1967)


 

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

GIÀN HOA GIẤY TRƯỚC CỔNG NHÀ - Cúc Hy


 - Khanh nằm nghỉ cho khỏe, Loan đi học.
 
- Nhớ chép bài hộ Khanh.
 
- Ừ, nhớ chứ.
 
Thanh Loan mỉm cười, khép hờ cánh cửa phòng. Khanh nằm nghe những tiếng chân nhịp nhàng reo trên bậc thang đi xuống. Tiếng chân vui vẻ tựa giọng cười, giọng hát. Bước chân đã thôi vang, Khanh nhắm mắt và muốn khóc. Khanh đi xuống đất, để nguyên bàn chân không giày, không dép. Nhìn qua khung của nhỏ, Thanh Loan lướt qua chùm cây với cái bóng trắng sáng như màu nắng. Khanh gọi: Thanh Loan, Thanh Loan. Hình như Loan chẳng hay biết, cứ đi lầm lũi về phía con đường bụi đỏ.
 
Tóc cũng không kẹp như mọi ngày, Thanh Loan đến vào buổi trưa gay gắt. Khanh nằm ngủ im trong phòng, trên tay vẫn còn cầm tờ tạp chí đọc dở dang. Loan ngồi sững trên ghế, lặng thinh. Gói cam vừa để trên bàn trĩu xuống như đôi tay Loan lúc ấy. Trơ vơ đến tội nghiệp.
 
Phòng Khanh hẹp, không đủ gió. Oi bức, khó chịu. Giống như cái lò lửa. Loan cười ngẩn ngơ nhớ tới câu nói của Khanh:
 
- Nhiều lúc Khanh cũng tự phục mình. Buồn cười thật.
 
Loan tròn xoe mắt:
 
- Kiêu ngạo, hư chưa!
 
- Hư gì? Phòng học của Khanh nóng vô cùng. Nóng như lò lửa. Thế mà Khanh giam mình ở đó suốt mấy tiếng đồng hồ. Đáng phục quá.
 
Loan cười theo Khanh:
 
- Sao Khanh không chịu điều hòa không khí?
 
- Bằng máy ấy à?
 
- Bằng quạt chứ.
 
- Nếu vậy quạt phải vặn số to nhất, chạy quanh năm suốt tháng.
 
Loan đứng dậy mở cặp lấy miếng bìa quạt cho bạn. Khanh nằm ngủ, tóc xõa trên gối đen rợn người. Nhẹ nhàng, Loan chậm những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, trên mang tai Khanh. Rất sẽ nhưng Khanh lại mở choàng đôi mắt.
 
- A, Loan! Đến từ lúc nào thế?
 
Loan nhìn đồng hồ:
 
- Trước đây 15 phút.
 
- Sao không gọi Khanh dậy?
 
- Ốm phải ngủ chứ. Khanh nằm ngủ trông dễ thương. Loan không nỡ đánh thức.
 
Khanh cười, bĩu môi. Xạo vừa thôi. Loan đứng bên cửa sổ, hái một chùm hoa giấy, màu đỏ thẫm. Loan nâng lên mũi.
 
- Hoa này không có mủi thơm, Loan nhé.
 
- Vâng, tôi biết rồi cô ạ.
 
- Thế sao còn ngửi?
 
- Chẳng hiểu nữa. Hỏi vớ vẩn.
 
- Loan đáp vớ vẩn.
 
Có lẽ Loan vớ vẩn thật. Nhưng không, Loan ngửi thấy hương thơm của chùm hoa, rất dịu dàng. Hình như của nắng sáng, của mưa chiều. Hương thơm man man.
 
- Chả biết bao giờ Khanh đi học lại.
 
- Gì cơ?
 
Mắt Khanh chớp lạ lùng, tiếng ướt sũng.
 
- Đừng buồn, thế nào Khanh cũng khỏi.
 
- Khanh sợ...
 
Một ngày nào, không còn trở lại trường. Một ngày nào, học hết giờ cuối cùng của thời niên thiếu. Và còn lại hai bàn tay ngu ngơ, lỡ đánh rơi tất cả. Bước những bước lạc lõng xuống cuộc đời.
 
- Khanh hay nói dại dột.
 
- Khanh nói thật.
 
- Nhiều khi sự thật chả nên nói tới. Ăn cam Khanh nhé!
 
Khanh lắc đầu. Ốm đau như thể một trạng thái bình thường, vô cùng quen thuộc. Gần gũi, thân thiết. Những thìa thuốc, viên thuốc vàng xanh. Những lọ dầu nồng nàn mùi bạc hà cũng đã là một người bạn, luôn túc trực trong cặp.
 
Bây giờ, Khanh thơ thẩn một mình với căn phòng cô độc. Loan đi rồi, trở lại không khí oi bức nặng nề. Ba giờ, Loan làm gì ở trường? Mở sách xem bài sắp học, dò lại mấy phương trình căn số. Hay Loan đang lang thang bên đám cỏ gấu sân trường, bên ghế đá. Không biết, Loan có nhớ Khanh không. Khanh mệt mỏi trong cơn bệnh hoạn. Khanh đau xót thương trường nhớ lớp. Chùm hoa giấy nằm nghiêng trên sàn gạch. Khanh cúi người xuống nhặt. Vẫn hương nhẹ tỏa. Ba giờ, Loan đang làm gì ở trường?...
 
 
CÚC HY       
(Hoa Tiên)     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 77, ra ngày 18-2-1973)


Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

HUẤN LUYỆN CHÓ KHÓ HAY DỄ? - Văn Trung

 

Tôi nuôi các con tôi như thế nào thì tôi cũng nuôi mấy chú khuyển của tôi như vậy: thân thiện, tán thưởng, vui đùa và tử tế là những điều tôi thường mang ra áp dụng với chúng.
 
Nhà bạn có nuôi chó không? Bạn đã có dịp tập cho chó của bạn làm một điều gì chưa? Tôi thiết tưởng bạn cần luyện cho chú biết vâng lời nếu bạn muốn chú luôn luôn làm vui lòng bạn và bạn có thể an tâm và hãnh diện "dung dăng dung dẻ" với chú nơi đây nơi đó.
 
Điều cốt yếu bạn phải làm, sau khi đã tập cho chú tuân theo lệnh bạn, là dạy cho chú biết phép lịch sự. Một con chó được huấn luyện tử tế sẽ không bao giờ dám sỗ sàng chồm lên ôm chầm lấy chủ, hoặc dùng những chân dơ bẩn in bừa bãi lên quần áo chủ. Nó cũng không bao giờ dám rít lên từng hồi, chạy qua chạy lại nhìn miệng chủ ăn. Một chú khuyển có giáo dục cũng biết tránh không dám ngồi chễm chệ trên những chiếc ghế quí, hoặc xục xạo làm huyên náo khi không có "lý do chính đáng".
 
Mỗi khi có người tới nhà, chú biết phân biệt kẻ quen người lạ mà có thái độ thích đáng. Đối với một người quen, chú sẽ niềm nở chạy ra đón tiếp và dẫn khách tới tận cửa. Nếu khách là một nhân vật lạ đáng kính, chú sẽ lặng lẽ để khách tiến vào nhà nhưng không quên "đề cao cảnh giác" giương to cặp mắt nhìn xoáy vào khách với thái độ "uết en si" (wait and see - chờ xem). Nếu có tính đa nghi, khuyển ta sẽ thủng thẳng lượn qua lượn lại ở phía xa, miệng "hô" lên vài tiếng nho nhỏ gọn gàng để báo cáo với chủ là có người lạ tới. Sau đó, chú sẽ tới đứng chẹn ngay trước cửa ra vào, miệng làu nhàu có vẻ khó chịu lắm nhưng vẫn để khách bước vào nhà.
 
Những chú chó "vô giáo dục" làm cho người ta khó chịu nhất là lúc nào ổng cũng sủa và vớ ai cũng rượt, gặp gì cũng săn. Loại chó này hiện thời có rất nhiều và đó cũng do sự sơ sót của ta không biết dạy chúng.
 
Một chú khuyển sau khi đã được huấn luyện về lễ phép và vâng lời rồi, sẽ được dạy làm ít trò vui. Điều này đối với giống chó rất tốt. Những trò này không có tính cách huyền bí hay ảo thuật gì, mà là những hành động vui vui ngộ nghĩnh ; chẳng hạn như mở cửa, đóng cửa hay mang những đồ vật lại cho bạn. Một chú khuyển khôn sẽ cảm thấy sung sướng khi thực hiện được một việc làm vui lòng chủ.
 
Trong giai đoạn tập cho nó biết làm trò, tôi thường khởi sự bằng những hành động được lập đi lập lại. Chẳng hạn như cách đây ít lâu, tôi có dẫn con Vện tôi ra sân - bấy giờ  nó vừa chẵn mười tháng - tôi ném một miếng cao su nhỏ vào một góc sân cho nó trông thấy (bạn có thể dùng một trái banh hay một cái que cũng được). Bạn thử đoán xem con Vện của tôi sẽ làm gì? À, cũng như hầu hết các chú khuyển khác, nó chạy theo vồ lấy miếng cao su, rồi lấy mõm day đi day lại.
 
Tôi bảo: "Mạng lại đây, Vện!" Nó nhìn lên giây lát rồi lại tỉnh bơ cúi xuống tiếp tục hành hạ miếng cao su.
 
Tôi lại nhắc: "Mang lại đây, Vện!" Nó dỏng tai lên, bỏ miếng cao su xuống rồi vội vã chạy về phía tôi. Tôi dẫn nó lại góc sân, làm cho nó ngoạm lấy miếng cao su đưa lên cho tôi. Sau đó tôi lại ném miếng cao su ra xa, con Vện lại vội đuổi theo, tôi tới giúp nó... Cứ thế tôi dợt với nó hàng chục lần, chủ đích làm cho nó hiểu rằng tôi muốn nó đem miếng cao su về cho tôi mỗi khi tôi ném ra. Sau cùng nó hiểu. Tôi vỗ nhẹ vào đầu nó, nói mấy lời khen ngợi và thưởng cho nó một miếng thịt.
 
Sau đó tôi tiếp tục dợt với nó nhiều lần nữa để cầm chắc nó đã nhớ kỹ công việc này và cũng từ ngày ấy, không bao giờ tôi ném một vật gì ra cho nó mà lại không bảo nó nhặt lại cho tôi.
 
Hai hôm sau tôi dạy Vện đóng một cái cửa ra vào đã hé mở. Tôi treo hờ miếng cao su vào cánh cửa rồi nói: "Đóng cửa lại, Vện!" Nó bèn chồm người lên đứng bằng hai chân sau, lấy hai chân trước vồ lấy miếng cao su. Lẽ dĩ nhiên sức mạnh đẩy tới của Vện đã làm cho cánh cửa khép kín lại.
 
Tôi tập đi tập lại nhiều lần "bài học" này với Vện và mỗi khi treo xong miếng cao su trên cánh cửa, tôi đều ra lệnh rõ ràng: "Đóng cửa lại, Vện!" Bạn cần nhớ một điều là lệnh mình đưa ra càng vắn tắt càng hay.
 
Về sau tôi không treo miếng cao su nữa nhưng vẫn nói: "Đóng cửa lại, Vện!" Đồng thời tôi cầm miếng  cao su ra hiệu. Lập tức Vện ta nhảy lên khép cửa vào. Trong các bữa ăn, mỗi khi tôi báo, Vện đều nhanh nhẹn ra khép chặt cửa lại.
 
Mấy ngày sau, tôi dạy nó lấy giầy lại cho tôi. Tôi khởi sự bằng cách ngồi xuống quăng chiếc giầy qua bên kia phòng. Con Vện chạy theo nhặt lại cho tôi (Đối với Vện, lượm lại một vật mà tôi quẳng ra bây giờ là một việc rất thường). Tuy nhiên, tôi vẫn lập lại công việc này nhiều lần, và mỗi lần, tôi đều nói rõ ràng: "Lấy giầy, Vện!".
 
Sau đó tôi tạm ngừng.
 
Tôi để giầy của tôi ở bên kia phòng rồi lấy báo ra coi. Vện đứng ngẩn ra và cho rằng trò chơi đã chấm dứt.
 
Chợt tôi nhìn vào nó, bảo: "Lấy giầy, Vện!" và chỉ về phía chiếc giầy. Hiểu ý, nó liền đi lấy giầy cho tôi. Tôi vỗ về Vện và cho biết rằng mình đã rất hài lòng về nó.
 
Khoảng 15 phút sau, Vện ta có dịp để thử lại trí nhớ của mình. Tôi lại để chiếc giầy của tôi ở bên kia phòng rồi nói: "Lấy giầy, Vện!" Chú ta đứng thộn mặt ra chẳng hiểu gì hết, ngay cả khi tôi lấy tay chỉ về phía chiếc giầy. Trong trường hợp này, tôi kiên nhẫn tập lại với chú từ đầu.
 
Thời gian cứ thế trôi qua, tôi đã huấn luyện cho Vện biết làm một số công việc dễ. Vện có thể lấy củi ở ngoài sân mang xếp gọn vào một chỗ ; hoặc chuyển từng đồ vật từ trong một phòng ra, mà mỗi lần chú đều không quên khép kín cửa lại. Chú còn có thể thi thố được một số trò vui khác nữa, đại khái cũng "sêm sêm" như mấy trò trên.
 
Tôi không hề đánh Vện một roi tuy mỗi khi mang Vện ra huấn luyện, tôi đều xách theo một cái hèo (một loại roi) để làm ra bộ ta đây hách... xì xằng. Chỉ khi một chú chó lạ tới phá đám hoặc một cuộc "cãi lộn" có thể diển ra giữa Vện và chú Vằn hàng xóm thì roi mới được mang ra dùng, nhưng không phải để quật thật sự mà chỉ cần ra oai cũng đủ dàn xếp câu chuyện. Càng ít dùng roi thì roi càng có hiệu lực với mấy chú khuyển.
 
Các cụ ta thường nói "dục tốc bất đạt", cái gì mà làm vội vàng thì khó thành công. Đối với giống chó cũng vậy, tôi không bao giờ hối hả bắt chúng làm điều này điều kia một cách hấp tấp, vì như vậy sẽ làm hư con chó đi. Tôi sẽ kiên nhẫn đứng chờ nếu chó ta còn muốn chơi thêm chút nữa. Tôi cũng thủng thẳng tập làm sao để bảo đảm rằng chú Vện của tôi đã hoàn toàn thuần thục trò chơi này ; sau đó tôi mới bắt đầu tập một trò chơi khác.
 
Điều quan trọng là bạn phải tỏ ra biết tán thưởng nhưng như thế cũng chưa đủ, Bạn còn phải tỏ ra say mê thích thú nữa mới được. Bạn cần làm sao để cho chú khuyển của bạn biết rằng bạn rất khoái những trò mà khuyển ta mang ra thi thố. Bạn chớ nên khinh thường giống chó. Chúng sẽ cảm thấy sung sướng gấp đôi khi biết bạn đang say mê theo dõi chúng.
 
Chó là một giống vật nhậy cảm vô cùng. Một khi bạn hết lòng tin tưởng và tỏ ra thân thiện với chúng, chúng sẽ luôn luôn muốn làm vui lòng bạn và tỏ ra có tinh thần tự giác biết sửa sai.
 
 
VĂN TRUNG         
 (Viết theo Scotly Allen)   
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 76, ra ngày 11-2-1973)


Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

THẰNG BƯ - Mặc Tuyền

 
Quả đúng như cái tên của hắn, thằng Bư có vẻ "bư bư" thế nào ấy. Tôi dám quả quyết mí lại các bạn rằng : con người của hắn chỉ lộ cái "bư bư" mỗi khi gặp bạn hắn mà thôi, còn như bây giờ bắt tôi "diễn tả" cho hết cái "bư bư" của hắn, tôi xin chịu, chẳng có đủ lời lẽ nào diễn tả nổi.
 
Cái đầu của thằng Bư quá khổ với cái mình, nghĩa là cái đầu của chàng ta rất bự. Hai con mắt hắn thật to, người ta thường gọi là mắt ốc bươu, ốc nhồi - Nhưng tôi thì lại khác, tôi nghĩ mắt hắn ta giống cái đèn ô tô!
 
Hai tay hai chưn của hắn ngắn ngủn, ủn ỉn như mấy củ khoai tây - Đã vậy hắn còn hay ở trần mặc quần xà lỏn, khoe cái "tứ chi" thiếu chiều dài của hắn.
 
Mấy đứa con nít đặt cho hắn cái biệt hiệu là Người Hùng Cô Đơn, bởi hắn chẳng chơi với ai cả, suốt ngày lủi thủi một mình.
 
Nhà của hắn ở ga xóm thơm, núp trong hàng rào dâm bụt. Suốt ngày hắn chỉ quanh quẩn trong hàng rào nầy, ít khi nào thấy hắn ra ngoài.
 
Chàng bư dường như rất yêu dấu mấy cây dâm bụt đó, hắn cứ săm soi mấy cái hoa ấy luôn.
 
Một buổi chiều, chàng Bư thấy hàng rào dâm bụt của mình động đậy, hắn ta chắc mẻm có kẻ đến hái trộm hoa của mình.
 
Hắn ta đi rón rén đến để tìm bắt kẻ cắp. Trước mặt hắn hiện ra một cô bé áo đỏ, đang với tay hái hoa. Hằn giận lắm, nhưng chỉ tằng hắng thật lớn.
 
Cô bé giật thót mình, quay lại thấy cái dáng "dị kỳ" của chàng Bư nên khóc ré lên!
 
Chàng Bư tự dưng thấy tội nghiệp, hắn làm thinh một lúc rồi chậm rãi nói:
 
- Muốn hái cái hoa nầy phải không?

Cô bé áo đỏ đã nín khóc, nhưng hãy còn sợ, lấm lét nhìn chàng Bư trong lúc hắn với cái tay ngắn ngủn hái hoa.
 
Ngắt được cái hoa, chàng Bư đưa cho cô bé, nhưng cô bé đứng làm thinh không dám lấy. Một lát, không biết nghĩ sao, chàng Bư cài hoa dâm bụt đỏ lên tóc cô bé rồi mỉm cười.
 
Cô bé vừa mắc cỡ vừa xấu hổ, cắm đầu chạy một mạch về nhà.
 
Chàng Bư đứng nhìn theo cô bé chạy tọt vào một căn nhà lớn có rào sắt hẳn hoi. Đứng lặng thinh một đỗi, chàng Bư rầu rầu ngồi bệt xuống đất, mắt nhìn hoa dâm bụt đỏ cành lá xanh. Hắn thấy mình phải cần có một cái gì đó mà nghĩ hoài vẫn không biết mình cần gì.
 
Ba ngày sau, chàng Bư mới hay mình thiếu một tình bạn. Từ nhỏ tới lớn hắn không có một người bạn nào, một phần hắn thích cô độc, một phần tại hắn xấu xí quá, không ai thèm chơi.
 
Chàng Bư thấy nhớ quay nhớ quắt cô bé áo đỏ. Hắn ao ước được làm bạn với cô bé, được dẫn cô bé chạy giỡn trên cánh đồng xanh, hắn sẽ cài lên tóc cô bé thật nhiều hoa dâm bụt, hoa dâm bụt đỏ trên má cô bé hồng - Hắn nghĩ vậy và cười một mình.
 
*
 
Mấy ngày sau, chàng Bư hái thật nhiều hoa dâm bụt đỏ đầy một giỏ, xách đến nhà cô bé đứng chờ đợi trước cổng rào.
 
Cô bé đã nhìn thấy hắn, ngỡ ngàng trước ánh mắt thân thiện của chàng Bư. Một lát cô bé rón rén chạy ra cổng, chàng Bư tươi cười trao giỏ hoa. Nhưng giữa lúc đó có tiếng quát tháo thật lớn:
 
- Hồng! Con không được phép thân thiện với thằng quái vật đó! Vào nhà mau!
 
Cô bé lấm lét nhìn hắn rồi buồn bã bước vào nhà.
 
Chàng Bư đứng một mình, hắn ứa nước mắt, cái đầu to của hắn như cúi gầm xuống, một lát hắn treo giỏ hoa trước cổng nhà cô bé.
 
Buồn bã hắn bỏ đi. Buổi chiều nắng tắt, thấm thía, bóng hắn xiêu xiêu in xuống cỏ khô, quay lại nhìn giỏ hoa, hắm lẩm bẩm:
 
- Giỏ hoa đó xin tặng, hỡi người bạn chưa quen mà phải quên rồi!
 
 
MẶC TUYỀN      
 
(Trích tuần báo Thằng Bờm số 18 (bộ mới), tuần lễ từ 11-12 đến 18-12-1972)


Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

TUỔI HỒNG - Nguyễn Vũ Thy Hương

  
 
Tuổi mười lăm tuổi nơ xanh cài tóc,
Em ngây thơ trong áo trắng trinh nguyên
Với nụ cười e ấp để làm duyên,
Cùng đôi mắt nai tơ ngơ ngác.
 
Dưới sân trường những hôm nắng nhạt
Đón gió về em nhặt lá me bay.
Cho tâm hồn như mở hội ngất ngây
Khi bạn bảo: "Chao ơi! Thi sĩ thế!"
 
Em cúi đầu má ửng hồng e lệ
Mắt thắp ngời những tia sáng tin yêu.
Gió làm quen cùng nhân dáng yêu kiều
Cỏ xao động dưới bước chân khuyên nhỏ
 
Rồi mười sáu em bắt đầu nghe nhớ
Những hồn nhiên của lứa tuổi mười lăm
Ơi! Đẹp làm sao cái tuổi trăng rằm
Xin cho em mãi hoài bình an tuổi trắng.
 
                                 Nguyễn Vũ Thy Hương 
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 21, ra ngày 5-3-1972)