Hiển thị các bài đăng có nhãn Minh Quân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Minh Quân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

LÀM NGƯỜI... TA PHẢI... - Minh Quân


Bà tôi thường quan niệm rằng "Làm người ai cũng phải nên... lao động" Tôi rất ghét quan niệm đó. Tôi có địa vị, tiếng tăm... há không đủ rồi sao? Bất tất phải nghe lời một bà cụ già lẩm cẩm? Hôm vừa rồi, trong bữa ăn, bà tôi bảo tôi rằng:
 
- Cháu cần phải làm một việc gì, hay cố tập làm cho được một dụng cụ gì đó, chẳng hạn lấy đất sét nặn một cái dĩa, cưa ván gỗ đóng một cái bàn hay sơn cánh cửa... hoặc lấy vải kia cắt ra mà may một cái quần đùi, cùng lắm là chiếc khăn tay thử xem nào! Con trai con tráng mà lười biếng mỗi chút mỗi nhờ người khác chẳng đáng thẹn lắm ru?
 
Úi trời ơi! Tôi : một nhà văn, không những thế, tôi còn có bằng cấp đại học hẳn hoi mà lại đi hạ mình làm những công việc tay chân "hạ tiện" đó ư? Đâu có được! Nhưng tôi chưa kịp há miệng cãi một lời thì bà tôi đã nghiêm nghị tiếp:
 
- Bà thừa biết cháu nghĩ gì rồi, ai cũng nhận cháu là kẻ có tài, một nhà văn nổi tiếng... ngay bà, bà cũng công nhận điều đó nữa. Bà còn nhận rằng cái tài hút thuốc lá của cháu thì quả là ăn đứt mọi người, bằng cớ là tàn thuốc lá và khói thuốc lá của cháu ngập phòng. Nhưng theo ý bà thì cháu cần làm một việc gì, một vật gì cụ thể, một vật có thể sờ, nắm được, thấy được và là một vật thiết dụng kia. Cháu biết tại sao không" Đây, hãy nghe câu chuyện sau đây...
 
Chuyện gì? Chuyện gì mà bà tôi kể cho tôi nghe để cốt giải thích cho tôi về quan niệm "làm người phải nên... lao động" tôi nghĩ thầm trong bụng, lòng không vui nhưng kiên nhẫn lắng tai.
 
- Ngày xưa...
 
Mới nghe tới đó tôi nghĩ thầm thêm: "Trời ơi! Hết chuyện rồi bà đi kể chuyện cổ tích cho một nhà văn nổi tiếng" song vẫn không hề phản đối, để xem câu chuyện ra sao.
 
- Xưa lắm có một vị hoàng tử xứ Ba Tư cảm mến con gái bác chăn cừu. Chàng tâu với phụ vương rằng:
 
- Kính tâu phụ vương, con yêu cô gái chăn cừu và muốn được cùng nàng...
 
Chợt nghe qua, "mặt rồng" đổi sắc, ngài đập bàn quát lên:
 
- Ta đây là vua nước Ba Tư giàu có, con sẽ nối ngôi ta sau này. Hỡi vị hoàng tử ngu dại, si mê kia! Chớ yêu không phải chỗ! Dễ thường các đại thần, tể tướng hết nhẵn con gái rồi sao mà con lại...
 
- Kính tâu phụ vương! Con biết rằng việc này làm phật ý phụ vương, nhưng con nào muốn vậy. Khốn thay! Con rất mến nàng, kính xin phụ vương chấp thuận cho con cưới nàng làm vợ.
 
- Ta không cho! Ta không cho! Ta không muốn có con dâu hạ tiện, con kẻ chăn cừu!
 
- Như vậy thì con xin thề : con không lấy vợ từ giờ cho tới chết.
 
Nhà vua sửng sốt! Ôi chao! Nó là con mà nó không lấy vợ lấy ai nối ngôi ta về sau? Mà ta có một mình nó chứ phải nhiều nhõi gì cho cam! Ta cần có cháu bế mà! Ấy vậy là đức vua đành nhượng bộ. Ngài đấu dịu:
 
- Thôi! Cha cũng chiều con. Muốn lấy ai thì lấy. Duyên nợ với nhau, cha không cấm!
 
Nói đoạn, ngài cho gọi quân hầu đến truyền rằng:
 
- Ngươi kíp đến nhà gã chăn cừu, nói với hắn là Hoàng tử muốn cưới con gái hắn.
 
Quân hầu tuân lệnh đến nhà cô gái báo tin. Gã tưởng cô gái phải mừng rơn lên, ai ngờ cô điềm nhiên hỏi lại:
 
- Hoàng tử "nhà anh" có biết qua một nghề lao động nào không? 

- Hử? Cô hỏi cái gì?
 
Tên quân hầu tưởng mình nghe lầm, hỏi lại. Cô gái hỏi to:
 
- Hoàng tử "nhà anh" có biết qua một nghề lao động nào không? 

- Trời ơi! Cô rõ dở hơi! Cô há không biết rằng ngài sẽ thay vua cha trị vì vương quốc Ba Tư mênh mông, giàu có này ư? Ngài là vua, ngài cần gì phải...
 
- Biết vậy! Nhưng nếu hoàng tử "nhà anh" không biết một nghề lao động nào thì đừng hòng cưới được tôi. Tôi muốn thế. Hãy về báo tin đó cho ngài.
 
Tên quân hầu lủi thủi trở về, lòng đầy kinh ngạc. Nghe lời tuyên bố ngạo mạn của cô gái qua tên quân hầu kể lại - đức vua tưởng máu sô lên sùng sục trong huyết quản, quay lại con mỉa mai giọng, hỏi rằng:
 
- Thế nào? Hoàng tử duy nhất của ta! Con không hề biết một nghề lao động nào hết, con tính sao đây? Bỏ ý định ngông cuồng rồ dại kia chưa?
 
- Kính tâu phụ vương! Cũng chẳng khó khăn chi, con sẽ cố học lấy một nghề lao động vậy.
 
Hoàng tử nói bằng giọng rất tự nhiên, không phật ý chút nào. Thế rồi, chàng học nghề dệt thảm rơm, dệt rất nhiều loại, nhiều cỡ, nhiều mầu, nhiều kiểu. Chỉ trong ba ngày, chàng đã lành nghề, chàng dệt những tấm thảm tuyệt đẹp, cho tên quân hầu mang đến giao tận tay cô gái và nói rằng:
 
- Chính Hoàng tử đã thân hành dệt những tấm thảm rơm kia xin mang lại biếu cô, đó là bằng cớ về một nghề lao động vậy.
 
Cô gái lấy làm vừa ý.
 
Thế là hôn lễ tiến hành.
 
Họ rất hợp nhau.
 
*
 
Một hôm kia, Hoàng tử dạo chơi ở kinh thành Bagdad, vui chân dừng lại ở một hiệu ăn trông rất sạch sẽ, thanh lịch, và sau cùng hoàng tử bước vào trong, ngồi xuống một cái bàn, toan cất tiếng gọi thức ăn... Hoàng tử không ngờ rằng mình đã vô tình lọt vào sào huyệt của bọn bất lương, chuyên giết người, cướp của.
 
 Chúng bắt hoàng tử nhốt vào một ngục tối rất lớn cùng với nhiều người khác, cũng là nạn nhân của chúng và vốn là người có địa vị trong vùng.
 
Chúng đem những người béo mập ra giết đi, lấy thịt nuôi những kẻ gầy ốm nhất, coi đó như một trò tiêu khiển vậy. Hoàng tử là người gầy nhất trong số những người gầy lại không ai biết chàng là hoàng tử, nên chàng không bị chúng giết ngay. Hoàng tử lập mưu nói với bọn cướp:
 
- Tôi là thợ chuyên dệt thảm rơm, loại đắt tiền nhất, nhà vua vẫn mua thảm do tay tôi dệt. 

Bọn cướp liền mang rơm đến bảo chàng dệt thảm ngay. Trong ba hôm, hoàng tử dệt xong ba tấm thảm cực kỳ khéo đẹp. Hoàng tử bảo bọn chúng:
 
- Các ông mang những tấm thảm này đến dâng cho đức vua, thế nào ngài cũng trả cho các ông mỗi tấm một đồng vàng.
 
Thế là bọn cướp mắc mưu chàng. Thoạt trông thấy những thảm đó, nhà vua đoán ngay con trai chắc đang lâm nguy, ngài bèn gọi dâu đến phán rằng:
 
- Có người mang dâng ta mấy tấm thảm, ta đoán chắc do chồng con dệt, con có đồng ý với ta không?
 
Nàng cầm từng tấm lên xem rất kỹ và quả nhiên nhận thấy trong những đường dệt tinh vi đó có mật thư của chồng mình bằng chữ Ba Tư, lập tức nàng đọc cho vua cha nghe.
 
Đức vua liền phái rất nhiều quân lính đến ngay sào huyệt bọn cướp, vây bắt chúng không chừa sót một mạng nào và giải thoát hoàng tử cùng tất cả những nạn nhân của chúng, bị giam từ lâu. 

Hoàng tử trở về cung điện với cha và vợ.
 
Thoạt thấy nàng, hoàng tử làm một cử chỉ ưu ái và rất "hạ mình": Chàng quỳ xuống hôn chân vợ mà rằng:
 
- Anh rất cảm phục và biết ơn em, chính nhờ em mà anh sống đến ngày nay đó. Em đúng là vợ hiền của anh.
 
Riêng đức vua, ngài rất hài lòng về người con dâu khôn ngoan, vốn là con gái nhà chăn cừu nghèo khổ xưa kia.
 
*
 
- Đó, cháu thấy chưa? (bà tôi dịu dàng hỏi) Cháu đã biết cái lẽ tại sao bà vẫn cho rằng ai cũng phải biết một nghề lao động để phòng thân không?
 
- Cháu biết rõ lắm rồi - tôi vui vẻ nói - cháu sẽ để dành tiền, mua cưa, gỗ, ít tấm ván mỏng, trổ tài đóng vài chiếc ghế, song trước hết cháu đóng ngay cái giá đựng sách cho bà xem.
 
 
MINH QUÂN          
(phóng tác theo một truyện ngắn
 của William Sarnaoy) 

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Xanh số 38, ra ngày 1-3-1967)


 

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

NHỮNG THỨ BÁM NGOÀI - Minh Quân

 

Liễu Trân, một đại thần của Trung quốc là một người tài trí cao rộng, hiềm nỗi ông có cái vóc dáng mảnh mai, yếu đuối cho nên thường bị các bạn đồng liêu chế diễu, nhất là trong những cuộc đo tài, thử sức nào cần vận dụng đến bắp thịt.
 
Chẳng những thế, họ còn chơi xỏ hơn: tự tiện đổi hai chữ Liễu Trân ra Liễu Mai nghĩa là có ý muốn nói ông ta yếu đuối chẳng khác gì cành liễu cành mai, oằn cong trước luồng gió mạnh. Và họ thích thú kêu lên hai tiếng đó mỗi lần vào triều:
 
- Kính chào Liễu Mai tiểu thơ, người sao mà yêu kiều quá!
 
- Kính chào Liễu Mai, đêm qua gió quá, chẳng hay nàng có cong lưng...?
 
Liễu Trân căm lắm, lập tâm tìm cách trả thù cho hả. Không chỉ trả thù bọn đồng liêu mà trả thù ngay cả nhà vua.
 
Một hôm kia trong lúc lâm triều, nhà vua ngáp dài, kêu:
 
- Buồn quá, chẳng có trò gì tiêu khiển cả.
 
- Tâu bệ hạ, mở cuộc đấu võ chắc vui...
 
- Tâu, hay là thi chạy mau?
 
- Tâu, thần đề nghị...
 
Sân rồng nhao nhao lời phát biểu y như chợ cá... Liễu trân đứng yên, ông thừa biết các bạn và nhà vua đang tìm cách trêu mình. Ông dõng dạc:
 
- Tâu bệ hạ, thần thấy những trò chạy mau, nhảy cao, đấu võ đều nhàm, cũ quá. Thần đề nghị trò mới hơn...
 
Ái chà chà! Đời thuở nhà ai, con người yếu đuối như sên kia mà lại dám giở trò đề nghị nọ kia? Chắc là say hẳn? Lại một dịp chết cười đây. Mọi người chắc mẫm. Vua nghiêm giọng, phán"
 
- Tốt lắm, khanh cứ thử nói xem.
 
- Muôn tâu, trước nay thần mang tiếng là yếu đuối như liễu, như mai, nay thần muốn ra sức cứu vãn cái danh dự Nam nhi lại. Thần đề nghị: ai cõng nổi bệ hạ từ đây ra Ngự viên và cõng trở vào thì...
 
- Tuyệt! Nhưng trước hết người đề nghị phải làm gương, chứ?
 
Một vị quan võ, thường tỏ ra sức lực hơn người và thường chế diễu Liễu Trân nhiều nhất. Mọi người hồi hộp chờ câu trả lời của Liễu Trân, những tưởng phen này họ lại được một trận cười thích thú.
 
Liễu Trân ung dung đáp:
 
- Lẽ dĩ nhiên, kẻ hèn này đã liệu sức rồi.
 
Thằng cha điên. Mọi người cố nén kêu lên như vậy. Liễu Trân bình tĩnh:
 
- Trước hết, thần xin cõng Bệ Hạ chạy - chạy chứ không phải đi - từ sân rồng ra đến ngự viên và trở lại...
 
- Chắc không?
 
- Như đinh đóng cột lim. Nhưng mà, phải có cuộc kia.
 
- Cuộc gì?
 
- 30 lạng vàng ròng. Nếu nửa đường mà thần buông bệ hạ xuống, thần xin trả cho bệ hạ 30 lạng vàng ròng, còn nếu đi về suông, thì bệ hạ phải cho thần 60 lạng.
 
- Tốt lắm. Trẫm nhận cuộc. 

Nhà vua tươi tỉnh nhận lời, vì tin rằng Liễu Trân không thể nào làm một cuộc "hành trình" như vậy được, bộ tướng gió thổi muốn xiêu...
 
- Nhưng còn các bạn? (Liễu Trân hỏi) Có cuộc không? Ít nhất cũng nên tham dự cho cuộc vui sôi nổi chứ? 30 lạng mỗi người, nếu tôi không làm xong thì xin bán nhà trả mỗi người đúng 30 lạng.
 
Ai nấy đều bằng lòng, vì không ai tin rằng Liễu Trân thắng cuộc.
 
Mỗi người đều mang 30 lạng vàng nén để lên khay. Riêng nhà vua thì 60. Phần Liễu Trân, ông ta ký giấy làm tin, vì ông làm gì có đủ một số vàng ròng nhiều thế. Thật là một cuộc đánh cá nhiều hào hứng và phần thắng không ở Liễu trân lấy một ly con.
 
- Đây, trẫm sẳn vàng rồi, Liễu Trân!
 
- Tâu bệ hạ, chưa. Bệ hạ phải cởi áo ra.
 
- Được lắm, đây, ta cởi áo.
 
Nhà vua nói và làm theo lời Liễu Trân. Ông ta lại nói:
 
- Bây giờ, xin bệ hạ cởi giày, bỏ mũ miện ra.
 
Vua hơi phật ý song không cãi lại cười mỉm.
 
- Muôn tâu, chưa đâu, thần cuộc cõng bệ hạ chứ không cõng những thứ bám ngoài bệ hạ , những thứ đó không phải là sức nặng thật của bệ hạ, xin bệ hạ cảm phiền, trút bỏ chúng ra, kẻo các quan sốt ruột.
 
Bất đắc dĩ, nhà vua cởi áo ngắn, áo lót, áo ấm, quần dài, quần vừa, sau rốt, giữa trăm quan, nhà vua chỉ còn có chiếc quần đùi và cái áo mỏng ten.
 
- Nhà ngươi bằng lòng nhé. Thôi, khởi sự đi, trẫm rét thế này này.
 
- Muôn tâu. Không được. Thần chỉ cõng bệ hạ thôi, bệ hạ phải vứt bỏ hết mới xong. Một tí teo thôi, bệ hạ, tiếc làm chi.
 
Và ông ta nhắm mắt lại, cúi đầu chờ vua cởi tuốt.
 
"Ối trời ơi! 600 lạng vàng trẫm cũng không thèm chứ kể gì 60 lạng mà hành hạ thân già của Trẫm".
 
Nhà vua than thầm và kêu lên:
 
- Thôi, Liễu Trân, trẫm chịu thua ngươi!
 
 
MINH QUÂN        
 
(Trích tuần báo Thằng Bờm số 18 (bộ mới), tuần lễ từ 11-12 đến 18-12-1972)
 

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2025

TIẾNG HÁT - Minh Quân

 

Nhà sư Tịnh Tâm là một nhà sư nghèo khổ, nghèo kiết. Ông ở nơi một ngôi chùa hẻo lánh xa cách phố phường, tít tận trong thung lũng, gần chân núi.
 
Ngày nọ, ông đi làm lễ cho một gia đình kia về, mỏi chân dừng lại ở một gốc cây ngồi nghỉ. Gió hiu hiu thổi làm nhà sư thiu thỉu giấc nồng.

Chợt, ông nghe có tiếng khóc oe oe của đứa trẻ sơ sinh đâu đó vang lên. Động lòng trắc ẩn nên không thể làm ngơ, nhà sư lục tìm trong bụi và ông thấy một đứa bé trai, mình quấn trong manh áo cũ, đỏ hỏn, ướt như con chuột con vừa mới sinh ra.

Nhà sư cúi xuống bế đứa trẻ lên, không kịp nghĩ ngợi, tính toán gì, nhanh chân mang nó về chùa d916t lửa sưởi cho nó. Vì đức hiếu sinh, ông nhặt nó về, không quản ngại nhọc nhằn, cực khổ và cũng không kịp nghĩ đến những tai tiếng không hay.

Là đàn ông, lại là một nhà sư, nên sư Tịnh Tâm quá ư vất vả bao phen vì đứa hài nhi vô tội và bạc phước kia. Ông không biết săn sóc, chăn nuôi cách nào cho phải phép, ngày đêm cứ sợ thằng bé đau ốm nọ kia.

Mỗi lần nó váng đầu, đi tướt ông lại lò dò đến nhà có trẻ con, kín đáo hỏi dò quanh quẩn. Nhà sư không bao giờ dám thú thật rằng mình có nuôi một đứa con hoang, bởi ông sợ người ta nghi kỵ...

Một lần nhà sư tình cờ vớ được cuốn sách bàn về "Phép nuôi con", nhưng ông chưa kịp mừng rỡ, mới lật qua vài trang thì gia chủ đã mở lời đón chặn:

- Bạch thầy, thầy không nên để mắt đến thứ sách bậy bạ đó làm chi.

Nhà sư cả thẹn, vội vàng buông xuống. Tuy trong thâm tâm ông nghĩ: "Trời ơi! Dạy nuôi trẻ con mà sách bậy bạ, bậy bạ chỗ nào kia, nhỉ?"

Khổ thân ông! Nào ông có điều gì quấy cho cam?

Ngày tháng trôi mau. Bề trên phò hộ thế nào mà Cu Ái (tên nhà sư đặt cho đứa bé) hay ăn, chóng lớn y như thổi, chẳng còn quặt quẹo, èo uột như mấy năm đầu. Thấm thoát Ái lên bảy tuổi. Sư Tịnh Tâm thấy mình cũng vui lây theo nụ cười, tiếng nói của trẻ thơ, ngay cả khi nó khóc, vòi, ông cũng dễ dàng khoan thứ.

Ông không bận lòng lo lắng chi nhiều, tin rằng sau khi mình tịch, Ái sẽ nối nghiệp nhà, nếu nó không "cứu nhân độ thế" đi chăng, ắt cũng chằng làm gì phạm giới, nó sẽ đi tụng kinh thuê độ nhật, thế cũng đủ làm nhà sư yên lòng, chẳng ao ước chi hơn.

Vài năm sau, Ái được ông dạy cho việc tụng kinh, gõ mõ, niệm chú, thỉnh chuông rất là thành thạo. Rõ ràng là Ái có đủ tác phong của một chú tiểu con rồi đấy, nhé! Nhà sư thường nhìn Ái bằng cái nhìn âu yếm, nhủ thầm.

*

Bất ngờ, sư Tịnh Tâm lâm bệnh và bệnh cú kéo dài không giảm, không tăng. Cho đến sáng ngày hôm đó, ông phải đi làm lễ ở một nhà bổn đạo gần chân núi, song ông không thể đi được. Ái nhỏ nhẻ thưa:

- Bạch thầy, con xin đi làm lễ thay thầy.

- Thầy lo lắm, con còn nhỏ, ngộ có gì sơ suất thì mang tiếng, không nên... chớ chi con biết đọc kha khá một chút...

- Trời ơi! Thầy cứ lo... tuy con chưa biết chữ nhiều, thật vậy, song con há không thuộc lòng đó hay sao?

Ái ngắt lời nhà sư và đọc luôn một hơi năm câu kinh dài ngoằng, dài ngoằng. Nghe xong, nhà sư do dự giây lâu đoạn nói:

- Thôi được, thầy cũng nghe con. Đưa nghiên bút đây, thầy viết ít hàng cho gia chủ.

Tiểu Ái ta mừng rơn trong bụng, vội vàng mang nghiên bút cho thầy, khoanh tay đứng đợi. Sư Tịnh Tâm gượng ngồi lên, nguệch ngoạc mấy giòng, đại ý rằng: "Rất ân hận vì không thân hành đến khai kinh, mong tín chủ chớ phiền. Tiểu Ái sẽ thay... Song trẻ còn dại, có gì vấp váp mong hãy lượng tình tha thứ". Thế là chú Ái nhà ta mở cờ trong bụng, bỏ thư vào tay áo, chuông mõ thì gói trong chiếc khăn vuông bằng vải nâu, rồi xách lủng lẳng xuống đường.

Lòng hớn hở, chú vừa đi vừa lâm nhâm đọc thầm một đoạn kinh, cốt để khỏi quên:

- Kimyo... Murio... Juno... Rai... Kimyo...

- Chậc, phong cảnh sao mà đẹp quá, nhìn không biết chán!

Chú tiểu Ái buông lời ca ngợi thiên nhiên. Đoạn lại ngâm nga lời kinh, kẻo lỡ quên, không tiện:

- Kimyo... Murio... Rai...

Thình lình, một chú thỏ rừng từ cánh đồng trước mặt phóng lại gần chú tiểu, niềm nở, cất lời:

- Kính chào đại huynh khả ái! Em yêu đại huynh ghê lắm, đại huynh có hiểu cho không?

- Không dám! Xin chào chú thỏ xinh đẹp, đáng yêu.

Nhà chùa nghiêng đầu đáp lễ, chân vẫn bước đều. Thỏ lẽo đẽo theo bên:

- Đại huynh ơi! Đường xa muôn dặm, sao đại huynh không dừng lại cùng em trò chuyện vài lời cho bõ công em ngày ước, đêm ao cùng anh gặp mặt?

Có trời làm chứng: chưa bao giờ tiểu Ái được nghe những lời ngọt ngào đến như thế, văn vẻ đến như thế, làm sao chú không cảm động được, kia chứ? Chú lựa lời để tỏ ra mình cũng là tay văn chương không kém:

- Xin đa tạ! Xin đa tạ! Tôi rất mong được hội kiến cùng thỏ, tiếc thay! Tôi bận việc không thể dừng chân được. Xin hẹn ngày tái ngộ.

- Em hỏi quá tò mò, xin đại huynh thứ lỗi, vậy chớ chẳng hay đại huynh bận việc gì, đến nỗi chẳng thể dừng chân?

- À, số là tôi phải đi khai kinh ở...

- Úi chào ơi! Tưởng gì quan trọng, hóa ra chỉ là chuyện khai kinh (thỏ làm như nói chỉ cốt mình nghe), kinh với kệ! Nghe chán bỏ xừ đi ấy!

- Chết, chớ nói thế! Phải tội chết. Nghe kinh nhẹ nhàng, siêu thoát lắm chứ, sao thỏ lại bảo là chán bỏ xừ? Rõ dại dột, sám hối đi thôi!

Chú Ái kêu lên, thỏ dẩu mỏ:

- Em chả làm gì nên tội mà phải sám hối.

- Thế thì thôi vậy, tùy thỏ đấy, tôi đi nhá?

- Kìa Đại huynh! Giận em đấy à? Em xin lỗi nhá?

- Không! Ai giận thỏ đâu, tôi đi nhá, trưa rồi, thỏ ạ!

Thỏ khẩn khoản:

- Xin đại huynh thể tình em, đứng lại một chút.

- Không, trễ rồi.

- Xin đại huynh thể tình em, đứng một tí tì ti thôi mà. Em có cái này hay lắm cơ...

Tiểu Ái tò mò:

- Cái gì mà hay lắm?

- Chúng ta chơi trò cút bắt, vui ra phết, đại huynh ạ!

- Nhưng...

- Đừng ngại anh ạ, rồi em sẽ dạy đại huynh một bài hát nữa, bài hát êm tai lắm kia...

- Thật à?

- Lại chả thật, em có biết nói dối bao giờ đâu?

- Tuyệt nhỉ?

- Vâng! Tuyệt lắm! Rồi đại huynh xem: bài hát của em còn hay hơn cả kinh ấy chứ lại...

- Chết, chớ nói thế, phải tội chết!

- Vâng! Thôi vậy, em xin lỗi. Ý em muốn nói là êm tai hơn...

- Chớ nói thế, nói thế ta đi ngay bây giờ đấy.

Ái có sắc giận, nói. Thỏ hoảng lên:

- Thôi, van đại huynh, em xin lỗi... một ngàn lần. Nhưng thật tình là thế. Nào, bây giờ anh em ta chơi trò cút bắt một tí tị nhé.

Thế là cuối cùng, Ái xiêu lòng. Tiểu dừng lại chơi trò cút bắt một tị theo lời thỏ van nài.

*

Khi cả hai nô giỡn chán chê rồi, mệt lử cò bợ rồi, cùng kéo nhau ngồi xuống bên bọc chuông mỏ thở phì phò. Bỗng, Ái sực nhớ, hoảng hốt kêu lên:

- Chết anh rồi, thỏ ạ!

- Cái gì thế, hả anh?

- Tại "mày" đấy, mày cứ rủ đi chơi, bây giờ tao quên nháy hết rồi... khổ thân "tao", anh em gì mày? Mày hại tao... (bật lên khóc rưng rức) hu... hu... hu...

- Tưởng gì, xin đại huynh nguôi cơn thịnh nộ, em đã có cách giúp đại huynh.

- Cách gì? Cách gì?

- Em sẽ dạy đại huynh một bài hát thay vào, hay lắm cơ!

- Hát! Hát làm sao thay kinh được?

- Sao lại không? Lại còn hay gấp mấy ấy chứ, nhưng nếu anh không chịu thì thôi, em không ép.

Thỏ làm cao, Ái đành đấu dụ:

- Thôi, thôi! Vuốt giận! Anh xin lỗi, hãy giúp anh, anh bối rối tơ vò thế này này, em nỡ lòng nào...

- Được rồi, anh nghe đây (thỏ dặng hắng ra vẻ quan trọng), bài hát thế này này:
 
"Dọc theo con đường nhỏ ngoằng ngoèo
Rực rỡ muôn ngàn cánh hoa leo
Đẹp vô cùng và bé tí teo...
Dọc theo..."

Ái vỗ tay tán thưởng:

- Hay lắm, hay lắm!

Thế là Ái đọc đi đọc lại, lên giọng, xuống giọng bổng trầm, trầm bổng cho giống y như thỏ.

Thuộc lầu rồi, đôi bạn chia tay. Ái dặn thỏ:

- Anh đi nhé! Em phải cẩn thận. Ngày mai vào giờ này ra đây đón anh nghe?

- Chúc anh thượng lộ bình an! Em sẽ đón anh, dù cho hóa đá cũng không đi chỗ khác, em đợi cho kỳ gặp được anh mới thôi.

Ái cảm động rưng rức khóc. Thỏ cũng khóc theo. Trong đời Ái, Ái chưa bao giờ thấy mình yêu ai đến thế. (của đáng tội: Ái nào có gặp ai ngoài có một mình sư phụ Tịnh Tâm?)

*

Đến nhà bổn đạo, Ái trình thư của sư phụ và chuyên tâm hành lễ. Y theo lời thỏ dạy: Ái vừa gõ mõ, vừa gióng chuông theo nhịp, vừa cất giọng thánh thót hát lên:
 
 
"Dọc theo con đường nhỏ ngoằng ngoèo
Rực rỡ muôn ngàn cánh hoa leo
Đẹp vô cùng và bé tí teo...
Dọc theo..."

Thoạt nghe, gia chủ và thân nhân quì bên tiểu Ái đều tròn mắt nhìn nhau, tưởng mình nghe lầm. Song rồi Ái cứ tiếp tục ngân nga, thánh thót:

- Dọc theo con...

Làm tất cả đều bất bình ra mặt. Chợt gia củ ôn lại lời thư của sư Tịnh Tâm viết cho mình và nhìn "nhà sư tí hon" đang nghiêm nghị như gửi cả tâm hồn vào lời hát, ông nguôi ngay cơn phẫn nộ, gia nhân tuy không đọc thư song đều cùng nhìn thấy nhà sư con và cùng tâm trạng với chủ nhân.

Trong giây lát mọi người trong nhà đều thuộc lòng "bài kinh" ngộ nghĩnh ấy.

*

Sau buổi lễ, gia chủ giữ một nét mặt hết sức nghiêm trang, kính cẩn mà rằng:

- Tôi cảm ơn chú tiểu. Thú thật tôi chưa thấy ai có giọng tốt như chú. Để tỏ lòng biết ơn, tôi xin được cái hân hạnh...

Ông dừng lại ngang đó và dúi vào tay Ái một cái bành ngọt, nhân đậu xanh và mứt bí thơm ngát mũi, làm Ái muốn rõ dãi ra.

Nhà sư bé nhỏ của chúng ta cúi đầu cảm tạ chủ nhân, cho bánh vào tay áo kimônô, quày quã trở về.

"Công này của thỏ" Ái vừa đi vừa nghĩ - ta phải chia cho nó một nửa mới công bình. Và Ái cất giọng thật êm ái, hát:

- Dọc theo con...

Lập tức, từ bụi rậm, thỏ phóng ra tươi cười đón Ái. Ái mừng rỡ thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Thỏ ta thích chí vênh mặt lên:

- Đó, em có nói sai đâu? Bài hát của em còn hay hơn cả lời kinh ấy chứ! Bây giờ anh chịu chưa nào?

- Anh chịu lắm. Vì thế anh thưởng công em anh đây này!

Ái thò tay vào áo kimômô lôi chiếc bánh ra, bẻ làm đôi, chia cho nghĩa đệ của mình một nửa.

- Mừng cho tình huynh đệ của hai ta.

Ái lập lại lời thỏ. Đoạn cả hai nắm tay nhau, sóng bước, vừa cao giọng hát bài "Dọc theo con đường nhỏ" vừa ăn.


MINH QUÂN                
(Phỏng theo một truyện của Nhật)  

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 181, ra ngày 15-7-1972)


Thứ Tư, 21 tháng 5, 2025

CON CÒ TRẮNG - Minh Quân

 

Ngày xưa, có anh học trò rất thông minh, nhưng tính nết hơi gàn, lại nghèo xơ, nghèo xác. Theo nhiều người được biết thì anh ta không phải là kẻ bất tài, nhưng anh có một lối sống khác đời: không thích tiền tài, cũng không ham danh lợi. Anh vẫn bảo là cuộc sống phù du không có gì vĩnh viễn. Vì vậy, mặt đất làm mâm, đêm đêm anh hàn sĩ này cùng trăng sao mở tiệc, nay chỗ này, mai chỗ khác, màn trời, chiếu đất, sông núi, cỏ cây đâu cũng là bạn thiết, là quê hương. Anh không định cư ở một nơi nào. Hễ nơi đâu có cảnh đẹp, có người hiền là anh nán lại ít lâu, nơi bào xem cảnh cũng như người, không hợp ý thì anh dừng chân giây lát rồi lại đi ngay, không do dự.

Anh có biệt tài về nét bút, gặp những lúc đắc ý hài lòng thì trên vách đất anh cũng đề thơ, trên mảnh gỗ anh cũng phác vài hình ảnh đẹp. Nhưng bọn trọc phú cường hào biết tiếng anh, có cho võng đón, lọng mời, anh cũng không bao giờ viết, vẽ cho họ lấy một giòng. Túi áo luôn luôn lép xẹp và dạ dày cũng chẳng khác gì.

Một hôm kia, đến làng Vệ, anh gặp một cơn giông không tránh kịp nên bị cảm hàn. Một bác nông dân nghèo đưa anh về nhà chăm sóc tận tình. Bệnh cảm cúm quái ác đó kéo dài trót tháng.

Sau khi mạnh hẳn, anh hàn sĩ chào chủ nhà ra đi. Trước khi từ biệt anh nói:

- Cảm ơn bác đã có lòng dung dưỡng tôi trong bấy nhiêu ngày. Gia cảnh bác chả phải dư dật chi lắm, tôi biết điều đó... Tôi thật áy náy vì món nợ lớn này. hiềm nỗi tôi nghèo quá, không biết lấy gì để đền ơn bác... Nhưng...

Bác nông dân ôn tồn đáp:

- Cậu chớ bận tâm, cái chuyện giúp nhau là bổn phận của mọi người, có gì mà cậu thắc mắc, mà gọi là ơn với huệ. Tôi chỉ mong cậu được yên vui, và khi nào có dịp thì đừng quên ghé lại mái tranh này, tôi lấy làm vui lắm.

Hàn sĩ cười, nói:

- Giọng bác là giọng của người quân tử, nhưng tôi đây, tuy còn nhỏ cũng không phải hạng tiểu nhân. Cái việc tôi sắp làm cho bác đây nếu gọi là trả ơn thì quá đáng, vì nó không mang lại cho bác trinh nào. Nhưng chính vì tôi cảm kích tấm lòng cao quí của bác mà muốn lưu lại chút kỷ niệm, thế thôi. Xin bác đừng từ chối.

Bác nông dân lẳng lặng ngồi nghe. Hàn sĩ lấy trong cái túi lép xẹp ra một viên phấn trắng cầm ở tay, đưa ra cho bác nông dân xem, rồi tiếp:

- Đây, bác xem có gì quí giá đâu mà bác ngại! Tôi sẽ vẽ lên bức vách này một con cò...

"Đúng là tên học trò gàn!" bác nông dân nghĩ thầm, cũng cười theo, vui vẻ:

- Cậu cứ vẽ đi! Tôi tuy không có học hành nhưng cũng biết quí những gì thuộc về phần tri thức...

Hàn sĩ ta bước lại gần sát vách, vung tay phóng nét vài phút, đã thấy một con cò trắng như thật trên bức vách bằng đất sét nhão trộn rơm. Bác nông dân buột miệng khen:

- Cậu vẽ như thật ấy! Cậu mà vẽ chân dung thì khối tiền!

- Không! Tôi sống không có mục đích làm giàu, nếu tôi muốn làm giàu thì đâu đến nỗi thế này, hở bác? Nhưng mà, bác ạ! Con cò này không chỉ là một cái tranh đẹp in lên bức vách đâu. Sau khi tôi đi rồi, bác có thể bảo nó múa hát giúp vui cho lũ trẻ và tất cả mọi người vào những ngày lạnh lẽo, hay những đêm rảnh rỗi, sau khi mệt nhọc lao tác dưới nắng hạ, mưa đông.

- Cậu không đùa chứ?

- Trời ơi! Tôi đùa với bác làm gì? Nhưng bác nhớ một điều này: tôi không muốn bác bảo nó múa hát giúp vui cho những kẻ sâu dân, mọt nước, và đừng quên là tôi cũng không bằng lòng bác dùng tài nó vào mục đích trục lợi mua danh. Khi nào bác muốn thưởng thức tài nó, bác hãy vỗ tay ba cái và nói thế này: "Cò ơi! Hãy giúp chúng tôi được quên đi nhọc nhằn vài phút! Đời nông dân chả có gì vui!"

Nói xong, hàn sĩ chào bác nông dân, lên đường. Bác ta bán tín bán nghi, không biết đây là chân hay giả, bèn tụ tập láng giềng và lũ trẻ lại mà rằng:

- Cậu học trò mà tôi nuôi bệnh một tháng nay đã lành mạnh, từ biệt đi rồi, trước khi đi, cậu ta vẽ cho tôi con cò này và bảo là nó có thể múa hát giúp vui cho chúng ta...

- Nói dóc!

- Hoang đường như chuyện tây du ấy!

- Kể thì nét bút xem cũng khá, nhưng những lời huênh hoang của hắn làm sao ta có thể tín? Bác chứ tôi, tôi mắng cho mấy mắng...

- Không nên vội phê phán trước khi biết rõ sự thật - một bô lão nói, - cách tốt nhất là bác hãy làm y lời cậu ấy xem sao!

Mọi người đồng ý tức khắc. Bác nông dân đến gần cò, trang trọng cất lời:

- Cò ơi! Hãy giúp chúng tôi được quên đi nhọc nhằn vài phút! Đời nông dân chẳng có gì vui!

Nói xong, bác hồi hộp đứng chờ, mắt nhìn chăm chắm vào nét phấn trên vách đất. Mọi người quanh bác, từ già chí trẻ đều cũng hồi hộp, chăm chắm ngóng chờ.

Vài phút trôi qua, cò trắng vẫn im lìm bất động. Có tiếng cười khúc khích sau lưng bác nông dân, và một kẻ nào đó toan cất tiếng lên giễu bác, thì kỳ diệu làm sao, cò ta chớp mắt một cái rồi đôi chân dài di động, cái trước cái sau, từ bức vách bước ra. Mọi người nín thở đứng nhìn, kinh ngạc đến nỗi không kêu lên được một lời!

Cò vẫn đĩnh đạc, ung dung bước tới, ra đến giữa sân, nó vỗ cánh, cúi đầu nói như một tài tử lành nghề trên sân khấu:

- Kính thưa quí vị nông dân thân mến! Quí vị muốn Cò trình diễn gì đây?

Mọi người bối rối nhìn nhau, sau cùng bác nông dân tỉnh táo trước hết, trả lời:

- Cảm ơn Cò Quí! Chúng tôi quê mùa không biết chọn lựa thứ gì, vậy Cò Quí cứ tự do trình diễn.

Cò không do dự, nói:

- Vậy thì Cò xin được trình diễn tự do, mong quí vị được hài lòng vài phút, thế cũng là quí, đối với Cò rồi.

Và Cò Trắng bắt đầu. Mọi người say mê theo dõi, nó vừa múa vừa hát, thật đẹp, thật hay, thật truyền cảm. Lũ nhỏ há hốc miệng ra nhìn, người lớn quên cả giờ khắc trôi qua.

Thật là một điều kỳ diệu, hi hữu. Ai nấy đều hết sức hài lòng nhất là gia đình bác nông dân chất phác và tốt bụng.

Từ đó, đêm đêm, dân làng kéo nhau đến nhà bác để xem Cò Trắng múa hát giúp vui, lũ nhỏ thì khỏi nói, chúng là khách hàng thường trực.

Một anh có tiếng là lý tài, bàn với bác nông dân:

- Tôi mà như anh, tôi giàu ngay, anh khờ quá!

- Bác bảo tôi làm sao để giàu chứ?

- Thì có của báu đó sao không khai thác? Này nhé, cứ mỗi người xem bác lấy một quan vào cửa, chỉ một năm lại chả nhà ngói cây mít ấy ư?

Bác nông dân nhớ lời hàn sĩ dặn, lắc đầu quầy quậy:

- Không được đâu. Cậu ấy có dặn tôi là không được dùng nó trong mục đích trục lợi...

- Vẽ chuyện! Cậu ấy là tiên thánh nên muốn thế, còn chúng ta, chúng ta là phàm nhân, chúng ta theo acu65 ấy làm sao được chứ? Anh cứ nghe lời tôi, cậu ấy chả quở trách chi đâu.

Mặc dù gã ta hết lời thuyết phục, bác nông dân khăng khăng không nghe.

Cò vẫn giúp vui cho đám nông dân và bầy con nít.

*

Câu chuyện Con Cò Trắng nhà bác nông dân không bao lâu không cánh mà bay xa, xa tắp ra khỏi làng, lên tận huyện. Huyện quan, vốn là một kẻ hiếu sự, lấy làm thích thú, muốn được thưởng thức tài Cò.

Huyện quan liền ra lệnh đòi chủ nhân cò đến huyện đường. Bác nông dân phải gác việc ra đồng để lên hầu quan huyện.

Sau khi hiểu rõ ý muốn nhà quan, bác hết sức bối rối, gãi đầu gãi tai không sao trả lời dứt khoát: tuân lệnh quan thì trái ý hàn sĩ, mà nghe lời hàn sĩ thì quan sẽ không tha. Bác thật khổ tâm. Sau cùng, bác tìm cách trì hoãn, bác thưa:

- Bẩm Đại Quan, sá gì một con cò mọn mà chúng tôi dám trái lời quan, nhưng quả thực Cò Trắng ấy không thể nào đi xa trình diễn hầu quan được. Xin Đại Quan lượng xét...

- Không sao! Ta vốn có bụng liên tài. Nếu Cò không đến đây, ta sẽ đến nhà ngươi mà xem, có gì khó khăn đâu? Ngươi không phải lo!

- Ấy chết, xin Đại Quan không nên xông pha như thế, trời dạo này hay mưa bất chợt, Đại Quan...

- Chớ nhiều lời! Ta mà đã muốn đi xem Cò trắng của mi thì bão ta cũng đi chứ đừng nói chuyện mưa! Ta đi võng chứ ta có cuốc bộ kiểu mi đâu mà sợ ốm?

- Bẩm Đại Quan...

- Đừng nói nhiều lời! Ta muốn xem cò trình diễn là cò phải trình diễn ta xem! Không có lôi thôi chi cả! Cho mi lui. Ngày mai ta sẽ đến nhà mi!

Bác nông dân ủ rũ trở về, lòng buồn bã, bước chân nặng như có đá.

Vợ bác an ủi:

- Việc gì mà mình phải lo lắng cho tổn thọ? Dễ gì quan lớn hạ cố đến nhà một nông dân không chức phận? Biết chừng Ngài hài lòng, lại cất nhắc mình cũng nên...

Hôm sau, quả như lời hứa, Huyện Quan đến làng, vào nhà bác nông dân, ra lệnh bác gọi Cò múa hát. Bất đắc dĩ, bác ta phải tuân lời. Cò miễn cưỡng bước ra khỏi vách, không cúi đầu thi lễ với huyện quan, điệu múa có vẻ uể oải, giọng hát khàn đục, không chút hay ho, truyền cảm.

Huyện quan, thoạt tiên thích lắm, nhưng sau cùng có hơi phật ý, gắt bác nông dân:

- Ta xem ra mi có tà ý, dặn riêng cò trắng thế nào ấy, cho nên nó vô lễ với ta, có phải không? Theo ta được biết thì thường điệu múa của nó linh động, giọng hát thanh tao...

- Kính bẩm thượng quan, Ngài nhầm đấy, số là mấy hôm nay Cò Trắng không được khỏe trong mình...

- Cò thần mà cũng đau ốm hay sao?

- Bẩm Thượng quan, đá còn đổ mồ hôi nữa là cò! Chúng tôi sẽ cho nó nghỉ ít hôm, chờ khi nó thực khỏe, Thượng quan sẽ thấy nó múa hát đúng như lời đồn đãi. Bẩm, cả tháng nay, nó múa hát mãi mà làm gì không ốm?...

Huyện quan nghe xuôi tai bèn ra về, và hẹn trở lại vào giữa tháng, lại cấm vợ chồng bác ta không được cho cò múa hát giúp vui bạn bè, phải để dành cho mình thưởng thức.

Sau khi nhà quan đi khỏi, bác nông dân cầu nhầu không ngớt, vợ bác gạt đi:

- Sao anh lại cầu nhầu như thế? Nhờ tôi tỉnh trí nên mình khỏi bị tội phạm thượng, mình lại không mừng, lại còn nhăn nhó là nghĩa làm sao?

- Mình không hiểu gì cả, khi cậu học trò vẽ con cò này, cậu đã dặn tôi không được dùng nó trong mục đích trục lợi và cũng không bắt nó múa hát giúp bọn sâu dân mọt nước...

- Mình đã chắc đâu rằng ông ta là sâu dân mọt nước, kia chứ?

- Trời ơi! Mình thực là bụng đàn bà, dạ con nít! Không sâu dân mọt nước mà có những hành động cách đó, thái độ kiểu đó? Ngay cả con cò nó cũng không ưa, mình lại còn bênh lão ta ư? Tôi nghĩ đến nông nỗi khi cậu ấy biết tôi trái lời cậu, thì thật chả còn mặt mũi nào...

- Nhưng có phải lỗi mình đâu? Cứ hay mua việc...

Quả nhiên đêm ấy, đang còn trằn trọc chưa yên giấc, bác nông dân thấy hàn sĩ lừng lững bước vào nhà, giọng cậu buồn rầu, đôi mắt đầy trách móc:

- Tôi đã dặn bác, mà bác vẫn trái lời tôi! Đành phụ lòng nhau vậy, bác chớ trách tôi, bác nhé?

Nói đoạn, hàn sĩ quay ra, không thèm từ biệt, cũng không đợi cho bác nông dân có dịp phân trần.

Sáng hôm sau, bác nông dân dậy sớm, thì ra mình nằm mơ, nhưng trong lòng lấy làm phân vân, vội chạy ù ra xem bức vách, thì, trời ơi! Bức vách trống trơn, không dấu vết. Cò Trắng biến mất từ bao giờ!

Bác nông dân cúi đầu lẩm bẩm: "Lỗi tai ta đấy! Còn trách cứ ai!"


MINH QUÂN       
Sàigòn 25-3-1972    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 178, ra ngày 1-6-1972)


Thứ Năm, 3 tháng 4, 2025

CHỈ VÌ CHIẾC BÓNG - Minh Quân

 

Ngày xưa, xưa lắm có một người đàn ông kia được phái đi chiến đấu dẹp giặc ở biên thùy, thuộc vùng mạn ngược.

Vào thời ấy các phương tiện giao thông thật khó khăn, trở ngại nên đã ba năm qua người ấy ra đi mà vợ anh ta ở nhà không được tin tức gì về chồng cả.

Nàng hết sức buồn khổ trong lòng, song cũng còn chút an ủi là đứa con thơ, đứa trẻ ra đời sau khi cha nó rời nhà tám tháng. Sự có mặt của đứa trẻ làm nàng thêm can đảm, đủ sức chịu đựng buồn khổ trong lúc xa chồng.

Thấm thoát mà thằng bé đã bi bô biết nói. Niềm vui về đứa con càng lớn thì nỗi khổ vì sự bặt tin chồng cũng tăng theo năm tháng. Tuy nhiên, nàng vẫn kiên gan chờ đợi, không một lời ta thán phàn nàn.

Một chiều kia, nàng ngồi may áo cho con bên giường, con nàng thì đang ngủ thiếp ; bỗng cơn giông bão tố nổi lên dữ dội, sấm nổ vang rền làm cho con nàng tỉnh giấc và vô cùng kinh sợ. Người mẹ vội vàng buông kim chỉ bước lại bế con và hết sức dỗ dành, song đứa trẻ không ngừng gào khóc. Chưa bao giờ nó tỏ ra kinh sợ đến mức ấy.

Bên ngoài trời đất tối sầm trong phút chốc, mưa như trút, thỉnh thoảng một tia chớp sáng lóe lên và gió... chao ơi! gió hung hãn gào thét như muốn cuốn phăng trọn gian nhà nhỏ bé của mẹ con người đàn bà cô đơn, khốn khổ.

Thiếu phụ sẽ sàng đặt con xuống và lần dò trong bóng tối, đốt ngọn đèn lên.

Thật là khó khăn, vì gió như tốc mái tranh nhà nàng, luồn vào tất cả các khe hở ở cửa lớn, cửa sổ, lửa chưa kịp bén vào tim đèn thì đã bị gió làm tắt ngấm. Gió day, gió tạt khắp các hướng, lồng lộn như một con thú bất kham.

Tuy nhiên, sau cùng thiếu phụ cũng đốt được ngọn đèn nhỏ bé, soi sáng gian nhà.

Nàng bế con lên và dịu dàng dỗ nó. Thằng bé chừng như thêm hờn giận, thêm hãi hùng vì mẹ đã đặt mình xuống trong bóng tối, càng khóc tợn. Thiếu phụ chỉ tay vào chiếc bóng mình in lên vách đất mà rằng:

- Con đùng sợ! Đã có cha con về kia! Cha con về thăm con đấy! Đừng khóc cha giận bây giờ!

Thấy chiếc bóng, đứa trẻ lấy làm thích thú, không khóc nữa.

*

Từ ấy, đêm đêm, những lúc nào con quấy, dỗi, người mẹ lại chỉ vào bóng mình mà dỗ dành con. Ngay cả khi nó không quấy, dỗi, thiếu phụ vẫn đùa bảo nó gọi cái bóng là CHA, bảo nó vòng tay cúi chào bóng mình trước khi đi ngủ.

Đứa trẻ quen dần với trò chơi ấy, đến nỗi mỗi chiều nó chỉ ngong ngóng chờ mặt trời tắt là giục mẹ đốt đèn lên để cha về chơi với nó. Nô giỡn chán chê với chiếc bóng mẹ cho đến khi díu hai mắt lại, nó vòng tay, cúi đầu bập bẹ:

- Thưa cha, con đi ngủ!

Rồi mới vào giường.

Trong lúc con yên giấc, thiếu phụ ngồi lặng lẽ cho đến nửa đêm, một mình với chiếc bóng của mình âm thầm tưởng nhớ đến người chồng biệt tích.

*

Chiến tranh chấm dứt, người đàn ông nôn nả trở về. Thiếu phụ nhận ra chồng từ xa, nàng vô cùng mừng rỡ song nàng chưa dám tin vào sự thật. Khi chồng đến gần, nàng không dám ngẩng nhìn anh, không dám nói một lời nào, cũng không có một cử chỉ nào tỏ ra mình mừng cả. Sự xúc động làm nàng nghẹn lời, sửng sốt, bàng hoàng. Nàng tưởng như mình cất tiếng lên, mình làm một cử động nhỏ nào thì chồng nàng sẽ tan biến như chàng thường tan biến trong những giấc mơ của nàng tự bấy lâu nay. Thiếu phụ quay mặt đi, lén lút lau hai giòng lệ nóng trào ra ràn rụa. Giây lâu, nàng mới nói bằng giọng kính cẩn thế này:

- Ba năm đằng đẵng em không bao giờ dám mơ đến ngày sum họp cùng mình. Có lẽ nhờ hồng đức tổ tiên lớn lắm nên mới có ngày nay. Vậy chúng ta phải tỏ lòng thành kính và biết ơn bề trên mới phải. Mình hãy trông con hộ, em xuống phố mua sắm chút đỉnh để làm lễ tạ ơn.

- Anh cũng nghĩ như mình. Chúng ta phải tạ ơn trên. Mình cứ đi, để con đó cho anh.

Chồng âu yếm trả lời vợ. Nàng tức thì làm theo lời chồng bảo.

Trong lúc vợ vắng mặt, người chồng tìm cách làm quen với con trai. Anh vô cùng sung sướng khi nhìn kỹ nó : nó giống anh từ cánh mũi, nét mày, nó giống anh đến cả vành tai, mầu tóc. Tóm lại, nó đúng là hình ảnh của anh ngày còn bé!

Anh đến gần con, run giọng gọi:

- Con trai yêu quý! Hãy lại đây với CHA nào!

Thằng bé giương to đôi mắt ngây thơ nhìn anh chăm chú và nó lùi dần, lùi dần vào bức vách, miệng không ngớt gọi mẹ, như cố tìm một sự che chở của mẹ nó trước thái độ cầu thân của người lạ mặt đột nhập vào nhà.

Người cha không phật ý chút nào. Làm sao anh lại có thể trách con?

Từ khi mở mắt chào đời cho đến nay, con anh chưa hề một lần thấy mặt anh kia mà! Nó làm mặt lạ với anh là phải, nó có lỗi gì đâu? Anh kiên nhẫn dỗ dành con, tìm đủ cách làm quen với nó. Thằng bé vẫn không chịu để cho cha bế, nó đứng yên một chỗ, tuy đã có vẻ bớt sợ, nhưng vẫn giữ vẻ xa cách, lạnh lùng.

Anh kêu lên trong lúc sà xuống bế bồng con vào lòng, hôn tới tấp vào mặt, vào má nó:

- Nào xem! Chú bé có chịu nhận cha không...

Nhưng anh xiết bao kinh ngạc : nó giằng khỏi tay anh, miệng nói:

- Không! Ông không phải cha tôi! Ông không được hôn tôi!

Người cha bàng hoàng khi lọt tai lời con trẻ, song còn cố giải thích:

- Con còn bé nên chưa biết đó thôi. Cha chính là cha con. Cha đi dẹp giặc phương xa nên con không gặp cha. Nay cha về...

Thằng bé một mực cải chính:

- Không! Ông không phải cha tôi. Ông nói dối. Cha tôi không bao giờ về ban ngày. Cha tôi chỉ về lúc lên đèn.

Người cha thắt ruột lại khi nghe đến đó, anh choáng váng ngồi phệch xuống, lòng bời rối. Có thể như thế được ư? Vợ anh đã phản bội anh ư? Thằng bé điềm nhiên tiếp:

- Tối cha tôi mới về với tôi. Cha tôi không bao giờ nói gì cả. Cha tôi chỉ đi theo bên mẹ tôi. Mẹ tôi làm gì thì cha tôi làm theo : mẹ tôi đi ra cha tôi đi ra, mẹ tôi đi vào, cha tôi đi vào, mẹ nằm cha cũng nằm, mẹ đứng cha cũng đứng... Ông đừng nói dối, phỉnh tôi.

- Con ơi! Cha đây chính là...

Giọng người cha nghẹn ngào như sắp khóc. Bé tiết lộ thêm:

- Khi nào tôi vòng tay thưa cha đi ngủ thì mẹ tôi cúi xuống hôn tôi, bấy giờ cha tôi cùng cúi xuống...

Người đàn ông ù cả hai tai. Anh không nghe gì nữa. Người ta chả thường nói rằng: "Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ" đó sao? Con chàng nói thật. Nó làm gì biết bịa chuyện? Mà bịa làm chi? Anh không khóc được, tuy lòng đau xót vô ngần.

Niềm vui sum họp tắt lịm như ngọn đèn trước gió.

*

Người mẹ không mảy may hay biết gì về những lời ngây ngô của con trai, song nàng linh cảm như một bất hạnh đang đe dọa hạnh phúc của mình khi tất tả trở về nàng gặp ngay thái độ lầm lì, khó hiểu của chồng.

Tuy nhiên, nàng cố trấn áp mối lo sợ vẩn vơ, tự an ủi rằng: "Chắc anh ấy đi chinh chiến phương xa về nhọc mệt, và những ngày vất vả, đương đầu với tử thần làm anh ấy bẳn tính, không nên quan tâm làm chi".

Nàng lặng lẽ, cắm cúi lo nấu nướng mọi thứ, xong đâu đấy nàng bày biện lên bàn thờ gia tiên rồi mời chàng đến làm lễ.

Trong nàng hồi hộp lôi từ đáy rương lên chiếc áo dài mới tinh khôi - chiếc áo mà nàng chỉ mặc một lần trong lễ cưới và suốt thời gian chồng vắng mặt nàng chưa một lần ngắm lại - thì chồng nàng đã không chờ vợ mà đến bàn thờ đốt hương, đèn, thì thào khấn vái rồi lạy trước một mình. Đoạn, anh cuốn ngay chiếu lại, như có ý không cho vợ được đến làm lễ tạ cùng mình.

Thiếu phụ tưởng mình đang sống trong ác mộng : nàng hết sức tủi thân và đau đớn song nàng vẫn cắn răng chịu đựng, nén khóc dọn bữa cho chồng ; rồi lầm lũi vào phòng gấp áo lại cất vào đáy rương như cũ.

Cơm lạnh ngắt trong bát, những miếng mỡ đông lại dưới sức lạnh của một chiều đông.

Gã đàn ông không thốt một lời, mặc thêm cái áo ấm rồi băng mình ra khỏi cửa. Thiếu phụ kinh hoàng trước hành động kỳ quặc của chồng. Nàng muốn chạy theo níu anh lại, gạn hỏi nguyên do, bắt anh giải thích rõ ràng... Song nàng không cử động nổi, hai chân nàng như bị dán cứng xuống nền nhà! Và bởi quá tủi nhục, đau đớn nàng không nói nên lời trước cách đối xử tàn nhẫn của chồng.

Bao nhiêu buồn khổ được dịp tuôn ra... nàng gục đầu vào tay rưng rức khóc - Phải! Trong bao nhiêu năm tháng nàng đã cố gắng cầm nước mắt - nàng khóc đến cạn cả lệ và sau cùng, nàng ôn con, đoạn mím môi, nghiến chặt răng, chạy thẳng ra sông. Nàng quyết trầm mình xuống đó, nhờ giòng nước rửa sạch oan khổ của mình!

Nghe tin dữ, người chồng quày quả trở về. Anh không thể bỏ con một mình được. Anh không chút hối hận tiếc thương người đàn bà xấu số. Anh dửng dưng trước xác chết của nàng, anh nghĩ rằng nàng đã quá xấu hổ phải lấy cái chết đền tội cùng chồng, thế thôi.

Đêm đến, anh đốt đèn lên, ru con ngủ. Bóng anh in lên vách đất và... anh kinh ngạc xiết bao khi đứa trẻ reo lên vui vẻ:

- Kia! Chính cha tôi! Cha tôi đã trở về!

Tất cả sức mạnh trong người anh như tiêu ta trước lời con. Anh bủn rủn cả tay chân, vô cùng hối hận vì biết mình lầm, ngờ oan cho vợ, người vợ mà hơn ba năm anh vắng mặt, vẫn một dạ trung thành.

Anh kêu gào, khóc lóc mong linh hồn vợ thấu hiểu cho anh, anh không ngớt van xin nàng tha tội. Anh bỏ ăn, bỏ ngủ. Anh đặt bàn thờ trên bờ sông, nơi nàng tự tận, ngày đêm ở đó, thương nhớ không nguôi. Anh thề sẽ sống như thế suốt đời, không tục huyền cho trọn tình cùng người quá cố.

Một hôm, vua Lê Thánh Tôn vi hành ngang đó, trông thấy ngôi đền nhỏ dân chúng và người chồng đặt thờ người thiếu phụ đoan chính ấy, Ngài lấy làm thương xót, bèn đề tặng mấy câu thơ:

"Nghi ngút đầu gành tỏa khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương?
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ
Làn nước chi cho thiếp phụ chàng?
Chứng giám có đôi vầng nhật nguyệt
Giải oan chi đến mượn đàn tràng?
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương quá phũ phàng!"


MINH QUÂN          

(Trích từ bán nguyệt san Thằng Bờm số 22, ra ngày 1-3-1973)


Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2024

SỰ TÍCH TRÁI THƠM - Minh Quân

 

 
Chắc hầu hết các em đều đã trông thấy trái thơm và đã có lần được ăn thứ quả ngon, ngọt mà nhiều mắt đó. Nó không sang không quí như trái hồng, trái nho, không đắt tiền như lê, như táo. Nó là thứ trái cây rẻ tiền, bình dân mà khắp đô thị cho chí thôn quê đâu đâu cũng có. Nó còn là thứ thực phẩm có thể để lâu vào những lúc có nhiều, ăn ngay không hết, vào mùa rộ, người ta xắt lát phơi khô làm mắm, làm mứt, ép lấy nước, cho vào hộp, xuất cảng ra ngoại quốc v.v...

Nhưng điều đáng chú ý nhất là sự tích, nguồn gốc của nó, một câu chuyện khá đau thương:

Bà Hồng là một quả phụ nghèo, không sản nghiệp, quanh năm lao tác để nuôi thân. Bà làm bất cứ việc gì: đi cấy, đi gặt, may thuê, vá mướn ; mùa đông thì ngồi nhà chằm nón, xe chỉ. Bà là một phụ nữ đoan trang, lương thiện có
tiếng trong làng, bà có sắc đẹp, được cả người cả nết. Sau khi chồng chết, vừa đoạn tang xong thì có rất nhiều đàn ông ngấp nghé muốn cưới bà, song bà Hồng cương quyết không tái giá vì lẽ bà sợ con gái độc nhất của bà là bé Thơm sẽ khổ, bà không muốn san sẻ tình thương cho ai khác ngoài Thơm.

Bà đúng là bậc hiền mẫu. Xung quanh không ai chê trách bà vào đâu được. Song bà mắc phải một khuyết điểm: quá nuông con. Bà thường bảo là con mình bất hạnh, mất cha quá sớm, phải chịu thiệt thòi nên bà cần bù đắp vào chỗ thiếu thốn đó. Bé Thơm mặc nhiên nhận hưởng tình thương như nước nguồn của mẹ, kiêm cả tình thương như non Thái của cha!

Tuy nghèo khổ, vất vả, bà Hồng không để cho con gái mó tay, đặt mắt vào bất cứ việc gì, cho dù là những công việc nhẹ nhàng nhất trên đời. Trong lúc mẹ nó làm lụng quần quật ngoài vườn, trong rẫy hay dưới bếp, trên rừng nó vẫn cứ nhởn nhơ như cánh bướm rong chơi khắp xóm, tới bữa về ăn. Thơm lại càng không ưa việc học hành, chữ nghĩa không vô đầu, nó mới chịu!

Bé Thơm không thích việc chả củi, nhặt rau, ghét cả việc nấu cơm, kho cá. Bà Hồng có cô em gái lập gia đình tận làng xa. Lâu lâu về thăm chị, người em phàn nàn:

- Chị mỗi ngày một già yếu, phải tập cho cháu cất nhắc tay chân, con gái mà không biết qua một tị việc nhà... Chị tưởng sống đời để hầu hạ nó hay sao?

Bà Hồng chống chế:

- Cháu còn bé dại, thôi! Trăng đến rằm thì trăng tròn, dì ạ! Nó vẫn nhởn nhơ rong chơi khắp xóm như cánh bướm, chờ tới bữa nên mâm, nên bát mới chạy về ăn.

Thơm quen tính lười, nhất thiết không ưa sự làm việc, khác xa tính mẹ. Nó ghét chả củi, thái thịt, không ưa kho cá, nhặt rau, chẳng thích cầm kim, cầm kéo ; mẹ cho đi học Thơm càng ghét tợn: chữ nghĩa không chịu chui vô đầu nó như mọi trẻ em khác cùng trang lứa.

Mỗi năm, mỗi tuổi, cô gái càng lớn, người mẹ càng già, bà yếu dần đi, không thể lao tác ở ngoài đồng ruộng nữa, bà vay mượn bạn bè góp thành cái vốn nhỏ mua sắm một gánh hàng lặt vặt bán ở chợ kiếm lời độ nhật. Tinh sương bà đã quảy gánh lên vai, tối mịt mới kẽo kẹt gánh về. Thơm vẫn không đổi nết: dù cho mẹ cô đổ mồ hôi trên cánh đồng đổi lấy bát cơm cho cô hay là ngồi còm cọm ngoài chợ bán từng chút hàng lặt vặt như cái kim, cuộn chỉ kiếm lời đong gạo, bà vẫn phải về lo bữa ăn cho cô, chứ cô không đụng đến móng tay công việc sân vườn, bếp nước!

Bà Hồng tự chống chế là "trăng đến rằm thì tròn" không hề quở mắng con gái một câu. Nhiều hôm, trời lạnh căm căm, bà vẫn giữ thói quen dậy sớm, lo nấu cơm và thức ăn sẵn cho con gái để trưa nó có ăn rồi mới gánh gánh lên vai. Vào buổi chiều, mệt nhọc đặt gánh hàng lên bậc cửa rồi bà tất tả lo nấu cơm chiều, chứ không được nghỉ như bao nhiêu bà mẹ khác.

Sau bữa ăn, bà lại lo thu dọn chén bát, rửa ráy nồi niêu. Rồi thì là may quần vá áo cho con, trăm thứ nhì nhằng, không bao giờ được đặt lưng sớm.

Quá lao lực, bà già trước tuổi và không bao lâu, kiệt sức, bà ngã bệnh và bệnh mỗi ngày một tăng lên, không thuyên giảm.

Thơm bấy giờ đã mười ba tuổi bắt đầu chịu khổ: cô bé phải làm tất cả mọi việc từ lớn đến bé, từ dễ đến khó, những công việc mà cô chưa hề để mắt nhìn thử một lần chứ đừng kể đến chuyện mó tay! Chả củi, nấu cơm, đi chợ, giặt gịa v.v... chao ơi! Nhọc sao là nhọc!

Thơm phải xách nước từ giếng sâu lên, mồ hôi nhễ nhại. Thơm phải nhóm bếp khói tuôn vào mắt cay xè!

Nhưng mẹ Thơm vẫn không được yên thân nằm, trong lúc nhiệt độ tăng lên không ngớt, thỉnh thoảng từ giếng cô gái kêu giật mẹ:

- Mẹ ơi mẹ! Làm sao cho sạch cái cổ áo đây?

Hay từ dưới bếp:

- Mẹ ơi! Hộp diêm mẹ để chỗ nào?
 

Mặc dù cơn sốt đang hành hạ người mẹ, bà cũng cố gắng để trả lời con:

- Hộp diêm trên miếng gạch cạnh bếp đó.

- Thế còn gạo? Mẹ vất chỗ nào? Con kiếm không ra?

- Gạo trong vò, phía bên trái, từ cửa bếp nhìn vào là thấy.

Thơm lầu bầu, nhăn nhó, vất vả hồi lâu thì nồi cơm sôi sục trên bếp lửa, cô gái hốt hoảng, kêu inh ỏi:

- Mẹ! Làm sao đây? Cơm sôi rồi... cái vá hay đôi đũa?...

Bà mẹ ôm ngực ho rũ rượi, mệt tưởng đứt hơi song phải cố lê lại gần bếp, vùi bớt củi, dùng đũa xới sơ cơm và chờ cho cơm cạn mới lảo đảo về giường, mệt lả đi.

Thế rồi cơm chín. Từ bếp, cô gái quí lại hỏi vọng vào:

- Cơm chín rồi đây mẹ! Làm sao con nhắc xuống, nóng bỏng cả tay thề này, này!

- Lấy cái khăn lót tay mà nhắc cơm xuống, rồi ăn đi, mẹ mệt quá, hãy để mẹ nằm yên một chốc xem!

Lần đầu tiên người mẹ cáu với con. Thơm lại hỏi:

- Mà con ăn cơm với gì đây? Mẹ có ăn không?

- Có trách cá kho trong chạn đó, bưng ra, hâm nóng mà ăn, mẹ sốt thế này ăn cơm sao được. Thơm! Hãy để mẹ nằm yên!

Thơm gần khóc:

- Còn bát đũa mẹ để đâu? Con ăn bốc hay sao? Sao mẹ không cho con hỏi?

- Trời ơi! Sao con không chịu để mắt vào một chút? Cái gì cũng hỏi, mỗi chút mỗi hỏi...

Lần này bà Hồng hết kiên nhẫn nổi, la lên. La xong, bà mệt thêm nằm thiêm thiếp trên giường, tuy thế, bà vẫn cố để đừng mê đi, xem con gái còn cần hỏi gì không, vì dù sao, bà vẫn thương con lắm, thương còn hơn cả thương thân!

Thơm không hề biết phục thiện, cô gái phụng phịu:

- Khổ thân tôi chưa này Trời? Tôi có hai mắt chớ phải tôi có hai chục con mắt đâu mà mẹ bảo tôi để mắt chỗ này, chỗ khác! Tôi mà có nhiều mắt coi, tôi chẳng thèm hỏi han mẹ câu gì hết, để mẹ được nằm yên... Ước chi...

"Cô bé lười biếng kia! Ta sẽ cho mày có thật nhiều mắt! Rõ thật nhiều như mày ước muốn! Coi đây!"

Từ giữa không trung, một giọng nói bí mật cất lên, sang sảng và oai nghiêm làm cho bà mẹ từ giường toát mồ hôi vì kinh hãi. Thơm ngạc nhiên, đưa mắt nhìn quanh, cố tìm xem tiếng nói xuất phát từ đâu. Thơm nói với mẹ:

- Để con ra vườn coi!

Như có linh tính báo trước, bà mẹ muốn ngăn con lại nhưng không kịp. Và rồi, bà nằm đợi, đợi mãi không thấy cô gái trở vào, cơm cá nguội ngắt, bếp núc lạnh tanh.

Bà cất tiếng run run gọi con, không có tiếng trả lời.

Bầu không khí lặng lẽ của đêm sâu đầy kinh dị. Người mẹ sốt ruột quá, không đợi được nữa, khoác thêm áo ấm, băng mình dậy, ra ngoài tìm con.

Trăng sáng rỡ, gió đêm lạnh rợi.

- Thơm con! Con nấp chỗ nào? Mẹ đợi con đây!

Im lặng. Chợt bà mẹ để ý đến một cái cây hình dáng kỳ lạ đột ngột xuất hiện dưới trăng, chính giữa thân cây, có một trái. Bà dụi mắt mấy lần để nhìn kỹ, vì cứ tưởng mình quáng mắt, nhìn lầm. Rồi bà lại gần chút nữa, xem xét tỉ mỉ. Thân cây thấp, lá dài, móng có gai, giữa thân cây, lồ lộ một quả bao quanh không biết cơ man nào là mắt và từ đó bốc ra mùi thơm ngát mũi.

Bà Hồng lùi lại, tâm trạng bàng hoàng. Bỗng, từ trong cái trái cây lạ lùng đó, có tiếng con gái bà lanh lảnh cất lên:

- Mẹ đừng sợ! Con đây! Con có rất nhiều mắt, mẹ thấy chưa? Con phạm nhiều lầm lỗi lắm nên bị bề trên trừng phạt. Nhưng con không ân hận đâu, mẹ ạ! Con sẽ có ích cho mẹ: Ngày mai, mẹ hái con đi, đem ra chợ bán, con ngon ngọt lắm, người ta sẽ mua con, mẹ sẽ có tiền uống thuốc cho lành. Hái con đi! Rồi con sẽ mọc ra, lan tràn khắp vườn nhà. Rồi mẹ nếm thử xem, con ngon ngọt lắm!

- Thơm con! Làm sao đến nông nỗi này...

Bà gục xuống, ôm cái cây đầy gai mà khóc hồi lâu. Tiếng Thơm lại dịu dàng:

- Mẹ đừng khóc, con đau lòng lắm! Tại con nên nông nỗi này đây! Mẹ nín đi và nghe lời con nói. Sương xuống nhiều rồi đó, mời mẹ vô nhà nghỉ, kẻo nhiễm lạnh đau thêm. Con không xa mẹ đâu! Con ở tại đây, mà!

Bà Hồng nén khóc, vào nhà, nhưng bà không ngớt dõi mắt nhìn lại đứa con yêu từ nay trở thành một thứ trái cây kỳ quặc.

Rồi nhờ thứ trái cây đó, bà kiếm được khá tiền. Không bao lâu quanh gốc cây mọc vô số cây con. Mọi người đổ xô lại, mua về gây giống. Cho đến tận lúc ấy, người ta vẫn không biết gọi nó là thứ trái cây gì. Bà Hồng, sau nhiều đêm suy nghĩ, bèn đặt cho thứ trái ấy cái tên THƠM để kỷ niệm đứa con gái bất hạnh của mình, và mọi người đều gọi theo bà.

Cho đến ngày nay, Thơm xuất hiện cùng khắp trên thế giới, sự tích về nó đã chìm vào quên lãng, người ta chỉ biết nó là trái ngọt, nhiều mắt mà thôi.


MINH QUÂN

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 69, ra ngày 17-12-1972)


Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2024

MÂU THUẪN - Minh Quân

 

Ông Ký có được hai con gái, bà mất sớm, ông còm cọm làm gà trống nuôi con. Ông nghĩ rằng mất mẹ là điều thiệt thòi lớn nhất trên đời cho hai trẻ, nên cố sức thương yêu, nuông chiều hai con gái để bù vào sự thiệt thòi đó.

Hai cô gái lại có những ưa thích trái ngược nhau làm ông vô cùng cực nhọc (khi hai cô còn ở nhà với bố), chẳng hạn: trong bữa ăn, một cô đòi xắn trái ớt rõ cay trong bát nước tương, thì cô kia lại xuýt xoa ầm lên rằng không ăn cay được. Hoặc cô lớn thích ăn rau luộc mà cô bé lại cho rằng rau sống ngon hơn.

Ông bố sói cả tóc vì hai cô gái quí!

Nhưng rồi ngày tháng dần qua, hai cô lớn lên thành gia thất, đi ở riêng hết thì ông Ký lại buồn, nhớ hai con, tuy bây giờ ông được yên thân chẳng ai hành tội nữa.

Ấy, vậy mà thỉnh thoảng có nhớ con, ông đến thăm hai cô, ông lại bị bực mình.

Nguyên cô lớn lấy một nông gia và cô bé lại là vợ anh chàng làm gạch nung.

Hỏi thăm sức khỏe con gái lớn xong, ông cụ hỏi:

- Thế nào, con? Gia đình con vui vẻ chứ? Con có điều gì buồn bực... hãy nói với cha.

- Thưa thầy, con chẳng có điều gì ao ước, ngoài có mỗi một việc mọn: trông cho trời mưa luôn, mưa rõ to để mùa màng tươi tốt, thế thôi (cô bỗng sụt sùi khóc), thế mà có bao giờ con được toại nguyện đâu... có lẽ trên đời này con là kẻ bất hạnh nhất... hu hu...

Ông bố vội vàng dỗ dành con gái, bởi vì trời mưa hay nắng là một điều ngoài quyền hạn của ông, dù rằng ông rất đau lòng thấy con khóc lóc như vậy.

Ba hôm sau, ông thân hành mua vé tàu đi thăm cô út. Ông lại ân cần hỏi thăm sức khỏe của vợ chồng cô, nghe cô trả lời là "chúng con đều mạnh" ông lấy làm hài lòng lắm. Ông nói:

- Cha lấy làm mừng thấy các con hòa thuận yên vui, trên đời không có gì quí bằng được trời thương như vậy...

Song ông chợt dừng lại nửa chừng vì nom thấy sắc thái ủ dột của cô gái út. Ông ái ngại hỏi:

- Ủa, con mới nói rằng vợ chồng con vẫn mạnh khỏe...

- Vâng! Chúng con mạnh khỏe, nhưng vậy đâu có nghĩa là trời thương như cha bảo? Nghe cha nhắc đến hai tiếng trời thương con tủi thân quá đi thôi. Thật ra, trời đã bỏ quên con từ lâu lắm, cha ơi!

Nói xong cô gái lại rưng rức khóc như tuồng có điều oan khổ nhất trên đời.

Người cha bối rối, lo lắng hỏi:

- Thế con khổ sở lắm sao? (cô gái không trả lời, mà chỉ nức nở khóc to thêm) Chớ! Con khóc như thế làm cha khổ lắm, cha không chịu được đâu, con muốn gì, thử nói cha xem, liệu cha có thể...

- Nào con ao ước gì nhiều, chỉ có một điều mọn là mong trời nắng, nắng rõ to, rõ nhiều, nắng quanh năm để gạch ngói của nhà con chóng khô thôi, thầy ạ! Thế mà trời cứ mưa hoài, mưa mãi...

Ông bố nghe xong, bưng đầu nói:

- Hai chị em chúng mày lúc nào cũng hành hạ thân tao, đứa ước trời mưa, đứa ưa trời nắng, còn tao đây, tao biết ước gì cho vừa bụng hạng người ích kỷ như lũ chúng mày đây, kia chứ?

Và ông hầm hầm xách dù đi thẳng.


MINH QUÂN       

(Trích từ bns Thằng Bờm số 24, ra ngày 1-4-1973)