Hàng
ngàn năm nay, người ta thường chứng kiến những cuộc di chuyển vĩ đại
cùa hàng trăm loài chim, tùy theo từng loài, chúng có thể thực hiện
những cuộc hành trình dài hàng chụ ngàn cây số từ Nam lên Bắc, hoặc
những cuộc di chuyển ngắn trong một khu vực địa lý nhất định. Mặc dù đã
được nhiều viện khảo cứu về chim muông trên thế giới chú tâm tìm kiếm,
ngày nay người ta vẫn chưa có một kết luận chính xác về các động lực kỳ
bí thúc đẩy chúng. Thật không khó khăn để phỏng đoán rằng sự di trú có
một giá trị sống chết như những loài di trú theo điều kiện thời tiết.
Chim Petrel, một loài chim biển nhỏ lông đen trắng, cánh dài, làm tổ
trong những hốc đá ngoài biển khơi có khuynh hướng bay vòng quanh trái
đất giữa hai kỳ sinh đẻ của chúng. Thường thì chúng bay về phía Bắc, về
mùa Hạ và Thu để kiếm côn trùng về nuôi đàn con sắp nở ra đồng thời tìm
kiếm những vùng đẹp trời hơn để di chuyển đến mỗi khi vùng ở hiện tại
khí hậu trở nên oi bức và đồ ăn thiếu thốn.
Giống
chim Hải Yến Bắc Cực được ghi nhận là có tầm hoạt động xa nhất, trong
mùa Xuân chúng đẻ trứng từ vĩ tuyến 82 độ Bắc, chúng bắt đầu di chuyển
dọc theo bờ biển Đại Tây Dương để tới vùng Âu Châu và Phi Châu, hoặc
theo bờ Đại Tây Dương tới Mỹ Quốc và sau đó chúng có thể xuống tận vĩ
tuyến 74 độ Nam. Cuộc di chuyển này có thể xa đến 60.000 cây số. Đối với
loại chim sống trên đất liền, chúng cũng có thể thực hiện những cuộc
vượt biển như loại Américan Golden Plover (óc câu Mỹ Châu) có tổ ở vùng
Alaska, chúng vượt trên 3.000 cây số qua Đại Tây Dương để tới các hải
đảo Hạ Uy Di, ngay cả loại chim nhỏ xíu như Rubythroated Hummingbird,
chúng có thể bay không ngừng suốt quãng đường từ 100 tới 200 cây số qua
vịnh Mễ Tây Cơ.
Khi
thực hiện những cuộc di trú đó, loài chim không bay riêng rẽ mà thường
hợp thành từng đoán bay rợp trời. Khi chứng kiến những cảnh tượng đó
chúng ta thường có những mối xúc cảm rõ rệt. Nhất là chúng lại có những
thời biểu di trú nhất định từng mùa hay theo thời tiết. Tại Bắc Mỹ, các
viện nghiên cứu chim muông đã thống kê được trong khoảng thời gian từ
1920 đến 1958 có đến 7.500.000 chim tụ họp trong vùng và từ đó đến nay
hàng năm có khoảng nửa triệu chim đã di trú trong vùng Bắc Mỹ. Khi
nghiên cứu các loại chim di trú này người ta phải sử dụng một hệ thống
Radar, và chính nhờ đó các viện nghiên cứu lại cho biết, các loài chim
di trú thường bay trên độ cao từ 800 đến 900 thước, Radar cũng khám phá
được lộ trình của từng loài chim.
Cuộc
di trú của loài chim thường gây ra bởi nhiều nguyên do, nhưng nguyên do
trọng yếu nhất, người ta cho rằng thường sau mỗi kỳ sanh đẻ của chúng
trong những ngày ngày ngắn đêm dài, đã làm thay đổi các kích thích tố
trong cơ thể chúng, sự thay đổi này khiến chim cần thức ăn để dự trữ
trong cơ thể dưới dạng mỡ, nó cũng làm cho chim trở nên hoạt động.
Cuộc
di trú của loài chim lại thường có một hướng nhất định, và dù có xa
hàng ngàn dặm chúng cũng có khả năng để tìm về tổ của chúng. Nhiều cuộc
thí nghiệm đã chứng minh rằng chim đã dùng mặt trời và sao làm kim chỉ
hướng, bởi vì người ta đã thấy chúng chỉ bị lạc hướng trong bầu trời u
ám.
Một
loài Bồ Câu hoang dã có khả năng tìm về tổ cũ rất chính xác mặc dù
người ta có mang chúng đi thật xa. Một cuộc thử nghiệm khác đối với loài
chim Manx Shearwater, người ta đã bắt chúng tại ổ trong vùng Skokholm
Anh Quốc, sau đó chuyển đến Boston xa hơn 3.000 cây số, loài chim này đã
trở về ổ của chúng 12 ngày sau đó. Cũng trong chiều hướng thí nghiệm
đó, một loài chim khác, Hooded Crows được bắt từ vùng Rossitten Nga Sô,
sau đó được chở về hướng Tây Flensburg Đan Mạch xa hơn 900 cây số, khi
thả ra loài chim này lại có những hướng bay y hệt hướng mà nó đã thực
hiện khi còn ở đất Nga.
Dĩ nhiên cho đến nay ngành "điểu học" vẫn chưa trả lời hết các thắc mắc về sự di trú của loài chim.
TRƯỜNG KỲ
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973)


Không có nhận xét nào:
Không cho phép có nhận xét mới.