Xuân Bất Hảo
Người lưu giữ những giá trị cuộc sống
Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026
Thứ Ba, 21 tháng 7, 2026
CHIẾC TỔ CHIM - Trần thị Phương Lan
Mấy
ngày nay, trên cây lim xẹt trước cửa nhà tôi, có một đôi chim tới làm
tổ. Tôi cũng không để ý gì cho lắm, cho tới khi chiếc tổ thành hình.
Rồi
chim mái đẻ trứng vào tổ từ hồi nào tôi cũng chẳng hay, vì tổ chim rất
nhỏ, chỉ khoảng chừng 5cm chiều ngang, bằng phân nửa chiều dài; màu sắc
nâu nâu nên dễ lẫn vào cành cây, cũng giống như màu lông của chim.
Mưa
hay nắng, ngày hay đêm, từ lúc đó trở đi, chim mái cứ kiên nhẫn nằm ấp
trứng. Nhiều hôm, những người phu làm đường gây náo loạn cả khu phố vào
ban đêm vì tiếng máy đào vỉa hè, máy trộn bê tông ầm ầm, làm khói bụi và
xi măng bay mù mịt; nhưng nhìn ra trên tàng cây, tôi vẫn lờ mờ thấy
bóng chim mẹ nằm đó, lặng lẽ ấp trứng, che chở cho những đứa con còn
chưa chào đời.
Thêm
vài hôm nữa, rồi tôi thấy chim mẹ bay đi đâu mất. Tôi bèn Google thấy
nói vì chim đói bụng nên đi kiếm ăn. Nhìn kỹ chiếc tổ nhỏ xíu, tôi chợt
nhận ra thấp thoáng có vài bé chim non ngọ nguậy. Chim mẹ đi vắng vài
tiếng rồi trở về với con, khiến tôi yên tâm hơn, khi thấy hình dáng chim
mẹ ngồi yên chỗ cũ, trong cơn mưa nặng hạt.
Tôi
chưa bao giờ thấy chim lại làm tổ ngay trong thành phố ồn ào náo nhiệt
như thế này, vì cứ tưởng chim phải biết lựa những nơi đồng quê thanh
vắng để dễ bảo vệ gia đình khỏi bàn tay phá phách của con người.
Nghe
người ta nói rằng đất lành chim đậu, và chim đến làm tổ là có lộc lắm,
may mắn còn hơn cả tổ ong. (Trước đây cũng có bầy ong đến xây một chiếc
tổ trong khóm bông giấy nhà tôi.)
Hên
đâu chưa thấy, chiều nay tự nhiên có một đám người lạ mặt ồn ào mang
thang nhôm tới, bắc lên cao tít, rồi lấy đi chiếc tổ chim bé xíu gồm cả
những bé chim non vừa mới chào đời. Ban đầu tôi không biết đám người rần
rần nọ là ai. Hóa ra họ mướn cửa tiệm cách nhà tôi một căn, và người
đàn ông trung niên nọ đã từng đặt mua một lồng chim, có shipper giao
hàng tới tận nơi với giá một triệu. Hèn chi ông ta rành chim chóc sáu
câu: Một tổ chim nhỏ bằng bàn tay và cũng đã được ngụy trang khéo léo mà
vẫn không thoát khỏi cặp mắt cú vọ của ông ta.Tôi cứ tưởng chỉ có những
đứa trẻ rắn mắt, nghịch ngợm mới dùng ná bắn chim hoặc sào để thọc tổ
chim thôi, không ngờ cả những người lớn tuổi như thế kia mà cũng làm
những việc vô ý thức như vậy.
Sáng
nay nhìn ra khung cửa sổ, không còn thấy bóng chim mẹ ngồi im như tượng
ngồi ấp trứng như bao ngày qua, và chiếc tổ chim bé xíu cũng chẳng còn,
tôi chợt cảm thấy man mác một nỗi buồn pha lẫn sự trống vắng.
Hình như đạo Phật có dạy rằng... Những ai kiếp này phá tổ chim, kiếp sau phải chịu cảnh mồ côi cha mẹ từ rất sớm.
Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng)
Nhãn:
Tác phẩm khác,
Tản văn,
Trần thị Phương Lan
Google Account Video Purchases
4PPXP9P3+WX
Thứ Hai, 20 tháng 7, 2026
CON ĐẠI THỬ - Đặng Hoàng
Đại thử là một trong những sinh vật có túi đựng con trước ngực chỉ thấy có ở Úc Châu mà thôi.
Người ta phân ra nhiều loại đại thử:
-
Đại thử nhỏ nhất (kangaroo rat) sống ở cánh đồng miền Bắc Úc Châu, dài
bốn mươi lăm phân, đầu hơi giống thỏ, nhưng tai bé hơn. Hai chân trước
rất ngắn, hai chân sau và đuôi dài. Đặc biệt là đuôi nó có chùm lông
trắng. Vốn thuộc loại gặm nhấm, biết nhảy, sống trong những vùng khô
khan, nó thường đào hang, lỗ thật lớn để ở, ban đêm mới đi kiếm ăn. Món
ưa thích nhất của nó là quả dâu, lá cây, cỏ và côn trùng, cùng những hạt
cây khô. Để có đủ lương thực dùng vào mùa đông, nó ngậm mồi trong túi
hai bên má rồi đem về tổ cất đi. Loại này cũng thấy xuất hiện ở Mỹ Châu.
- Đại thử cổ lông đỏ (red necked kangaroo) sống ở vùng đồng cỏ.
- Đại thử chuyên sống trên cây (tree kangaroo).
- Đại thử lông màu xám (spur tailed kangaroo) thường gặp trong rừng sâu.
Ba
loại sau cùng lớn cỡ một thước rưỡi khi ngồi, nếu nó đứng thẳng trên
hai chân sau, có thể cao tới hai thước hơn. Con nặng nhất khoảng chín
chục kilô. Đầu và mõm cũng như mầu sắc đại thử giống nai, nhưng tai lại
tựa tai lừa, thẳng đứng chứ không cụp xuống. Nó không cắn, nhưng biết đá
như ngựa. Hai chân trước ngắn thường co lên ít sử dụng ngoài những lúc
cần vít cành cây xuống để ăn lá, mầm non và nâng con lên cho nó dễ dàng
chui vào túi, hoặc quắp con chạy trốn khi nguy biến, hay giơ lên nhử nhử
để tìm thế tung mình đá chết địch thủ bằng hai chân sau. Hai chân này
dài và khỏe hơn. Nhờ chiếc đuôi lớn dài tới một thước rưỡi giữ thăng
bằng với thân mình, đại thử không chạy, nhưng nhún đôi chân sau rồi văng
mình về phía trước thật xa tới bẩy tám thước chẳng khác gì có lò xo
búng nó đi. Đại thử phóng như bay với tốc độ từ ba mươi tới năm mươi cây
số một giờ. Ngoài ra, nó có thể nhẩy qua các chướng ngại vật như bụi
rậm, lùm cây, hàng rào, thợ săn, ngựa, cao cỡ hai thước dễ như chơi.
Riêng những con sống trên cây như loài gấu, dám buông mình nhẩy từ trên
cây mười lăm thước xuống đất mà chẳng hề hấn gì. Điều cần chú ý là chân
đại thử giống chân chó, nghĩa là gồm bốn ngón, trong số này có một móng
sắc như dao cạo rất lợi hại, thường được đại thử sử dụng để gây thương
tích hay xé xác địch thủ.
Đại
thử sống thành từng bầy và không ở một chỗ cố định. Chúng hay di chuyển
nay đây, mai đó trên các cánh đồng cỏ hay sườn đồi, triền núi Úc Châu,
do một con già nhất hướng dẫn. Tuy hiền lành, nhút nhát, nhưng khi cần
tự vệ, chúng chiến đấu thật mãnh liệt. May mắn là khu vực chúng sống
thường ít thú dữ, trừ chó sói và người đi săn.
Khi
bất ngờ bị chó sói đuổi theo, đại thử vẫn giấu con vào các bụi cây rậm
rạp để thoát thân, sau đó mới trở lại đón về. Nếu người ta đưa nhiều chó
săn tới mà xem chừng có thể chống cự được, đại thử cố lừa chú chó nào
lớ ngớ lại gần và đá một cái chết tươi, bằng không thì nhẩy bừa xuống hồ
ao, lạch suối để tránh né, vì nó bơi rất giỏi. Chú chó săn dại dột bơi
theo ư? Chắc chắn sẽ bị nó dìm chết ngay.
Tùy
theo loại, có thứ thích ăn cỏ, là non, mầm cây hay sâu bọ. Những lúc
vui đùa, nhờ chiếc đuôi làm điểm chuẩn, chúng đứng trên hai chân sau,
giơ hai chân trước vờn vờn tát nhẹ nhau như võ sĩ đấu quyền anh vậy. Khi
nghỉ ngơi, thì cái đuôi thành ghế dựa giúp chúng ngồi thẳng đứng, hai
chân trước co lên, ngắm nhìn cảnh vật hoặc canh gác cho cả bầy ăn uống.
Thảng hoặc chúng mới bò bốn chân.
Chỉ
có đại thử cái mới có túi đựng con trước ngực mà thôi. Ngay khi mới lọt
lòng mẹ, đại thử con nhỏ bằng con chuột cống, chưa mở mắt, chưa có lông
đã biết bám vào bụng mẹ để lần mò bò lên tìm túi chui vào. Khoảng cách
này thật ngắn, vậy mà nó phải chật vật hàng nửa tiếng đồng hồ mới leo
tới nơi , rồi nhờ sự giúp đỡ của mẹ, nó chui tọt vào túi nằm nghỉ. Cứ
như vậy trong vòng một tháng là nó lớn bằng con sóc, tháng tiếp theo nó
to như con chó con. Tháng thứ tư, khi mở được mắt ra là lúc nó lớn bằng
con khỉ. Giờ đây, chú đại thử tí hon thập thò ở cửa túi, ngó nghiêng
cảnh vật bên ngoài với vẻ say mê thích thú. Dần dần, lông mọc dài, chân
khá vững chú mới tập tễnh trèo ra, tụt xuống đất, nhưng chưa dám đi xa,
mà chỉ quanh quẩn dưới chân mẹ thôi. Tới tháng thứ sáu, chú chính thức
cứng cáp nên được tự do đi lại, dưới sự hướng dẫn của bà mẹ. Từ nay chú
không còn ở trong cái túi đen thui, nóng nực kia nữa, vì chú đã trưởng
thành nghĩa là to gần bằng con gấu con rồi kia mà, đâu bé bỏng gì nữa.
Đại
thử cái đẻ một con mà thôi, ít khi sinh tới hai, ba con một lượt, vì
mỗi lần thụ thai cái túi ấy chỉ chứa được một con, nên phải chờ khi con
thứ nhất lớn, thì đại thử mẹ mới tiếp tục đẻ con thứ nhì, thứ ba v.v...
Dù
rất tinh mắt, thính tai, thính mũi, đại thử vẫn bị thợ săn bắn chết lấy
thịt, nấu cháo nhất là món súp nấu bằng đuôi của nó ăn rất ngon. Còn bộ
da dùng làm găng tay, ví, giầy, dép, thắt lưng, dây đồng hồ, bao
thuốc... Ngoài ra, người ta lừa bắt đại thử bằng lưới, đoạn đem về nuôi
và huấn luyện để làm trò trong các gánh xiệc vì nó hiền lành lại khá
thông minh.
Trung bình, đại thử chỉ sống mười lăm năm mà thôi.
ĐẶNG HOÀNG
(sưu tầm)
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 44, ra ngày 25-6-1972)
Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026
CHỊ ƠI, BẠN TỆ VỚI EM - Đỗ Phương Khanh
Thư của em N N Y
Hỏi:
... Đầu năm học, mẹ em cho em vải để may 2 cái áo dài. Em đem đến nhà
mẹ một người bạn em để may, tưởng là bạn thân thì khi tính tiền chắc sẽ
được trừ phân nửa hoặc một phần. Dè đâu mẹ bạn em tính như tính với
người ngoài. Chị nghĩ coi có tức không? Em thấy như vậy là gia đình nó
xử với em như người ngoài, nên sang năm học mới em không ngồi cùng bàn
với nó nữa. Không phải em tiếc số tiền, nhưng thấy cách cư xử đó, sao em
ghét quá...
Trả lời:
Chị
mong khi em đọc thư này, em chưa chọn chỗ ngồi cách xa người bạn của
em. Nếu đã xẩy ra thì đó là một trong những hành động nông nổi mà em nên
tiếc, trong cuộc đời.
Chị
nhớ dạo bé, mỗi khi đi chợ mẹ chị lại dẫn chị đi theo, và gởi chị ở nhà
một bà bạn bán hàng bánh mứt. Lần nào chị đến bà bạn của mẹ chị củng
đều cho chị ăn bánh kẹo, ô mai lu bù. Có hôm bà đi vắng, con gái bà
không cho chị ăn như mẹ của cô ta, chị giận lắm, thấy cô ta sao xấu tính
ghê, có cả một nhà kẹo bánh mà lại kẹo với mình không mời mình ăn. Và
chị nổi giận ghê lắm. May thay dạo đó, chị mới 7 tuổi. Vậy mà bây giờ
nghĩ lại còn thấy mắc cỡ. Chị ước mong gia đình họ nghĩ rằng chị là đứa
trẻ con, và đừng phán xét cả gia đình chị qua sự ăn lu bù một cách bất
lịch sự như thế. Vì làm nghề hàng bánh, bà bạn mẹ chị phải bỏ vốn ra mua
hàng, chịu biết bao phí tổn sở hụi, nếu bán được một phần lớn mới là
kéo về được vốn, số lời chỉ là phần nhỏ, thì bà còn phải làm kế sinh
nhai cho gia đình, hoặc dùng cho những việc ích lợi khác. Nay nếu các
con của các bạn đều giống chị, kéo nhau đến ăn lu bù, ăn "chùa" như vậy
thì không được mấy ngày cửa tiệm phải đóng vì hết hàng, và bà phải phá
sản. Mà nhà buôn thì thường nhiều bạn bè quen biết, ai cũng tưởng chỉ có
mình là thân nhất, và tự cho có quyền ưu tiên, chủ nhà sẽ chỉ phải đãi
ngộ có mỗi mình thôi. Thực ra, những người biết điều bao giờ cũng trọng
lẽ công bằng, không đòi ưu tiên. Đọc thư em, chị bỗng nhớ lại y hệt cái
cảm giác ngày đó, khi thấy cô chủ tiệm đối xử với chị như vậy chị cũng
định tuyệt giao luôn, không tới nhà cô ta nữa. Thế thì có tội nghiệp cho
người ta không hở em. Bạn em còn đáng tội nghiệp hơn nữa em ạ. Khi
không, em đến may đồ, nếu em không may thì người khác may, gia đình bạn
em cũng thu về được số tiền đó. May áo cho em, bạn em không được gì hơn
lại bị ghét bỏ. Bây giờ em nghĩ lại đi, nếu tất cả các bạn bè liên hệ
đến gia đình đó đều đến may với mục đích bớt tiền công thì gia đình họ
làm sao đủ sống. Họ cũng phải bỏ vốn ra mua cửa tiệm, mua đồ, mượn nhân
công, rồi đóng thuế má, may xong cái áo, lấy được tiền nếu trừ hết các
phí tổn thì cũng chỉ còn một phần nhỏ là tiền lời.
Nếu
mình đòi bớt thì họ không còn đủ tiền trả các thứ phí tổn, và nếu nhiều
người đòi hỏi như em thì họ sẽ bị lỗ lã mà đóng cửa tiệm mất em ạ. Bây
giờ chị lại hỏi em nhé, em trách gia đình bạn, vậy có bao giờ em tự hỏi:
"Mình đã làm được gì cho bạn chưa". Chị thấy cái khổ của mọi
người là luôn oán hận rằng người khác không làm cho mình cái này, không
giúp mình cái kia. Nhưng có bao giờ chịu hỏi xem là: "Mình đã giúp gì cho người ta?"
Nếu luôn tìm xem mình đã làm được gì mà đòi được đãi ngộ, thì em sẽ
công bằng hơn. Vậy tóm lại, chị mong em nghĩ thế này: Khi em đem đồ đến
nhà bạn, là em muốn thay vì đem đến tiệm lạ, em đem công việc đến cho
gia đình bạn, để giúp bạn đông khách hàng thế thôi. Không lợi dụng gì
bạn cả. Còn gia đình bạn, họ sẽ tỏ tình thân bằng cách làm việc kỹ càng
mau chóng và chiều ý em. Điều này thì người thợ có lương tâm nào cũng
phải chu đáo. Chị nhớ xưa có đọc câu này: "Làm sao để sự hiện diện của mình là điều may cho người khác".
Em ơi! Phải công bằng. "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" điều gì mình
không muốn, đừng làm cho người khác. Nghĩ kỹ đi, đặt em vào địa vị bạn,
em sẽ thấy bạn đáng thương xiết bao.
Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 46, ra ngày 9-7-1972)
Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2026
ANH HÙNG CHẠY BỘ DÃ TƯỢNG - Trịnh Công Truyền
Dã
tượng là một võ tướng lực sĩ dưới trướng Hưng Đạo Vương. Thuở theo phò
Hưng Đạo, ông là người rất được Vương thương yêu tín cẩn. Ông cùng với
người nhái Yết Kiêu là một cặp bài trùng, góp rất nhiều công khó vào
việc đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi bờ cõi nhờ tài riêng của mình.
Theo
huyền thoại, ngay từ nhỏ Dã Tượng đã nổi tiếng trong làng, là một đứa
trẻ chạy bộ nhanh nhất. Cậu bé thường tổ chức với bạn bè những cuộc chạy
thi băng qua những cánh đồng và luôn luôn cậu là người về nhất.
Nhờ
thế, càng lớn tài nghệ Dã Tượng càng phát triển. Chàng đã chạy đua với
ngựa và không bao giờ chịu thua. Chạy nhanh như vậy nhưng chàng không
bao giờ biết mệt và chàng cũng tạo được một thân hình vạm vỡ, một sức
khỏe vô địch.
Vì
Dã Tượng có tài, nên tiếng tăm đồn đãi ngày một xa. Dần dà, chàng được
Hưng Đạo Vương mến mộ và cho làm Bộ tướng, lúc nào cũng theo hầu cận bên
cạnh.
Mỗi
lần ra trận, Vương cỡi ngựa, Dã Tượng chỉ chạy bộ và lúc nào cũng vượt
qua đầu ngựa. Khi xuất trận, giặc cưỡi ngựa xông ra, ông chỉ chạy bằng
chân để đánh. Tên nào đánh không lại phóng ngựa bỏ chạy, ông chạy bộ
đuổi theo và kéo lại bắt sống. Giặc phải nể sợ tài chạy bộ của ông.
Có
lần Hưng Đạo Vương bị giặc vây khốn phải bỏ ngựa, ông đã tình nguyện
làm ngựa cõng Vương chạy thoát khỏi vòng vây khốn của địch mà không hề
biết mệt.
Những
lực sĩ chạy bộ, chiếm giải vô địch ở các thế vận hội ngày nay chắc chưa
hẳn đã hơn được Dã Tượng ngày xưa... Ngày xưa Dã Tượng đã đem tài riêng
của mình ra giúp nước, nên tài của ông đã được nhắc nhở trong sử xanh,
lưu truyền đến ngày nay... và ngày nay chúng ta mỗi lần nhắc đến tên vị
anh hùng đó ta vẫn kính phục tài chạy bộ của Dã Tượng.
TRỊNH CÔNG TRUYỀN
(sưu tầm)
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 48, ra ngày 23-7-1972)
Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026
CÁ MẶT TRĂNG - Hải Ly
Cá
mặt nguyệt còn gọi là cá mặt trăng, người Pháp gọi là Poisson Lune,
người Anh và Mỹ lại gọi là Sun Fish (cá mặt trời) và các nhà khoa học
trên thế giới đã khai sinh cho nó cái tên MOLA - MOLA hoặc ORT
HAGORISCUSMOLA.
Ta
có thể nói rằng chưa có một loại cá nào có hình dáng đặc biệt như vậy :
bề ngang tròn như quả ballon và bề dọc thì dẹp. Mới trông người ta chỉ
thấy chiếc kỳ trên lưng dựng đứng và chiếc vi hậu chĩa xuống, ai cũng
nói là cá mặt trăng không có đuôi.
Sự thật thì đuôi cá Mặt trăng đã làm thành một đường viền tuyệt xảo, bao quanh cả thân mình cụt lủn gần ngay khúc đầu "vĩ đại".
Cá mặt trăng không có vi bụng, chiếc vi bụng xòe ra như nan quạt bên cạnh những bộ phận phát sinh ra ánh sáng.
Những
đêm tối, chỉ có ánh sao lấp lánh trên vòm trời, các ngư phủ ra khơi
thường được trông thấy một hiện tượng lạ lùng : Cả một khoảng rộng nơi
trùng dương, mặt nước lấp lánh ánh sáng như có một ánh đèn soi từ dưới
lên.
Khi họ tới gần, nhìn trời nhìn nước chỉ thấy một vùng ánh sáng đang di chuyển một cách nặng nề.
Họ thả lưới và bắt được dễ dàng vì nó bơi thật chậm chạp. Nó cũng không kháng cự để cho các ngư phủ bắt.
Đám
ngư phủ hò nhau kéo lên thuyền, ánh sáng trên mặt nước cũng vụt biến
mất. Họ cùng nhau ngắm xem con cá lạ. Hình nó giống mặt trăng và đầu nó
tỏa ra ánh sáng huyền ảo trên mặt nước nên họ đặt cho nó cái tên thông
thường là : cá Mặt trăng.
Cá Mặt trăng, thật là nôm na dễ hiểu, nhưng người ta lại muốn "thi vị hóa" cho nó cái tên là cá Hằng Nga.
Loại cá này đặc biệt là đầu nó cân nặng cả hàng trăm ký mà bộ óc chỉ cân được không quá 4 lạng.
Người
ta chưa thể nào giải thích được tại sao một loài cá bơi thật chậm chạp,
nặng nề mà lại không có một thứ "vũ khí" nào để tự vệ, lại sống ở vùng
biển khơi, chỉ thích hợp với loại cá xá, cá mập hay loại cá viễn du.
Nó thích sống đơn độc một mình, ít khi người ta gặp một cặp cá MẶT TRĂNG.
Họa
hoằn lắm cá mới lân la vào gần bờ. Lần đầu tiên, vào mùa thu năm 1885
Hoàng thân Monaco Albert I bắt được mấy con ở vịnh Gasconge. Tới mùa thu
1912 các ngư phủ Pháp bắt được 1 con ở gần bờ biển Manche và năm 1921,
người ta cũng gặp nó xuất hiện ở gần bờ biển Thái Bình Dương.
Một
nhà bác học Anh đã nhận xét cá Mặt trăng ở miền nhiệt đới lại có màu
sắc tuyệt đẹp. Nhìn những màu sắc lộng lẫy của con Lamprisluna, người
Pháp thường gọi là "Opah" nhà bác học đó đã nói rằng: "Cá khoác lên mình
bộ lễ phục sặc sỡ của bầy tiên múa khúc nghê thường trên Cung Quảng".
HẢI LY
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 46, ra ngày 9-7-1972)
Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026
CẶP KÍNH CẬN - Mân Linh
Linh tức quá nói to hơn:
- Bọn bay, tao về nói Má đó nghe.
Quả
thật câu nói đó có vẻ linh nghiệm nên bọn nhỏ đều rút hết. Bây giờ Linh
mới thấy khỏe khắn hơn, Linh dỡ đôi kính cận thị ra lau chùi vì đầy mồ
hôi nhễ nhại. Cũng bởi cái kính này mà bọn nhỏ mới chọc, nhiều lần Linh
muốn bỏ đi nhưng chợt nhớ lại cục u trên đầu là Linh không dám bỏ. Có
một lần vì tức bọn nhỏ, Linh liền bỏ đôi kính ra và đi lần lần ra cửa,
bỗng Linh thấy mình đang "so tài" với cột nhà, chớp nhoáng đầu Linh đã
có một cục u rồi. Thế là bọn nhỏ lại chọc thêm cho nên đến bây giờ Linh
không dám bỏ đôi kính nữa.
Lúc
đầu chỉ có một mình thằng Long, nhưng sau đó đến thằng Lân, rồi con
Liên, chúng đều cùng một âm thanh: "Bà Bác-Sĩ". Cứ thể, hễ vắng mặt Ba
Má Linh là bọn nó lại chọc. Linh nghẹn ngào tức tưởi mà không làm gì
được, mỗi lần Ba Má về là Linh liền đem câu chuyện này ra nói nhưng Ba
Má Linh đều bỏ qua cả. Cho đến một hôm, Linh đang rửa mặt thì bọn nhỏ
lại lẻn vào giấu kính, khi rửa xong sờ soạng không thấy kính đâu, Linh
hốt hoảng đi tìm nhưng không được bèn gọi người giúp việc dẫn ra dùm.
Rồi câu chuyện này được Linh trình bày cho Ba Má, thế rồi các "anh chị"
sau của Linh đều được hưởng bánh tét bằng mây của Ba Linh tặng, lại thêm
phần quỳ gối nữa đó, được dịp may Linh cứ đi qua đi lại để chọc mà trả
thù. Kìa bộ mặt của con Liên vui chưa, cái miệng méo xẹo, chỉ có thằng
Long thằng Lân mới anh hùng, vẻ mặt hầm hầm của chúng làm Linh phải
khiếp sợ...
Một
buổi sáng, Linh vừa bước dậy đi lấy kính thì vấp phải một cái ghế của
ai đặt tự bao giờ, đầu của Linh đánh xuống nền gạch, vài tiếng cười lại
khúc khích nổi lên và Linh thiếp vào hỗn loạn.
Đợi lâu rồi mà không thấy Linh ra, thằng Long bèn mở cửa bước vào thì...
- Ba Má ơi, chị Linh sao vậy nè.
Nghe tiếng la của Long, Ba Má hốt hoảng chạy vào, trong lúc đó thằng Long, thằng Lân sợ cuống đit vì tội của mình.
Khi
Linh tỉnh dậy, Linh thấy đang nằm giữa bốn vách tường sơn trắng, Linh
đưa hai tay lên đầu thì thấy quấn một lớp băng. Một tiếng động nhỏ vang
lên làm Linh nhổm đầu ngồi dậy nhưng không tài nào ngồi được. Linh
choáng váng mặt mày nhớ lại hồi sáng. Tiếng nói của Ba Linh cắt ngang
trí của Linh:
- Đỡ chưa Linh, có Ba và mấy em con vào thăm con nè.
Linh
bèn mở mắt ra nhìn Ba, nhìn mấy đứa em, đứa nào cũng buồn rầu, duy chỉ
có con Liên là đôi mắt đỏ hoe. Linh bèn gọi mấy đứa em lại và bảo:
- Các em thấy hậu quả do các em gây ra chưa.
- Dạ thấy.
Tiếng của thằng Long lại vang lên:
- Chúng em xin lỗi chị và hứa là không bao giờ chúng em chọc chị nữa.
Linh sung sướng ôm các em vào lòng mà hôn, bây giờ Linh mới thấy tình chị em thật là thắm thiết.
Đầu phòng, Ba Linh lại nở nụ cười sung sướng trên khuôn mặt héo hắt già nua.
MÂN LINH
(Bồ Đề Đà Nẵng)
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 49, ra ngày 30-7-1972)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)











