Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Tĩnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Tĩnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

ĐẦU NĂM TỴ NÓI CHUYỆN RẮN - Hà Tĩnh

  Trong một lúc nhàn cư vi "buồn tình", các ngài Con Trời đã bịa ra hệ thống Thiên-can Địa-chi để đo năm tháng ngày giờ. Mười hai cái mốc chính gọi là Thập Nhị Địa Chi, Tỵ ở cung thứ sáu, do một chú Rắn làm chủ.

Thế gian này đâu thiếu gì muông thú, nên cái việc để cho loài Rắn được lọt vào chung kết rồi nghiễm nhiên chiếm cứ một cung, đã làm những kẻ hậu sinh nghĩ ngợi không ít. Các ngài Con Trời xôi thịt? Hay Rắn "giỏi ăn khéo ở"? Chịu! Ấy là "xắc mắc" tí chơi vậy thôi ; vụ đó thuộc kiếp nảo kiếp nao rồi, Hà này là đứa hậu sinh biết làm sao được! Vậy xin gác chuyện đó lại. Nhân đầu năm Tỵ, mời quí vị nghe chuyện rắn đông tây kim cổ.
 

Rắn và cục tội của các ông


Truyện cổ tích của phần đông các nước trên thế giới đều kể rằng xưa kia đã có thời loài người và loài vật sống chung hòa bình bên nhau, thông cảm được nhau qua tiếng nói.

Thế rồi những mối bất hòa cũng phải xảy ra khiến con người  xa lánh dần giống vật - hoặc ngược lại. Khi đã ít tiếp xúc thì sự thông cảm không còn, tiếng nói biến trại lần lần tùy thủy thổ từng nơi, cho đến một lúc "ngôn ngữ" bất đồng hẳn. Người và vật không hiểu nhau được nữa. Một số lại trở thành thù địch, hễ giáp mặt nhau là sinh chuyện, không mất đầu thì mẻ tay sứt mình. Cũng có nhiều con vật tâm địa vốn tốt được loài người "chiêu hồi" trở về và trở thành những tay chân đắc lực. Duy có tiếng nói thì vẫn khác nhau lắm lắm...

Sách vở đã chứng minh rằng loài vật phản bội trước. Vụ lường gạt trên quả đất này đã xảy ra giữa tổ-mẫu loài người và một con Rắn, mà nạn nhân chính là bà Evà. Truyện được ghi trong Kinh thánh Cựu ước, một cuốn sách cổ nhất và rất đáng tin cậy.

Theo đó, sau khi dựng nên trời đất, cây cỏ, cá mú, muông chim... Thượng đế mới năn ra loài người vào ngày thứ Sáu, một người nam là A-đam, người nữ là Evà. Thượng đế cho hai ông bà sống trong vườn Ê-den đầy cây lành trái ngọt, và cho ăn thả cửa, - chỉ trừ một cây "Biết lành Biết dữ" thì Người cấm ngặt ông bà "... Chớ hề ăn đến ; vì một mai ngươi ăn chắc chắn hoạn nạn sẽ đổ lên đầu các ngươi..."

Chỉ ít lâu sau một con Rắn mò tới xúi dại bà Evà: "... Cứ ăn đi chẳng chết đâu. Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai người ăn trái cây đó, mắt mình mở ra sẽ tốt lành như Đức Chúa Trời"

Thấy trái cây thơm ngon lại "quí hóa" đến thế, E-và nghe bùi tai liền hái ăn, xong đi tìm A-đam đưa cho chồng cùng ăn nữa. A-đam vừa chớm nuốt thì Thượng Đế chợt hiện ra, chàng giựt mình kinh hãi, và trái cây tắc luôn ở cổ họng.

Cho nên, con cháu (trai) của A-đam về sau đều phải mang "cục tội" nơi cổ.

Từ buổi đó loài người hết thân thiện với Rắn, cho rằng Rắn là hiện thân của Satan, của tội lỗi. Rồi do sự thiếu thiện cảm đó mà sinh ra lắm dị đoan, nhất là dân Á Châu mình.

Có rất nhiều cuộc hôn nhân bất thành vì chàng tuổi Dậu còn nàng sinh năm Tỵ ; hoặc chàng đẻ năm Tí, nàng ra đời năm Tỵ v.v... Chả là vì các cụ tin là tuổi đó kỵ nhau, xung khắc nhau, Gà với Chuột có đời nào ở chung được với Rắn! "Chúng nó" có nên vợ chồng thì rồi cũng đến "đĩa bay mâm vù" suốt đời. Thế là các cụ cho mỗi đứa đi một ngả!

"Niềm tin" đó của các cụ vẫn được các ngài "giữ chặt" tới bây giờ, cũng như tục ra đường nhỡ xe cán phải rắn thì dù vội dù cần cũng mau mau hồi gia mà cúng quẩy đã...

Cổ tích Việt-nam có ghi một chứng tích lật lọng của loài Rắn như sau:

Có anh chàng bắt Rắn về nuôi cho ăn ở trong nhà. Chẳng may gặp phải tiết đại hạn đào không ra ếch nhái cho nó ăn, Rắn bèn trở mặt đòi xực luôn kẻ nuôi mình. Anh chàng ức lắm, trả lời:

- Được rồi, chú muốn ăn tôi cũng được. Nhưng trước khi chết để tôi đi hỏi hàng xóm xem như thế có phải không.

Cả hai sang hỏi Hạc ở bên kia đường. Hạc đáp: "Người ta thương nuôi mày từ nhỏ, bây giờ mới thiếu ăn mà mày đã đòi giết người ta. Còn gì là đạo lý lễ nghĩa nữa không?"

Rắn chưa chịu, đi hỏi Rùa. Rùa ngủng ngoẳng đáp: "Đem người ta về nhà mà không nuôi nổi thì thịt đi là phải!"

Đến lượt anh nhà quê không chịu. Vừa lúc đó quạ bay ngang, anh đem tự sự trình bày cho quạ nghe. Chẳng nói chẳng rằng, quạ nhào tới mổ ngay sọ.

Con Rắn chết không kịp ngáp.
 

Đời sống


Trong thực tế rắn chẳng mang lợi lộc gì cho chúng ta cả. Dăm ba trăm con chuột đồng được loài rắn "tiêu thụ" hàng năm không đáng kể nếu chúng ta biết có những đàn chuột cả trăm ngàn con dọn sạch một cánh đồng lúa nội trong nửa đêm. Cái họa của nó mới thật là thấm thía: riêng miền Đông nam Á mỗi năm rắn đã "giải thoát" cho từ 25 đến 35 ngàn mạng người được được xuống ngủ với giun dế!

Công đầu là của hai giống rắn tối nguy hiểm trong vùng này: Krait (9 người bị nó mổ có 8 người chết, 88,9%) và Sawscaled Viper (một loại rắn lục, tỷ lệ chết là 36,4%)

Hàm trên của rắn có mấy móc cứng như răng, phía trong rỗng dẫn tới tuyến nọc độc. Khi cắn nọc độc tiết ra theo ống dẫn thấm vào máu nạn nhân làm máu đông đặc lại, nghẹt thở và... hết sống.

Người ta nghiệm rằng khi bị rắn độc cắn nếu thấy máu không chảy rỉ sẽ dễ bề cứu chữa hơn, vì nọc rắn chưa "chạy" kịp vào mạch máu ; chỗ cắn chỉ bầm tím. Nếu máu rỉ ra nhiều là triệu chứng nguy hiểm: nó đã "tiêm" trúng mạch, nọc độc sẽ trực tiếp đi thẳng vào tim: đến đây thì vô phương cứu chữa.

Trường hợp biết chắc bị rắn tối độc cắn (như mai gầm, rắn lục, vài giống hổ mang v.v...) mà ở quá xa làng hoặc các trạm y tế, nếu không thể cột được thật chặt phía trên vết cắn (quãng giữa gần vết cắn và tim) thì "tốt nhất" là lấy dao khoét ngay miếng thịt chỗ đó hoặc (can đảm lên tí chút nào) chặt phăng ngón chân hoặc ngòn tay bị cắn đi. Đầu năm không xui bậy đâu nhé. Thà bị một tí sẹo, cụt một ngón chân còn hơn là cảnh này xảy ra: "sau vài phút dãy dụa nạn nhân thở hơi cuối cùng, các chân lông đều rớm máu."

Mọi giống rắn đều ăn thịt sống. Trứng cũng là món thích khẩu không kém. Ban đêm rắn mò lên các ngọn cây (như dừa, cau...) đớp chim ăn, dọn luôn mấy quả trứng nếu có, hoặc rình mổ mấy chú dơi săn muỗi bay ngang. Phần đông rắn thích xực những con mồi bé hơn mình, chừng dăm bảy con là đủ bữa. Tuy nhiên không vì thế mà Rắn tha cho những con thịt sáu bảy lần lớn hơn chiều ngang của nó.

Trong một cuốn sách nói về xứ Ba Tây, ông George Gardner cho biết một lần gặp xác một con Anaconda (loại rắn lớn nhất miền Nam Mỹ) treo lủng lẳng ở một chạc cây ven bờ sông. Chiều dài của nó đo được 11 mét hơn. Khi mổ xác ông tìm thấy những đốt xương của một con ngựa, vài khúc bị bẻ gãy, còn thịt ở trạng thái tiêu hóa dở chừng. Đặc biệt bộ xương sọ vẫn còn nguyên vẹn! Chắc chắn con Anaconda này đã nuốt lửng một chú ngựa con và chết vì bội thực.

Một vụ khác ở Ấn: Một con mãng xà Ấn-độ (Indian Python) dài trên dưới bốn thước tây đã lăn đùng ra chết sau khi "điểm tâm" một con nai dực ba tuổi. Trong cuộc khảo sát sau đó, người ta thấy chỉ có xương đùi sau bị gãy, xương sườn, xương chân trước và sọ không hề sứt mẻ. Duy cặp gạc non thì bị gãy d8ôi, có lẽ con rắn đã siết chặt.

Hai trường hợp kể trên hơi đặc biệt, vì cả hai đều chết khi nuốt hết con mồi lớn quá khổ. Xin hiểu cho rằng không phải chú Rắn nào cũng vụng về kiểu đó. Trự nào nuốt có nghệ thuật thì chỉ cần làm ba hoặc bốn vố như thế chia đều trong năm là đủ sống rồi.

Tấn công những con thịt cỡ đó hơi vất vả. Phải mổ xuống thật nhanh mạnh, quấn vài vòng quanh rồi siết thật chặt cho tới lúc địch thủ bất động hẳn. Khi con thịt đã dãn dài ra, mềm nhũn, Rắn bắt đầu nuốt. Lúc đó nước bọt mới tiết ra thật nhiều.

Nhờ xương hàm dưới rất dài nối với xương đầu bởi một đoạn xương thứ ba nên miệng rắn có thể há được rất rộng. Cả hai hàm đều có răng nhưng không thể nghiền đồ ăn mà để giữ mồi.

Cũng như một vài con vật khác rắn có thể ăn thịt đồng loại, ngay cả con của nó nữa. Một số rắn coi con "King Suake" là một kẻ thù nguy hiểm vì nó hay ăn đồng loại nhất.

Rắn có một cách "bảo vệ" con rất kỳ lạ: khi gặp biến nó nuốt cả đàn con vào bụng để cứu chúng. Miệng rắn chỉ có hai lối vào bụng là khí quản và thực quản. Khí quản rất nhỏ, chỉ có thứ rắn vừa mới sinh nở mới chui lọt ; tuy nhiên nếu chúng vào bằng đường đó thì bố mẹ chúng sẽ ngộp thở mà chết. Còn qua thực quản để xuống cơ quan tiêu hóa thì rắn con sẽ bị "tiêu" luôn là cái chắc. Các nhà động vật học vẫn "bó tay" không giải thích được hành động lạ lùng này.

Hầu hết loài rắn đều đẻ trứng. Tùy từng giống, mỗi ổ có từ 2 đến 100 trứng và có thể hơn. Có một điều chúng ta khó tưởng tượng được: ngoài những giống chỉ sinh đẻ trong hang, các bộng cây, hoặc đi chiếm tổ của loài chim, một vài con biết làm lấy tổ để đẻ. Phải nhớ là rắn không có tay chân đấy nhé. Năm 1956, tại vườn thú Nữu Ước ông James A. Oliver thu vào phim màu trọn công cuộc "kiến thiết" tổ của con "King Cobra". Trong vòng 2 ngày, con rắn mái dài 4 thước này kết được một cái tổ thật gọn ghẽ, 40 phân chiều cao và đường kính hơn 90 phân. Vật liệu do ông Oliver (giám đốc sở thú này) cung cấp gồm cọng sậy và lá khô. Có nhiều chi tiết thật tài tình thú vị trong hai ngày dựng tổ của nó, tiếc rằng dài quá nên không thể kể ra đây hầu quí bạn. Xin cứ tưởng tượng một con Rắn cuộn quanh đống cọng sậy mà đẩy, kéo, nghẹo cổ lại thành một góc nhọn để ủi như chiếc cày, rồi chun vào giữa mà nới rộng miệng tổ để nằm... nghĩa là dùng hết mọi cách "sẵn có" (!) của nó.

Hai ngày sau khi xong nhà mới, cô nàng cho ra đời một lô trứng, đoạn phủ lên một ít củi và lá khô rồi nằm cuộn tròn trên đó.

Cũng có giống rắn đẻ con 9 như các loại Rắn lục...). Thực ra thì trứng của chúng nở trong bụng trước khi sinh.
 

Rắn đầu và rắn tru di...


Trở về Việt Nam, Văn học sử còn ghi lại một truyện Rắn thật ngộ nghĩnh.

Tương truyền ông Lê Quí Đôn khi còn nhả đã nổi tiếng thông minh, đĩnh ngộ, nhưng mắc phải bệnh... lười và nghịch ngơm thì không ai bằng...

Lần kia chú bé họ Lê đang tắm ở bể cạn trước sân thì có ông bạn của bố lại chơi. Lê lúc đó trần như nhộng, đứng dang tay dạng chân ra  nói với khách:

"Cháu đố cụ đồ... chữ này là chữ chi?"

Ông khách bất bình nhưng thấy thằng bé tuy láu lỉnh mà thông minh, bèn vào kể lại với bạn.

(Chữ cậu bé đố cụ đồ là chữ thái (tiếng Tàu) có hình tượng như một người đứng dang tay chân, có thêm cái... "dấu phẩy" ở phần phía dưới.

Ông bố thẹn với bạn, điệu Lê Quí Đôn lên định cho ăn chạch. Khách thương tình xin tha ; bố họ Lê liền bắt làm bài thơ để tạ tội với khách, ra đề là "Rắn đầu". Không làm được thì phải đòn. Cậu bé xuất khẩu đọc ngay một bài thất ngôn bát cú. Thơ rằng:

Rắn đầu biếng học.

Chẳng phải liu điu, vẫn giống nhà.
Rắn đầu biếng học chẳng ai tha.
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối
Lằn lưng cam chịu vết roi tra.
Từ đây Châu, Lỗ chăm nghề học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.

Bố và bạn bố nghe xong khoái quá khen lấy khen để, quên cả tội cậu bé.

Vì ngoài tài xuất khẩu thành chương, Lê Quí Đôn còn chơi chữ thật lý thú. Một chữ "Rắn" ở đầu đề chỉ có nghĩa là khó bảo khó dạy (ta thường mắng rắn mày rắn mặt, hay cứng đầu cứng cổ...) thế mà tác giả đã khéo tìm toàn tên những con rắn ghép vào: liu điu, hổ lửa, mai gầm, (rắn) ráo, (thằn) lằn, hổ mang, thành một bài thơ vừa miêu tả được tính rắn đầu cứng cổ củ mình vừa chứa được mỗi câu... một con rắn.

*

Chắc các bạn chưa quên được cái chết oan khiên của Nguyễn Trãi và ba họ. Ông là bậc văn chương mưu lược lỗi lạc, tác giả những bài văn khét tiếng: Bình Ngô đại cáo, Thư dụ Vương Thông, và gần với chúng ta hơn là cuốn Gia huấn Ca. Nguyễn Trãi còn là nhà chính trị và quân sự đại tài. Trong 10 năm kháng chiến chống quân Minh ông là cánh tay phải của Lê Lợi bao lần bày mưu lập kế, vào sinh ra tử, giúp Lê Lợi bình định được xứ sở.

Vậy trong trường hợp nào một vị công thần mở nước, văn võ toàn tài như Nguyễn Trãi lại bị mang đại án tru di tam tộc được?

Sử Việt ghi rằng sau khi Bình định Vương Lê Lợi thăng hà, con thứ là Nguyên Long lên ngôi (tức vua Lê Thái Tông). Vì không "hợp ý" bọn hoạn quan quanh Vua mới, ông từ quan xin về ở Côn Sơn làm nhà dạy học.

Sau học trò cứ ngày một đông, ông bèn sai dọn khu vườn kế nhà để làm thêm lớp học.
 
Đêm đó trong mộng ông thấy một người đàn bà tới năn nỉ với mình rằng "Xin thầy thương tình hãy khoan dọn vườn, cho mẹ con tôi náu lại vài ngày. Khi mẹ con tôi cứng cáp rồi sẽ xin đi ngay"
 
Tỉnh dậy thì trời đã sáng rõ, ông thấy đám học trò của mình đang phở đất dọn dẹp khu vườn. Ông ngờ vực, cho gọi học trò vào hỏi xem có gặp sự gì lạ ngoài vườn không . Họ cho biết có gặp một con Rắn mẹ và hai Rắn con. Họ đã đập chết đôi Rắn nhỏ, còn con Mẹ chạy thoát được.

Ngày tháng qua. Một đêm kia khi ngồi đọc sách tới khuya, ông chợt thấy một con rắn trườn tới bàn, há miệng nhỏ một giọt máu xuống cuốn sách ông đang đọc, thấm suốt ba trang. Nguyễn Trãi chợt liên tưởng tới giấc mộng dọa nào và quyết đoán đại họa sắp xảy đến cho mình, không chừng cả ba họ.

Quả nhiên đến năm Đại Bảo, Nhâm Tuất (1442)* Vua Thái Tông bị chết bất ngờ trong giờ vợ Nguyễn Trãi là Thị Lộ đang hầu đêm. Triều đình xúm vào đổ tội cho Nguyễn Trãi và vợ đầu độc Vua, rồi bị kết án phải giết ba họ.

Một người thiếp của ông, đang có thai, may mắn trốn thoát và sinh con trai là Anh Vũ. Hơn hai mươi năm sau, án của ông được Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) duyệt lại và được minh oan. Vua truy tặng tước Tế văn hầu. Lại còn sai tìm Anh Vũ ban ruộng nương và cho làm một chức quan huyện.

Người ta còn truyền tụng rằng sau đó Anh Vũ được vua sai đi sứ bên Tàu. Khi qua hồ Động Đình bỗng có một con rắn lớn hiện lên gieo sóng gió làm thuyền của Anh Vũ chòng chành dữ dội. Biết là rắn lại tìm đến báo oán, chàng chỉ xin cho được làm tròn sứ mệnh đã, xong việc nước sẽ xin chịu tội. Sóng gió liền im.

Trên đường về, thuyền của Anh Vũ bị đắm ở giữa Động Đình hồ ; chàng chết chìm ở đó.

Nói về Nguyễn thị Lộ, sách "Lịch Triều Hiến chương Loại chí" của Phan Huy Chú chép: Đời truyền rằng trong gò lớn ở làng ông (Nguyễn Trãi) có con rắn lớn. Chỗ ấy cây cối um tùm, người làng không dám chặt. Người ông nội của ông thích về phong thủy, mới dựng nhà học trên đó, sai người dọn dẹp, nhỡ giết phải con rắn ấy. Con rắn thành tinh ngầm mang thù oán, mới đầu thai vào Thị Lộ. Nàng sinh ra dưới sườn có vảy. Ông lúc nhỏ đi đường gặp nàng ở Vũ Lăng, yêu về tài sắc mới lấy làm vợ. Khi ông lo việc nước, những chiếu thư, từ mệnh nàng đều được dự nhuận sắc. Thái Tông nghe tiếng, vời nàng vào hầu cho làm Lễ nghi học sĩ. Bấy giờ ông đã già (trên 60 tuổi), muốn về dưỡng nhàn ở Côn Sơn mấy lần xin không được, mới lưu nàng lại hầu Vua, Vua mới cho. Ngày Vua đi đông tuần, nàng hầu đêm, bol64ng Vua chết một cách bất ngờ. Kịp khi kết tội, làm hình, Thị Lộ chạy gieo mình xuống nước, người ta cho là rắn báo oán".

Truyện có vẻ hơi hoang đường gần như "ngoài rìa" lịch sử. Tin hay không tùy... từng người. Ta có thể giải thích một cách khác... d6ẽ tin hơn: Nguyễn Trãi gặp Thị Lộ tuy là ả bán chiếu (thao bài thơ của ông: "Ả ở đâu nay bán chiếu gon..." khi "tán" Thị Lộ) nhưng tài (thi phú) và sắc vẹn toàn. Vua Thái Tông mới 20 tuổi động lòng yêu, ép về làm thiếp. Vì rượu chè trác táng quá độ, chết bất tử trong lúc có Thị Lộ hầu bên cạnh. Bọn hoạn quan vốn sẵn ghét Nguyễn Trãi vin vào dịp đó cho rằng ông thù về chuyện "cướp vợ" nên âm mưu đầu độc vua. Kết quả cả giòng họ nhà ông bị giết một cách oan uổng.


Rắn sống chung hòa bình


Không lẽ cứ nói xấu về Rắn mãi. Cũng phải tìm cho ra một "sự tích" hay một hành động khả dĩ có thể gỡ lại chút xíu danh dự cho loài rắn chứ? Khổ nỗi moi óc mãi chỉ nhớ được máng máng một truyện rắn trả ơn. Không biết có đúng chăng? Đại khái có người giúp rắn được việc chi đó, rắn bèn nhả biếu một hòn ngọc quí, hễ ngậm vào thì nghe được tiếng loài vật.
 
Nghe một đàn chim sẻ  chí chóe, anh biết kho thóc của vua bị hư một phía vách, chim chóc đã phá hoại khá nhiều. Anh liền trình tấu cho vua biết. Một lần khác đàn kiến rì rào tính cách chạy lụt vì nước dâng cao. Anh cũng đến báo để vua biết mà đề phòng v.v... và v.v.Có lẽ chúng ta phải tự động hiểu ngầm rằng sau đó anh ta được vua ban chức tước, ruộng đất. Hay muốn ly kỳ hơn thì thêm rằng anh chàng từ chối về sống ẩn dật nơi quê nhà... cho ra vẻ "cổ tích".

Nhiều giống rắn lành như rắn nước, rắn rồng, hổ hành v.v... Một vùng ở miền núi Bắc Trung phần người ta nuôi rắn rồng trong nhà để bắt chuột. Giống nầy mình có nhiều màu rất đẹp, đầu và trên lưng có vi.

Vùng đông Châu Phi có loại rắn mù (blind snake) thuộc giòng Typhlops thường sống chung với giống kiến đàn tên Dorylus, hộ tống cho chúng khi kiến dời tổ. Người ta đã chứng kiến một con rắn đi gần đầu đàn, với vài con kiến dẫn đầu (chắc là những  tên hướng đạo dò đường), một số cưỡi trên lưng rắn. Cả đàn đi sau đó khiêng tổ. Khoa sinh vật học chưa hiểu gì nhiều về giống rắn này. Có lẽ nó là một loại nô lệ chuyên quét dọn rác rưởi và "tiêu thụ" xác chết của kiến trong tổ chúng.

Ở Mã Lai Á có một ngôi chùa đầy rắn độc, vắt vẻo khắp nơi trong chùa. Bực thềm, chậu kiểng, sà nhà, trên bệ thờ... đâu đâu cũng có rắn, mà toàn loại rắn độc xanh lè. Điều lạ là chúng chưa hề cắn ai bao giờ. Nhà chùa phải đài thọ trứng gà, vịt hàng ngày vì chúng nhất định đóng đô ở đó. Người ta gọi luôn là chùa rắn.

Cuối cùng phải nhắc tới một món nhậu đại bổ của dân "ve chai". Một hôm nào đó bạn thấy ở chợ Đuổi hay chợ cũ Hàm Nghi những bác nhà quê thò tay vào giỏ mây lôi ra những con rắn hổ đất còn sống nhăn, mời chào loạn xạ. Hổ đất là loại rắn dữ, họ dám cầm lên bằng tay không như thế vì tay họ đã thoa một loại thuốc ngải, làm rắn đờ đẫn ngây dại, trở nên hiền khô.

Dân nhậu mua về lột da, làm ruột, đoạn bằm thêm gia vị đem chiên lên rồi chén thù, chén tạc. Một giống rắn hổ còn có huyết rất bổ. Người ta treo lên, chặt một tí phía đuôi và hứng lấy huyết vào trong chai đã có sẵn ba-xi-đế. "Bổ hơn bất cứ món rượu bổ nào trên thế giới". - Dân nhậu quả quyết thế đấy!

Và để chấm dứt bài này xin mượn lời "một nhà chuyên môn" nói về món cháo đậu xanh nấu với rắn hổ đất: "... ăn vô rồi mình mẩy nghe mát rượi, đánh một giấc thẳng tấp tới sáng!".

Hấp dẫn chưa!


HÀ TĨNH     

__________ 
* Vua Lê Thái Tông ở ngôi chín năm, đặt niên hiệu hai lần: Thiệu Bình (1434-39) và Đại Bảo (1440-42)

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa Xuân Ất Tỵ, 1965)



Thứ Năm, 7 tháng 7, 2022

ĐẦU NĂM TỴ NÓI CHUYỆN RẮN - Hà Tĩnh

  Trong một lúc nhàn cư vi "buồn tình", các ngài Con Trời đã bịa ra hệ thống Thiên-can Địa-chi để đo năm tháng ngày giờ. Mười hai cái mốc chính gọi là Thập Nhị Địa Chi, Tỵ ở cung thứ sáu, do một chú Rắn làm chủ.

Thế gian này đâu thiếu gì muông thú, nên cái việc để cho loài Rắn được lọt vào chung kết rồi nghiễm nhiên chiếm cứ một cung, đã làm những kẻ hậu sinh nghĩ ngợi không ít. Các ngài Con Trời xôi thịt? Hay Rắn "giỏi ăn khéo ở"? Chịu! Ấy là "xắc mắc" tí chơi vậy thôi ; vụ đó thuộc kiếp nảo kiếp nao rồi, Hà này là đứa hậu sinh biết làm sao được! Vậy xin gác chuyện đó lại. Nhân đầu năm Tỵ, mời quí vị nghe chuyện rắn đông tây kim cổ.
 

Rắn và cục tội của các ông


Truyện cổ tích của phần đông các nước trên thế giới đều kể rằng xưa kia đã có thời loài người và loài vật sống chung hòa bình bên nhau, thông cảm được nhau qua tiếng nói.

Thế rồi những mối bất hòa cũng phải xảy ra khiến con người  xa lánh dần giống vật - hoặc ngược lại. Khi đã ít tiếp xúc thì sự thông cảm không còn, tiếng nói biến trại lần lần tùy thủy thổ từng nơi, cho đến một lúc "ngôn ngữ" bất đồng hẳn. Người và vật không hiểu nhau được nữa. Một số lại trở thành thù địch, hễ giáp mặt nhau là sinh chuyện, không mất đầu thì mẻ tay sứt mình. Cũng có nhiều con vật tâm địa vốn tốt được loài người "chiêu hồi" trở về và trở thành những tay chân đắc lực. Duy có tiếng nói thì vẫn khác nhau lắm lắm...

Sách vở đã chứng minh rằng loài vật phản bội trước. Vụ lường gạt trên quả đất này đã xảy ra giữa tổ-mẫu loài người và một con Rắn, mà nạn nhân chính là bà Evà. Truyện được ghi trong Kinh thánh Cựu ước, một cuốn sách cổ nhất và rất đáng tin cậy.

Theo đó, sau khi dựng nên trời đất, cây cỏ, cá mú, muông chim... Thượng đế mới năn ra loài người vào ngày thứ Sáu, một người nam là A-đam, người nữ là Evà. Thượng đế cho hai ông bà sống trong vườn Ê-den đầy cây lành trái ngọt, và cho ăn thả cửa, - chỉ trừ một cây "Biết lành Biết dữ" thì Người cấm ngặt ông bà "... Chớ hề ăn đến ; vì một mai ngươi ăn chắc chắn hoạn nạn sẽ đổ lên đầu các ngươi..."

Chỉ ít lâu sau một con Rắn mò tới xúi dại bà Evà: "... Cứ ăn đi chẳng chết đâu. Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai người ăn trái cây đó, mắt mình mở ra sẽ tốt lành như Đức Chúa Trời"

Thấy trái cây thơm ngon lại "quí hóa" đến thế, E-và nghe bùi tai liền hái ăn, xong đi tìm A-đam đưa cho chồng cùng ăn nữa. A-đam vừa chớm nuốt thì Thượng Đế chợt hiện ra, chàng giựt mình kinh hãi, và trái cây tắc luôn ở cổ họng.

Cho nên, con cháu (trai) của A-đam về sau đều phải mang "cục tội" nơi cổ.

Từ buổi đó loài người hết thân thiện với Rắn, cho rằng Rắn là hiện thân của Satan, của tội lỗi. Rồi do sự thiếu thiện cảm đó mà sinh ra lắm dị đoan, nhất là dân Á Châu mình.

Có rất nhiều cuộc hôn nhân bất thành vì chàng tuổi Dậu còn nàng sinh năm Tỵ ; hoặc chàng đẻ năm Tí, nàng ra đời năm Tỵ v.v... Chả là vì các cụ tin là tuổi đó kỵ nhau, xung khắc nhau, Gà với Chuột có đời nào ở chung được với Rắn! "Chúng nó" có nên vợ chồng thì rồi cũng đến "đĩa bay mâm vù" suốt đời. Thế là các cụ cho mỗi đứa đi một ngả!

"Niềm tin" đó của các cụ vẫn được các ngài "giữ chặt" tới bây giờ, cũng như tục ra đường nhỡ xe cán phải rắn thì dù vội dù cần cũng mau mau hồi gia mà cúng quẩy đã...

Cổ tích Việt-nam có ghi một chứng tích lật lọng của loài Rắn như sau:

Có anh chàng bắt Rắn về nuôi cho ăn ở trong nhà. Chẳng may gặp phải tiết đại hạn đào không ra ếch nhái cho nó ăn, Rắn bèn trở mặt đòi xực luôn kẻ nuôi mình. Anh chàng ức lắm, trả lời:

- Được rồi, chú muốn ăn tôi cũng được. Nhưng trước khi chết để tôi đi hỏi hàng xóm xem như thế có phải không.

Cả hai sang hỏi Hạc ở bên kia đường. Hạc đáp: "Người ta thương nuôi mày từ nhỏ, bây giờ mới thiếu ăn mà mày đã đòi giết người ta. Còn gì là đạo lý lễ nghĩa nữa không?"

Rắn chưa chịu, đi hỏi Rùa. Rùa ngủng ngoẳng đáp: "Đem người ta về nhà mà không nuôi nổi thì thịt đi là phải!"

Đến lượt anh nhà quê không chịu. Vừa lúc đó quạ bay ngang, anh đem tự sự trình bày cho quạ nghe. Chẳng nói chẳng rằng, quạ nhào tới mổ ngay sọ.

Con Rắn chết không kịp ngáp.
 

Đời sống


Trong thực tế rắn chẳng mang lợi lộc gì cho chúng ta cả. Dăm ba trăm con chuột đồng được loài rắn "tiêu thụ" hàng năm không đáng kể nếu chúng ta biết có những đàn chuột cả trăm ngàn con dọn sạch một cánh đồng lúa nội trong nửa đêm. Cái họa của nó mới thật là thấm thía: riêng miền Đông nam Á mỗi năm rắn đã "giải thoát" cho từ 25 đến 35 ngàn mạng người được được xuống ngủ với giun dế!

Công đầu là của hai giống rắn tối nguy hiểm trong vùng này: Krait (9 người bị nó mổ có 8 người chết, 88,9%) và Sawscaled Viper (một loại rắn lục, tỷ lệ chết là 36,4%)

Hàm trên của rắn có mấy móc cứng như răng, phía trong rỗng dẫn tới tuyến nọc độc. Khi cắn nọc độc tiết ra theo ống dẫn thấm vào máu nạn nhân làm máu đông đặc lại, nghẹt thở và... hết sống.

Người ta nghiệm rằng khi bị rắn độc cắn nếu thấy máu không chảy rỉ sẽ dễ bề cứu chữa hơn, vì nọc rắn chưa "chạy" kịp vào mạch máu ; chỗ cắn chỉ bầm tím. Nếu máu rỉ ra nhiều là triệu chứng nguy hiểm: nó đã "tiêm" trúng mạch, nọc độc sẽ trực tiếp đi thẳng vào tim: đến đây thì vô phương cứu chữa.

Trường hợp biết chắc bị rắn tối độc cắn (như mai gầm, rắn lục, vài giống hổ mang v.v...) mà ở quá xa làng hoặc các trạm y tế, nếu không thể cột được thật chặt phía trên vết cắn (quãng giữa gần vết cắn và tim) thì "tốt nhất" là lấy dao khoét ngay miếng thịt chỗ đó hoặc (can đảm lên tí chút nào) chặt phăng ngón chân hoặc ngòn tay bị cắn đi. Đầu năm không xui bậy đâu nhé. Thà bị một tí sẹo, cụt một ngón chân còn hơn là cảnh này xảy ra: "sau vài phút dãy dụa nạn nhân thở hơi cuối cùng, các chân lông đều rớm máu."

Mọi giống rắn đều ăn thịt sống. Trứng cũng là món thích khẩu không kém. Ban đêm rắn mò lên các ngọn cây (như dừa, cau...) đớp chim ăn, dọn luôn mấy quả trứng nếu có, hoặc rình mổ mấy chú dơi săn muỗi bay ngang. Phần đông rắn thích xực những con mồi bé hơn mình, chừng dăm bảy con là đủ bữa. Tuy nhiên không vì thế mà Rắn tha cho những con thịt sáu bảy lần lớn hơn chiều ngang của nó.

Trong một cuốn sách nói về xứ Ba Tây, ông George Gardner cho biết một lần gặp xác một con Anaconda (loại rắn lớn nhất miền Nam Mỹ) treo lủng lẳng ở một chạc cây ven bờ sông. Chiều dài của nó đo được 11 mét hơn. Khi mổ xác ông tìm thấy những đốt xương của một con ngựa, vài khúc bị bẻ gãy, còn thịt ở trạng thái tiêu hóa dở chừng. Đặc biệt bộ xương sọ vẫn còn nguyên vẹn! Chắc chắn con Anaconda này đã nuốt lửng một chú ngựa con và chết vì bội thực.

Một vụ khác ở Ấn: Một con mãng xà Ấn-độ (Indian Python) dài trên dưới bốn thước tây đã lăn đùng ra chết sau khi "điểm tâm" một con nai dực ba tuổi. Trong cuộc khảo sát sau đó, người ta thấy chỉ có xương đùi sau bị gãy, xương sườn, xương chân trước và sọ không hề sứt mẻ. Duy cặp gạc non thì bị gãy d8ôi, có lẽ con rắn đã siết chặt.

Hai trường hợp kể trên hơi đặc biệt, vì cả hai đều chết khi nuốt hết con mồi lớn quá khổ. Xin hiểu cho rằng không phải chú Rắn nào cũng vụng về kiểu đó. Trự nào nuốt có nghệ thuật thì chỉ cần làm ba hoặc bốn vố như thế chia đều trong năm là đủ sống rồi.

Tấn công những con thịt cỡ đó hơi vất vả. Phải mổ xuống thật nhanh mạnh, quấn vài vòng quanh rồi siết thật chặt cho tới lúc địch thủ bất động hẳn. Khi con thịt đã dãn dài ra, mềm nhũn, Rắn bắt đầu nuốt. Lúc đó nước bọt mới tiết ra thật nhiều.

Nhờ xương hàm dưới rất dài nối với xương đầu bởi một đoạn xương thứ ba nên miệng rắn có thể há được rất rộng. Cả hai hàm đều có răng nhưng không thể nghiền đồ ăn mà để giữ mồi.

Cũng như một vài con vật khác rắn có thể ăn thịt đồng loại, ngay cả con của nó nữa. Một số rắn coi con "King Suake" là một kẻ thù nguy hiểm vì nó hay ăn đồng loại nhất.

Rắn có một cách "bảo vệ" con rất kỳ lạ: khi gặp biến nó nuốt cả đàn con vào bụng để cứu chúng. Miệng rắn chỉ có hai lối vào bụng là khí quản và thực quản. Khí quản rất nhỏ, chỉ có thứ rắn vừa mới sinh nở mới chui lọt ; tuy nhiên nếu chúng vào bằng đường đó thì bố mẹ chúng sẽ ngộp thở mà chết. Còn qua thực quản để xuống cơ quan tiêu hóa thì rắn con sẽ bị "tiêu" luôn là cái chắc. Các nhà động vật học vẫn "bó tay" không giải thích được hành động lạ lùng này.

Hầu hết loài rắn đều đẻ trứng. Tùy từng giống, mỗi ổ có từ 2 đến 100 trứng và có thể hơn. Có một điều chúng ta khó tưởng tượng được: ngoài những giống chỉ sinh đẻ trong hang, các bộng cây, hoặc đi chiếm tổ của loài chim, một vài con biết làm lấy tổ để đẻ. Phải nhớ là rắn không có tay chân đấy nhé. Năm 1956, tại vườn thú Nữu Ước ông James A. Oliver thu vào phim màu trọn công cuộc "kiến thiết" tổ của con "King Cobra". Trong vòng 2 ngày, con rắn mái dài 4 thước này kết được một cái tổ thật gọn ghẽ, 40 phân chiều cao và đường kính hơn 90 phân. Vật liệu do ông Oliver (giám đốc sở thú này) cung cấp gồm cọng sậy và lá khô. Có nhiều chi tiết thật tài tình thú vị trong hai ngày dựng tổ của nó, tiếc rằng dài quá nên không thể kể ra đây hầu quí bạn. Xin cứ tưởng tượng một con Rắn cuộn quanh đống cọng sậy mà đẩy, kéo, nghẹo cổ lại thành một góc nhọn để ủi như chiếc cày, rồi chun vào giữa mà nới rộng miệng tổ để nằm... nghĩa là dùng hết mọi cách "sẵn có" (!) của nó.

Hai ngày sau khi xong nhà mới, cô nàng cho ra đời một lô trứng, đoạn phủ lên một ít củi và lá khô rồi nằm cuộn tròn trên đó.

Cũng có giống rắn đẻ con 9 như các loại Rắn lục...). Thực ra thì trứng của chúng nở trong bụng trước khi sinh.
 

Rắn đầu và rắn tru di...


Trở về Việt Nam, Văn học sử còn ghi lại một truyện Rắn thật ngộ nghĩnh.

Tương truyền ông Lê Quí Đôn khi còn nhả đã nổi tiếng thông minh, đĩnh ngộ, nhưng mắc phải bệnh... lười và nghịch ngơm thì không ai bằng...

Lần kia chú bé họ Lê đang tắm ở bể cạn trước sân thì có ông bạn của bố lại chơi. Lê lúc đó trần như nhộng, đứng dang tay dạng chân ra  nói với khách:

"Cháu đố cụ đồ... chữ này là chữ chi?"

Ông khách bất bình nhưng thấy thằng bé tuy láu lỉnh mà thông minh, bèn vào kể lại với bạn.

(Chữ cậu bé đố cụ đồ là chữ thái (tiếng Tàu) có hình tượng như một người đứng dang tay chân, có thêm cái... "dấu phẩy" ở phần phía dưới.

Ông bố thẹn với bạn, điệu Lê Quí Đôn lên định cho ăn chạch. Khách thương tình xin tha ; bố họ Lê liền bắt làm bài thơ để tạ tội với khách, ra đề là "Rắn đầu". Không làm được thì phải đòn. Cậu bé xuất khẩu đọc ngay một bài thất ngôn bát cú. Thơ rằng:

Rắn đầu biếng học.

Chẳng phải liu điu, vẫn giống nhà.
Rắn đầu biếng học chẳng ai tha.
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối
Lằn lưng cam chịu vết roi tra.
Từ đây Châu, Lỗ chăm nghề học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.

Bố và bạn bố nghe xong khoái quá khen lấy khen để, quên cả tội cậu bé.

Vì ngoài tài xuất khẩu thành chương, Lê Quí Đôn còn chơi chữ thật lý thú. Một chữ "Rắn" ở đầu đề chỉ có nghĩa là khó bảo khó dạy (ta thường mắng rắn mày rắn mặt, hay cứng đầu cứng cổ...) thế mà tác giả đã khéo tìm toàn tên những con rắn ghép vào: liu điu, hổ lửa, mai gầm, (rắn) ráo, (thằn) lằn, hổ mang, thành một bài thơ vừa miêu tả được tính rắn đầu cứng cổ củ mình vừa chứa được mỗi câu... một con rắn.

*

Chắc các bạn chưa quên được cái chết oan khiên của Nguyễn Trãi và ba họ. Ông là bậc văn chương mưu lược lỗi lạc, tác giả những bài văn khét tiếng: Bình Ngô đại cáo, Thư dụ Vương Thông, và gần với chúng ta hơn là cuốn Gia huấn Ca. Nguyễn Trãi còn là nhà chính trị và quân sự đại tài. Trong 10 năm kháng chiến chống quân Minh ông là cánh tay phải của Lê Lợi bao lần bày mưu lập kế, vào sinh ra tử, giúp Lê Lợi bình định được xứ sở.

Vậy trong trường hợp nào một vị công thần mở nước, văn võ toàn tài như Nguyễn Trãi lại bị mang đại án tru di tam tộc được?

Sử Việt ghi rằng sau khi Bình định Vương Lê Lợi thăng hà, con thứ là Nguyên Long lên ngôi (tức vua Lê Thái Tông). Vì không "hợp ý" bọn hoạn quan quanh Vua mới, ông từ quan xin về ở Côn Sơn làm nhà dạy học.

Sau học trò cứ ngày một đông, ông bèn sai dọn khu vườn kế nhà để làm thêm lớp học.
 
Đêm đó trong mộng ông thấy một người đàn bà tới năn nỉ với mình rằng "Xin thầy thương tình hãy khoan dọn vườn, cho mẹ con tôi náu lại vài ngày. Khi mẹ con tôi cứng cáp rồi sẽ xin đi ngay"
 
Tỉnh dậy thì trời đã sáng rõ, ông thấy đám học trò của mình đang phở đất dọn dẹp khu vườn. Ông ngờ vực, cho gọi học trò vào hỏi xem có gặp sự gì lạ ngoài vườn không . Họ cho biết có gặp một con Rắn mẹ và hai Rắn con. Họ đã đập chết đôi Rắn nhỏ, còn con Mẹ chạy thoát được.

Ngày tháng qua. Một đêm kia khi ngồi đọc sách tới khuya, ông chợt thấy một con rắn trườn tới bàn, há miệng nhỏ một giọt máu xuống cuốn sách ông đang đọc, thấm suốt ba trang. Nguyễn Trãi chợt liên tưởng tới giấc mộng dọa nào và quyết đoán đại họa sắp xảy đến cho mình, không chừng cả ba họ.

Quả nhiên đến năm Đại Bảo, Nhâm Tuất (1442)* Vua Thái Tông bị chết bất ngờ trong giờ vợ Nguyễn Trãi là Thị Lộ đang hầu đêm. Triều đình xúm vào đổ tội cho Nguyễn Trãi và vợ đầu độc Vua, rồi bị kết án phải giết ba họ.

Một người thiếp của ông, đang có thai, may mắn trốn thoát và sinh con trai là Anh Vũ. Hơn hai mươi năm sau, án của ông được Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) duyệt lại và được minh oan. Vua truy tặng tước Tế văn hầu. Lại còn sai tìm Anh Vũ ban ruộng nương và cho làm một chức quan huyện.

Người ta còn truyền tụng rằng sau đó Anh Vũ được vua sai đi sứ bên Tàu. Khi qua hồ Động Đình bỗng có một con rắn lớn hiện lên gieo sóng gió làm thuyền của Anh Vũ chòng chành dữ dội. Biết là rắn lại tìm đến báo oán, chàng chỉ xin cho được làm tròn sứ mệnh đã, xong việc nước sẽ xin chịu tội. Sóng gió liền im.

Trên đường về, thuyền của Anh Vũ bị đắm ở giữa Động Đình hồ ; chàng chết chìm ở đó.

Nói về Nguyễn thị Lộ, sách "Lịch Triều Hiến chương Loại chí" của Phan Huy Chú chép: Đời truyền rằng trong gò lớn ở làng ông (Nguyễn Trãi) có con rắn lớn. Chỗ ấy cây cối um tùm, người làng không dám chặt. Người ông nội của ông thích về phong thủy, mới dựng nhà học trên đó, sai người dọn dẹp, nhỡ giết phải con rắn ấy. Con rắn thành tinh ngầm mang thù oán, mới đầu thai vào Thị Lộ. Nàng sinh ra dưới sườn có vảy. Ông lúc nhỏ đi đường gặp nàng ở Vũ Lăng, yêu về tài sắc mới lấy làm vợ. Khi ông lo việc nước, những chiếu thư, từ mệnh nàng đều được dự nhuận sắc. Thái Tông nghe tiếng, vời nàng vào hầu cho làm Lễ nghi học sĩ. Bấy giờ ông đã già (trên 60 tuổi), muốn về dưỡng nhàn ở Côn Sơn mấy lần xin không được, mới lưu nàng lại hầu Vua, Vua mới cho. Ngày Vua đi đông tuần, nàng hầu đêm, bol64ng Vua chết một cách bất ngờ. Kịp khi kết tội, làm hình, Thị Lộ chạy gieo mình xuống nước, người ta cho là rắn báo oán".

Truyện có vẻ hơi hoang đường gần như "ngoài rìa" lịch sử. Tin hay không tùy... từng người. Ta có thể giải thích một cách khác... d6ẽ tin hơn: Nguyễn Trãi gặp Thị Lộ tuy là ả bán chiếu (thao bài thơ của ông: "Ả ở đâu nay bán chiếu gon..." khi "tán" Thị Lộ) nhưng tài (thi phú) và sắc vẹn toàn. Vua Thái Tông mới 20 tuổi động lòng yêu, ép về làm thiếp. Vì rượu chè trác táng quá độ, chết bất tử trong lúc có Thị Lộ hầu bên cạnh. Bọn hoạn quan vốn sẵn ghét Nguyễn Trãi vin vào dịp đó cho rằng ông thù về chuyện "cướp vợ" nên âm mưu đầu độc vua. Kết quả cả giòng họ nhà ông bị giết một cách oan uổng.


Rắn sống chung hòa bình


Không lẽ cứ nói xấu về Rắn mãi. Cũng phải tìm cho ra một "sự tích" hay một hành động khả dĩ có thể gỡ lại chút xíu danh dự cho loài rắn chứ? Khổ nỗi moi óc mãi chỉ nhớ được máng máng một truyện rắn trả ơn. Không biết có đúng chăng? Đại khái có người giúp rắn được việc chi đó, rắn bèn nhả biếu một hòn ngọc quí, hễ ngậm vào thì nghe được tiếng loài vật.
 
Nghe một đàn chim sẻ  chí chóe, anh biết kho thóc của vua bị hư một phía vách, chim chóc đã phá hoại khá nhiều. Anh liền trình tấu cho vua biết. Một lần khác đàn kiến rì rào tính cách chạy lụt vì nước dâng cao. Anh cũng đến báo để vua biết mà đề phòng v.v... và v.v.Có lẽ chúng ta phải tự động hiểu ngầm rằng sau đó anh ta được vua ban chức tước, ruộng đất. Hay muốn ly kỳ hơn thì thêm rằng anh chàng từ chối về sống ẩn dật nơi quê nhà... cho ra vẻ "cổ tích".

Nhiều giống rắn lành như rắn nước, rắn rồng, hổ hành v.v... Một vùng ở miền núi Bắc Trung phần người ta nuôi rắn rồng trong nhà để bắt chuột. Giống nầy mình có nhiều màu rất đẹp, đầu và trên lưng có vi.

Vùng đông Châu Phi có loại rắn mù (blind snake) thuộc giòng Typhlops thường sống chung với giống kiến đàn tên Dorylus, hộ tống cho chúng khi kiến dời tổ. Người ta đã chứng kiến một con rắn đi gần đầu đàn, với vài con kiến dẫn đầu (chắc là những  tên hướng đạo dò đường), một số cưỡi trên lưng rắn. Cả đàn đi sau đó khiêng tổ. Khoa sinh vật học chưa hiểu gì nhiều về giống rắn này. Có lẽ nó là một loại nô lệ chuyên quét dọn rác rưởi và "tiêu thụ" xác chết của kiến trong tổ chúng.

Ở Mã Lai Á có một ngôi chùa đầy rắn độc, vắt vẻo khắp nơi trong chùa. Bực thềm, chậu kiểng, sà nhà, trên bệ thờ... đâu đâu cũng có rắn, mà toàn loại rắn độc xanh lè. Điều lạ là chúng chưa hề cắn ai bao giờ. Nhà chùa phải đài thọ trứng gà, vịt hàng ngày vì chúng nhất định đóng đô ở đó. Người ta gọi luôn là chùa rắn.

Cuối cùng phải nhắc tới một món nhậu đại bổ của dân "ve chai". Một hôm nào đó bạn thấy ở chợ Đuổi hay chợ cũ Hàm Nghi những bác nhà quê thò tay vào giỏ mây lôi ra những con rắn hổ đất còn sống nhăn, mời chào loạn xạ. Hổ đất là loại rắn dữ, họ dám cầm lên bằng tay không như thế vì tay họ đã thoa một loại thuốc ngải, làm rắn đờ đẫn ngây dại, trở nên hiền khô.

Dân nhậu mua về lột da, làm ruột, đoạn bằm thêm gia vị đem chiên lên rồi chén thù, chén tạc. Một giống rắn hổ còn có huyết rất bổ. Người ta treo lên, chặt một tí phía đuôi và hứng lấy huyết vào trong chai đã có sẵn ba-xi-đế. "Bổ hơn bất cứ món rượu bổ nào trên thế giới". - Dân nhậu quả quyết thế đấy!

Và để chấm dứt bài này xin mượn lời "một nhà chuyên môn" nói về món cháo đậu xanh nấu với rắn hổ đất: "... ăn vô rồi mình mẩy nghe mát rượi, đánh một giấc thẳng tấp tới sáng!".

Hấp dẫn chưa!


HÀ TĨNH     

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa Xuân Ất Tỵ, 1965)

__________ 
* Vua Lê Thái Tông ở ngôi chín năm, đặt niên hiệu hai lần: Thiệu Bình (1434-39) và Đại Bảo (1440-42)


Thứ Tư, 7 tháng 7, 2021

CHÚNG NÓ BIẾT CƯỜI HÔN - Hà Tĩnh

 

Trong Việt-nam Tân từ-điển (Trang 224) có chú giải: "Nhếch môi hay há miệng lộ vẻ vui hay có một ý tứ gì khác..." là cười đấy. Sau đó tác giả cuốn Tự điển trên còn phân tách thêm hơn ba mươi cái cười, rồi chấm dứt bằng một cái cười xòa. Đó là nói về cái cười của con người. Con người cười, dù nhiều thật, nhưng thường quá rồi. Tính Hà vốn thích đùa nên hôm nay Hà muốn nói tới những sinh vật, nhưng hổng phải là con người, sống quanh ta, hay ôi, vô khối trong sở thú. Chúng là những con thú, con vật đó mà.

Nhưng, chúng biết cười hôn?

Trước hết xin nói tới một loại cười bẩm sinh.

Tạo Hóa khi nặn ra chúng đã vô tình hay cố ý kéo đường mép ở hai bên miệng, mỏ của chúng nhếch ngược lên. Hình dáng đó không thay đổi kể từ ngày được tạo dựng. Thủy tổ chúng làm sao thì nay chúng vẫn vậy. Mà đường mép "đi lên" là cười rồi đấy. Bạn đi chụp hình, thường cố vận động bắp thịt ở má, để kéo môi lên, khoe cho bằng được mấy chiếc răng sún mới thôi. Họa sĩ muốn cho nhân vật trong tranh có nụ cười, vẫn phải cho nét bút nét dao "hướng thượng". Không tin, bạn cứ hỏi anh "Rờ" Nguyễn của chúng ta, khắc biết.

Nguyên tắc của nụ cười là như vậy, bạn đồng ý chứ? Mà chúng nó đã trót có cái miệng nhếch ngược phải cười. Hay trông giống cười thì cũng rứa! Con Kookaburra (một giống chim bói cá ở Úc Châu) , các giống vịt, cá Heo (Dolphin), Cá Sấu, Rùa, Trâu nước, vài giống Rắn, và một giống Đại Thử ở Mỹ Châu v.v... là một số trong loài đó.

Một giống Cá mang tên Barracuda (hình thù như một chiếc lao, rất hẩu xực) và vài giống Cá Mập, luôn luôn mang một nụ cười bất như ý. Bạn có thể tưởng tượng được qua nụ cười của "một chàng trẻ tuổi" sau khi té đánh "oạch!" một cái giữa sự hiện diện đông đủ của đám bạn khác phái...

Con Mèo nếu bạn nhìn nghiêng và chếch từ dưới lên, lúc bình thường, cũng có vẻ cười lắm. Hoặc những lúc đi đâu về, nó lại xoắn xuýt bên bạn và liếc xéo một cái (vẫn là mèo bốn chân bạn nhớ cho). Ấy là dáng điệu đẹp nhất cho một nụ cười đối với nó.

Một ngày nào đó trong lúc đang nô đùa ngoài vườn, bạn có thể bắt chợt được một nụ cười trên mặt chú Cáo: môi trên dồn về phía sau, miệng há, lưỡi thè dài ra.

Đấy là nói về những bạn không hề biết tới cái món béo bổ là Mộc-Tồn. Hà đây Chúa là hay xực cái món đó lắm. Ăn mãi ăn hoài, đến nỗi nó đã ngấm cái mùi "cầy" từ trong bao tử ngấm ra tới da, đi đâu cứ bị đồng loại của chúng nhảy xổ ra, gầm gừ, đòi xin cho được tí máu chân, Mõm nhe ra, răng nào răng nấy nhọn hoắt, đầu hếch ngược lên, trông mà phát khiếp. Nhưng kìa! Lạ quá? Đến một cỡ nào đó, tự nhiên trông mép nó nhếch lên trông như cười vậy! Gặp trường hợp này, bạn sẽ mừng quýnh lên, như Hà đã từng... như thế nhé? Rồi bạn vội vàng chìa tay ra? Thì Hà đã làm thế, và suýt nữa không bảo toàn được tính mạng bàn tay năm ngón. Giống nhà chó... chó má thế đấy! Nó không chấp nhận cái kiểu "làm anh em" một cách chóng vánh và hời hợt như Tây của Hà!

Ông Wilfrid S. Bronson, nhà vạn vật học người Mỹ, cho rằng phần lớn thú vật không có những bắp thịt riêng để tạo một nụ cười thực sự. Có chăng nữa, thì dưới một lớp lông, vảy... dày cộm, nụ cười không thể biểu lộ rõ như trên khuôn mặt chúng ta.

Một chiều thật đẹp trời nào đó, bạn chợt nổi hứng làm một cú đi dạo. Đến góc đường Pasteur Tôn thất Thiệp, ngang chùa Chà, bạn nghe một tràng cười dòn dã nổi lên đâu đó. Tiếng cười quyến rũ của pha lê đụng chạm. Nàng Bao Tự có đội mồ sống dậy cũng chỉ cười đến vậy thôi chứ gì! Ai cười vậy? Của một cô cà-ri-chà? Và cười với bạn? Tất cả đều "chả phải như thế". Dê đấy, bạn ạ.

Trở lại chim bói cá Úc Châu, cũng như con Hải Âu, chim gõ kiến, cười cũng ra gì lắm.

Một giống đại cồ Vịt, rất giỏi lặn có tiếng cười sang sảng, ngạo nghễ như một lão gàn. Một lần Hà đã lầm khi nghe một con chim kêu (Hà không biết tên. Hình thù cỡ chim cu đất ăn sâu), in hệt tiếng cười của cụ già đang say khói thuốc lào Cái Sắn.

Đêm khuya, mọi người ngủ cả. Mình bạn cắm cúi "gạo" bên ngọn đèn dầu. Bỗng tiếng Cú Mèo kêu lên, văng vẳng trong đêm. Hình như kiến bò khắp người nữa. Vì định kiến và giàu tưởng tượng bạn tưởng Tử Thần đang tới rủ bạn đi chơi! Ông Bronson thì nói, nó giống tiếng cười của mấy bà già... lẩm cẩm. Bạn thử "gan cùng mình" một bữa, lắng nghe xem, kẻo oan cho nòi nhà Cú. Chúng nó gọi nhau đấy.

Rất nhiều giống khỉ có một nụ cười thật đẹp. Và cười đủ kiểu. Chúng có thể cười tủm tỉm làm duyên, hoặc thả cả tràng khoái trá lúc gặp hứng. Một vài giống chi "duyên" khi chúm chím mà thôi, vì khi đua nhau rú lên từng hồi thì cái duyên không còn đâu nữa. Đại tinh tinh (Gorilla), Hắc tinh tinh (Chimpanzee) và một giống Đười ươi lớn gọi là Orang-utang (thấy ở Bornéo và Sumatra) có giọng cười như những cụ già, cười khàn, cười gằn được cả. Chúng không bao giờ la hét om sòm, rộ lên như loài người.

Bạn có thể kiểm lại những lời của Hà trên đây. Hôm rảnh bạn xách xe đạp, mua vài khúc bánh mì rồi vào trong sở thú, trước chuồng nhốt các giống khỉ mà ngồi chờ. Thế nào cũng có con đoái hoài đến bạn, và ban cho bạn một nụ cười! Xin mách nhỏ: nên đi vào ngày thứ Năm, đỡ tốn hai tì vào cửa.


Cuối cùng Hà không thể không nhắc tới một nụ cười bất hủ. Tuy có vẻ thương mại một chút. Đấy là hình ảnh của một chú Bò, ý quên, cô nàng Bò, bạn thường thấy trên những hộp phó-mách. Loài bốn chân này chắc hãnh diện với hình ảnh đại diện đó của chúng lắm, như con người nở mày nở mặt với bức "La Zoconde". Hà tả "cảnh" không được ; bạn ra hiệu bánh mì "kiếm" một bánh, 5đ thôi, đem về mà ngắm.

*

Hà sẽ không chịu trách nhiệm, nếu đọc xong bài này bạn lại đi tìm mấy con như: Chó, giống Bouledogue, Bò: giống Bison ; giống sơn dương Saiga ; cá mặt quỉ Racasse và chim ưng Harpie... để nghiệm lại. Con người còn có những bộ mặt hãm tài trông thấy cù vào nách chưa chắc đã cười được... Huống hồ là những con vật như chúng nó!


Hà -Tĩnh       

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 19, ra ngày 25-7-1964)




Thứ Ba, 7 tháng 7, 2020

SỢI RÂU CỌP - Hà Tĩnh


Lối mòn dẫn đến thảo am của vị ẩn sĩ núi Chư-lây đã biến mất trước mặt nàng, dưới một lùm mây rậm đổ rạp xuống lối đi. Lúm mây lớn quá chạy ngang phía nam. Không thể đi vòng được vì sợ lạc đường, nàng thở dài đưa tay vuốt mặt rồi ngồi bệt xuống đám cỏ tranh. Nàng đi từ canh ba, và bây giờ trời có lẽ đã về chiều. Nắng nhìn như muốn đốt cháy cả bụi mây quái ác. Một lát sau, nàng vùng đứng dậy lại sát bụi mây, rồi nằm rạp xuống giữa lối mòn. Và như một con rắn mối, nàng trườn người tới dưới lùm cây, mắt mở rộng, tay rờ từng gốc cỏ khô, dấu vết của một con đường mòn. Nàng vươn đi như một con rắn trong bóng tối của cây rừng như thế chừng nửa giờ. Đến lúc ngóc đầu dậy được thì kìa! Nàng mừng đến chảy nước mắt! Như một giấc mơ, nàng thấy mái tranh của vị ẩn sĩ thấp thoáng sau những gốc mai già, cheo leo trên sườn núi!

Cả vùng núi Chư-lây này không ai là không biết tiếng vị ẩn sĩ này. Tài chữa bệnh của ông không ai sánh kịp. Thuốc của ông như thần dược, uống đến đâu bệnh tiêu tan đến đó. Lại còn có người nói ông còn chế được cả những loại bùa chú ma quái nữa.

Nàng Vân Ly nghe tiếng đồn về tài chữa bệnh của vị ẩn sĩ núi Chư-lây đã lâu. Chồng nàng sau ba năm chinh chiến đã trở về với một chứng bệnh kỳ lạ. Các vị danh y quanh vùng đành bó tay. Nay Vân Ly quyết tìm đến vị ẩn sĩ để thỉnh thuốc cho chồng, dù nàng được mọi người cho biết là đường lên núi cheo leo, hiểm trở, lại đầy thú dữ...

Bây giờ thảo am đang ở trước mặt nàng kìa! Nàng chạy tới, mắt còn đẫm lệ. Khi Vân Ly vào thì vị ẩn sĩ đang ngồi bên bếp lửa ; ông nói, mắt không rời ngọn lửa:

- Ngươi đến đây có việc chi?

Vân Ly nói, giọng đầy nước mắt:

- Ôi thưa ngài... kẻ đau khổ này tìm đến xin ngài thương mà ban cho một tễ thuốc...

- Phải, phải, một tễ thuốc! Làm sao ta chữa cả cái thế gian bệnh hoạn này với một liều thuốc?

Vân Ly bước tới bên vị ẩn sĩ, sụp lạy:

- Xin ngài... Xin ngài rủ lòng cứu tôi, không thì kẻ này chết mất!...

Đến lúc này, vị ẩn sĩ già mới quay lại, gật đầu:

- Ngươi nói đi, ta nghe. Bệnh thế nào?

Vân Ly đưa tay gạt nước mắt:

Con đội ơn Ngài... Ấy là chồng con... Con không thể sống nếu thiếu chàng... Chàng xa nhà đã ba năm trời. Nay về chàng như bị ai bắt mất hồn. Thỉnh thoảng mới nói được một lời với con. Với người nào khác cũng vậy. Khi con nói, chàng hầu như không nghe được. Đôi khi chàng lại làm rầm rĩ cả xóm làng. Khi con hầu cơm, gặp món ăn không ưng ý, chàng lại hất tung và giận dữ bỏ đi. Một đôi lần đang làm ngoài đồng với con, chàng tự nhiên bỏ lên ngồi trên ngọn đồi, nhìn chăm ra ngoài biển khơi...

Vị ẩn sĩ bỏ thêm củi vào đống lửa, ngắt lời:

- Phải. Ta cũng thấy một vài thanh niên như vậy sau khi ở trận về... nói tiếp đi!

- Thưa ngài không còn gì để thưa cùng ngài nữa. Con xin ngài cho con một chén thuốc cho chồng con, sao cho chàng trở lại thương yêu và hiền lành như xưa kia.

Vị ẩn sĩ vuốt râu cười:

- Ha ha... Dễ quá! Một chén thuốc? Được, ta không tiếc với nhà ngươi. Nhà ngươi hãy về đi, và ba ngày sau hãy trở lại đây. Ta sẽ chỉ cho ngươi những dược liệu cần thiết cho chén thuốc đó. Về đi!

Ba ngày sau, nàng lại băng rừng tìm đến thảo am của vị ẩn sĩ.

- Ta đã đọc kỹ trong mấy cuốn sách thuốc của ta. Bệnh của chồng ngươi có thể chữa được. Nhưng ta nói cho ngươi biết, vị thuốc chính, cần nhất, là sợi râu của một con cọp sống. Ngươi đi tìm cho ta, ta sẽ cho ngươi điều ngươi cần. Ta nhắc lại: râu của một con cọp còn sống. Ngươi nhớ lấy!

Vân Ly kinh hoàng hỏi lại:

- Râu của một con cọp sống? Thưa ngài... làm sao... làm sao con có thể tìm được?

- Nếu nhà ngươi thấy liều thuốc cho chồng là cần thiết, ngươi sẽ thành công. Thôi... ngươi về đi!

Nói xong, ông già quay đầu đi, nhìn vào bếp lửa, không thèm nói thêm nửa lời.

Vân Ly lại xuống núi về nhà. Chân nàng nứt nẻ vì gai, vì đá. Nàng đâu có nghĩ tới. Nàng nghĩ lung về cách làm sao để tìm được một sợi râu cọp cho vị ẩn sĩ. Rồi một đêm có trăng xuống, chờ cho chồng ngủ yên, nàng lẻn ra khỏi nhà với một chén cơm và mấy miếng thịt nướng trên tay. Nàng đi về phía bìa rừng, chỗ cọp thường lai vãng. Đứng ngoài xa, nàng nhìn về hướng hang cọp, chìa bát thức ăn ra, và nàng cất tiếng gọi cọp tới ăn. Tiếng nàng chìm vào rừng cây, lạc trong khí núi. Cọp không thấy tới!

Đêm sau nàng lại đến, và lần này Vân Ly tới gần thêm một chút. Nàng lại chìa bát thức ăn ra, mời gọi. Cứ thế, đêm này qua đêm khác, mỗi lần nàng lại tiến thêm vài bước gần hang cọp hơn trước. Dần dần con cọp cũng trở nên quen thuộc với bóng người xuất hiện mỗi đêm ngoài kia.

Một đêm, Vân Ly tiến sát hang cọp quãng tầm ném của một viên đá. Lần nầy, con cọp ra khỏi hang và tiến lên vài bước về phía nàng, rồi ngừng lại. Dưới ánh trăng rừng mờ ảo, chìm trong một sự im lặng rờn rợn, một người một vật đứng nhìn nhau, không một cử động. Vào đêm sau, cảnh đó lại tái hiện. Nhưng lần nầy, Vân Ly và con cọp đã gần nhau quá rồi. Và Vân Ly đã có thể nói với con cọp vài lời, thật nhẹ nhàng, thật êm dịu và yêu thương. Dưới ánh trăng long lanh, hai tay buông xuôi, tiếng nàng thoát ra khỏi cửa miệng, nhẹ như ru... Đêm sau nữa, sau một lát mà nàng tưởng dài như vô tận con cọp nhìn vào mắt nàng, rồi nó nhẹ nhàng đi tới, từ từ ăn bát cơm cùng mấy miếng thịt trên tay nàng đang chìa ra.

Từ sau đêm đó, mỗi lần vừa qua khỏi bìa rừng, nàng đã thấy bóng dáng con cọp ra đợi nàng ở cửa hang. Lần lần, nó ra tận ngoài lối mòn vào bìa rừng để chờ nàng tới... Nàng mỉm cười nhẹ nhàng ngồi xuống, đưa bát cơm ra. Con cọp cúi xuống, nàng khoan thai đưa tay xoa vuốt đầu nó như một người mẹ nựng con.

Từ ngày gặp con cọp lần đầu đến nay đã gần sáu con trăng. Gần nửa năm trời, nàng đã ngồi cho cọp ăn, vuốt ve, nhỏ to, thì thầm với nó mỗi đêm!

Đêm nay, sau khi con cọp ăn hết bát cơm, nàng ôm đầu nó, nựng nịu:

- Cọp ơi! Ta cần một sợi, một sợi trong bộ râu đẹp của cọp. Ta xin cọp đừng giận ta.

Nói xong nàng nhổ một sợi râu ở mép trên.

Con cọp không nổi xung, nhưng nàng vẫn sợ. Vân Ly trở lại lối mòn và nàng chạy như bay về nhà, với sợi râu cọp nắm chặt trong tay.

Sáng hôm sau, chân mây vừa ửng hồng, nàng đã lên tới thảo am của vị ẩn sĩ. Nàng tung cửa chạy vào và nói như reo:

- Ô thưa ngài! Tôi đã có... con đã có sợi râu cọp! Bây giờ xin ngài có thể cho con ngay chén thuốc như ngài đã hứa, cho chồng con được trở lại yêu thương con và hiền dịu như xưa!

Ông già cầm lấy sợi râu, ngắm nghía. Khi biết chắc đó là sợi râu nhổ từ miệng cọp, ông nghiêng mình tới trước và ném vào ngọn lửa đang cháy trong bếp.

Vân Ly sững sờ kêu lên:

- Ồ, thưa ngài! Tại... tại sao ngài lại vứt nó vào lửa?

Vị ẩn sĩ điềm nhiên hỏi lại:

- Con hãy nói cho ta nghe, làm sao con kiếm được nó?

- ... Mỗi đêm, con vào rừng với một bát thức ăn. Lúc đầu con còn đứng xa xa, sau cứ tiến thêm mỗi đêm vài bước, gợi lòng tin của con cọp. Con nói với nó êm dịu, nhẹ nhàng và làm cho nó hiểu rằng con chỉ tới với thiện ý mà thôi. Con vẫn nhẫn nại. Mỗi đêm con đều mang thức ăn tới, dù hiểu rằng nó không ăn, hay chưa dám ăn. Nhưng con vẫn không bỏ sót bữa nào. Con tới và tới mãi, đêm nào cũng vậy. Con không bao giờ nói to tiếng, không bao giờ quở trách hay than vãn gì nó. Và cuối cùng, vào một đêm trăng sáng, nó tiến lên vài bước gần con. Rồi một lần kia nó và con gặp nhau tại lối mòn, và nó lại ăn trong bát, trên tay con. Con vuốt ve, vỗ về đầu nó, nó gầm lên với dáng điệu sung sướng. Sau đó ít lâu con mới dám nhổ sợi râu!

Vân Ly nói xong đưa mắt vào bếp, rồi lại nhìn vị tu sĩ dò hỏi.

Ông gật đầu, nói với Vân Ly, giọng êm dịu hơn:

- Phải, ta biết lắm. Con đã cảm hóa được con cọp đó, con đã chiếm được lòng tin và tình yêu của nó...

- Nhưng Vân Ly cướp lời Nhưng ngài vừa ném nó vào ngọn lửa. Có ích lợi gì nữa đâu!?

- Không! Vị ẩn sĩ đứng lên, đặt tay lên đầu Vân Ly, tiếp Ta không nghĩ là nó vô ích đâu. Nhưng sợi râu cọp bây giờ không phải dùng tới nữa! Vân Ly, ta hỏi con, con người khó cảm hóa hơn một con cọp sao? Phải chồng con không còn biết đến sự ân cần của con sao? Chàng có lạc mất trí nhớ không?

Con đã lấy những lời dịu ngọt, với lòng kiên nhẫn vô biên của con để cảm hóa được một con vật hung dữ, khát máu. Tại sao con không làm như thế với chồng con? Ta chắc chắn là con phải thành công. Chí kiên nhẫn của con, ta thấy trên đời này có con là một... Thôi con về với chồng con đi!

Vân Ly đứng lặng, không thốt được nửa lời. Rồi như choàng tỉnh trước một giấc mơ, nàng tất tả rời thảo am của vị ẩn sĩ núi Chư-lây, chạy như bay xuống núi. Lối mòn như mở rộng trước mắt nàng. Rộng mãi. Cây rừng nhòa đi, biến mất theo những giọt nước mắt. Và nàng thấy, ở cuối lối mòn hiện ra một mái nhà...


HÀ TĨNH            
Thuật theo cổ tích Đại-hàn

(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa "Con Búp Bê Đẹp Nhất", 1969)

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

BƯƠM BƯỚM - Hà Tĩnh


Từ một nàng tiên...

Và, Astar bỗng kinh hoàng thấy mình nhỏ dần, 
nhỏ dần mãi... Đôi tay của nàng đột nhiên biến mất. 
Thay vào đó là một cặp cánh mỏng manh vừa 
thành hình...

Astar là tên một nàng tiên trong đám hầu cận của nữ thần Tình Ái và Sắc Đẹp, Vénus. Nàng trội hẳn hơn các bạn về đủ mọi mặt, Nhan sắc, Đức hạnh và trong cách cư xử với mọi người, nhất nhất Astar đều tỏ ra là một tiên nữ gương mẫu.

Khổ nỗi vì nàng hơn họ nhiều quá, nên thường bị cả đám bạn xấu bụng ghen ghét tị nạnh. Họ luôn tìm cách ngấm ngầm hại nàng, dựng đứng những chuyện động trời để hòng bêu xấu và "hạ giá" nàng trước mặt nữ thần.

Thần Vénus có một cậu quí tử tên Cupidon mà Bà hết lòng thương yêu. Lại là Nữ thần của Tình Ái nên Bà cần được yêu hơn ai hết. Thế nên, không những Vénus giữ độc quyền quí yêu Cupidon thôi, Bà còn muốn Cupidon không được san sẻ tình yêu cho một ai khác không phải là Bà. Vì thế Bà không bao giờ để Cupidon được giáp mặt các tiên nữ của mình ; đàng khác Bà cũng cấm ngặt các cô không được đỏng đảnh lai vãng gần cung Cupidon ở.

Một buổi sáng đẹp trời mùa xuân, Nữ thần Vénus gọi các tiên nữ của mình đến và truyền lệnh: "Các ngươi hãy ra đồng tìm hái hoa tươi rồi kết chuỗi cho ta. Ai kết được một vòng hoa đẹp nhất, có nhiều thứ hoa quí lạ và đem dâng ta sớm, ta sẽ ban cho một phần thưởng xứng đáng."

Thế là các cô hớn hở túa ra đồng tìm hoa. Astar, lần nữa, lại chứng tỏ là một tiên nữ xuất sắc hơn các bạn bội phần: Nàng là người sớm nhất đem một vòng hoa tuyệt đẹp về dâng cho Nữ thần, khiến Bà vô cùng thỏa mãn.

Đám tiên nữ bạn về thấy vậy, lòng ghen tức lại nổi lên. Rồi cả bọn kéo đến tâu với thần Vénus:

- Thưa Nữ thần, Astar sở dĩ có được vòng hoa đẹp lại mau chóng thế vậy là nhờ có hoàng tử Cupidon phụ giúp. Ít lâu nay Astar đã lén lút gặp Hoàng tử thường ngày, và chúng con thấy hình như Hoàng tử đã quyến luyến Astar nhiều rồi đó, thưa Nữ thần...

Chỉ nghe đến đó là vị thần Tình Ái đã nổi lôi đình: "Con này to gan cả mật thực! Dám đi ăn cắp cả Tình yêu của ta!" Và không kịp suy nghĩ bà hét triệu Astar tới.

Astar bỡ ngỡ bước vào. Nàng đứng lặng không dám hé môi trước cặp mắt phừng phừng lửa giận của thần Vénus.

Và, Astar bỗng kinh hoàng thấy mình nhỏ dần, nhỏ dần mãi... Đôi tay của nàng đột nhiên biến mất. Thay vào đó là một cặp cánh mỏng manh vừa thành hình...

Nữ thần Vénus đã phạt Astar hóa thành con Bướm! Nhưng sau đó Vénus đã trang điểm cho đôi cánh bướm những màu sắc lộng lẫy, đẹp như vòng hoa Astar đã dâng mình, để thưởng công cho nàng. (*)

Nếu bạn muốn hiểu theo thần thoại La Mã thì loài Bướm ra đời từ buổi đó. Đến nay thì, nhờ trời, con cháu chút chít của Astar đã lan tràn khắp mặt địa cầu. Ở đâu có một bóng cây, có một ngọn cỏ thì bướm có mặt ở đấy. Từ non một phân chiều ngang đến những cặp cánh dang rộng 30 phân tây, thuộc nhiều loại Bướm ngày, Bướm đêm với đủ hình thể và màu sắc mà không một tay nào ở thế gian pha chế được. Giữa rừng hương sắc lộng lẫy đó, các nhà côn trùng học đã phải bù đầu nhiều năm mới chỉ liệt kê được chừng 125.000 gia phả nhà Bướm. Cũng may giòng giống Astar đều hiền hòa cả, nếu không muốn nói thêm là có ích vì Bướm luôn mang cái ĐẸP đến trang điểm cho thiên nhiên tươi mát quanh ta.

Từ đầu Xuân, Bướm rời các "tổ ấm mùa đông" về đón Xuân giữa trăm hoa. Rồi Bướm tản mát dần để tránh những trận mưa rào nặng hạt mùa hè...


Đời bướm vắn, nhưng nhiều thay đổi.

"Con chạy lại nong dòm kỹ thì thấy nó cựa quậy và lạ quá...

- ...

- Nó đã rụng hết lông đen, và bây giờ nó vàng mướt đẹp lắm.

- Tao đã bảo mà. Nó là tiên, nó lộn kiếp. Biết đâu nó lại sẽ không hóa ra một hoàng tử".

"NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐẺ"
Sách Hồng của Bình Nguyên Lộc

Trên là xen đối thoại giữa một cung nữ, Cẩm Nhung, và Hoàng hậu Ái Mỹ khi cung nữ này khám phá ra sự thay đổi kỳ diệu nơi con tằm sau giấc ngủ "ăn mốt". "Nó" không là hoàng tử hoàng tôn nào cả, sẽ là một giống Bướm nếu nàng Cẩm Nhung nào đó đừng tưởng bở: Nàng đã nhúng chiếc kén vào chảo nước sôi với một hy vọng sẽ "giải thoát cho một hoàng tử đẹp trai khỏi ách đọa đày", rồi nàng sẽ... phỗng tay trên thiên hạ...

Kết quả nàng "chỉ thấy một con bọ dị hợm, chết queo vì phỏng nước sôi! Quả nàng đã "giải thoát" cho một kiếp sống đau khổ, ấy là kiếp tơ tằm.

Để truyền sinh nòi giống, tất nhiên loài Bướm không thể cứ được "hóa phép" một cách đơn giản và ngon lành như trong thần thoại La-mã. Cũng như con cháu Evà, dòng dõi Astar từ khi có mặt ở đời đã phải đương đầu với mọi hiểm nguy để mà tranh sống. Trên đường từ miền nam trở về cố hương vào đầu xuân, Bướm mẹ rải rác "gửi" trứng vào các loại cây riêng, để khi con sâu non thoát ra từ chiếc trứng sẽ vừa có sẵn lộc non của cây để xực. Như những đứa bị bỏ đói lâu ngày, chúng ăn dữ thần, ăn "chẳng thà hư bụng mình hơn là phí của trời cho". Nhưng tuổi này cũng là giai đoạn nguy hiểm nhất cho sự sống còn của loài Bướm. Hiện tại chúng chỉ là những con sâu không hơn không kém. Thân xác không lấy chi làm mỹ miều cho lắm thế mà tên chúng lại đứng đầu trong bảng thực đơn của rất nhiều thứ bợm nhậu. Một bữa điểm tâm cho gia đình vành khuyên hoặc sáo sậu, hay bữa cơm chiều của một chú nhện, cũng là chúng cả!

Sống trong tình trạng nghẹt thở đó từ mười ngày đến hai tuần lễ, sâu lại đã qua một tuổi. Và cuộc sống ẩn dật khởi đầu. Những lộc non ăn vào từ mấy ngày qua, một phần giúp sâu lớn lên, phần khác biến thành một dung dịch nước dẻo có tên là Fibroin, sau này sẽ thành tơ chứa trong hai tuyến riêng biệt ở bụng. Lớn đầy tuổi thì sâu bắt đầu nhả tơ ra qua một tuyến rất nhỏ ở môi dưới, bền cứng lại khi gặp khí trời. Sâu sẽ tự quay mình, tiến, thối để dệt tơ thành một chiếc kén, xong tự nhốt mình trong đó. Màu sáp ong phớt xanh, điểm vàng óng ánh, kén là một tuyệt phẩm của bất kỳ một giống bướm nào. Riêng kén tằm được kéo sợi dệt thành lụa là một sản phẩm rất quí trong ngành dệt của nước ta.


Khi một nhà triết học nằm mơ...

Lòng cụ già rối bời như mớ tơ vò: "Ta vừa mộng hóa Bướm hay chính Bướm đã biến thành cái TA đang ngồi đây?"


Từ đây Sâu đã có thể chắc mẩm về tuổi thọ của mình được. Căn nhà mới có thể chịu đựng nắng mưa bão táp dễ dàng, và nhất là tránh thoát khỏi những cái miệng háu ăn của loài nhện, loài chim. Sâu lộn đầu xuống, và yên trí ngủ vùi...

Nhắc đến ngủ lại chợt nhớ tới câu chuyện Trang Sinh đời Xuân Thu bên Tàu. Trang Sinh cũng ngủ vùi vào một đêm nào đó, được thiếp vào một giấc mộng kể là khá đẹp vậy: Họ Trang mơ thấy mình hóa thành con bướm (trắng) bay bổng nhởn nhơ nhàn hạ giữa ngàn hoa. Bướm "Họ" Trang đi về cái thế giới nào trong mộng thì không biết, nhưng khi tỉnh giấc mơ hoa thì họ Trang thấy rõ ràng là mình đang ngồi trước án thư, đêm vẫn chưa tàn. Có lẽ tiếc vì giấc mộng đẹp, cộng với đức tính trời cho riêng những nhà triết (là hay lẩn thẩn thắc mắc cả những cái lẩm cẩm nhất đời) lòng cụ già họ Trang bèn rối như một mối tơ vò: "Ta vừa mộng hóa Bướm hay chính Bướm đã biến thành cái ta đang ngồi đây???"

Sâu thì không thế. Nếu phải thắc mắc rắc rối như cụ già họ Trang thì Sâu đến phải nổ tung cái đầu nhỏ bé này ra mất! Sâu quên hết sự đời để ngủ một giấc quan trọng. Sâu không ăn, không nhìn, không ngửi nữa. Hơi thở cũng chậm xuống nhiều, và cử động duy nhứt là những cái giựt mình thưa thớt.

Nhưng thân thể sâu vẫn âm thầm biến đổi, những biến đổi lớn lao sau cùng của một đời Bướm, vì sâu sắp thoát xác thành con Bướm, thành "người lớn". Những cặp chân giả sẽ rụng hết, lông mình cũng biến mất, cặp cánh non đang thành hình, Sâu sẽ đắc đạo sau một tuần, 12 ngày hoặc vài tuần khổ tu.

Một cánh Bướm non sẽ cắn kén vươn ra dưới ánh nắng hạ. Cánh Bướm chưa dang rộng được và thân mình có lẽ còn to quá khổ. Ít lâu sau cứng lại, nhựa sống từ mình chuyển qua các mạch máu ra tận đầu cánh... Bướm lớn mau trong khi cánh chớp lia lịa...

Bây giờ Bướm đã sẵn sàng để tung đôi cánh nhung muôn màu, đầu hướng về phương Bắc...


Bướm về miền Nam

Những cuộc di cư vĩ đại, có định kỳ lũ lượt kéo về miền Nam.

Chúng đi tìm tổ ấm.

Non một trăm cây số phía Nam, thành phố Cựu-kim-sơn (Hoa kỳ) tại một vùng tên Pacific Grove có những cây cổ thụ đã biến thành những "biệt thự mùa đông" của hàng ngàn vạn cánh bướm. Từ 60 năm qua những khách trú mùa đông này không hề để trống "nhà" một năm nào cả. Bướm về đó hầu như chỉ để ngủ, và ngủ suốt ba tháng trời (những ngày nắng đẹp, không nhở nhơ thì phí của...). Với những "cây bướm" đặc biệt đó, vùng Pacific Grove đã thu hút được rất đông du khách. Ban đầu họ thường lấy đá liệng vào cây để được nhìn một hoạt cảnh thật ngoạn mục: Cả ngàn cả vạn mảnh màu sắc bay lên tua tủa, lượn lờ quanh cây... Sau, nhà cầm quyền địa phương phải cấm ngặt, có sẵn luật hẳn hoi để giữ một nguồn lợi cho thị dân (thuế nhập thị của du khách phải đóng v.v...). Nếu Bướm cứ bị phá giấc ngủ mãi thì chúng sẽ kéo nhau bỏ đi, du khách còn đến đấy làm chi nữa...

Bướm kết đoàn kéo về Nam từ cuối hạ sang thu. Thế hệ này là con cháu của lớp đã di cư từ mùa thu năm ngoái, vì trên đường về Bắc, Cha mẹ Ông bà nội ngoại của chúng đã chết dần chết mòn sau khi đẻ trứng rải rác dọc đường. Chỉ một số rất ít về tới miền Bắc (Bắc Hoa kỳ, đến biên giới Gia Nã Đại...) để nhìn lại quê hương vào mấy tháng xuân rồi "an giấc" luôn ở quê nhà.

Bây giờ con cháu họ đang trên đường về Nam, từng đàn, từng lũ vào những ngày nắng ấm. Có lớp đã trải qua một đoạn đường dài hơn 3.500 cây số từ Gia Nã Đại xuống tới những "Cây Bướm" ở Pacific Grove thuộc tiểu bang California. Chúng lại ngủ ở đó suốt mùa đông ; và khi xuân đến, rời cây, đẻ trứng trên đường về. Ông bà bướm nào khỏe lắm về tới quê thì đôi cánh đã tơi tả, hương sắc đã phai tàn rồi.

Đến ngày nay có những thắc mắc chưa một nhà côn trùng học nào giải thích được: Làm sao bướm tìm thấy những "Căn nhà mùa đông" cũ của Ông Cha, vì "Các cụ" đã "xanh mồ" trước khi chúng trẩy về Nam? Nhiều tài liệu lại cho biết, trong năm, Bướm đã họp đàn kéo về một phương và đúng vào một mùa nhất định.

Ai, cái gì, đã bảo cho Bướm bay đúng hướng và đúng ngày giờ? Tất cả còn nằm trong bí mật của thiên nhiên rộng lớn quanh ta.

Vậy, bài này cũng hết lý do để mà kéo dài thêm nữa.

------------
(*) Kể theo tài liệu của anh Trọng Đức.


Hà Tĩnh    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 27, ra ngày 25-4-1965)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com