Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Khương Thái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Khương Thái. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2024

ƯỚC MƠ CỦA CÂY BẰNG LĂNG - Phan Khương Thái

 

Cây bằng lăng tỉnh giấc bởi những nhát búa đẽo đau đớn. Các ông thợ làm nhà vẫn thản nhiên vung mạnh vót cho nhọn đầu các cây cừ. Các bạn của bằng lăng bây giờ đang nằm rải ra dưới mặt đường nhựa, sát bờ lề và sân xi măng. Họ đang run sợ nhìn cái chân độc nhất của cây bằng lăng đang được kê lên một khúc cây cao su. Chẳng khác nào một tội nhân được đưa lên đoạn đầu đài, nhưng ở đây "đao chém" là hạ xuống chân của cây bằng lăng. Ngọn cây bằng lăng tức phần đầu của thân thể cây bỗng tưng tưng lên vì sự va chạm đau điếng của khúc chân dưới khi tiếp xúc với lưỡi búa bén ngọt. Cây bằng lăng bàng hoàng nhớ lại phút giây kinh hoàng hôm nào lúc còn sống trên rừng với mẹ cha, với anh em, với bà con, với bạn bè...

Cây bằng lăng và thân nhân đã bị loài người bắt cóc. Thợ rừng dùng rìu, búa và lưỡi cưa đốn nhẵn nhụi một góc rừng già. Bây giờ cây bằng lăng lại chịu thêm đau đớn cực hình như thế nữa, không biết ngày mai ra sao (?)

Cây bằng lăng được chở bằng xe be, xe hàng... về các trại cưa. Người ta lựa chọn, phân tán và bán cây đi mọi nơi, về các vựa bán vật dụng cho việc xây cất nhà cửa. Ôi, kể làm sao hết bao chuyến đi phiêu lưu, kinh hoàng. Cây bằng lăng chịu không biết mấy lần rêm mình, ngột ngạt, và đè ép, mất thở mỗi khi nằm từng đống lớn với các nạn nhân như mình.

Cho đến khi chủ nhà mang về đây. Bị quăng mạnh xuống đất đầu tiên, cây bằng lăng đã ngất đi với giấc ngủ dài hơn một hôm. Giá mà cây bằng lăng ngủ luôn cho rảnh nợ, cho an tâm mà đưa hồn phiêu lưu về xứ sở. Vót nhọn đống cừ độ hai mươi đứa xong, mấy ông thợ làm nhà mang từng đứa xuống cắm ở bờ sông. Thì ra chủ nhà cất thêm một khúc nhà sàn, lấn thêm, ăn gian thêm gần nửa con sông. Con sông tò mò dừng lại, giòng nước đứng (vì sắp đổi chiều) gom lại gần cây bằng lăng và các bạn như có ý hỏi:

- Mấy anh từ đâu đến, sao lại định cư ở đây? Đi chơi khắp nơi như chúng tôi có phải thú và tự do không.

- Tự do!?!

Cây bằng lăng thốt lên được hai tiếng tự do thì xịu mặt xuống. Hình như cây bằng lăng sắp phải sống đời tù chung thân rồi đây. Hai mươi đứa bị ghim chặt xuống lớp bùn nhầy nhụa đen thui. Phía trong, dãy cừ bằng xi măng cũng ngạc nhiên nhìn bọn ma mới. Chúng có ý ganh ghét nọn bằng lăng đến đây chia xẻ công lao đội cái nhà trên đầu của chúng. Một cây bần đắng trong nhóm hai mươi đứa vì quá ốm yếu nên đầu đít đều như nhau, khó mà phân biệt. Mấy ông thợ lại nhè đầu cây bần đắng mà gọt mà đẽo. Cái đầu cây bần đắng bị gọt trọc lóc như nhà sư. Rồi nhọn dần và trụi lũi như sừng ác quỷ. Thế là cây bần đắng bị chôn ngược đầu, gốc quay lên trời, cái cẳng độc nhất và lêu khêu đã bị cưa phẳng lì. Còn nỗi thống khổ nào hơn khi bị chôn đứng mà lại bị chôn từ đầu trước. Cái chết sẽ không đến từ từ mà chính là cái chết đau thương tức tưởi. Dù không thuộc các loại danh mộc để làm vật dụng tốt đẹp như bàn, ghế, tủ, nhà cửa, vách gác... họ hàng nhà cừ cũng hữu ích không kém. Vì họ hàng nhà cừ là những kẻ mạnh mẽ chịu đựng được mưa gió, sóng cả, sông sâu... Họ hàng nhà cừ ngâm nước có thể sống dai thêm được khoảng từ ba đến năm năm tùy theo sức chịu đựng của từng loại cừ. Dù rằng từ chân đã bị cắt đứt những liên hệ của dây mơ rễ má chằng chịt ngầm dưới đất để rút chất bổ dưỡng nơi cây.

Bốn mươi tên cừ sạn nằm sắp hàng bên trong. Cứ từ bờ đi lần ra mấy đứa thấp đứng trước, mấy đứa cao giò đứng sau. Mấy tên cao giò cà khịa với tụi bằng lăng:

- Ráng lên đi mấy chú, mấy chú ở đây chơi với "qua" cũng khá lâu, nhưng tội nghiệp mấy chú sẽ bị mục và gãy trước "tụi qua" đây. "Tụi qua" đứng đây vững chãi, và ngay ngắn muôn đời. Tụi qua là những lực sĩ có bộ xương bằng giàn sắt cứng.

Thế rồi tụi cừ sạn cười thích thú khi tụi bằng lăng bị các ông thợ làm nhà hì hục dộng cừ. Các ông vừa làm vừa hô ăn nhịp:

- Một, hai, ba... Một, hai, ba... xuống.

Cây bằng lăng và các bạn đã bị chặt trụi tay chân, không thể ôm lấy cái đầu đau nhức được. Đứa nào cũng thét lên từng chập theo nhịp dộng cừ. Chân chúng nó lún sâu xuống, xuống mãi và có lẽ chạm phải vùng đá tảng thì các ông thợ mới ngừng tay. Cây bần đắng bạc phước đã chết sớm, không còn trò chuyện với anh em được nữa. Cây bần đắng còn lại khóc than không tiếc lời:

- Em ơi là em! Ngày nào anh em mình lưu lạc có nhau, cùng chia xẻ hoạn nạn, nay đành chia tay mỗi đứa một cảnh đời. Em đã bỏ anh với kiếp cô độc.

Cây bằng lăng an ủi:

- Thôi anh đừng buồn, ai cũng có số cả. Từ nay anh có những mười tám đứa bạn còn lại cũng vui chán. Tôi cũng một thân trơ trọi như anh, chúng mình dễ cảm thông nhau hơn.

Tụi ngành ngạnh, kiềm kiềm, săng đục, săng đá, cốc (chính là cây cốc trên rừng, không phải cây cốc cho ta trái cốc chua ăn với muối ớt), không góp lời nhưng đều ngầm bày tỏ ý thuận tình.

Từ nay cây bằng lăng, bốn cây săng đục, bốn cây săng đá, bốn cây ngành ngành, ba cây kiềm kiềm, hai cây cốc, cây bần đắng và ba đứa em bị chôn ngược cùng nhau đoàn kết, nương tựa, dìu dắt nhau chống đỡ sàn nhà sắp sửa lát bên trên. Chúng với những cơn nhức đầu vì cứ bị nện bằng khúc gỗ me lớn nên đứa nào cũng bất tỉnh. Giòng sông chứng kiến đầu đuôi, xong việc đã bỏ đi. Giòng nước ròng và đứng yên giờ lại chảy ngược. Nước bắt đầu lớn... Nước lớn dần, về chiều tiếng chim bìm bịp kêu nghe buồn ảo não. Mấy ông thợ gác đà dọc, đà xuôi, đóng đinh chắc chắn xong đã ra về, vì nước lớn và tối trời không thể tiếp tục công việc được.

Tụi cừ cây gọi chung là cừ dòng thức dậy bởi tiếng chèo khua trên sông. Cây săng đá đầu góc trái ngoài cùng bực mình gắt với cây dầm:

- Nè đụng vừa vừa chứ, sáng sớm không để cho người ta ngủ.

Cây dầm mỉm cười:

- Xin lỗi, tôi mới chạm nhẹ mà. Tại ông già bán rau muống này chèo yếu, phải chống tôi (cây dầm) vào anh (cừ săng đá) chứ tôi đâu muốn đụng chạm.

Rồi cây dầm lại lướt nước đi theo nhịp chèo của ông già bán rau muống. Ông già vừa chèo vừa vẹt vài miếng rác trôi lều bều trên sông văng về phía sau. Cây săng đá không thể nào né tránh được, bị một miếng giấy dơ chụp vào lưng. Cây săng đá rùng mình, cái vỏ xù xì càng xù xì thêm, tờ giấy vẫn khó mà rơi, chừng nào khô nước hẳn hay. Con chó đen của chủ nhà chạy xồ ra, dừng bên mé sàn cũ sủa tiếng rao của ông già đang loang dài xa xa:

- Rau muống đây... Ai rau lang...? Rau muống tươi đây...

Quấu quấu... quấu quấu... Ông già này la um xùm hà.

Có tiếng chủ nhà mắng chó:

- Xù, đi vô, sủa bậy hoài.

Mấy ông thợ lục tục kéo sang, tay mang đồ nghề nào là kìm, búa, cưa, đinh, đục, xà beng, bàn bào, dao, đá mài, rìu giũa v.v... cũng bày đặt rầy con xù:

- Ê! Chó, quen nghe, đừng cắn ẩu.

Rồi chủ nhà ông ấy quát chó đi vào trong. Hai ông thợ bào sơ lại mấy cây đà. Mấy cây đà ngang khoan khoái khi có người làm cho mình ốm bớt. Mấy anh cho rằng không có gì thích thú bằng tấm thân gọn gàng, bốn cạnh láng bon và nằm ngay ngắn.

Có thế mới nằm yên trên đầu của tụi cừ dòng được chứ. Mấy ông thợ đặt lên trên đà ngang mười tám tấm ván, dày có mỏng có. Mấy tấm ván này đã chết khô tự lúc nào nên đà và cừ không biết tên bạn mới. Ôi! Từ đây cừ và đà phải sống cạnh mười chín cái thây, của ván và cây bần đắng. Phải giàu nghị lức lắm mới đủ can đảm sống, mà giúp ích cho loài người.

Hơn ba hôm thì cái chái nhỏ phía sau nhà cất xong. Từ nay tụi cừ dòng và mấy cây đà khỏi lo chuyện "dầm mưa dãi nắng", đã có vách, có nóc nhà lo chống đỡ bên trên. Cừ dòng và đà chỉ có phận sự gồng mình phía dưới, trổ hết thần lực gánh lấy "giang sơn mới".

Suốt thời gian dài đăng đẳng sống kiếp nô lệ tù đày cùng các bạn, cây bằng lăng thường mơ ước được về rừng. Để có chết thì cũng còn bỏ thây nơi quê cha đất tổ chứ không như cây bần đắng. Nhưng làm sao thoát ly, cưỡng chống lại số phận đã an bài. Suốt thời gian làm cái công việc vô vị ấy đã có biết bao nhiêu là chuyện xảy ra trên giòng sông vắng. Mấy cây săng đá và mấy cây săng đục đứng ngoài cùng không ưa lúc nước lớn. Tụi ấy cứ mong nước chảy đi luôn đừng trở về để chúng được khô ráo sạch sẽ. Nhưng thủy triều mà, cứ hết nước ròng lại lớn. Giòng sông cứ đi đi lại lại, chọc tức cây săng đục và săng đá. Thỉnh thoảng sông còn cọ quẹt tụi cừ dòng nhờ những luồng sóng nhỏ của xuồng máy gắn đuôi tôm chạy vút qua. Bốn cây săng đục lầu bầu mắng nhiếc. Vốn nghề cau có của tụi chúng đó mà. Cho chúng đứng ở ngoài cùng cách biệt với dãy cừ sạn mà đôi khi chúng vẫn cố cãi lộn cho bằng được. Cây săng đá có đứa còn đòi uýnh nhau với cừ sạn xem đứa nào rắn chắc hơn. Đúng là quen thói rừng rú, hoang sơ. Giòng sông có dưới tay lũ em út là rác rưới, giòng sông còn cho cá, ốc, hến mướn chỗ ở... Nhưng hình như chỉ có cá thác lác, hến, và vài chú cá trê nghèo là còn ở lại mà thôi. Giòng sông chứa quá nhiều bọn lưu manh, nào là giấy rác, hộp lon, dây thung, củi mục, rau rác, vỏ trái cây, hộp các tông,... ôi thôi! Đủ thứ vật dụng phế thải, có cả chiếu manh, nệm lủng... xác chuột chương và xác chó sình trôi lén lút. Nghĩa là giòng sông quá dơ và hôi thúi. Thế mà tụi săng đục và săng đá cứ thích nước ròng, để hửi mùi tanh tưởi dậy lên từ những bọt bùn của cá bảy màu, của hến... Tụi cá bảy màu và tụi cá lìm kìm, cá lòng tong thường than nghèo với giòng sông và cứ khất nợ mãi. Tụi cá thòi lòi thì than ngược, không nhận ở lậu. Chúng bào chữa rằng:

- Tụi này sống trên bờ không hà. Nào xem tụi này leo cừ đây. Thấy chưa tụi này đi bằng hai cái vây hai bên.

Nhưng đợi giòng sông vô tình làm nước lớn lại và đi sâu vào trong, tụi cá thòi lòi khoái tỉ đùa nhau nhảy xuống sông tắm táp. Chán chê chúng lại chui vào hang một cách tự nhiên. Chúng lạm nhận bãi bùn và giòng sông là nhà của chúng quen rồi. Còn giòng sông cũng khá dễ chịu cho họ nhà cừ: cừ cây, cừ sạn... mặc tình trú ngụ. Mà không đồng ý sao được với ý định của loài người muốn làm gì thì làm.

Ngày lại ngày, đêm lại đêm, tụi cừ dòng buồn tênh đứng hoài trên giòng sông siêng năng, với nước thủy triều cứ mãi lên xuống. Quanh đó nhà sàn cũng khá nhiều. Tụi cừ dòng bị chôn chân một chỗ không tiện đến thăm hỏi cùng nhau. Bầy cá bảy màu hay vượt nước, lội quanh tụi cừ tuy nhờ vào cừ cản bớt sức nước chảy, lại rất xấu bụng, không con nào chịu liên lạc tin tức gì giùm cho tụi cừ đứng cách xa nhau. Bốn cây săng đục và bốn cây săng đá lúc nào cũng quạu quọ gây gổ với rác rưới lỡ chạm phải chúng.

Cây bằng lăng phải khuyên can mãi. Thời gian sao mà dài thậm thượt. Cây bằng lăng nhớ lúc ở trên rừng sống đời thiên nhiên vi vu hòa ca cùng gió, cành lá rậm rạp là những cánh tay, tha hồ vung vẫy trong không gian vô tận. Bây giờ buồn quá đi thôi. Tấm thân xù xì của cây bằng lăng và các bạn, phần thân thường ngâm dưới nước lại phủ thêm lớp rong rêu xanh xám tang thương. Bọn trẻ con loài người khi bơi lội rất ngại khi phải bám víu vào chỗ có rong rêu trơn trợt đó. Cây bằng lăng thì thích có nước lớn để có lũ trẻ đùa giỡn, cút bắt xung quanh, luồn lách qua lũ cừ cho cuộc đời bớt tẻ nhạt. Dù sao cây bằng lăng vẫn thèm nghe những chuỗi cười trong trẻo hơn là những lời thì thầm than thân trách phận của các bạn.

Mấy hôm nay, lũ trẻ không dám tắm sông nữa. Hôm trước có một chú rắn nước ốm tong teo. Chú ta đi lạc đến đây và ngừng lại. Chú ta mệt mỏi quấn quanh cây ngành ngạnh. Cây ngành ngạnh không thuận tình nhưng hơi hãnh diện với chiếc vòng thân rắn quấn quanh lủng lẳng. Lũ trẻ sợ rắn, dù rắn nước hiền khô không có nọc độc và không cắn ai bao giờ. Chú rắn nước ăn cá nhỏ, bầy cá lòng tong, cá lìm kìm, cá bảy màu... thì đã đi xa chỗ đó tránh tai họa. Chúng chỉ trở về lội tung tăng quanh tụi cừ dòng khi nào chú rắn nước tiếp tục phiêu lưu. Lũ trẻ hãy còn mang ấn tượng có rắn dưới sông, nên chắc lâu lắm chúng mới dám xuống sông tắm. Cây bần đắng, cây kiềm kiềm, cây ngành ngạnh cũng rất thèm nghe tiếng cười giỡn của trẻ thơ. Chỉ trừ mấy cây săng đục và săng đá, các cây này không muốn ai rờ rẫm vào mình cả. Mấy cây cừ sạn phía trong nom bộ dạng cục mịch của cừ săng đục và săng đá mà ngán thầm. Mấy cây đà nằm trên cứ xúi cho tụi cừ ghét nhau và đánh nhau, nhưng còn lâu tụi cừ mới xáp lại gần được. Thế nên mãi mãi các cây cừ đứng cách khoảng nhau đều đặn, hàng ngang một thước rưỡi và hàng dọc một thước. Đứng như vậy rồi tức tối nghinh ngó nhau mà thôi.

Một năm trời qua mau, đối với tụi cừ, chúng xem lâu hằng thế kỷ. Lớp rong rêu bám quanh cừ đã dày thêm và có lẫn bùn đất. Cây cốc thường than van ngứa ngáy với tụi ốc nhỏ sống bám. Đôi lúc có đàn vịt được cô bé đi chăn trên xuồng lùa qua, chúng rỉa rói, chúng gãi ngứa giùm lũ cừ làm tụi cừ sung sướng. Cây bần đắng bỗng một hôm phát giác ra những mầm lá non xuất hiện gần cái đầu bằng phẳng của cây bằng lăng. Có lẽ mấy con còng gió, mấy con ốc nhỏ ngày nào đã bò lên làm dính nước. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt đã giúp cây bằng lăng nhô lá non. Nhưng những lá non nhô ra một cách khó khăn này trông như "ráng" bám trên cây bằng lăng lúc sống trên rừng. Nhưng các cây ngành ngạnh, cây kiềm kiềm, cây cốc, cây săng đục, cây săng đá... đều trầm trồ khen ngợi. Chúng cũng muốn có lá non như cây bằng lăng vậy. Lũ cừ sạn thế là thêm một lý do để ghen tức. Muôn đời cừ sạn chẳng lú được cái lá cỏn con nào.

Một năm... rồi một năm nữa trôi qua với nhịp sông chảy hoài buồn thiu. Chùm lá đã rậm quanh đầu cây bằng lăng. Cây kiềm kiềm có đứa cũng vươn cành lá cằn cỗi ra từ năm vừa qua. Nhưng cây bằng lăng buồn vì lá lớn chậm lắm kia. Những cái lá và cành dai dẳng cũng mang vẻ thờ ơ với đời mới tù túng không có gió đu đưa. Những chùm lá của cây bằng lăng, của cây kiềm kiềm, cây cốc, cây ngành ngạnh trò chuyện với nhau. Không biết ai nói cho chúng nghe, mà chúng cứ ước mơ được về rừng. Về rừng như ý nguyện của cây bằng lăng. Mấy cây săng đục và cây săng đá cứng lắm không có lá mọc ra đã bỏ tính cau có. Chúng nhận thấy chúng chả hơn gì tụi cừ sạn bên trong. Giòng sông càng ngày càng ngầu đục và dơ dáng thêm lên. Mưa gió từng mùa hay đùa chơi cùng sông gây ra những đợt sóng nhỏ. Khi nước lớn những đợt sóng nhỏ nhảy tung tăng rửa ráy cho các chùm lá khô khan đã sống thiệt tài tình. Mưa lũ, nước cuồng đã rủ rê, kéo giựt từng giề lục bình từ nguồn trôi xuống. Cứ mưa là có từng giề lục bình dại dột theo sông đi phiêu lưu. Chúng sẽ theo nước ròng mà chảy hoài, ra sông lớn, đổ vào sông cái, rồi ra biển mà tan rã mất thôi.

Có một giề lục bình kia rất rậm đám, bị sóng của xuồng xô đẩy trôi dạt vào phía trong và ngang nhiên bám vào tụi cừ dòng. Chúng to và rộng gần ba thước vuông nên mắc kẹt vào cây bần đắng và các cây săng đá, cây săng đục. Chúng cố vùng vẫy nhưng càng thêm vướng vào cây cốc và cây bằng lăng. Cây ngành ngạnh và cây kiềm kiềm tự an ủi rằng nước lớn thì giề lục bình sẽ trôi đi. Khốn thay giề lục bình vướng hẳn vào đám cừ dòng. Nước ròng thì nó chìm xuống, có khi tòn ten như đưa võng. Nước lớn nó lại nổi lên. Cây bằng lăng chợt thấy giữa đám rác rưới cũng mắc kẹt vào lục bình vài cái hoa tím mỏng manh. Cây bằng lăng cũng sinh ra hoa tím và đẹp hơn hoa tím của lục bình nhiều.

Xác một con heo con chết sình cũng tắp vào giề lục bình và kẹt cứng ngắc. Hai hôm rồi nó tỏa mùi nồng nặc khó chịu cho lũ cừ dòng. Mấy cây săng đá và săng đục đổ thừa nguyên nhân bởi giề lục bình:

- Ở đâu mà đến ăn bám ở đây, mất vệ sinh quá đi thôi.

Giề lục bình không biết nói sao vì chính nó cũng cố trút cái của nợ là xác con heo trôi đi đâu cho rảnh. Chỉ có cây bần đắng đứng ngược đầu và mười tám tấm ván là không có cảm giác gì. Chứ mấy cây đà cũng ngán mùi hôi. Mùi hôi thối lách qua kẽ ván chui lên xông vào lỗ mũi của gia đình chủ nhà. Họ tìm cách lấy cây đẩy xác heo và giề lục bình ra giữa giòng sông. Nhưng thật là khó xoay trở. Giá mà có ai nhảy xuống kéo chúng ra bằng tay. Thế rồi lũ bé con được mướn, đứa nào cũng có hai chục đồng để vừa tắm sông, vừa lôi giề lục bình lẫn xác heo chương. Lâu ghê cây bằng lăng mới nghe lại tiếng cười đùa của trẻ thơ. Giề lục bình hoan hỉ sút từng mảng và trôi ra giữa giòng nước lớn. May quá chúng theo nước lớn mà về nguồn. Rác rưới tan rã trôi lẻ tẻ theo sau. Xác con heo sình chương như còn nấn nuối chỗ ngụ an lành. Phải chờ lũ trẻ bịt mũi, lấy cây đẩy mạnh, xác heo mới chịu lững lờ trôi. Lũ trẻ reo hò sung sướng. Mấy cây săng đục và cây săng đá lại một phen bực mình khi lũ trẻ rượt bắt nhau, chúng dùng chân tống vào cừ, búng mình lội giỡn, cười nắc nẻ. Vì thế mấy cây cừ dòng rung rinh làm lắc lư giàn cây đà bên trên.

Thằng bé con chủ nhà lội đến cây bần đắng đứng lộn đầu. Nó ngạc nhiên khi thấy cây bần đắng đã mục từ lâu. Nó dùng tay lay mạnh, vỏ cây bần đắng xấu số vỡ ra, rơi lả tả. Lũ mối túa chạy lên giàn cây đà. Hình như có lũ kiến đen cũng làm ổ trên cây bần đắng. Thằng bé con nói cho ông chủ hay. Ông chủ nhà thầm tính toán: "Đã ba năm rồi còn gì, phải thay loạt cừ cây này bằng cừ sạn mới được, vậy cho chắc ăn". Ông ta biểu thằng con:

- Mày lội coi cho kỹ xem mấy cây cừ mục, để tao liệu.

- Mười hai cây lận ba ơi.

Nhưng khi mấy ông thợ làm nhà đến lội xuống xem xét thì họ nói rằng phải thay hết, dù còn đến bốn cây săng đá và hai cây săng đục còn nguyên vẹn, đứng gan lì với nước lạnh đã hơn ba năm nay.

Phải thay hết cừ, vì cũng như hàm răng, cái bị sâu đã làm hại mấy cái chung quanh.

Chủ nhà mời mấy ông thợ đem đồ nghề qua, nạy bật ván lên, dộng thêm lũ cừ sạn xuống. Lũ cừ sạn cũ bên trong dù sao cũng bằng lòng hơn là sống chung với lũ cừ dòng. Mấy ông thợ lội hẳn xuống sông cố bẻ gãy lũ cừ mục nát, trong số đó có cây bằng lăng, cây cốc, cây ngành ngạnh, cây kiềm kiềm và hai cây săng đục ngỡ ngàng gãy răng rắc trôi ra giòng nước xiết. Chúng không kịp từ giã bốn cây săng đá và hai cây săng đục còn gồng mình đứng lại. Không phải sáu cây ấy lì lợm mà tại vì chúng còn quá tốt, có thể đứng đó gánh sàn nhà chung với lũ cừ sạn mới ít nhất là hai năm nữa mới được ra đi.

Phải nói là quay về thì đúng hơn. Thế là ước mơ về rừng của cây bằng lăng và các bạn đã thành tựu. Ba năm dài, cây bằng lăng mới thực sự thở hít khí trời "tự do". Tụi cừ náo nức trôi phăng phăng theo con nước ròng. Mãi mãi cây bằng lăng không biết rằng chúng sẽ trôi ra biển cả mà thôi. Nhưng thâm tâm cây bằng lăng mục nát vẫn còn ước ao sẽ về lại rừng xưa, sẽ nở hoa tím ngát bầu trời thênh thang, sẽ tự do sống với cành lá rậm rạp, xum xuê cùng bà con thân quyến mà nó đã bị ép bức bỏ đi hơn ba năm nay. Nếu không gặp trở ngại như bị mấy người đi mua ve chai trên xuồng vớt các cây cừ về làm củi chụm, cây bằng lăng sẽ giang hồ ra biển cả mà thôi. Thương thay niềm ước mơ nhỏ bé của cây bằng lăng biết bao giờ đạt được. Chẳng thể về nguồn chứ nói chi đến về rừng, để hồi sinh, để nở hoa... hay chỉ để một lần nhìn lại quê xưa... Biển cả bao la đang chờ đón cây bằng lăng vào cuộc đời lưu lạc, "ba chìm bảy nổi" cho đến khi nào rã nát thây ra.

Vô tình cây bằng lăng, hai cây bần đắng, hai cây săng đục, bà cây kiềm kiềm, hai cây cốc, bốn cây ngành ngạnh vẫn rụt rè nối đuôi nhô ra trôi nhanh. Đằng sau cây bằng lăng gọi một giề lục bình bơi đua với mình. Cây bằng lăng thích hai cụm hoa tím của giề lục bình lắm. Một cơn mưa giận dữ trút xuống, như muốn gột rửa phiền muộn cùng rong rêu bùn đất bám quanh thân lũ cừ dòng mục nát. Còn lâu lắm nước mới lớn lại. Chiều vắng không nghe được một tiếng chim bìm bịp vang lên. Mưa vẫn rơi và nổi bong bóng. Những cái bong bóng mau vỡ cũng cố đuổi theo lũ cừ dòng đen đúa đã tìm lại sự tự do. Cây bằng lăng cố ngoái xem các bạn lần cuối. Các cây săng đá và săng đục từ nay sẽ ở lại với mỗi cây cừ sạn chèn ép cạnh ngay bên. Cây bằng lăng thầm mong các cây ấy bỏ tính gây gổ. Chúng ráng sống hai năm nữa sẽ về rừng. Ắt là khi ấy cuộc hành trình của mấy cây cừ thân cứng sẽ đơn độc và buồn bã làm sao.

Mưa đã dứt hạt. Cây bằng lăng và các bạn mãi mãi mang niềm ước mơ thôi hết lưu đày, trôi xa trên đường dài vô tận.


PHAN KHƯƠNG THÁI     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 104 và 105, ra ngày 24 và 31-8-1973)



Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2022

NHỮNG ĐỨA BÉ HẠT TIÊU - Phan Khương Thái

  

(Viết theo phim "The cowboys) 
Con ngựa chạy cuồng nộ. Nó giựt ông An Điền Sơn té mấy lần. Ông lỳ hơn cả con ngựa chứng. Cuối cùng ông quấn sợi dây thật chắc quanh trụ cây giữa sân tập. Trụ cây trơ những vết dây thừng cọ xát nhiều lần nên mòn láng. Ông An Điền Sơn chỉ hơi ê một bên mông. Ông tiến đến cửa rào. Nơi đó vừa đứng chờ 4 người có hẹn. Gã trẻ nhất thốt lời chào ông, gã tâng bốc:

- Ông vẫn dẻo dai bất cứ lúc nào.

- Các chú biết mấy giờ không? Cần phải có đức tính siêng năng chớ.

Nhưng ông cụt hứng ngay, họ không đến để nhận việc, mà hôm nay họ đến để từ giã ông:

- Thưa ông chúng tôi hẹn ông khoảng 1 tháng, 1 tháng rưỡi nữa.

- Tại sao lại có chuyện này?

Không để ông thắc mắc thêm, cũng gã trai trẻ giải thích ngay:

- Chúng tôi đi tìm vàng, mới hôm qua lão Bình đưa bằng cớ và chỉ chúng tôi địa điểm.

Ông An Điền Sơn cời phá lên:

- Thật là khôi hài. Đến tìm ở mạch vàng đã cạn?

- Ồ, không! Mạch mới, bên kia dãy núi đen.

- Còn những kẻ khác đâu? Gã Lâm, Hồng, Bột...

Nhưng ông khỏi phải hỏi thêm những người khác vì gã trai trẻ ngắt lời:

- Tụi tôi là những kẽ rời nhà sau chót đây thôi...

Ngỡ bọn trẻ ngạo mình, ông An Điền Sơn bỗng nổi cơn giận:

- Vậy thì cút, cút ngay... Đi tất cả rồi ráng mà về với vàng.

Lặng lẽ bọn người quay gót. Một kẻ trong bọn trao cương. Bọn 5 người nhảy gọn lên lưng ngựa, chẳng buồn ngả nón. Vó ngựa xa dần để lại 1 vùng bụi mờ. Hình như đôi mắt của ông An Điền Sơn cay cay. Vậy là hết. Không còn ai để cho ông mướn, hầu lùa đàn bò khổng lồ đến tận Phác Sơn để bán cho kịp trước mùa mưa. Ông dẫn con ngựa đã thắng sẵn yên cương để ra phố. Ông đi nhanh vì chưa vội cho vợ biết nỗi khó khăn. Đường phố cũng vắng như là ngoại ô: Vùng có trang trại. Ông An Điền Sơn bước vào một tiệm tạp hóa. Cánh cửa bị đẩy chạm vào cái chuông nhỏ, chuông reo "leng keng" đánh thức ông chủ tiệm rỗi việc. Ông bạn già ngái ngủ, bỏ chân khỏi quầy hàng vì vừa nhận ra bạn quen. Ông tỉnh ngay và tiến lại quầy rượu rót 2 ly Whisky, không hỏi ông cũng dư biết ông bạn trại chủ đang mang đầy tâm sự và sắp tự khai theo men rượu. Quả nhiên, ông An Điền Sơn mở miệng ngay:

- Anh phải tìm cách giúp tôi.

- Giúp anh làm gì nào?

- Mướn người chịu lùa bò đi bán.

- Ồ, sao không nói trước. Những con thiêu thân đã lao mình theo ánh sáng vàng mỏ cả rồi.

- Người già cũng được mà.

- Làm gì có. Còn mỗi mình tôi, 1 thân trơ trọi không biết bỏ cơ nghiệp này cho ai mới phải ở nhà đó thôi. Này, sao không để sang năm sẽ bán?

- Sao được, còn nợ nần, vốn liếng? Tôi không muốn phải đi chìu lụy để khất nữa. Phải giải quyết ngay mùa này. Cơ sự này có lẽ chỉ có nước mướn đàn bà và trẻ em mất.

- Đúng, ý kiến hay.

- Ồ, tôi nói chơi vậy mà.

- Tôi hỏi anh, anh biết cưỡi ngựa chăn bò hồi mấy tuổi?

- Dẹp chuyện đó đi, bọn trẻ làm sao chịu nổi cực khổ ròng rã mấy tháng trường trên đường xa thiên lý như người lớn chúng ta.

- Nhưng tôi hỏi anh tuổi kia mà.

- Thôi tôi về.

- Khoan, anh trả lời tôi chớ... Rồi tôi dẫn anh đến một chỗ.

- Kỳ quá... cái hồi 13 tuổi ấy, mà hỏi chi vậy? Bây giờ tụi mình già rồi.

- Già đâu, 40 năm trước tụi mình mới 20 tuổi.

Hai ông già vỗ vai nhau cười xòa, chệnh choạng rời tiệm. Con ngựa bị bỏ lại nhìn theo ngơ ngác. Hai ông già đi đâu nhỉ? Thì ra họ đến lớp học của cô giáo Ái Liên. Cô giáo hãy còn trẻ, tuy cặp kính trắng làm cho cô có vẻ già dặn nhiều. Cô kéo gọng kính cho ngay ngắn và nhận ra 2 ông già không là phụ huynh của bất kỳ trò nào trong lớp:

- Chào hai ông. Mời ngồi. Hôm nay các ông dự thính học trò đọc truyện. Trò Lý Ly ngồi xuống, và nhường phiên cho bên con trai... Trò Đang tiếp tục...

Cô nói thao thao, trong lúc 2 ông già rón rén từng bước, vì giày của họ đế sắt đi nghe cồm cộp vang cả sàn cây - ngả nón, và ngồi ở cái băng kê sát vách. Tên Đang cao lêu khêu, lúng túng với truyện ngoại ngữ, nó nghi ngờ từng chữ mới và mỗi lần vấp nó đưa mắt cầu cứu với cô Ái Liên.

Cô Ái Liên toan rày tội lười biếng, không chịu sửa soạn trước của nó, bỗng có tiếng hét thất thanh của một học trò gái. Cô bé nhảy bật khỏi chỗ ngồi, mặt xanh lè vì sợ hãi. Cô Ái Liên đảo mắt quan sát 1 vòng.

- Trò Biên giấu vật gì trong tay?

Quả đúng ngay tên nghịch ngợm tên Biên cố nắm chặt cái tay giấu sau lưng.

Nó đứng lên ấp úng, càng làm thêm trò hề cho cả lớp và hai ông khách.

- Tôi bảo trò đưa xem vật trong tay.

Do dự mãi, cuối cùng tên Biên mở tay ra. Một con Ếch vừa qua thời kỳ rụng đuôi, nó tung người bám vào áo đầm cô giáo. Cô Ái Liên rú kinh hoàng và giẫy như đỉa phải vôi, vì chính cô cũng sợ cái thứ gớm ghiếc ấy. Lớp học tự động giải tán. Chúng ùa theo ch6an hai ông khách như đàn ong vỡ tổ. Về sớm 1 chút chúng có thể phụ mẹ chúng được nhiều việc hơn. Ông Sơn từ giã bạn già:

- Tôi sẽ phá sản mất. Thôi đành chịu vậy.

- Đừng có quá bi quan. Ngày mai anh sẽ có tin vui.

*

Những tia nắng dạn dĩ đánh thức ông Sơn sau 1 đêm trằn trọc vì lo nghĩ. Ông linh cảm có sự gì khác thường, ngoài bà vợ đang pha cà phê ở nhà bếp. Ông vén màn cửa. Lố nhố ngoài hàng rào buộc ngựa một đám cao bồi. Họ đến xin làm? Ông Sơn dụi mắt lần nữa. Có một tên sao mà lùn tịt, cái đầu chỉ cao khỏi cây hàng rào ngang chừng 15 phân. Ngạc nhiên của ông bạn già dành cho ông?

- Bọn học trò ham học và tinh nghịch đây mà! Chúng đến từ bao giờ?

Bà Sơn trả lời chồng:

- Từ lúc bình minh, chúng kiên nhẫn đợi mãi. Hôm nay sao ông lại d6ạy trễ quá.

- Ồ, tôi bỏ quên thói quen dậy sớm rồi sao? Tội nghiệp, có lẽ bọn chúng phi ngựa suốt đêm. Bà lo cà phê nhiều một chút nhé. Tôi phải làm chúng thất vọng một phen. Dù sao thì cũng khó lòng mướn chúng được. Thạo việc vẫn hơn là phải huấn luyện từ đầu.

Ông Sơn lừng lững tiến ra. Bọn trẻ nhảy phắt xuống - những đứa ngồi - tỉnh táo hẳn và đứng ngay ngắn. Ông Sơn lạnh lùng hỏi:

- Các cậu đến làm gì?

Chúng ngó lẫn nhau, ngạc nhiên. Sau rốt tên D8ang tự đại diện để trả lời:

- Ông Bình mướn chúng tôi cho ông, sau buổi học chiều qua. Không phải ông cần người cưỡi ngựa chăn và lùa bò sao?

- Nhưng các cậu có khả năng gì chớ? 

Chúng đồng thanh đáp:

- Cưỡi ngựa, bắt ngựa này, vắt sữa bò, bắn súng này... "bang bang".

- Thôi đủ rồi, vào đây thử sẽ biết. Để coi ai có khả năng kềm con ngựa cái Alice khùng của tôi lâu hơn 10 giây đồng hồ.

Bọn trẻ nhìn nhau e ngại, chả lẽ lại bỏ về, bỏ niềm hăng say buổi đầu tại chuồng tập ngựa. Chưa có cậu nào được hân hạnh cưỡi ngựa chứng cả, nhưng liều thử vậy.

- Cậu nào trước?

Lại một màn dò xét nhau sau cái liếm môi và rùn vai.

- Trong khi các cậu suy nghĩ, tôi bắt con ngựa lại đã.

Ông Sơn giả tảng thắt nút thòng lọng và vút vào cổ con ngựa, cái bờm nó xõa tung theo đợt nhảy chồm vì bị siết dây quá bất ngờ. Nó cố trì sức ghịt của ông trại chủ già nua nhưng dỏ dai mãi với thời gian.

- Cậu nào? Xong sẽ xưng tên cho tôi nhớ.

Tên Đang rụt rè nhảy xuống hàng rào, vì nó nhận thấy chỉ có nó là lớn nhất bọn nên phải xung phong đầu tiên cho đúng điệu "giang hồ".

Con ngựa thở phì phò và chờ đợi. Nó chờ thằng bé vừa đặt hai chân vào khớp để chân là tung bốn vó, chạy như cuồng, làm đủ trò để hất thằng bé đáng ghét đã dám ngồi lên lưng nó. Tên Đang cắn chặt răng, ngửa cả người theo từng nhịp hất, nó đếm thầm 1, 2, 3... 10, 11... 12... giây trong tiếng la của ông Sơn:

- Tốp, thôi đủ rồi, để phiên kẻ khác.

Khỏi chờ thằng bé leo xuống, con ngựa đã hất thằng bé té chổng mông chỉ là lúc thằng bé lơ là tay cương.

- Tôi là Đang. Tụi nó gọi Đang Sếu Vườn 15 tuổi.

- Khá lắm, trông chú mày có vẻ thạo việc trang trại hơn là học hành. Đến phiên ai nhỉ?

Lại cũng một màn đọ sức giữa con ngựa chứng và oắt con tập tễnh làm cao bồi. Ngựa hất thằng thứ hai té thiếu điều gãy cổ, may quá mắt kiếng cận của nó chưa vỡ. Thằng bé lồm cồm chỗi dậy, nói trong mệt nhọc và sợ hãi:

- Tôi là Huy. Tụi bạn hay gọi là Huy Thỏ Đế, 13 tuổi.

- Khá lắm, nhưng chú mày dạn hơn tụi nó nhiều.

Tên thứ ba té có vẻ nặng nhất, vì nó mập người. Nó lê từng bước nhưng hãnh diện xưng tên tuổi:

- Tôi là Điền, tức thằng Mập, tức Địa Mập, 13 tuổi.

Tên thứ tư, kềm ngựa được lâu nhứt, cuối cùng vẫn bị tung bay qua hàng rào làm đứng tim mọi người, thì ra nó nhỏ con và nhẹ ký nhất bọn.

- Cháu là Tân... 12 tuổi.

Ông Sơn nhìn thân hình loắt choắt của nó đâm buồn cười:

- Thôi, về chỗ. Để coi, gần 20 giây trên mình ngựa. Giỏi lắm.

Tên thứ năm, xui xẻo, té thiếu điều trặc chân, nó cà lăm cà lặp đáp như muốn khóc:

- Tôi là Minh... Mười... mười ba... ba... tuổi.

Tên thứ sáu, thằng này xuống ngựa an toàn, có lẽ con ngựa đã thấm mệt. Nó là Văn, 14 tuổi.

Tên thứ bảy, thằng Bích cũng 13 tuổi té đích đáng.

Tên thứ tám, thằng Phi em họ thằng Đang, 14 tuổi.

Tên thứ chín, thằng Biên, 13 tuổi, vua phá ngầm. Vậy là xong kỳ thi "phúc khảo". Ông Sơn toan đóng cửa rào bỗng có một con ngựa với một tiểu kỵ mã phi nhanh vào. Thằng bé bỏ ngựa đang cưỡi và nhảy qua mình con ngựa chứng một cách lành nghề. Nó trổ tài giằng co với con ngựa, đâu khoảng 15 phút thì con Alice chịu thua và ngoan ngoãn kiệu từng bước. Ông Sơn lại gần hơn để nhìn cho rõ một tay tuổi trẻ tài cao đã khiến con ngựa trở thành thuần phục một cách dễ dàng.

- Ủa, sao ta không gặp cậu này ở lớp học?

- Tôi là Bỉnh, 15 tuổi, không có cha nên phải làm việc phụ với má tôi, làm sao có thì giờ đến trường.

9 cặp mắt ganh tức trừng thằng Bỉnh, dù sao tụi nó vẫn ghét cái thứ con không cha.

- Để ta còn suy nghĩ đã, tất cả cứ về. Có lẽ ta sẽ không mướn chú mày được, vì nhiều lý do khó nói ra.

*

Ông An Điền Sơn đẩy cửa lớp học không chút ý tứ. Ông xin phép cô giáo 5 phút:

- Xin cô làm ơn cho tôi nói chuyện với bọn trò trai.

Cô Ái Liên nhã nhặn bằng lòng, cô kéo bọn trò gái theo cô:

- Vậy mà tôi cứ tưởng ông đến xin học bổ túc. Các em gái hãy lịch sự ra ngoài nhé.

Ông Sơn bôi cái bảng đen ghi chi chít chữ, ông vẽ phác vài nét và vào đề ngay:

- Sau một đêm suy nghĩ, tôi thấy bắt buộc phải mướn các em, vì lẽ đã sắp nghỉ hè, các em có thể xin phép mẹ đi làm kiếm thêm tiền mua sách vở vào dịp tựu trường niên khóa tới. Nhưng tôi nói trước, các em sẽ được ăn uống tẩm bổ thật đầy đủ để bù vào công việc thực là vất vả nặng nhọc nhiều so với sức và tuổi của các em. Vì trên 5.000 bò này, và từ đây đến Phác Sơn phải mất 600 km, và chúng ta đi chăn bò, giữ bò nhởn nhơ chớ không phi ngựa đi một mạch. Lại còn sông, suối, rừng thẳm cản trở nữa.

Mặc ông già nói, bọn trẻ mắt mở thao láo mơ màng thấy bóng dáng chúng oai cũng như là cha, chú của chúng... theo sát bầy bò ngày mai, ngày kia... Chỉ có thằng Tân rụt rè hỏi ông Sơn:

- Ông mướn cả cháu?

Ông Sơn nhìn lại nó, ông bế nó đặt trước bảng đen và vạch một lằn khỏi đầu nó, trả lời rằng:

- Mướn những kẻ cao khỏi lằn này thôi.

Và ông rời lớp cũng vội vã như lúc mới tới. Ông không kịp thấy thằng Tân chực khóc. Và ông cũng không hay thằng Đang, thằng Phi vừa nhắc chân bảng khỏi hai chồng sách mà lức nãy cô giáo bảo kê lên để bọn học trò có thể nhìn rõ chữ mà chép bài. Do đó thằng Tân cao hơn lằn phấn của ông Sơn ấn định, nó toét miệng ra cười.

Bọn trẻ đến nhận việc sớm lắm. Đứa nào cũng trang bị đầy đủ ra vẻ một cao bồi con cả. Toàn là đồ thải của cha, chú không thôi. Ông Sơn nhắc vợ lo cho các bữa ăn trước khi người đầu bếp tới. Hôm nay phải đóng dấu cho những bò con. Ông tịch thu tất cả súng trường và súng lục của bọn trẻ. Ông phì cười khi thấy khẩu súng nạp đạn tay của oắt Tân:

- Đồ chơi này sắp bán "xon". Tụi trẻ con thiệt quá xá! A-lê ra thực tập mau. Trước hết bắt bò con bằng thòng lọng, một người giữ một người in dấu.

Và ông làm trước. Mọi đứa làm theo dễ dàng chỉ trừ có oắt Tân hơi chật vật, đôi khi giở được chân bò đã té ngửa. Hề gì! Rồi sẽ thạo ngay. Ngày hôm sau thằng Bỉnh hay tin. Ông Sơn tạm nhận cho nó làm, nhưng xẩy ra chuyện rắc rối ngay. Thằng Đang choảng nhau với thằng Bỉnh chỉ vì một câu mắng nhau "con không cha". Thằng Bỉnh thắng thế nhưng đơn thân, nó rút dao bấm ra. Ông Sơn đã kịp thời can thiệp. Ông đá bắn con dao, xách cổ nó quăng khỏi rào:

- Cút ngay, ở đây không mướn thứ phá rối và du đãng.

- Ông không để tôi giải thích và xử theo công bằng.

- Ta không thể mướn một mình mày. Mày hiểu vậy.

Thằng Bỉnh hậm hực bỏ đi, mắt rực lửa, nó ném một lời nguyền rủa:

- Rồi mọi người sẽ hối hận...

Nó vừa đi thì một chiếc xe mui vải hai ngựa lọc cọc dừng bước. Một gã da đen ngả nón chào ông Sơn:

- Thưa, có phải ông cần một đầu bếp?

- Chú là ai, tôi chỉ nhắn riêng với chú Lưu về việc đó mà?

- Anh Lưu không thể làm vì vợ anh sắp sanh, anh giới thiệu tôi.

- Ồ! Lại trục trặc, anh là người lạ, tôi thích người quen thuộc hơn.

- Trước lạ sau quen. Tôi giỏi lắm.

- Anh nấu ăn được?

- Dư sức. Súp khoai tây, măng, đậu, cà, bánh bơ, bắp, thịt hầm, nướng, sấy... cà phê tôi pha tuyệt...

- Không thành vấn đề, anh dư biết công việc của bọn tôi?

- Biết chứ, ông có bao nhiêu người ăn?

Ông Sơn chỉ bọn trẻ đang há hốc mồm quan sát gã da đen. Lần này chính gã ngạc nhiên:

- Trời, bọn trẻ này chăn bò. Thôi, tôi hiểu rồi, chắc nấu kẹo cho chúng ăn là xong ngay. Đừng lo các em, nào, nhìn tôi dữ vậy? Ông bằng lòng mướn tôi?

Ông Sơn chẳng còn biết nói sao, vì ngày mai bắt đầu lên đường rồi. Gã dắt ông ra quan sát trong xe đã đóng nhiều hộc để làm gác măng dê lưu động, trong khi bọn trẻ ra hiệu với nhau:

- Kẹo, tao thích lắm. Tụi mày thì sao?

- Chắc gã nói chơi đó. Hôm nay mệt ghê. Tụi bò con mạnh ác!

- Ừ mệt thiệt, nhớ là chưa vào việc đâu nhé. Ngày mai, ngày mốt sẽ mệt hơn nhiều.

Tối đó, gã da đen vào căn phòng dành cho bọn trẻ, gã muốn làm quen bằng cách ngủ chung, tuy nhiên gã vẫn dọa một tí để lấy oai. Gã nạt tên Đang:

- Mày qua bên kia đàn. Ta ngủ giường này. Mà thôi dẹp đi, mai đàn.

Bọn trẻ đang ngả ngớn bỗng đổi thế nằm ngay ngắn. Tên Đang riu ríu ôm mùng, mền di cư. Gã da đen vứt cái khăn quấn cổ sang thằng Đang và chợt hỏi:

- Bộ tụi mày chưa thấy người da đen?

Im lặng, chúng lắc đầu. Thằng Minh cà lăm hỏi:

- Ông đen toàn thân?

Im lặng, gã da đen cởi nơ và áo sơ mi, giày vớ. Bọn trẻ cười phá lên:

- Ông ta y như mình, trừ màu da đen tụi bây ơi! Ông tên gì nhỉ?

- Suỵt ngủ đi, gọi ta là lão Huyền. Để ta kể chuyện cổ tích nhé. Ê, tắt đèn đi chớ.

Bọn trẻ vâng lời ngay trong khi lão Huyền trầm bổng kể lể:

- Cha ta, một quốc vương da đen, ngài đội một vương miện cẩn ngọc và quần áo dát vàng bạc lấp lánh, ông đi chinh chiến khắp nơi, ông bắt mẹ ta về, bà cũng da đen... do đó ta cũng da đen. Mà hết rồi, ngủ đi chớ.

Thiệt là câu chuyện lãng nhách. Bọn trẻ thầm mắng và thiếp dần. Bên ngoài là cái chuồng chật chội vì nhốt quá nhiều bò, lao xao chúng giẫm móng, nhai nước bọt... đều đặn... trong đêm vắng.

*

Những ngày đầu trong cuộc hành trình thật hoàn toàn. Lão Hắc Bì hát luôn mồm. Xe mui vải song mã của lão đi chậm nhất, miễn sao tới bữa là có cái ăn ngay. Tụi trè quên mất cái tên lão Huyền. Chúng bận nhớ những bài học mới lạ, của chăn nuôi và thiên nhiên, mà ông Sơn đã cố gắng trút hết những kinh nghiệm một đời người cho chúng. Chúng chuyền hiệu lệnh trên lưng ngựa đã thạo, đếm bò cũng nhanh, quen nhiều dưới nắng gắt chói chang quái ác. Lắm khi rượt bò cố tình tách bầy, chúng thấy thấp thoáng một bóng kỵ mã âm tah62m bí mật xa xa. Thằng Minh cà lăm, cà lặp mà hay nói, nó cho ông Sơn hay:

- Hình như... là... là thằng... Bỉ... Bỉnh nó theo... theo chúng ta.

- Ừ, biết rồi, nó theo sát. Để coi nhãi ranh định giở trò gì.

Thằng Bỉnh lúc ẩn lúc hiện. Về đêm đoàn người của ông Sơn quây quần bên ánh lửa. Trong lúc cắt canh, có đứa vẫn nhận ra một ánh lửa le lói không xa lắm, chắc chắn cảu tên Bỉnh. Tên Bỉnh chưa gây rối nhưng đoàn người gặp rắc rối khác: những gã bụi đời đến xin việc làm. Chúng rất ngạc nhiên khi thấy đàn bò khổng lồ di chuyển trong thứ tự, chen chúc có dòng theo sự điều khiển của các tay oắt con. Lần lượt bò vượt suối cạn, leo dốc mà câu chuyện dằng co giữa ông Sơn và bọn xin việc vẫn chưa xong. Ông Sơn điều tra lý lịch bọn này một cách khéo léo:

- Các anh đã làm việc ở đâu rồi?

- Ồ nhiều chỗ lắm, ông cần biết tên trại?

- Đại khái trại các anh vừa nghỉ...

- Trại Bình Minh này, trại ông Gấu Bông này, trại Vòng Lửa...

- Ông Gấu Bông tốt với các anh chứ?

- Ông ấy rất tối, nhưng tiếc là chúng tôi ham vàng nên mất việc, chúng tôi làm ở trại Vòng Lửa không được lâu...

- Đủ rồi, các anh là ai? Từ đâu tới? Cho các anh hay tôi đã đi dự đám táng của ông Gấu Bông cách nay 20 năm. THời gian đó các anh hỉ mũi còn chưa sahc5...

- Xin lỗi ông, trót nói hớ, chúng tôi sợ ông từ chối những kẻ mới mãn tù.

- Ông nỡ nào? Còn đàn bò?

- Đã có đủ người.

- Ha ha. Những thằng bé con này ư?

- Các anh đừng khinh người. Chúng thạo việc, chăm làm và nhất là không có tiền án. Chào các anh.

Ông Sơn quày ngựa đi ngay để lại một sự trơ trẽn, bẽ bàng cho bọn người thất chí. Bọn ấy ra hiệu mắt với nhau và rút lui. Bóng chúng vội vã biến mất sau những dãy đồi mòn. Vài cây bông vải hoang dại rung rinh hoa trắng trước gió. Gió cũng ngơ ngẩn từng cơn.

Theo dõi hoài đoàn người và vật, thật là buồn tẻ. Bò thì đi nhởn nhơ gặm cỏ trên đường. Người thì hối hả chạy tới chạy lui, thúc hối bò cho có lệ, kẻo ch1ung đi mau sẽ sút cân, không tốt. Hết đồi thấp, đồi cao, thung lũng, đồng bằng... đường đi sao dài quá! Đã đến một khúc sông rộng. Hình như nước hôm nay chảy xiết vì mới có cơn mưa hồi đêm. Ai cũng mạnh dạn qua sông cả trừ thằng Đang. Tên Đang chùng chình, rốt cuộc đi sau xe mui vải của lão Hắc Bì. Nó nhìn cảnh bò con sặc nước rồi đắn đo, ước lượng nông sâu. Nó muốn gọi một đứa đi kèm, nhưng vì tự ái nên ngậm miệng. Những con bò trễ tràng cũng đã qua hơn nửa sông. Bóng oắt Tân đang vẫy nó bên kia bờ. Thằng nhỏ mà chì thiệt! Tên Đang thúc hông ngựa. Con ngựa hốt hoảng lội càn. Con ngựa bỗng thấy cô độc và khó chống với sức nước cuồn cuộn. Nó hất hai chân trước cho cao. Vô tình tên Đang rơi xuống, tợp nước, la lên. Càng la nước càng vô nhiều. Thằng Phi vừa kịp quay lại. Nó sực nhớ ra thằng anh họ không biết bơi. Phi và Tân hốt hoảng đi cầu cứu với ông Sơn. Con ngựa tuy trôi nhưng nhẹ nhõm, nó bơi riết theo đàn bò. Chỉ còn đôi tay lỏng khỏng của thằng bé quơ quào trước khi chìm xuống dòng sông đục ngầu. Ông Sơn vừa sợ vừa giận. Ông sợ không cứu kịp thằng Đang. Còn giận là giận thằng Minh, đã cà lăm thì chớ mà còn nói hớt, khiến khi hiểu ra, ông thấy uổng bao nhiêu thì giờ. Thật sự thì thằng Phi với thằng Tân mệt muốn đứt hơi làm sao nói nổi. Cả bọn quay trở lại. Nhưng thằng Đang đã được người cứu. Không ai xa lạ chính là thằng Bỉnh. Nó quăng sợi thòng lọng và lôi thằng Đang vào bờ xong, cũng chính nó xốc nước và làm hô hấp nhân tạo. Ông Sơn theo dõi tên trẻ xử sự như người lớn, và bỗng ông quyết định: mướn  luôn thằng Bỉnh. Có lẽ bọn trẻ cũng hài lòng và không còn giữ mối tị hiềm trong lòng như trước nữa. Nhất là thằng Đang, cảm động vô cùng. Nó không ngờ "kẻ thù" từng đánh nhau sinh tử với nó lại quân tử cứu nó. Nó thều thào cám ơn. Nhưng người hùng cũng e lệ. Thằng Bỉnh phi ngựa chạy nhanh. Thì ra nó đi nắm đầu những con bò cắc cớ, muốn chơi trò ú tim nên xé lả bầy. Chưa hết chuyện. Ông Sơn mắng cho thằng Minh một chập. Thằng bé tức ứa nước mắt. Nó hậm hực:

- Tôi chửi ông... tôi chửi... chửi... bây... bây... bây giờ.

Ông Sơn càng chọc già:

- Coi chừng ăn bợp tai. Mày dám chửi?

- Đồ khốn nạn. Ông già dịch.

- Mày lập lại lần  nữa - Ông Sơn gằn giọng.

- Tôi nói thế đó. Tôi nói là ông ăn hiếp trẻ con.

Ông Sơn cả cười và bỏ đi. Thằng bé ngơ ngác, và nụ cười nở ra giữa 2 dòng lệ, nó quá sung sướng.

- Các bạn ơi, tôi hết cà lăm rồi. Ông Sơn ơi! Cháu xin lỗi ông, ông không có khốn nạn, ông tốt với trẻ con.

Y như là một phép lạ. Đêm về thằng bé hãy còn mơ. Thằng Địa Mập lầu bầu, bất mãn:

- Chán quá, mệt quá!

Lão Hắc Bì nghe tiếng còn tiếng mất nên hỏi vặn:

- Ê, nói cái gì! Chê món ăn hả? Mày mà chê chắc đồ ăn có nước đem cho bò. Chao ôi, càng ngày càng mập ra.

Bên đống yên ngựa lù lù, thằng Minh lẩm bẩm:

- Ông ấy tốt quá. (?)

- Mày nói ai tốt, chán mày quá. Ê, ngủ hả? Chán quá!

Rồi thằng Địa Mập di chuyển yên ngựa lại gần đống lửa. Thằng Văn nhích sang 1 chút. Nó quấn tấm chăn len, nhìn thằng Đang mò mẫm cây đàn:

- Học đàn có khó không?

- Không đâu. Nếu mày có máu nghệ sĩ.

- Mày dạy tao với.

- Ừ, nhưng chờ tao rành, vì hiện tao cũng đang tự học đây.

Đồ, rê, mi, sol, la... la, si, đố... đố, đồ...

Ông Sơn yên lòng trước thân tình của bọn trẻ. Ông cuộn kỹ tấm chăn. Những đống người lù lụ theo ánh lửa tàn dần. Tiếng đàn măng cầm của thằng Đang tắc tịt từ lâu, chắc tại nó đàn dở ẹt.

Thằng Bỉnh tỏ ra xốc vác lắm. Nó không trò chuyện với một ai, trừ khi gặp gỡ tiếp xúc trong các bữa ăn. Thằng Đang ái ngại, muốn làm hòa trước. Nó tìm dịp gặp riêng thằng Bỉnh:

- Cám ơn mày ghê. Tao không biết phải lấy gì đền đáp.

- Dễ mà, mày có bao nhiêu tiền?

- Tao chưa lãnh lương, nhưng mà sao mày lại so sánh cái ơn của tao với tiền?

- Đó là tại mày gợi ra trước.

Thằng Đang càng cảm phục bạn hơn. Nó đã hiểu có tiền chứ chưa chắc mua được tình bạn. Nó rượt ngựa theo thằng Bỉnh và trao một hòn đá. Thằng Bỉnh thắc mắc:

- Gì nữa đây?

- T8ạng mày. Đá có dính bột vàng trong bộ sưu tập các thứ đá lạ của tao. Để khi về nhà, tao tặng thêm vài hòn hình thù ngộ lắm.

Thằng Bỉnh nhoẻn cười, nó cẩn thận bỏ vào túi áo trên và gài nút lại. À, mấy con bò chứng gan lì. Nó vụt ngựa theo bò. Thằng Đang cũng tách 1 ngõ. Một ngõ khác có thằng Huy. Con bò chạy ngược đường, len vào đám thông già và cà tùng. Thằng Huy nhanh không kém. Nguy cơ đang rình rập nó. Nó bị vướng một sợi dây thừng căng ngang hai thân cây. Một bàn tay to lớn bụm lấy họng nó, một cánh tay khác siết chặt cổ. Con ngựa mất trớn dừng lại hí. Tên bất lương ném thằng Huy cái phịch:

- Hừ, ra tên nhãi ranh. Mày biết tao là ai chứ?

Thằng huy sợ đến đớ lưỡi, nó gật đầu. Mũ rơi, mắt kính rơi, nó quờ quạng nhặt. Tên bất lương xách cổ áo nó nhẹ như diều sớt gà con. Đến bên một bờ suối, gã trình với đồng bọn. Bọn mãn tù xin việc với ông Sơn bữa nào. Gã tóc quăn rút con dao đi rừng ra, làm một màn hăm dọa muốn rách da cổ của thằng Huy:

- Kế hoạch đã sẵn sàng. Mày phải làm nội ứng và cấm không được tiết lộ tin này.

- Ông thả tôi ra.

- Thả mày. Được, nếm chút khổ sở đã.

Gã lại lôi thằng bé xuống suối trấn nước. Năm tên còn lại thản nhiên chứng kiến. Chúng đã chai lỳ quá rồi sau những năm dài nếm cực hình ở nhà tù. Do đó chúng coi gã tóc quăn "đùa" thằng bé. Gã lôi thằng bé lên, tát túi bụi, gầm gừ như muốn ăn tươi:

- Mày muốn chết? Đem nào mày canh?

- Mỗi thứ ba trong tuần.

- Tụi tao sẽ tìm ra mày dễ dàng với cặp kính. Này, chớ có hó hé thì còn sống về nhà. Mày hên lắm đấy. Bọn kia sẽ biết tay. Hừ! Lão già. Thôi mày về, chớ có léo hánh d2o thám bọn tao lần nữa.

Gã tống thằng Huy một đạp. Thằng bé kinh hoàng không khóc được. Nó hấp tấp lên ngựa và tìm lối ra, bỏ luôn con bò. Nó đâu có muốn dọ thám ai. Trời ơi! Có nên mách với ông Sơn? Nhưng bằng cớ đâu? Và thằng Huy giả tảng như không có việc gì xảy ra khi nhập đoàn. Chú ý kỹ, sẽ nhận ra sự thất sắc và cặp mắt lơ láo của nó. Nó còn mãi ám ảnh màn độc diễn hăm dọa của gã tóc quăn trong đầu óc. Và nó sợ sắp phải đến phiên canh đêm. Nhưng cần gì, vui đêm nay đã. Thằng Địa Mập vừa nghĩ ra trò vui. Nó loan tin bắt gặp lão Hắc Bì uống rượu Whisky.

- Thằng xạo, lão có uống làm gì tụi mình không biết.

- Bộ khi uống lão phải trình với mày ư?

- Có led4 lão chỉ lén ông Sơn tu một vài ngụm khi quá thèm.

- Mà hổng chừng ông Sơn cũng có uống.

Thế rồi bọn trẻ nhao nhao bàn tán. Có tật thì giựt mình. Chúng tản ngay khi thấy bóng lão Hắc Bì. Rồi tiếp tục:

- Làm sao ăn cắp chai rượu?

- Chớ! Lão mà hay thì nguy!

- Thôi, tao sợ cặp mắt trắng dã của lão lắm.

- Tụi mình uống hết, đổ nước vào, trả y chỗ cũ, làm gì lão biết.

- Mà đứa nào tìm đây?

- Đổ bể, đứa nào chịu?

- Bắt thăm. Một đứa tìm và tất cả canh chừng. Đổ bể đứa tìm chịu một mình.

- Rồi, làm liền.

Cái thằng Bích, nhát nhất "trúng số". Nó run cầm cập khi kéo những ngăn tủ trong xe ra. Mấy cái nhìn của đồng bọn nửa khuyến khích nửa ngầm chê bai. Nó chui xuống gầm, leo lên nóc. A! Đây rồi, còn hơn nửa chai. Cả bọn nhảy tưng lên như đàn đười ươi giỡn trăng. Chúng ngụy trang những đống chăn mềm kê yên ngựa, và rút hết sau những lùm bụi. . Bóng trăng theo chúng cũng cười thầm. Chúng chuyền nhau chai rượu để say sưa, và dăn nhau tiết kiệm từng ngụm để được nhiều vòng. Khi lão Hắc Bì thân mật cùng ông Sơn đi tìm pha cà phê thì phát giác sự lạ:

- Ai bắt cóc bọn trẻ?

Hai ông đá tung những cái mền vô tri. Hình như có tiếng cười khúc khích.

- Quái! Bọn trẻ chơi đùa sao lại phải giả bộ mình đang ngủ?

Hai ôn rón rén dò theo tiếng cười:

- Suỵt! Rượu ở đâu mà chúng có?

- Hì hì! Ông đừng rầy, của tôi đó. Mà ai chỉ chỗ chúng lấy uống?

- Quá xá! Bọn khỉ con tập làm người lớn. Suỵt! Để nghe chúng nói gì. 

Bọn trẻ chưa hay gì hết. Lửa đã bừng con mắt, chúng lăn chiêng đứa nằm, đưa ngồi, toác miệng ra mà nói xấu hai ông già:

- Cái lão Huyền. Huyền là đen. Ai mà đặt tên Hắc Bì cho lão hay ghê.

- Ê, mày chọc lão, lão bỏ đói à!

- Lão nấu ăn tệ như gì. Thua mẹ tao ở nhà nữa là.

- Ừ, vậy mà lão hứa nấu kẹo đãi tụi mình.

- Còn cái ông Sơn nữa, coi bộ chỉ muốn đi hoài hủy để hành hạ tụi mình.

- Tao khỏi sợ ổng đi!

- Mày ngon mà. Dám chửi ổng như thằng Minh không?

- Tao về chuyến này uống toàn rượu, khỏi thèm uống bia.

- Hai cái ông già có rượu mà đem giấu kỹ như mèo giấu...

- Nè, tụi mày đã chưa...? Tao thấy hai mặt trăng rồi!

- Ý, mới có mấy lượt mà hết rượu rồi sao?

- Mà lão nấu ăn cũng khá. Ê, đưa chai rượu đây, coi chừng say.

- Say? Tao mà say! Chưa tới ba hớp.

- Rồi thủ tiêu cái chai này ở đâu? Khéo không ông Sơn biết.

- Mày đừng lo quá xa. Để "sức" tìm chai rượu khác.

Ông Sơn lắc đầu cười, nháy lão Huyền rút lui, giả tảng không hay biết gì. Hình như tiệc rượu không đồ nhắm, tàn rất ư là êm thắm.

Nắng lên chói chang cánh đồng hoang cỏ xanh. Lão Huyền đã chẩun bị sẵn. Ông Sơn dẫn từng tên đến xô đựng thuốc giải cảm. Lão Huyền múc bằng cái muỗng to vẫn dùng để quậy súp. Các bợm nhậu uể oải, bịt mũi hả họng uống chất đắng. Tên nào tên nấy không dám hó hé vì xấu hổ. Lão Huyền khôi hài, dọa:

- Nhậu ngon chứ? Nhậu thêm rượu này cho lại sức. À, Địa Mập, chú mày anh hùng nhất, thêm muỗng nữa. Tới đây, Bích, Đang... Whisky đây!!!

May thay, các bợm nhậu hồi phục, làm việc chăm cả ngày. Thằng Huy hãy còn choáng váng. Thật tình nó sợ đêm thứ ba. Đêm định mệnh thản nhiên đến. Thằng Huy ngần ngại từ chối phiên gác. Ông Sơn bực mình nói sẵng:

- Chúng ta cứ việc ngủ hết. Trộm lùa bò, mai chúng ta về.

Thằng Huy khốn khổ ôm đống chăn, yên lần mò leo lên ngọn núi trọc. Từ đỉnh nó có thể thu hình quan sát tứ phía. Dù sợ nhưng nó phải nhận trách nhiệm. Đàn bò lấn nhau, chen chúc dưới thung lũng chật hẹp. Mấy con bê gọi mẹ từng chập. Từng dãy màu nâu chập chờn như sóng gợn, mấy vá lông trắng nổi bật trên lưng một vài con. Thằng Huy tự hỏi: Chúng thức cà đêm? Có tiếng bước chân sột soạt làm giựt mình thằng bé. Nó run lên và thở phào, nhủ thầm "vậy mà cứ tưởng". Thì ra thằng Văn.

- Mày kh1o ngủ?

- Không, tao cùng thức canh với mày. Tao biết mày có một tâm sự khó thố lộ với bất kỳ là ai.

- Đâu có, ai nói với mày vậy?

Thằng Huy lạnh cả gáy khi nghĩ đến bọn mãn tù, nó gỡ cặp kính ra định kéo vạt áo để lau. Lụp chụp nó đánh rơi. Cặp kính trắng lăn long lóc từ triền núi cao bốn năm chục mét. Nó phản chiếu ánh trăng và nằm trêu gan bên cạnh lũ bò. Thằng Văn hấp tấp lên ngựa:

- Mày ở đây chờ. Tao đi vòng xuống lượm giùm cho.

Than ôi! Đó là lời từ giã sau cùng. Thằng Văn rất cẩn thận như lời bạn dặn. Nhưng những con bò thì hốt hoảng khi có kẻ phá giấc ngủ. Chúng né nhau, tràn qua lại. Có con húc con ngựa thằng Văn. Thằng bé rơi xuống. Một chân còn vướng trong khớp đặt chân. Nó bị đàn bò giẫm chết không kịp trối. Một sự việc bất hạnh đầu tiên xẩy ra. Thật là một cái chết oan ức vì tình bạn.

Đám táng thật bất ngờ như tai nạn. Một mô đất vô danh, một cái hố vô tình, và những nắm đất hòa lệ. Thằng Huy sụt sùi mãi. Nó cầm cặp kính mất tròng trên tay, chỉ muốn ném vào lòng đất. Sau cùng nó giữ lại. Ông Sơn an ủi nó:

- Số mệnh của nó ngắn ngủi. Chúng ta cũng cố gắng lắm mà đâu cứu được.

- Nhưng nếu cháu thú thật chuyện này.

- Chuyện gì? Cah1u rủ nó canh gác hả?

- Không, cháu sợ bọn mãn tù.

Và nó kể lại cuộc gặp gỡ bất đắc dĩ trong rừng thông đã làm rối loạn tâm hồn non nớt của nó mấy ngày nay. Ông Sơn xoa đầu nó:

- Không phải lỗi ở cháu. Ai cũng biết sợ cả. Thì ra bọn khốn này định làm một mẻ to. Thử xem bọn bây dám giở trò gì. Hừ! Cháu lo phận sự hằng ngày. Tất cả lên đường. Quên đi nhé. À, đừng quên chỗ chôn thằng Văn nghe.

Bọn mãn tù bỗng xuất hiện thật rõ ràng về phía trái. Chúng lừng lững đuổi theo. Ông Sơn bắt đầu nghi ngờ. Ông ngoắc thằng Tân và dặn:

- Cháu đi ngược lại, tìm lão Huyền mau lên.

- Ối, xe của lão gẫy bánh còn đang sửa chữa đằng kia.

- Ừ, tìm lão cho ông. Mau nhé.

Đợi thằng bé khuất dạng, ông Sơn tập họp cả bọn lại, không đi nữa. Ông bảo nên ăn lương khô và chờ đêm nay giải quyết một chuyện. Lửa được nhóm lên trong bóng đêm âm u, đồng lõa của tội ác. Và tội ác đến cùng lúc với bọn mãn tù. Vẫn gã tóc quăn làm đầu tàu:

- Ông già gan quá ta. Tưởng ông chạy thục mạng rồi chớ.

- Muốn gì?

- Hà. Đàn bò. Bây giờ ông được tự do dẫn đám tàn quân này quay về.

- Mày lập lại lần nữa tao sẽ đấm vỡ mặt ra.

- Ngon! Tư Búa, lấy súng của lão cho tao, gỡ luôn cả dây nịt đan và tránh ra. Thử coi lão dám đấm tao không.

Bọn trẻ đứng gần đó tức tối. Chúng thêm căm hờn khi gã tóc quăn ra lệnh:

- Bọn nhãi lại ngồi dựa thân cây, để tay lên đầu mà dự khán. 
 
Vì có lời dặn trước của ông Sơn không được vọng động khi chưa có lệnh nên bọn trẻ giả bộ riu ríu vâng lời.

Gã tóc quăn thủ thế và chờn vờn giở bốc. Ông Sơn bình tĩnh gạt tay gã và đấm một quả thôi sơn đầu tiên trúng ngay sống mũi gã. Một dòng máu cam kích thích cơn điên của gã. Gã húc đầu vào bụng ông Sơn ngã vật ra. Hai người hăng máu đấm đá nhau. Sức già nào kém sức trai. Ông Sơn túm gã tóc quăn giở hổng đầu và ném gã lăn gần chân đồng bọn. Diễn biến thật bất ngờ khi gã tóc quăn bám theo ống chân của đồng bọn để gượng ngồi dậy. Gã rút súng lục và nã nhanh. Thái độ không anh hùng đó làm ông Sơn ôm lấy vai, rồi ôm lấy chân, ông khuỵu xuống trong sự khiếp hãi của bọn trẻ và thích thú của bọn mãn tù. Gã tóc quăn rít lên qua hàm răng khít rịt, rịn máu:

- Lão già điên! Sao không đi cầu viện, còn tên đầu bếp đâu?

- Lão sắp đến. Tao có cho người đi kêu.

- Phải thằng oắt con kia không? Năm Beo! Đem nó ra.

Bọn trẻ cũng ngơ ngác trước hình thù xơ xác của oắt Tân, hẳn thằng bé chống cự dữ lắm nên mới bị cột như bó giò và còn bị nhét giẻ rách vào họng nữa chứ.

- Bây giờ thỏa mãn chưa! Tao cho lão chết êm thắm.

- Tao không tiếc đàn bò. Nhưng vì không muốn hy sinh tánh mạng trẻ con để giữ của. Chỉ xin bọn mày cho bọn trẻ sống sót trở về nhà cha mẹ chúng. Sắp đến mùa tựu trường rồi.

- Được, để chúng ở lại đưa ma. Tư Búa, Năm Beo... lấy hết yên ngựa và lùa bò, chúng ta đi.

Đoành, đoành... hai phát đạn tàn nhẫn ghim vào ngực trái của ông Sơn. Ông gục xuống như thân cây bị đốn. Bọn trẻ chạy ùa tới mếu máo.

Ông Sơn còn thoi thóp mãi khi nắng đã lên cao. Ông cần trăn trối với lão Huyền. Lão Huyền đủng đỉnh, hát nghêu ngao trên xe vừa chữa xong. Lão trợn to cặp mắt, nhảy phắt xuống:

- Trời! Chuyện gì xảy ra?

- Lão Hắc Bì có thuốc băng bó không? Máu ra cả đêm nay đó.

Ông Sơn thều thào:

- Đem bọn trẻ về cho chúng đi học. Nói với vợ tôi bán của cải trả lương cho ông và bọn trẻ. Đừng dây dưa với bọn hủi, cũng đừng thưa gửi làm gì. Số trời đã định, tôi đành chịu vậy!

Và ông Sơn trút hết lời cuối củng giữa những tiếng khóc nho nhỏ không dứt. Một nấm mồ vội vã thứ hai mọc lên. Một cái bảng gỗ nguệch ngoạc vài chữ làm dấu vết. Lão Hắc Bì quẹt nước mắt:

- Thôi, đi về.

- Không về, chúng tôi phải làm một cái gì.

Và bọn trẻ đã làm một cái gì như chúng nói. Trước hết chín đứa áp vào vật ông ta. Trói thúc ké lão vào xe. Một đứa nhảy lên tốc mui vải. Nó ghịt rớt thùng đựng súng vỡ toang. Chúng nhặt nhanh vũ khí của mình và trang bị ngay. Thật là khôi hài!

- Bọn điên! Thả lão ra.

- Rồi ông coi tụi này cướp lại đàn bò dư sức.

- Đồ ngu, muốn cướp lại phải có kế hoạch chắc chắn.

- A ha... Vậy là lão hợp tác với bọn mình.

Lão Hắc Bì phác họa ngay một chương trình hành động làm nức lòng bọn trẻ. Lão thiệt tài số dách và chẳng cù lần tí nào. Việc thứ hai xảy ra đúng như lão tiên đoán. Bọn trẻ bám theo đàn bò như những bóng ma. Đàn bò vẫn đi một tốc độ bình thường như hồi chưa thay chủ. Bọn mãn tù cũng không dè sắp bị đòn "gậy ông đập lưng ông". Một gã râu xồm lo rượt con bò xé lẻ. Gã vướng dây thừng ngã ngựa. Một đám túa đến đập gã cho kỳ ngất. Chúng lôi gã sềnh sệch và trói chặt chịa sau khi lột bộ đồ và cái mũ. Thằng Đang mượn con ngựa gã để thay thế. Nó lầm lũi nhập bọn. Một gã mặt sẹo, nạn nhân kém may mắn thứ hao. Lần này thằng Địa Mập thế chỗ. Gã Tư Búa, nạn nhân thứ ba. Chiến thuật tỉa bớt của lão Hắc Bì công hiệu vô cùng. Trưa quá rồi. Gã tóc quăn qui tụ đồng bọn về dùng bữa. Nhưng gã gọi mãi mà có ba đứa vẫn lầm lì trên lưng ngựa với dáng khả nghi.

- Ê, Tư Búa, mày bàn tán gì với hai thằng kia hả?

Gã tóc quăn tức giận lên ngựa. Gã vừa đến thì ba cái bóng khả nghi chạy tách làm ba ngõ. Đến bìa rừng chúng lột phăng áo mũ và quay lại làm trò chế giễu gã.

- Hừ, tụi nhãi, còn ba thằng quỷ kia đâu? Ê, trở lại biểu! Ê, tụi bây đuổi bắt ba thằng nhãi coi.

Bọn mãn tù ào ào rượt bắt thật sôi nổi, nhưng đành chịu vì khó xoay trở giữa những ngách của rừng già. Bọn mãn tù bỏ mặc đàn bò và tìm dấu vết bọn trẻ. Chúng giận sao đã để bọn trẻ sống để bây giờ gặp rắc rối. Và chúng gặp được lão Huyền đang lui cui bên bếp lửa cạnh một bờ suối.

- À, lão mọi đen. Phải lão sắp đặt trò chơi này?

- Chào các bạn. Đó là tự ý chúng. Lúc nào tôi cũng là người đầu bếp tốt mà thôi.

- Ăn với uống! Lão sẽ theo lão Sơn ngay lập tức.

- Khoan, để tôi dọn bữa cho bọn trẻ.

Gã tóc quăn cười nhạt, gã đá cái bàn đã bầy sẵn đĩa, muỗng, ly ngã ập vào cái bếp treo nồi ra gu.

- Lão mọi sẽ bị treo cổ để làm bia tập bắn. Năm Beo, tung sợi thòng lọng qua cành sồi kia.

- Xin đừng trói tay để tôi cầu kinh một phút.

- Ừ, sám hối tội lỗi đi, 5 phút thôi.

- Xin Thượng Đế tha thứ cho bọn trẻ người non dạ, coi sự bắn giết là một trò đùa...

Gã tóc quăn điên tiết, mất cả bình tĩnh. Gã rút súng và định phơ ngay trước khi ra lệnh đồng bọn phi ngựa để rút lão Huyền lên cao.

Đoành... Đoành... Đoành...

Tiếng súng của ai nhanh tay hơn gã tóc quăn? Phát đầu tiên đứt ngang sợi thòng lọng. Phát thứ hai giải tán lũ ngựa bị buộc tạm bợ. Phát thứ ba của gã tóc quăn vừa bắn vào khoảng không. Vì thằng Bỉnh oai hùng tựa một thiên thần. Hai tay súng của nó xoay như chong chóng. Nó phi ngang vừa tầm để lão Huyền cùng thoát lên lưng ngựa. Từ mô đá ven bờ suối nhô ra mấy khẩu súng trường. Từ những gốc cây, hốc núi... cả một sự chuẩn bị thật chu đáo để đón tiếp bọn mãn tù. Tám người lớn lúng túng không biết các địch thủ tí hon ở đâu. Bọn trẻ bắn thật chính xác, hầu như không một phát nào sai trật, đủ để bọn người lớn văng súng, tét tay, ôm vai, ôm bụng, nhào lăn... và cuối cùng ôm lấy  ngực. Cường độ phục kích tăng dần theo tiếng súng mới và cổ lỗ sĩ đủ loại. Cũng bởi bọn trẻ say máu cứ tưởng đây chỉ là một trò chơi lớn, cũng bởi lần đầu chúng giết người một cách dễ dàng không có ai kiềm chế và ngăn cản. Hơn nữa chúng phải giúp nhau, sơ sẩy bọn người lớn ấy cũng sẽ thẳng tay tàn sát chúng không thương tiếc. Những con ngựa bị bắt lại để chủ nó trốn chạy, rốt cuộc chúng thong dong. Chủ nhân chúng nằm xuống và sẽ không bao giờ chỗi dậy nữa. Gã tóc quăn chưa chết. Lúc rối loạn tẩu thoát tự do, gã bị một phát trúng vai. Gã té nhào. Chân phải còn vướng víu. Con ngựa gã cỡi trợt bùn ven suối cũng té đè lên chân gã. Người và vật tức tối chờ tàn cuộc chiến. Những đứa bé thanh toán sạch chiến trường và an toàn tiến gần gã tóc quăn. Chúng nhìn gã với ánh mắt căm thù thêm, khi gã van nài:

- Làm ơn cắt dây cương, chân tôi bị gãy rồi.

Bọn trẻ nhìn nhau, nhìn lão Huyền. Lão Huyền nhún vai không biết phải tính sao. Dù gì cũng nên giúp gã. Thằng Đang rút con dao đi rừng ra. Nhưng thằng Huy khoát tay tỏ ý không nên. Và thằng Bỉnh làm hiệu cho cả bọn lùi lại mấy bước. Bỉnh rút súng. Gã tóc quăn hèn nhát van nài:

- Đừng, đừng giết tôi, các em cho tôi sống...

Đoành...

Phát súng cắt đứt sợi cương quấn rối qua hông và tay gã tóc quăn. Con ngựa ngước đầu và ngồi lên. Nó hí vui mừng và tuôn chạy thong dong. Không cần ai giết gã tóc quăn. Vì gã đã bị ngựa lôi tuôn bờ bụi và đá sỏi. Con ngựa băng suối. Gã tóc quăn rú khủng khiếp theo tốc độ con ngựa. Đầu gã đập vào đống đá ven suối có những góc cạnh thật sắc bén. Đủ để kết liễu cuộc đời một gã tàn ác.

*

Thị trấn Phác Sơn một buổi sáng còn mờ sương. Những người có việc phải dậy sớm ngạc nhiên lắm. Tuy đang mùa bán bò hàng năm nhưng mà lạ kìa... Người lớn đâu? Chỉ có một lão già da đen phờ phạc theo sau toàn là một bọn con nít hỉ chưa sạch mũi. Chúng lầm lũi điều khiển số súc vật khổng lồ, không thèm quan sát người và cảnh lạ chung quanh. Có chăng từ những cửa sổ, cửa cái, ngõ ngách, dân thị trấn khác nhau đi nhìn lũ chăn bò con nít. Lũ cao bồi con bám bụi đường và dày dạn, lùa bò trật tự vào khu chợ, xáp chung với một số bò của những trại khác. Nhưng bò mập mạnh của ông Sơn vẫn nổi bật với những dấu sắt nung trên mông khoe xuất xứ.

Để cho lão Huyền việc giao dịch, bọn trẻ đi tìm một hàng khắc bia mộ. Ông già háy cặp mắt ngạc nhiên nhìn lũ chăn bò:

- Đặt bia mà khắc thêm chữ gì không?

- Tên ông ấy là An Điền Sơn, chết ngày... tháng... năm...

- Có đề ở dưới: chồng, cha... yêu dấu?

- Có thể, ông cứ khắc tương tợ các bia khác giùm nhé, luôn tấm bia nhỏ.

Vậy là xong, bà Sơn sẽ cám ơn nghĩa cử này. Chuyến trở về nhanh và buồn tẻ lạ. Những cơn mưa đầu mùa đã lấp bằng chỗ chôn cất ông Sơn. Lão Huyền tìm ra nhờ dấu khắc ở cây thông gần đó. Bọn trẻ mò mẫm và hì hụi dựng lại ngôi mộ. Chúng nhớ thương ông vô vàn. Những lời vàng ngọc mà ông chỉ bảo, dạy dỗ hãy còn thoang thoảng bên tai chúng. Còn tấm bia nhỏ chúng dành cho thằng Văn. Một nấm mồ cô đơn ở một chỗ khác. Ở đây cũng như ở đó, người chết sẽ an nghĩ nhờ lời ru của gió núi với cây rừng. Sẽ không có tiếng bò hựm rống quen thuộc, vì lộ trình của đàn bò khác biết có đi qua đấy chăng?

Những đứa bé hạt tiêu ngậm ngùi phi ngựa. Chỉ mới có hai tháng trời vất vả đã giúp chúng trưởng thành trước tuổi. Tuổi trẻ vốn mau quên. Chúng cũng không cần nhờ lão Huyền cho biết về tin 11 tên tù vượt ngục. Các tên tù ấy lại ăn cắp ngựa, cướp nhà băng v.v... và vô tình những đứa bé hạt tiêu đã trừ giúp chính quyền. Lão Huyền cũng không thèm dẫn bọn trẻ đi lĩnh thưởng. Nói ra mà không bằng cớ sẵn biết ai tin cho. Vả lại mục đích của cả bọn chỉ là để cướp lại bò và trả thù cho ông Sơn kia mà. Nhưng ít ra bọn trẻ sẽ đỡ ân hận nếu khi nào chợt nghĩ đến phút giây giết người bất đắc dĩ xưa kia. Tuổi chúng còn quá trẻ để tập tành những việc của người lớn với thế giới xài luật "mạnh được yếu thua". Hẳn là khi cha, anh chúng tìm vàng trở về cùng lượt, họ sẽ bắt những đứa bé hạt tiêu vào trường, tệ lắm cũng 5 năm nữa họ mới yên lòng. Những đứa bé hạt tiêu nhớ nhà mà cũng tiếc ngày vui gian lao qua mau.

Một cơn mưa tầm tã trút ập xuống. Lão Huyền buồn nao nao. Bởi vì sau lần chia tay này lão sẽ tiếp tục đi khắp nơi, vô định để làm mướn. Nhưng chắc là không còn được nghe ai gọi đùa lão tên Hắc Bì như lũ trẻ tinh quái đáng yêu này. Mưa dai như để đuổi về mau bọn người xa xứ đã lâu.


PHAN KHƯƠNG THÁI       
    
(Trích tuần báo Thiếu Nhi từ số 123 đến 131)
 
 

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2021

LŨ MỒ CÔI - Phan Khương Thái

  

Nước biển xanh, trong vắt, có thể nhìn tận đáy. Vùng cát nơi đây thoai thoải, mịn màng. Cạnh bãi san hô, hoài hoài tạo lập là những đá tảng lỗ chỗ vì sự xâm thực của nước. Đá cứ trơ ra và mòn dần, sắc cạnh bởi sóng biển, bởi gió đập cát vào. Có lẽ ngày xưa đá nổi cao hơn mặt biển và là một hòn đảo khô trụi phụ thuộc một hòn đảo lớn gần đó, nhưng thời gian... Thời gian là biết bao thay đổi. Lâu rồi sự sống ở đây thanh bình êm ả lạ. Chẳng có bóng dáng loài người đến quấy rầy những loài thủy tộc. Và thủy tộc cũng an nhiên sinh hoạt riêng một cõi. Chính nơi đây tụ họp lũ mồ côi. Không đứa nào giống đứa nào. Chúng khác nhau ở cái vỏ ốc bên ngoài. Đứa thì tọt trong lòng vỏ ốc vặn, đứa thì thập thò trong vỏ ốc hương, ốc ngựa... Tay chân của chúng dài khẳng khiu. Những giờ rỗi chúng thò cả ra để học. Chúng học đếm cát theo lệnh của thày Tôm Rồng già nua. Râu của thày lớn và dài như râu rồng. (Mà chúng cũng chưa biết rồng hình dạng ra sao bao giờ). Thày rất khó tính và hay la rày chúng nghịch ngợm. Đó là bản tính hiếu động của chúng không thể sửa đổi. Được cái chúng biết vâng lời, đứa nào có lỗi là mau mau thu càng và chân một lượt vào trong vỏ ốc. Lúc đó trông chúng giống bàn tay xương xẩu của mụ phù thủy vừa thu phép biến mất. Chỉ còn chót râu dài thò vài ngấn cuối giả vờ ngo ngoe sợ sệt cùng với đôi râu ngắn. Cả ngày chúng giải trí bằng cách chơi chạy đuổi quanh các gộp đá, len lỏi qua kẽ san hô. Chúng chỉ có mặt đông đủ trong các bữa ăn. Thày Tôm Rồng phạt những đứa rắn mắt, đi chơi xa hay trốn kỹ quá gọi không ra. Thày không cho chúng ăn cá. Chúng phải ăn chay. Nghĩa là ăn rong rêu. Eo ôi, ngán chết! Lại còn học đếm nữa chớ. Chúng cứ lẫn lộn mãi. Đầu óc chúng chỉ phân biệt được đến 2, 3 là cùng. Thêm số 4 là quên béng.Chúng mau quên và vô tư nên ít buồn với số kiếp lạc loài. Chúng chấp nhận cuộc sống mồ côi. Chẳng phải chúng không có mẹ cha đâu. Mẹ cha chúng bận đi làm ăn xa. Xa lắm... Nơi mà chỉ có thày Tôm Rồng và tụi Hàu du đãng dám đến mà thôi. Có đứa thật sự mồ côi. Cái chết của cha mẹ chúng qua lời nói úp mở của thày Tôm Rồng nghe mập mờ. Chúng không hiểu và không quan tâm thắc mắc mấy. Tội nghiệp! Thày Tôm Rồng làm việc nghĩa không kể công mà mệt đứ đừ với tụi chúng. Thày căn dặn chúng chớ có đi xa, kẻo sóng lôi mất tích. Quan trọng nhất là chớ dại dột giang hồ như tụi Hàu. Tụi du đãng đó bất chấp lời khuyên của cha mẹ chúng. Cha mẹ chúng cũng chẳng ra gì. Toàn là dân du thủ du thực phiêu bạt theo những chà tre trốc gốc trôi tới đây. Tụi Hàu đục thủng công khai cả đá tảng, làm đá tảng rỗ hoa. Nói gì đến mấy gốc tre, dù có cứng mấy vẫn là chất gỗ và còn thua đá. Vậy mà hết đời cha mẹ, đến đời con cái... thi nhau bám víu vào chà tre, rồi năn nỉ sóng gió bập bềnh, trôi đi lại trôi về. Tụi Hàu không có mắt. Độc những đốt vỏ vôi tăng trường theo từng tuổi chứa lấy cái thân nhày nhụa, dai nhách, tụi Hàu mang một sức tàn phá khủng khiếp. Vô phúc cho chiếc thuyền chài nào gặp chúng. Thày Tôm Rồng kể lại rằng chúng sẽ lao nhao nào vào ván để bám víu, và phá hoại cho kỳ mục rã, hư hao. Chúng còn được gọi là Mọt Thuyền. Cũng như tụi Hà, còn tên khác là con Màu. Tụi Hà nhút nhát và mặc cảm nhất. Chẳng qua tụi Hà cũng mồ côi. Cha mẹ chúng nhẫn tâm nhét con vào một lỗ mọi của đá ngầm. Tụi Hà cứ thế lớn dần trong ngục tù chung thân và sẽ chết luôn tại đó. Tụi Hà muôn đời không di chuyển được. Chân, miệng, đầu, đuôi... gì nằm gọn trong phần thân thịt cũng dai như tụi Hàu, có chứa cả gan, tụy tạng... Tụi Hà vùng vẫy cái vòi có xúc biện môi ở đầu để biểu lộ cảm tình hoặc là ăn uống thôi. So với tụi Hà, tụi Tôm Ký Cư còn sung sướng hơn nhiều. Tụi Tôm Ký Cư hy vọng một ngày biển lặng nào đó, cha mẹ chúng sẽ trở về đón rước lũ con yêu. Ôi ngày thần tiên ơi!

Tên Tôm Ký Cư nghe đã hàng ngũ và đồng loạt như vậy mà chúng còn bị gọi là Ốc Mượn Hồn. Chúng không muốn ai thương hại dù họ gọi đúng thực trạng mà chúng đang mang lấy. Nhưng mà dù gọi với tên gì chúng vẫn là lũ mồ côi. Có đâu được sum họp một nhà lúc nhúc như tụi Sò, Sò Huyết, Trai, Dao, Chem Chép. Ừ, mà có gọi là Tôm Ký Cư hay Ốc Mượn Hồn thì đã sao. Chúng có thèm mượn ba cái vỏ dẹp lép của tụi nó đâu. Vả lại Sò, Trai... sống yên lặng một chỗ và không xâm phạm gì ai, khiến lũ mồ côi không tìm cớ để gây sự được. Lộn xộn, họ mét với thày Tôm Rồng ngay. Đôi lúc cũng có đứa vờ đụng phải chân của tụi Dao và Chem Chép thòi ra từ đáy cát. Không bỏ lỡ cơ hội chúng sừng sộ ngay. Lẳng lặng tụi Dao và Chem Chép "co vòi rút cẳng". Được thể chúng càng hung hăng dám mò mẫm đến gần vùng tụi Trai để rình rập. Chúng bảo nhau tụi Trai giấu cái hạt gì tròn tròn, trắng sáng trong bụng kìa. Tụi Trai nghe động khép miệng liền tức khắc. Lũ mồ côi tức mình kéo rốc đi chọc phá tụi Sò. Tụi Sò và Sò Huyết ô dề kịch cợm, nào ngán chi ai. Sẵn sàng, chúng há toác 2 mảnh vỏ để khoe thân mình đỏ bầm một màu khiêu khích. Có mà chân, càng bằng đá mới dám đút vào cho chúng phập cứng. Khẽ nháy nhau, lũ mồ côi rút lui có trật tự. Nếu cuộc đời cứ mãi êm trôi thì có gì đáng nói. Biến cố dồn dập xảy ra. Đầu tiên phải nhắc đến vợ chồng bác Cá Mập Khơi. Mụ vợ sắp sanh nên hung dữ vô cùng. Mụ hoành hành khắp vùng để săn bắt. Mụ ăn bất kỳ món bở gì. Thày Tôm Rồng còn lo liệu lấy thân. Mai của thày dẫu bền chắc cách mấy cũng vừa đủ một cái ngoạm của vợ chồng Cá Mập Khơi thôi. Thày cố thích hợp màu sắc để đánh lừa cặp mắt kém của Cá Mập. Thật vậy, Cá Mập hơi hấp háy dù mở trao tráo, nhưng chúng có cái mũi đánh hơi rất tài. Cái mũi rất thính mùi máu tanh tưởi loang nhanh trong nước biển mặn. Tôm, cua, sò, ốc... vì thế đỡ sợ hơn. Chúng không có máu để quyến rũ vợ chồng bác Cá Mập. Thày Tôm Rồng cẩn thận:

- Coi chừng nghe tụi ranh con. Họ ăn tạp lắm đó. Đừng có ỷ lại vào cái vỏ ốc vôi cứng. Vào mà nằm trong bụng họ sẽ tiêu hóa dần dần.

Lũ mồ côi bấm nhau cười khúc khích. Tưởng chừng cái chết là tận cùng cái khổ không mẹ, không cha. Tụi Tôm Ký Cư giả bộ co rút chân tay và nằm bất động. Sóng ngầm xô chúng lăn nhè nhẹ. Tụi Hà ngây thơ hơn:

- Ước gì bác Cá Mập táp vỡ toang hòn đá, giải thoát số kiếp bất di bất định của tụi này...
 
Thày Tôm Rồng ngậm ngùi:

- Số kiếp cả! Nếu tụi mày sống tự do ngoài này làm sao thích ứng để tồn tại.

- Ê, lêu lêu... Tụi mày chờ Tiên giúp cho.

Tụi Tôm Ký Cư không cảm thông với bạn chung hoàn cảnh còn trêu chọc thêm. Chúng dùng càng lén kẹp tụi Hà. Tụi Hà hốt hoảng thu mình thật lẹ. Những cái mai phập phồng bằng chính nhớt rãi của chúng che đậy chân tay ngay. Những cái mai đủ màu, có lẽ còn rực rỡ hơn bất kỳ chú Cá lạ lùng nào quanh đây. Màu sắc của tụi Hà lòe loẹt nhưng bất động. Không có nghĩa là màu sắc của chúng phải biến thiên như của tụi Tôm. Của những vỏ ốc mà tụi Tôm mượn và khoác trên lưng, nhưng màu sắc của các vỏ ốc ấy hãy còn tiềm ẩn bởi những lớp vôi trộn đầy đất cát, mọc lẫn với rong rêu. Vô tình va chạm, mảng vôi rớt ra, kẻ khác mới có thể nhìn thấy những màu óng ánh trên vân vỏ. Những màu không giống màu nào. Buồn thay! Cái vỏ đủ màu, đủ kiểu vẫn là của tạm bợ. Thày Tôm Rồng đã góp nhặt cho chúng để che chở thân mình mềm yếu bên trong. Chui khỏi vỏ chúng vẫn có thể bò long ngong. Rồi chúng sẽ chết rục  bất ngờ, không đứa nào đủ sức để chịu đựng với thiên nhiên một mình cả. Bởi thế không đứa nào nghĩ đến việc bỏ đi. Một chuyện gì lớn lao quá sức của tụi bé con. Ở đây quen thuộc an lành, tại sao lại phải ly rời để tìm đương đầu với bất trắc, hiểm nguy? Những thứ đó hãy để vợ chồng bác Cá Mập thực hiện. Cặp Cá Mập không báo trước, đã bỏ vụng biển vắng đi phiêu lưu. Thày Tôm Rồng thở phào, tuyên bố cho tụi nhóc lêu lổng một hôm tự do, bù những ngày trốn chui, trốn nhủi. Sò với Ốc... cũng hân hoan mở những bản lề để nước lùa vi sinh vật qua lại thong thả. Tụi Trai khoe khoang những hạt ngọc long lanh linh động những màu sắc khó tả. 


Trời bấy giờ êm không một gợn sóng. Vùng san hô phản chiếu đáy nước tưởng chừng gần mặt biển lắm. Gió Nam thổi nhè nhẹ. Một đoàn "công tác xã hội" đến thăm khu vực giữ trẻ của thày Tôm Rồng. Họ khéo léo chân tay lắm. Tay chân họ mềm mại, dịu nhỉu, hơn cả tụi Hà, tụi Hàu. Họ mang đến vô số vỏ ốc trống làm quà. Lũ mồ côi thích thú xem họ "trình diễn văn nghệ". Những vũ điệu uyển chuyển và hấp dẫn. Tụi Hà cố bắt chước và thành công phần nào. Còn tụi Tôm Ký Cư ngượng nghịu chịu thua. Tay chân khô khào của chúng chỉ để nghịch, lay những hoa đá, mấy cánh san hô hay choảng nhau là giỏi. Chúng lăng xăng giành vỏ ốc mới, chọn lựa cái vừa ý nhất. Thày Tôm Rồng hét toáng lên:

- Gom vỏ cũ lại một đống, để dành cho tụi bé hơn.

Tụi Tôm Ký Cư thầm nghĩ: "Thì ra sắp có một số bị cha mẹ bỏ rơi như tụi mình". Thế rồi chúng làm tàng một cách xiên xỏ hỏi xem tụi Hà có mượn vỏ ốc không. Tụi Hà dư biết nên không thèm. Chúng mê mẩn với tài uốn éo của đoàn Mực. Những chị Mực lá dễ thương.

Ngày sau thêm một anh chàng Cua Biển đến nhập cuộc. Nhưng anh chàng mang theo bao ác ý. Ngó bộ mai anh chàng liền mất cảm tình. Nó lốm đốm, mốc cời. Dễ thường nó đóng rêu như lũ Sò, Ốc... đứng yên. Anh chàng xuyên tạc hảo ý của những chị Mực Lá. Sợ rằng có lúc Mực sẽ ăn hết lũ mồ côi. Thày Tôm Rồng đâm nghi ngờ thiện chí của đoàn văn nghệ. Biết đâu chừng cái lũ mồ côi sẽ là những miếng mồi lý tưởng. Càng của Cua, thày không ngán bằng những hấp khẩu, trên 10 giác tu vẫn thường khéo giấu diếm trong những điệu vũ làm mê mẩn khán giả. Dù có thế nào, lũ mồ côi không tin lời anh Cua Biển. Tin sao được cái anh chàng "ngang như cua" ấy. Các chị Mực Lá chả dẹp lép và yếu ớt là gì. Hình như các chị ăn cá bé. Tụi Cá khốn khổ rủ nhau đi xa. Ngặt vì chúng bé bỏng nên đành lẩn trốn quanh bãi san hô và kẹt đá mà thôi. Dần dà các chị Mực Lá để lộ dã tâm. Thày Tôm Rồng bận tíu tít không nhận xét được điều đó. Các chị xục xạo gấp mấy lần tụi Tôm Ký Cư. Các chị chú ý nhiều nhất vùng tụi Trai. Có lẽ những tia sáng ngọc trai đã quyến rũ các chị tới đây. Anh chàng Cua Biển lại phá đám và báo động. Tụi Trai nhẩn nha khép vỏ. Tụi Chem Chép, Dao, Sò... vô tội mà cũng sợ họa lây. Các chị Mực Lá hụt ăn đâm ra tức tối. Thế là chiến tranh bùng nổ giữa Mực và Cua. Dĩ nhiên thày Tôm Rồng về phe kẻ yếu. Nhưng phe của thày không yếu. Đã có lũ mồ côi hò reo biểu đồng tình.

Tụi Tôm Ký Cư hăng hái chống đối. Tụi Hà ngẩn ngơ trước tình thế mới và tiếc hùi hụi. Các chị Mực Lá không sợ lệnh gì ai. Và thố lộ các chị định bụng những lúc Tôm rời vỏ cũ, chúng sẽ cuốn lấy ăn sống nuốt tươi. Nhưng bây giờ tụi Tôm Ký Cư triệt để đề phòng. Chúng giơ những cái gai ốc vặn ra thách thức, rồi mau mắn thu mình nấp kỹ. Thày Tôm Rồng và anh chàng Cua Biển hợp sức chống cự. Cá chị Mực Lá hơi e dè với những đôi càng cứng. Các chị giở ngón nghề phun mực. Ôi chao cái thứ nước có màu đen thui tăm tối, dè đâu lại có thể chứa trong cái thân mình bóng lưỡng. Cái thân mình đầy màu sắc, nào màu ngọc bích, ngọc hồng, hổ phách, hoàng ngọc, thiên thanh, màu của cầu vồng, phơn phớt đỏ, tím, chàm... như điểm trang cho những vũ điệu kỳ ảo. Những màu mà các hạt ngọc trai đã phản ảnh. Giống y bởi bản tính làm đỏm nên các chị mới tham lam và tò mò với màu sắc. Không thể làm hại các chị được, trừ đấng Tạo Hóa sắp đặt. Và chuyện phải đến đã đến. Dai dẳng, Tôm, Cua, Mực giữ miếng chẳng ai hại được ai. Đoàn Mực Lá bỏ đi vào một đêm không trăng, dù ở đây chưa hết thức ăn là cá bé. Có một cái gì hấp dẫn hơn ngọc trai? Quả đúng như vậy. Xa xa có ánh đèn le lói. Đèn đã sáng thay trăng. Ánh sáng mời gọi đoàn mực. Các chị Mực Lá nô nức nối đuôi nhau lội giữa dòng nước biếc lạnh và phẳng lặng như tờ. Sự phẳng lặng giả tạo trong mùa "làm mực". Chuyến đi của các chị Mực Lá không hẹn ngày về. Các chị hoặc nhì nhằng táp phải mảnh vải con bằng nylon dệt với kim tuyến đủ màu sắc, bị phăng lần mối dây để bị loài người bắt. Hoặc hốt hoảng chạy thụt lùi, gọn lỏn trong cái vợt lưới, có chị còn bỏ mạng vì mũi chĩa bén nhọn đâm suốt qua go. Không một giọt máu nhỏ ra để làm dấu hiệu. Các chị Mực Lá tò mò, khuyến khích nhau đi tìm cái chết thật bất ngờ. Rồi đêm qua đêm, mùa "làm mực" tiếp diễn, bất chấp biển cả thình lình nổi cơn sóng gió. Cho đến khi đôi vợ chồng bác Cá Mập Khơi trở về. Không còn bóng dáng chị Mực Lá nào lội nhởn nhơ để thay đổi món ăn cho chú bé Cá Mập tí hon. Các chị Mực Lá đã đồng thời biến mất với những ánh đèn lung linh, tạo 1 dãy dài hải phố ban đêm. Có một ông Đồi Mồi qua đó. Anh chàng Cua Biển hấp tấp xin theo cùng. Cả hai cảm thấy bất ổn khi bóng dáng Cá Mập về ngự trị. Loài người còn phải chừa vùng đó ra nữa là chúng. Lũ mồ côi rối rít xin theo. Thày Tôm Rồng buồn rầu ưng thuận. Nhưng chúng không làm sao quá giang được. Anh chàng Cua Biển đã nằm yên trên mai ông Đồi Mồi. Còn tụi Tôm Ký Cư cố gắng leo lên. Cuối cùng cái vỏ ốc nặng nề là trọng lực trì lại, kéo chúng lăn tòm xuống cát. Chúng đành phải ở lại. Tụi Hà mừng rỡ. Tụi Hà ích kỷ, không muốn bị bỏ cô đơn. Lũ mồ côi ngồi thừ ra nhìn theo bóng dáng của ông Đồi Mồi. Ông Đồi Mồi quạt bốn chân thong thả như sợ vợ chồng bác Cá Mập Khơi hay biết. Riêng thằng bé Cá Mập thoáng thấy. Bởi cận thị di truyền nên nó không đuổi theo. Nó mon men làm quen với lũ mồ côi. Nhưng lũ mồ côi hãi sợ cái thân hình đồ sộ của Cá Mập và không sao làm bạn với cái thứ Cá Mập khát máu được. Dẫu từ nay họ vô tình gìn giữ an ninh cho chúng. Chúng phản đối tiêu cực bằng cách thu mình trong kẹt đá, trong vỏ ốc đã bắt đầu chật chội. Tụi Sò, Ốc... mang máng biết nguy cũng vội vã ngậm miệng. Như thể lũ mồ côi chôn chặt tâm sự, nỗi niềm nhớ mẹ, mong cha chưa từng gặp mặt. Chúng ngong ngóng chờ tin của tụi Hàu phương xa. Những mẩu tin mà thày Tôm Rồng già nua, lẩm cẩm không làm sao có thể kể lại. Thày suốt đời bận suy nghĩ, rồi sẽ tìm đâu ra những vỏ ốc lớn hơn cho tụi Tôm Ký Cư, cũng như biểu tụi Hà khoét rộng chỗ ở cho thoải mái hơn. Thày Tôm Rồng bỗng thấy yêu mến quá cái lũ mồ côi. Bất giác thày tự mãn vuốt râu và hài lòng với trách vụ cao đẹp này.


PHAN KHƯƠNG THÁI      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 114, ra ngày 12-11-1973)