Vào những thời xa xưa, việc di chuyển qua sông là một vấn đề nan giải đối với loài người.
Rồi
về sau, do một tình cờ nào đó, loài người bắt đầu biết sử dụng những
thân cây hoặc khúc gỗ lớn để di chuyển trên dòng nước. Đó là dấu hiệu
đầu tiên trong việc chế tạp ra ghe thuyền về sau này. Sau đó, con người
lại ghép những khúc gỗ lại với nhau để làm thành chiếc bè.
CHIẾC THUYỀN ĐẤU TIÊN
Khoảng
thế kỷ 20 trước Tây Lịch, người Ai Cập đã chế ra chiếc thuyền có cánh
buồm, dài hơn 30 thước, di chuyển nhờ tay chèo. Trên thuyền có nhiều nô
lệ dùng để chèo thuyền, đó là chiếc thuyền xa xưa nhất thế giới.
Đến
thế kỷ thứ 8 trước Tây Lịch, người Phénicien (sống ở dọc miền biển Địa
Trung Hải) đã thực hiện những cuộc vượt biển thám hiểm miền bờ biển Đại
Tây Dương, Ấn Độ Dương và đi vòng quanh Phi Châu trong 3 năm trên những
chiếc thuyền lớn chạy bằng bơi chèo hay bằng buồm.
Đến
đây, ngành hàng hải đã tạo được một vị trí khá quan trọng trong việc
giao thương với những nước có nền văn minh cổ xưa trên thế giới.
Đến
thế kỷ thứ 9 sau tây lịch dân Viking ở miền Bắc Âu đã dùng những chiếc
thuyền khá lớn, chở một đoàn thủy thủ gồm chín mươi người vượt biển Đại
Tây Dương đầy bão tố đi xuống phía nam xâm chiếm những thành phố miền bờ
biển Âu Châu. Chính giữa thuyền có một cột lớn, để dễ dàng vượt biển.
Chiếc thuyền của họ đã đạt được một vận tốc đáng kể.
Cũng
thời gian này ghe thuyền của người Á Đông nhất là Trung Hoa đã đi tới
Nam Dương, Ấn Độ và có lẽ tới cả Tây Phi Châu để giao thương.
Từ
thế kỷ 15 trở đi, lòng thuyền được khoét sâu và tròn như máng xối.
Nhưng loại thuyền này không có người chèo như của dân Viking. Thay vào
đó nó được hoàn bị nhiều cánh buồm lớn.
Vào
thế kỷ này trở đi, thuyền buồm phát triển rất mạnh và giao thương khắp
nơi trên thế giới. Nhưng nó có cái bất tiện: khi gió lặng, thuyền buồm
sẽ không di chuyển được vì nó tùy thuộc vào những sức gió.
Đầu
thế kỷ 18, Denis Papin (1647-1714) nhà thông thái Pháp đã chế tạo được
chiếc tàu thủy đầu tiên chạy bằng máy hơi nước sau khi nghiên cứu về máy
này. Tháng 9 năm 1707, Papin cho tàu chạy thử trên sông Weser (thuộc
nước Đức). Các thủy thủ và những người chèo thuyền mướn trên sông lo sợ
cuộc chạy thử thành công thì quyền lợi của họ sẽ bị thiệt thòi nên hùa
nhau lại đập phá tan tành chiếc tàu của ông. Papin buồn rầu trở, lại Anh
Quốc nương náu rồi mất tại đây.
Sau
Papin, nhiều nhà phát minh khác bắt đầu nghiên cứu về tàu thủy, nhưng
nổi tiếng nhất là Robert Fulton (1765 - 1815) người Hoa Kỳ. Chiếc tàu
thủy do ông chế tạo, mang tên Cleront được hạ thủy ngày 11-8-1807. Tàu
này dài 150 bộ (chừng 50 thước) và rộng 30 bộ (khoảng 5 thước), chạy
bằng máy hơi nước chế tạo tại Anh Quốc, có sức mạnh 18 mã lực. Tau
Clermont được lái bởi hai bánh xe quạt nước đặt hai bên hông tàu (thay
vì lái bằng chân vịt như tàu thủy ngày nay). Đám đông dân chúng đến
chứng kiến ngày hạ thủy, đã vỗ tay hoan hô vang dội khi tàu Clermont từ
từ chuyển động trên dòng sông với vận tốc đáng kể.
Tàu
Clermont là một thành công vang dội lúc bấy giờ. Sự di chuyển của tàu
Clermont trên sông Hudson, đã làm cho những người dọc ở hai bên bờ sông
hoảng sợ khi họ trông thấy những cuộn khói tỏa ra tro đen ngòm bay mù
mịt trên ống khói tàu. Sau đó tàu Clermont bắt đầu làm cuộc hành trình
từ thành phố Albany dài 150 dặm trong 32 giờ liền. Chuyến về chỉ mất 28
giờ. Việc đáp tàu thủy quá mới mẻ đối với mọi người nên suốt cuộc hành
trình lúc ban đầu không có một hành khách. Nhưng các chuyến tàu về sau
này được mọi người nhận thấy sự tiện lợi nên bắt đầu hưởng ứng.
NGUYỄN THỌ
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 136, ra ngày 15-3-1975)

Không có nhận xét nào:
Không cho phép có nhận xét mới.