Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

CỌP BA CHÂN - Song Sơn

 


Nhà ông Ba ở cách rừng không tới hai cây số ngàn. Ven rừng, san sát những đám ruộng lúa chín vàng óng ả dưới ánh nắng chiều, đấy là những ruộng lúa mà ông Ba tối nào cũng vậy, ông cần ra đấy để giữ heo rừng không cho xuống ăn lúa.
 
Chiếc lều tranh ông cất bên cạnh một con suối chảy uốn lượn quanh rừng như một con rồng thiêng quanh năm mong nước tưới thắm lúa đồng, đấy là nơi duy nhất ông Ba dùng để nghỉ đêm ngoài ruộng.
 
Đem về, cái âm u của rừng núi, cái bí ẩn của vũ trụ chụp xuống cánh đồng một màn âm u ghê sợ. Tiếng chim kêu, tiếng vượn hú, tiếng cọp gầm, tất cả đủ gây cho con người một sự khủng khiếp vô biên ; thế mà ông cứ mỗi chiều về, chừng thấy mặt trời gác đầu non khoảng sào là ông đã vội vã ăn cơm để ra ruộng giữ lúa.
 
Hôm nay trời thật trong, ánh trăng mười sáu vằng vặc chảy thủy ngân trên vạn cây rừng, dòng suối như một dải bạc lấp lánh. Cây rừng êm lặng, cánh đồng ngủ say và ông Ba cũng đang chìm trong giấc mộng chập chờn.
 
Đêm yên lặng quá, một cái yên lặng đến rùng mình, thế nhưng tự nhiên cây rừng lay động, chim chóc kêu vang rồi thì từ trong rừng, hai vệt sáng từ từ di động hướng về phía bờ suối.
 
Dưới ánh trăng vằng vặc, một con cọp to tướng, dài đến hơn hai thước đang khập khễnh bước từng bước chậm chạp, thỉnh thoảng nó đứng lại để nghe ngóng rồi thì nó lại tiếp tục đi. Bóng nó lù lù in rõ trên bờ ruộng xanh những cỏ. Trong đêm tối, mắt nó sáng như hai đèn pin khiến ai thấy ắt phải khiếp đảm kinh hồn. Nó đứng lại nhìn trăng rồi thì nó vươn cổ rống lên những tiếng oam... oam... nghe như tiếng khóc hãi hùng hay tiếng giận dữ kinh thiên, tiếng nó vang vang trong âm u huyền hoặc của núi rừng càng khiến cho cảnh vật nơi đây nhuộm đầy vẻ bí mật và thiêng liêng như đây là giang sơn của muôn thú không bao giờ ai đặt chân đến.
 
Nó đi về hướng bờ suối, đấy là nơi nó thường ra uống nước, và chính ông Ba cùng những người trong làng cũng thấy dấu chân nó lưu lại mà ông Ba đoán rằng đấy phải là một con cọp rất to.
 
Người làng e ngại nói với ông:
 
- Ông đừng tiếc của rồi có thể làm mồi cho cọp mất.
 
Ông Ba rùn vai cười tin tưởng:
 
- Sá gì ông, mình đâu có động gì đến "ổng" thì "ổng" cũng không nỡ hại mình.
 
Trước lời nói ấy người ta chỉ biết lắc đầu và thế là ông Ba lại tiếp tục ra đấy giữ lúa vì ông tin rằng "ông cọp" không hại ông.
 
Uống một hơi dài nó lại đi lên bờ suối đứng nhìn và nó lại để ý đến cái lều cất ở giữa ruộng, một linh tính nào đó cho nó biết là lều hẳn phải có mồi ngon và nó chậm rãi bước tới.
 
Đây là lần đầu tiên nó thấy cái lều vì đã hơn mười ngày qua nó bận đi tìm mồi ở xóm bên kia núi và hôm nay thì nó trở về đây.
 
Chiếc lều trống, ành trăng tỏ, thân hình ông Ba nằm ngủ im trong lều. Nó chiếu những tia sáng ghê sợ vào thân hình ông Ba với vẻ thèm thuồng và nó nằm xuống chờ đợi với tư thế tấn công : Chân trước nó hơi rùn xuống, lưng cong lên, hai chân sau thu lại để lấy trớn và đuôi nó đặt sát đất.
 
Nó đợi vì tưởng đấy là một xác chết, với loại thú nầy nó không bao giờ ăn mồi chết, tuy nhiên nếu là mồi của nó bắt được thì thường nó để đến khi con mồi có mùi rồi mới nhấm nháp một cách ngon lành hay trường hợp đấy là mồi của nó bắt ăn còn dư để lại hôm sau.
 
Bây giờ chỉ cần một cái cựa mình của ông Ba là nó tấn công liền.
 
Nó đợi từ lúc trăng đứng đầu đến xế thì ông Ba trở mình lăn qua một bên, tức thì nó chồm tới, cả thân hình to lớn của nó phủ lên người ông Ba và hai hàm răng bén nhọn của nó cắn sâu vào yết hầu của ông Ba lôi đi.
 
Ông Ba giãy giụa một cách tuyệt vọng, miệng ú ớ những tiếng rên thê thảm, máu trong yết hầu bắn ra thành vòi và cuối cùng, rất chóng ông Ba xuôi cả tay chân...
 
Sáng ra bà Ba đợi mãi đến nửa buổi cũng không thấy chồng về, bà nóng lòng vì có khi nào ông Ba lại về trễ thế đâu. Bà cùng người con lớn lên tìm ông ở lều.
 
Không thấy ông Ba đâu, mà ở đấy máu đọng thành vũng có dấu chân cọp giẫm đầy. Bà Ba chết điếng trong lòng khóc rống lên vì bà biết chồng đã bị cọp bắt rồi. Bà cùng con vội chạy về báo tin cho ông Tư, em ruột ông Ba cùng bà con trong xóm biết.
 
Thế là năm mười phút sau, kẻ mõ người thùng thiếc cùng gậy gộc, tất cả ba bốn chục người đàn ông lực lưỡng nhất loạt tiến thẳng về hướng lều ông Ba.
 
Người ta theo vết máu và dấu chân cọp, lần theo để may ra tìm được xác ông Ba.
 
Cả khu rừng bí mật, yên lặng, giờ đây bị khuấy động với những tiếng la hét và tiếng khua vang của mõ, thùng. Đấy là cái lối đuổi cọp cổ truyền của dân tộc Việt Nam thời xưa.
 
Đang đi bỗng ông Tư đứng lại ra hiệu và nói:
 
- Có lẽ nó ở đâu đây, ta đã nghe mùi hôi thúi của nó rồi.
 
Mọi người càng la hết và khua động vang những mõ với thùng cùng dán mắt vào một lùm dây mây rậm rạp đang rung động. 
 
Ông Tư là người nhìn thấy trước tiên bóng của con cọp rằn đang trừng mắt hướng về phía đám người dám ngang nhiên tới phá động nó.
 
Nó gầm thét dữ dội nhưng đám người đi tìm xác ông Ba càng tấn công hơn với những tiếng hò la xua đuổi. Trước sức mạnh ấy, hình như cọp thấy rúng động nên từ từ lui, rồi thì rầm một cái, nó phóng vút vào trong rừng.
 
Thật là ghê gớm, cạnh một đống máu, chiếc đầu ông Ba nhẵn sạch tóc, hai con mắt đã bị móc đi để lại hai cái lỗ sâu hoắm, thăm thẳm thật kinh người.
 
Một mớ tóc ngắn vắt trên những ngón tay đầy gai của dây mây lắc lư như một mớ mây đen buồn thảm trong cái âm u tĩnh mịch của núi rừng.
 
Những mảnh quần áo nát vụn đầy vết máu, bi thương lạnh lẽo rải đầy trên đất. Tất cả thân hình ông Ba chỉ còn lại có thế, còn gì kinh khủng và đau xót hơn. Người ta chỉ còn biết khóc và ngậm ngùi, rồi thì góp những gì còn lại của thể xác ông Ba để đem chôn.
 
Người ta cho rằng những người bị cọp ăn, nếu giành được xác đem về chôn thì sẽ bị sự trả thù của cọp cho nên họ phải làm một cái nhà bằng tre thật chắc chắn bao quanh mộ của ông Ba để, nếu con cọp có trở lại moi xác, thì nó cũng không vào được để mà quật mả lên.
 
Câu truyện của ông Ba bị cọp ăn lan tràn từ làng nầy đến làng khác và ai ai cũng sợ hãi mỗi lúc nhắc đến chuyện hãi hùng ấy.
 
Cái truyền thuyết cọp thành tinh đi hai chân như người giờ đây sống lại một cách mãnh liệt trong lòng của họ và họ bàn tán xôn xao.
 
- Thì nhất định không trước thì sau gia đình ông Bá cũng phải lần lượt bị con cọp ấy bắt luôn, bởi cái hồn oan khiên của ông Ba sẽ nhập vào đấy rồi thì khiến nó - khiến với một sức mạnh vô cùng huyền bí - bắt được những người trong gia đình hoặc họ phải lên rừng cho nó bắt đi.
 
- Hoặc cọp thành tinh thì ghê gớm nhất, nó có thể biết được quá khứ vị lai và nếu ai nói gì tới nó ắt sẽ bị nó thù oán rồi bắt ăn thịt liền...
 
Nhiều lắm, họ nói mãi, nhưng đại để thì ý như thế. Rồi thì ai cũng sợ, ai cũng lo âu mà nhất là gia đình của ông Ba, vì từ trước, vợ con ông thường vào rừng lấy củi, cái nghề nghiệp ấy bây giờ vẫn còn và bắt buộc vợ con ông phải vào rừng thường xuyên, lại em ông là ông Tư luôn luôn thả trâu vào rừng ăn, biết đâu được, ừ thì biết đâu lại chẳng sớm làm mồi cho con cọp ghê gớm ấy.
 
Chết thì ai chả sợ, mà cái chết vì bị cọp ăn thì lại là một khủng khiếp hơn, bởi thế gia đình ông Ba, từ nhỏ đến lớn ai cũng đang sống trong một cơn sốt hãi hùng : cái hình ảnh cọp đi hai chân trong đêm trăng, mờ mờ ảo ảo như bóng ma huyền hoặc ấy càng làm cho họ khiếp vía hơn. Nhưng vì sinh kể chả nhẽ lại cứ đóng cửa ở nhà, và, có ở nhà nó cũng bắt buộc mình đi ra ngoài cho nó ăn thịt kia mà.
 
- À, thì biết sao đây, thôi đành nhắm mắt đưa chân, số kiếp thì làm sao tránh khỏi.
 
Đó là lý luận của tất cả những người trong gia đình ông Ba, nhưng ông Tư thì không cho thế, ông không tin cái huyền hoặc vô lý được. Anh ông chết, ông đã căm thù con cọp ấy rồi, thì ông quyết phải giết được cái con cọp ghê gớm ấy, mà theo ông hình như đấy là con cọp ba chân.
 
Hằng ngày ông Tư thường thả trâu vào rừng. Hôm ấy trời đã ngả nắng chiều và đàn trâu của ông Tư cũng đã lũ lượt kéo nhau ra suối uống nước.
 
Thình lình, một tiếng gầm đinh tai khiến cho người yếu bóng vía có thể chết ngất đi và tiếp theo, một con cọp to tướng đã phục sẵn gần đấy hồi nào không biết nhảy bổ ra phủ lên mình một con trâu lớn. Nó cắn vào cổ con trâu rồi thì như một người thật, nó để hai chân trước của con trâu trên vai nó, dùng chân trước như một cái tay cầm chặt lấy chân con trâu còn hai chân sau dựng thẳng lên đi như người.
 
Ông Tư ngồi ngoài đường cái chỉ biết yên lặng nhìn con trâu của mình bị cọp bắt đi với một sự căm tức tột cùng.
 
Ông vội lùa đàn trâu về và tức tốc đi báo cho bà con trong xóm biết để đi tìm xác con trâu, nhưng không ai có can đảm hường ứng lời của ông Tư vì trời đã tối.
 
Ông Tư đành chịu chờ đến sáng hôm sau.
 
Lúc mặt trời lên khỏi non chừng sào thì các dân làng lực lưỡng cũng lại kẻ mõ người chiêng rầm rộ như một đoàn quân đi theo sự hướng dẫn của ông Tư tiến thẳng đến rừng tìm dấu cọp.
 
Vết chân trâu và cọp hằn sâu trên bờ ruộng lúa và những giọt máu đã khô đen lại. Sau một hồi lâu tìm kiếm, đoàn người đã thấy được dấu vết đích thực là nơi đây cọp đã hạ thịt con trâu vì những lau sậy chung quanh đấy bị bẹp xuống hoặc bứng rễ chứng tỏ đã có sự giẫy giụa kịch liệt của con trâu trước giờ chết.
 
Quả nhiên cách đấy không xa trong một bụi tre rậm đã có tiếng gầm gừ của con cọp sợ cướp mồi.
 
Sau khi phát giác, mọi người nhất loạt bao vây theo hình chữ C và hò hét vang trời. Lại một lần nữa cọp ta đành bỏ mồi để tẩu thoát.
 
Con trâu to lớn thế mà chỉ còn lại phân nửa thân mình, chứng tỏ con cọp ấy to lớn và khỏe đến độ nào.
 
Sau khi xem xét ông Tư cho biết đấy là con trâu chửa và bọc con còn lại. Ông cẩn thận lấy ta lôi ra một con nghé con đã sắp sanh và đem về. Mọi người ngạc nhiên thì ông bảo:
 
- Rồi các ông sẽ biết.
 
- Còn con trâu?
 
- Thì để đấy, lấy về chi, có dùng được nữa đâu vì đó là thịt hổ giảo, ăn vào có phong thì chết cho.
 
Nhưng ông ra hiệu cho mọi người cùng khiêng xác con trâu đem đến một nơi khác rất xa nơi ấy để chôn rồi thì mọi người thong thả ra về.
 
Về đến nhà, ông Tư tự động đi ra chợ mua liền mấy kí lô thuốc chuột đem về mổ ruột con nghé và nhét đầy thuốc vào đấy xong ông lại một mình đem lên tận nơi đã cướp mồi của cọp đặt y nguyên lại chỗ cũ.
 
Bây giờ thì ông Tư chờ đợi kết quả việc làm của ông mà ông tin chắc là sẽ giết được con cọp nếu nó ăn cả con nghé ấy, thuốc sẽ làm đứt cả ruột gan nó và nó sẽ chết tức khắc.
 
Ông Tư tin là con cọp sẽ trở lại tìm mồi và khi thấy con thịt của nó chỉ còn lại bấy nhiêu tất nó sẽ ăn hết, nó ăn mà không nghi ngờ vì đấy là con thịt do nó bắt.
 
Quả nhiên tối ấy con cọp trở lại và đã ăn nốt phần mồi còn lại. Thế là nửa đêm, người ta ở quanh làng gần núi đều phải run lên, lấy cây cài thêm cửa cho thật chắc vì họ nghe tiếng rống kinh khủng của con cọp.
 
Qua hai ngày như thế dân làng không dám ra đồng vì cọp đã ăn phải thuốc của ông Tư và phát điên lên, nếu lúc này bất cứ gặp ai ắt nó không bao giờ tha cho.
 
Đến ngày thứ ba thì tiếng gầm im bặt thế nhưng ông Tư cũng chưa dám đi tìm vì biết đâu được nó say quá mà nằm lại đâu đấy. 
 
Nhưng qua một ngày không nghe động tĩnh gì nữa, ông Tư biểu những trai làng cùng ông đi tìm.
 
Một sự hãi hùng, cả một khu đất rừng khoảng một mẫu đất, cây cối ngả nghiêng trốc gốc và dưới gốc một cây tràm to tướng xác con cọp nằm im bất động.
 
Không ai dám tới gần, họ lấy đá ném vào mình nó để dò thực hư, sau khi biết chắc cọp đã chết thì mọi người mới ùa lại xem.
 
Đấy là một con cọp vằn ba chân to tướng nằm sóng soài cạnh một mớ ruột sình thối lòi ra ngoài va da của nó đều nứt nẻ vì sự công phạt của thuốc.
 
Nhìn xác con cọp ông Tư cười mãn nguyện, ông đã trả thù được cho anh và tránh được mối lo âu sợ hãi cho dân làng mà nhất là gia đình của người chị dâu.
 
Câu chuyện trên là do một người thượng chuyên sống trên rừng quen với ông Tư kể lại nhân lúc loạn lạc mà gia đình tôi đã trú nhờ gia đình người thượng nọ.
 
 
SONG SƠN         
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 32, ra ngày 22-8-1972) 


Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

MÀU LÁ RỤNG - Đoàn thị Như Quê

 

Bởi vì trời mưa chiều ni em khóc
Không học bài, không chép nốt đoạn thơ
Lòng không yên nên em mãi thẫn thờ
Nghe trời chuyển mùa thu len lén đến

Tuổi học trò mười mấy lần hạ chết
Để tiếc thương màu đỏ huyết phượng rơi
Buổi chiều ni nghe mình đã lớn rồi
Nên Thu lại em yêu màu lá rụng!

Bởi vì trời mưa nên giọt buồn lắng đọng
Ru hồn em vào mây khói vu vơ
Biếng làm bài sao cứ thẫn thờ!
"Trời buồn chứ tại sao em buồn nhỉ?"

Chiều thứ bảy chắc phố đông người hỉ
Sao người ta không làm biếng đi chơi?
Lá rụng nhiều chắc vàng phố hết rồi
Mưa cuối hạ như mưa buồn mười sáu

Mẹ bảo rằng: "học trò yêu hoa máu!"
Nhưng lớn rồi nên em ghét nắng hè
Yêu màu vàng - màu lá rụng - nhiều ghê!
Nên em khóc: chiều ni thu vàng lại...

                                       ĐOÀN THỊ NHƯ QUÊ

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 77, ra ngày 15-9-1967)



Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

ĐỪNG VỘI NGHĨ TỚI CHUYỆN YÊU ĐƯƠNG - Đỗ Phương Khanh

 


 Thư của em P.T.H.N Bảo Lộc:

... Em công nhận là báo Thiếu Nhi nặng phần giáo dục, ba má em cũng bảo thế, mà em nói cái này chị đừng cười nhé, ông nội em cũng thích Thiếu Nhi luôn. Nội em bảo rằng nội cũng sẽ gửi phiếu về xin gia nhập G.Đ.T.N. nhưng chỗ ghi học trường nào thì nội sẽ ghi là học trường đời. Mà nội cũng không có xưng em với tòa soạn đâu, nội bảo các chú, bác chỉ bằng tuổi con nội thôi (chị đừng giận nhé), mà nội thích T.N. là nội gia nhập. Nhưng sao chị bướng thế, cái chị M. ở Dalat bữa hổm có nói với chị trong số 87 yêu cầu đăng truyện tình yêu thơ mộng, báo sẽ lừng nhất nước, sao chị không chịu nghe lời. Chị ơi! Cứ tưởng tượng tới lúc báo mình bán chạy như tôm tươi, trong tay mỗi người đều có một tờ Thiếu Nhi là em sướng mê luôn đó chị. Khỏi còn sợ lỗ lã nữa nha chị. À, mà chị này, em nghe nói báo mình được giúp mười triệu, sao còn lỗ nữa há chị? Sao báo khác không được giúp mà vẫn lời há chị há?...

Trả lời:

G.Đ.T.N. trân trọng mời ông nội của em gia nhập. Đặc biệt với nội em, tòa soạn chỉ xin hai tấm hình và hàng chữ viết tay của nội ghi chi tiết lập thẻ, để làm kỷ niệm. Em thưa với nội là nội khỏi cần làm phiếu và nội khỏi phải cam kết. Cũng như cụ Đỗ Ngọc Hồ, nội em sẽ là thành phần danh dự của gia đình chúng ta.

Em ơi! Đừng nhắc tới vụ đăng truyện tình trong Thiếu Nhi nữa nhé. Chính nhờ nội dung đứng đắn của Thiếu Nhi mà gia đình em mới tin cậy đến thế đó em ạ.

Chị công nhận truyện tình yêu là đẹp. Nhưng phải đến tuổi của nó. Như trái cây ăn bổ, nhưng là trái chín cơ. Ăn trái xanh, chúng ta có thể bị trúng thực. Chúng ta không thể so bì bắt chước thanh thiếu niên ở những nước thanh bình liền bao nhiêu năm nay. Vì quốc gia họ không có chiến tranh, nên đời sống họ ổn định, thời giờ và tiền bạc họ dư thừa họ có thể chỉ nghĩ tới bản thân và lao vào tình yêu, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân hưởng thụ dễ dàng.

Quốc gia chúng ta khác hẳn. Ba chục năm chiến tranh đã làm sụp đổ biết bao công trình xây dựng của tiền nhân. Nay chúng ta phải rèn luyện để có một ý chí phấn đấu, mà kiến thiết lại xứ sở, cả về tinh thần lẫn vật chất. Tuy rằng chúng ta vẫn sống vì chúng ta, nhưng đồng thời, chúng ta vẫn phải dành cho quốc gia một phần cuộc đời, cái phần sung sức nhất, cái phần dồi dào sinh lực và thiện chí, tức là cái tuổi trẻ của chúng ta các em ạ.

Các em hãy nhìn qua các nước Đức, Nhật, v.v... Sau chiến tranh, xứ sở họ tan nát, nhưng nhờ ở tấm lòng và đôi tay của từng người dân biết quên mình để kiến tạo quê hương, ngày nay họ đã trở thành những cường quốc, có tiếng nói được thế giới vị nể. Chắc chắn rằng quốc gia họ đã không phồn thịnh như ngày nay, nếu cách đây hơn hai chục năm, thanh thiếu niên Đức, Nhật chỉ gồm toàn các cô cậu hippy, tối ngày ôm cây đàn mà múa may mấy bản nhạc YéYé, hoặc ngồi đuỗn mặt thở khói trong quán cà phê, chống tay lên cằm mà than "đời là bể khổ". Ngồi ở nhà thì chỉ mơ mộng tới người tình bé nhỏ, hoặc người tình tóc xù, bài học không vào đầu, trước mắt chỉ lảng vảng hình bóng anh, hình bóng em, đi học thì cúp cua để rủ nhau vào rạp ciné mà than vãn đổ thừa tại lý do này, lý do nọ mà mình học dốt, để rồi tương lai đen tối lại oán trách cha mẹ không hiểu mình, rồi bất mãn với gia đình.

Không thể như thế được. Tòa soạn Thiếu Nhi đồng ý với một số em rằng nội dung Thiếu Nhi khô khan, không đáp ứng được đòi hỏi của một số em, nhưng thà là báo bán ít, thà là lỗ lã, T.N. vẫn giữ vững lập trường. Suốt trên một trăm số rồi, Thiếu Nhi đã tự chọn cho mình con đường gai góc, con đường đi chật chội cực nhọc, nhưng Thiếu Nhi tự hào là chỉ với trên 3000 độc giả, Thiếu Nhi đã góp một phần vào sự xây dựng một quan niệm sống đẹp và cần thiết cho tổ quốc. Nội dung Thiếu Nhi đã nặng phần giáo dục và sẽ còn nặng phần giáo dục, vì đó là điều cần và sẽ còn cần. Nếu Thiếu Nhi thay đổi lập trường để chiều lòng một số độc giả, để bán thêm một số báo, là Thiếu Nhi đã chối bỏ cái lý tưởng mà tất cả tòa soạn đã đề ra, đã xiết tay nhau đồng lòng đi tới mục đích, là góp phần đào tạo một thế hệ trẻ lành mạnh, biết nhìn thẳng vào nỗi đau khổ của dân tộc, mà đừng vội hưởng thụ một cách ích kỷ.

Ngày nào mà Thiếu Nhi đề cao những mối tình than mây khóc gió, ngày ấy các em nên bỏ, đừng đọc Thiếu Nhi nữa. Tình yêu đẹp, nhưng chưa phải lúc và không phải ở tuổi của các em. Đang thời kỳ cần lăn xả vào mà học, hối hả học, để đào luyện con người mà các em mê đắm vào yêu đương, thì hết hy vọng ở tương lai, các em ạ.

Vấn đề được giúp 10 triệu thì em đã hiểu lầm. Sự thực là chính phủ ra điều lệ mỗi tờ báo phải ký quĩ, nghĩa là gửi vào một nhà băng nào đó, số tiền 10 triệu cho tuần báo, 20 triệu cho nhật báo, để được ấn hành báo. Số tiền đó trước sau vẫn là của nhà báo, chứ không ai cho mình. Chính chủ nhiệm báo bỏ tiền túi ra mà gửi vào nhà băng, thế thôi.

Riêng những báo tôn giáo, giáo dục v.v... khỏi phải ký quĩ số tiền đó (thật ra thì những báo này mà phải ký quĩ, họ sẽ đình bản báo liền, vì làm báo loại này, chưa hề có một tờ nào đủ vốn, nói gì tới lời, chẳng ai ham làm, nếu không vì lý tưởng, và chắc chắn sẽ chẳng có tờ nào trong tất cả những tờ được miễn, chịu ký quĩ để được tiếp tục xuất bản báo, nếu phải ký quĩ). Tòa soạn không hề nhận được 10 triệu. Sự việc đó chỉ có nghĩa là bác chủ nhiệm không phải bỏ thêm ra 10 triệu để gửi vào nhà băng. Nếu có tờ báo nào dù đã ký quĩ mà vẫn sống hùng, sống mạnh, mà tờ Thiếu Nhi dù không ký quĩ vẫn lỗ, thì cũng có thể dùng thí dụ nôm na dễ hiểu như những nhà hàng lớn, sang trọng, dù đóng thuế nhiều, vẫn lời, trong khi những quán cơm xã hội, nếu chính phủ không trợ cấp gạo thì sẽ phải dẹp tiệm. May mắn cho Thiếu Nhi là có bác chủ nhiệm gồng mình chịu lỗ, nên còn sống được tới nay. Mặc dầu T.N. chỉ sống ngắc ngoải, nhưng chính phủ cũng không phải trợ cấp gì cả em ạ.


Chị Đỗ Phương Khanh      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 104, ra ngày 24-8-1973)


Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

LẠI VẤN ĐỀ CHO MƯỢN SÁCH BÁO - Lê Trung

 


Các em thân mến,
 
Mục Suối Mát được các em hưởng ứng nồng nhiệt chị rất cảm động. Ở số 52, chị có tìm dùm em Ng, giải pháp về vấn đề bạn của em đó mượng báo của Ng. rồi tới khi trả lại thì đã hư hỏng hết. Nay Lê Trung lại có thêm một kinh nghiệm sống về vấn đề đó muốn gửi về để các bạn cùng coi, như vậy tốt ghê lắm. Đọc sách báo là được người khác tặng kinh nghiệm, phải không các em. Câu chuyện của Trung làm chị nhớ lại chuyện của ông Douglas Lurton, đã làm lỡ dịp để được tặng cái mũ lưỡi trai mà ông rất thích, chỉ vì ông nhút nhát, e ngại không dám chỉ tay lên đống mũ mà người ta hứa cho bất cứ ai hỏi xin, có lẽ là để quảng cáo (trong bài tựa cuốn "Thẳng tiến trên đường đời", dịch giả Nguyễn Hiến Lê). Vậy nếu có thể, các em thử áp dụng phương pháp của Lê Trung coi sao. Tuy nhiên, nên lưu ý ở chỗ bạn Lê Trung là trai, tính tình thường giản dị và có lẽ ít buồn giận hơn. Chứ nói với bạn gái thì nên cẩn thận hơn một chút, kẻo con gái hay suy diễn, nghĩ ngợi lung tung, rồi hiểu lầm, rồi giận dỗi, rồi mất một người bạn thì chẳng thà mất tất cả sách báo còn đỡ buồn hơn, phải không các em.
 
 
Chị Đỗ Phương Khanh    
 
Kính chị!
 
Trong quyển Thiếu Nhi số 52 ở mục V.H Suối Mát, có một lá thư tâm sự của "chị Ng." nào đó mà "chị ấy" đã gởi đến chị nhờ chị giải quyết giúp nỗi khó xử của mình, là: "Có nên cho cô bạn thân của mình mượn cuốn T.N coi nữa không? Khi cô bạn ấy không biết giữ gìn cẩn thận, sạch sẽ cho mình, lại làm dơ dáy, bẩn thỉu."
 
Chị ơi! Khi đọc xong em cảm động vô cùng! Cảm động mà thích thú. Vì nỗi khó xử của "chị Ng." nào đó cũng chính là nỗi khó xử trước đây của em. Nhưng em thì không viết thư đến nhờ chị chỉ giúp, mà em lại tự giải quyết lấy một mình. (Xin chị đừng cho em là tự kiêu, tự làm mặt ta đây chị nhé? Sở dĩ em không viết thư đến nhờ chị là vì em có tâm niệm riêng của em rằng: "Không nên làm phiền đến người khác vì những chuyện nhỏ nhặt không đâu của mình". Thế nên em không dám làm phiền đến chị! Dù biết rằng lúc nào chị cũng rất sẵn sàng phục vụ cho chúng em!... Và em chỉ xin làm phiền đến chị lúc em có chuyện "thật quan trọng, rối trí" mà thôi!). Thế mà chị ơi, không ngờ sự giải quyết một mình đó của em, lại đem đến cho em một thành quả đáng mừng chị ạ!
 
Thưa chị! Sau đây em xin kể lại câu chuyện cái thành quả đáng mừng đó của em. Mà em không mong gì hơn là xin được góp một chút ý kiến mọn của mình, để cùng các bạn T.N giải quyết vấn đề:
 
"Cho bạn mượn sách mà bạn làm bẩn, thì có nên cho mượn nữa không? Và phải làm sao khi người bạn đó lại là bạn thân của mình, mà mình không muốn tình bạn giữa 2 đứa bị sứt mẻ chỉ vì... sách báo!". (Em chỉ xin được góp ý kiến thôi! Chứ em không dám vượt quyền của chị đâu.) Chị cho phép em chị nhé? Em bắt đầu đây, Số là...
 
Cũng như "chị Ng.", em có một người bạn thân, rất thân, tuy 2 đứa không cùng một chí hướng . Nghĩa là em thích "Ôm nghiệp văn chương", còn trái lại bạn em thì khác (?) - Song, tuy không cùng chí hướng như em, bạn cũng rất thích coi truyện sách báo, đó mới là điều lạ! - Có lần thắc mắc, em hỏi bạn như vầy: "H, nầy! Bồ nói là bồ không thích nghề văn, cớ sao bồ mê coi sách truyện nhiều thế? Có thể còn hơn tôi nữa là!". Bạn thản nhiên trả lời: "Ừ, thì tôi vẫn không thích đấy chứ! Nhưng Trung biết tại sao tôi không thích nghề văn mà tôi lại ưa coi sách báo không? Vì thế này nhé: Tôi thích coi chứ không thích sáng tác! Thích thưởng thức văn chương thôi chứ chẳng yêu nghiệp văn chương." À! Thì ra vậy!
 
Do đó, bạn em thường mượn sách báo của em để coi. Nhưng đau lòng làm sao! Cũng vì "thích coi chứ không thích sáng tác của bạn, mà bạn cũng nỡ lòng "thích coi chứ không thích gìn giữ" báo của em luôn! Vì thế, sách báo nào em cho bạn mượn, khi được hoàn lại rồi thì ôi thôi, bộ mặt mới mẻ dễ thương lúc trước đâu mất! Thay vào đó là quăn góc, nhăn nhàu, lại những vết dơ vết quẹt tùm lum, lại có cả vết viết chì ngoáy nữa. Em muốn khóc lên ngay tại khi đó! Và tâm lý lúc đó là ghét giận bạn kinh khủng! Muốn nghỉ chơi với bạn ra, "li dị" bạn ra! - "Cho nó mượn coi mà nó không biết giữ, lần sau đừng hòng!" - Vì yêu sách, quý sách mà em đã xấu thầm trong lòng như vậy. Tuy nhiên, bao giờ ngoài mặt thì em cũng vẫn cố nén để làm vui, giả bộ như không quan tâm đến sự dơ dáy của quyển báo, và vẫn nồng nàn với bạn như thường. Chứ tính em mà giống như Trương Phi, Tam Quốc Chí ngày xưa thì chắc, ôi thôi, tình bạn đã vỡ lâu rồi!
 
Nói là không thèm cho bạn mượn nữa. Nhưng lần sau tiếp nối lần sau... bạn mượn, nể bạn nên em lại đành phải cho. Cho mượn vậy chứ ai có biết đâu lòng em "đau khổ" lắm! Đau khổ còn hơn lúc bị thầy cho ăn zê rô cơ! - Thế mà bạn em không biết ý thức. Đáng trách là ở chỗ đó! Nhưng dù sao, vẫn là bạn thân với nhau nên em không nói ra miệng, sợ bạn hiểu lầm này nọ rồi 2 đứa sẽ đi đến chỗ xa nhau chăng? - Ôi! Thật là khó xử làm sao!
 
Biết cạn tỏ nỗi lòng cùng ai? Thôi thì đành chịu âm thầm vậy! Vì đi cạn tỏ này nọ cái chuyện như thế, chẳng hóa ra mình lại đi nói xấu bạn sao? - Không nên!
 
Thế là em đành bóp bụng, cố nén nỗi lòng "uẩn khúc" của mình, và vẫn đối xử đẹp với bạn. Bạn mượn sách, lại cho mượn, để rồi cũng lại buồn khổ nhìn hình dung đáng thương của sách khi sách được hoàn về.
 
Cho đến một hôm, một hôm mà em tự giác rằng: "Ồ! Đối với người bạn chẳng biết ý thức này thì mình cần phải có một giải pháp nào để giải quyết cho xong! Chẳng lẽ cứ để tình trạng nầy kéo dài, và mình thì cứ chịu được mãi như vậy hay sao?" Và em chợt nghĩ đến câu: "Con không khóc mẹ nào cho bú?" Ừ! Thì mình cứ nói thẳng với H. một tiếng xem sao? Mình không nói thì H. nào biết ý mình mà giữ sách sạch sẽ cho mình? Chả lẽ nói rồi H. lại giận mình à? Mà giận cái quái gì được! Dù sao cũng là bạn thân với nhau, thì dễ hiểu lòng nhau hơn. Ừ, thì nói! Mà phải lựa lời nói cho thật khéo kia, đừng để chạm đến tự ái bạn thì thôi. Biết đâu lời nói của mình lại giúp H. biết ý thức được một chút chăng?...
 
Mang ý nghĩ đó, cho tới bữa bạn em lại đến mượn truyện về coi. Sau mấy câu qua lại vu vơ, em liền đi ngay vào vấn đề: "H. này! Tôi nói thật, bồ đừng buồn đừng giận tôi nghen? Nếu có phải vì chuyện tôi nói ra đây mà tình bạn của hai đứa mình rạn nứt, thì chắc là tôi ân hận suốt đời! - Là bạn thân với nhau, mình mến thương nhau chẳng khác gì tình anh em ruột. Mình thông cảm cho nhau từng nỗi vui buồn. Còn tình bạn nào thắm thiết hơn tình bạn của chúng mình nữa bồ nhỉ?... Nhưng H. à! Tôi nói thật, đừng giận tôi nhé? Là chơi với bồ, tôi thấy bồ cái gì cũng được hết á, chỉ có một tội đáng trách là... là không cẩn thận tí nào! Và tôi hơi buồn ở chỗ ấy đấy!... Đưa sách báo bồ xem, bồ chẳng biết giữ hộ dùm ; bồ làm tôi "đau lòng" ghê đi! Nhưng thôi H. à, cũng chẳng ăn nhằm gì! Bây giờ yêu cầu bồ, là coi xong bồ giữ cho sạch hộ tôi nhé? Tính tôi thì thích sạch lắm, mà H. có đồng ý với tôi là cái gì sạch sẽ trông nó cũng mát mắt hết không?
 
Em nói một hơi, bạn em chỉ cúi đầu nghe, nghe mà ngẫm nghĩ. Và bạn đã gật đầu thốt với em rằng: "Ừ, bấy lâu tôi tệ thật! Trung cũng đừng buồn tôi nhé? Từ đây tôi sẽ sửa tính bất cẩn bừa bãi của tôi lại. Tôi sẽ giữ sách sạch sẽ cho Trung."
 
Chị ơi! Em sung sướng quá chị ơi! Cái nỗi lo "nói xong bạn có giận mình không đây?" ở trong lòng em nó đã vụt bay mất, nhường lại cho sự vui mừng đang ngập ắp trong tim. Em cảm động muốn chảy nước mắt lận!
 
Đó! Nhờ em đã mạnh dạn nói thẳng ý muốn của mình ra với bạn mà em đã tự giải quyết được nỗi khó xử bấy chầy của em đó chị!
 
Và em đã được hài lòng vô cùng. Vì bạn em đã biết giữ gìn sách báo cẩn thận cho em thật! Bằng chứng là mấy hôm sau, bạn đem trả lại, sách báo của em vẫn thẳng mới như cũ không nhăn dơ nữa như mọi lần. Bạn đã biết ý thức được rồi! Em mừng quá chị ơi! Nhất là tình bạn giữa 2 đứa em không bị sứt mẻ.
 
Thưa chị, chuyện của em tới đây là chấm dứt. Trước khi kính thư dừng bút, em xin phép chị cho em được biết cảm nghĩ của chị về cái giải pháp "góp ý kiến" của em, coi nó đúng hay sai? Và có điều gì làm phật ý chị không? Em chờ mong chị trả lời đấy nhé? Em của chị kính thư.
 
 
LÊ TRUNG      
(Biên Hòa)       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 55, ra ngày 10-9-1972)


Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

VUI MÙA TRĂNG TRÒN - Thơ Thơ

 

Lá sen tròn tròn
Lá trúc thon thon
Liễu mềm thanh mảnh
Trăng mọc đầu thôn

Trung thu sắp đến
Em bé mong chờ 
Một vầng trăng mơ
Một trời trong sáng

Lồng đèn xanh đỏ
Lung linh đèn cầy
Rước đèn tháng tám
Trẻ em vui vầy

Hòa theo nhịp trống 
Địa ngả ngớn cười 
Lân vờn phải, trái
Trẻ hát ca vui

Bà cho chiếc bánh
Em chỉ cười khì
Ông lại nhâm nhi
Tách trà sen nóng

Một vầng trăng sáng
Giãi xuống đường làng
Một bầy em nhỏ
Cất tiếng ca vang...

                        THƠ THƠ 
               (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

MÙA THU QUÊ NGOẠI - Lê Thúy Mắt Tím

 


Cơn mưa chiều nay chợt kéo đến, những sợi mưa bạc lất phất bay mang theo hơi lạnh. Qua khung cửa nhỏ, em thấy mùa thu đang trở về thành phố. Lá vàng rụng khắp ngả đường, từng đám trẻ con đi ngang tung đám lá lên xào xạc. Gió hú nhẹ trên mái nhà, khẽ luồn vào phòng. Eo ôi, lạnh ghê. Em khoác vội chiếc áo len xám lên mình, chống cẳm nhìn ra ngoài trời. Mưa giăng sợi nhẹ, em tưởng như đó là những dây tơ trời ngọt ngào. Em chợt nhớ đến mùa thu ngày xưa. Mùa thu nơi quê ngoại. Ối dào! Dạo ấy em bé con kinh khủng, ốm yếu lắm cơ nên ngoại thương thật là thương. Em nhớ, trước ngày Trung Thu một tuần ngoại bảo cậu Hiền đi mua lồng đèn. Cậu Hiền mua cho em lồng đèn con bướm. Chao ơi, ngày ấy em thích lắm cơ. Con bướm màu vàng có bộ lông bằng gòn trắng muốt. Chị Huyền thì được lồng đèn cái hoa, còn anh Nhự được lồng đèn thiết giáp. Trong ba cái lồng đèn, chỉ có của em là xinh đẹp nhất nên em quý lắm cơ. Suốt một tuần đó, em cứ mong mau đến Tết để em đốt đèn đi chơi. Bà ngoại, mẹ và các dì thì làm bánh. Em thì háu ăn nhất nhà, ngày đó em thích ăn bánh in đậu xanh nhất. Úi dào, mới nghĩ tới mà em đã thèm rồi. Này nhé, bánh làm toàn đậu xanh, ăn vào ngọt ngào, bùi làm sao ấy. Cho nên chưa chi tối nằm ngủ bên ngoại em đã thủ thỉ dặn ngoại làm cho em một chiếc bánh to ơi là to. Ngoại cười bảo con bé này háu ăn đáo để.
 
Và ngày Trung Thu đến, ngoại dẫn em ra chợ mua hai cây mía cao ơi là cao. Dựng hai bên cỗ bàn, đôi mía làm thành cái cổng. Trên bàn thì toàn là bánh, bánh nướng, bánh dẻo, bánh in... Ba chiếc lồng đèn được treo trước sân, em cứ lăng xăng, lích xích bên lồng đèn. Ngoại cho phép em đi theo đám cộ đèn nè. Nên em cứ dõi mắt nhìn ra đường xem đám rước có đi qua chưa. Chao ơi, lúc ấy gió cứ hay thổi và mưa li ti. Chị Hằng thì cứ núp sau đám mây. Ba mẹ dì và cậu theo ngoại thắp nhang vái. Chị Huyền anh Nhự cứ theo em xin được cầm đèn của em một tí. Em nhớ, ngày ấy hình như chị Huyền mười tuổi, anh Nhự tám tuổi còn em mới có sáu tuổi. Ui chao, em cứ vênh mặt lên mà nói em có mượn đèn anh bao giờ đâu.
 
Đám cộ đèn hôm ấy đến khuya mới ngang qua nhà em. Làm em ngồi chờ mà buồn ngủ ghê cơ. Ngủ ngủ gà ngủ gật thế nào bộ lông trắng muốt bị cháy, em khóc hoài hủy. Ngoại phải dỗ dành em những hai cái bánh lận cơ. Giờ nghĩ lại em nghe thương làm sao ấy. Thành phố bây giờ mùa thu đang trở về, em thích ngồi vào nửa đêm, ăn bánh và nhìn vầng trăng tỏ tròn như chữ O...
 
- Chị Huyền này, thấy mưa không?
 
- Rõ lần thẩn, khéo hỏi.
 
- Chị biết gì chưa?
 
- Gì?
 
- Trung Thu.
 
Chị Huyền như chợt nhớ ra:
 
- À! Còn một tháng nữa.
 
- Không biết nơi quê, ngoại còn làm bánh đậu xanh không nữa. Em nhớ ngoại ghê cơ.
 
Chị Huyền nheo mắt:
 
- Nhớ ngoại hay nhớ bánh đậu xanh ấy?
 
Em nguýt chị một cái thật dài.
 
- Nói kỳ khôi à, em lớn rồi chứ bộ.
 
Buổi tối năm trong phòng, nghe mưa rơi và gió hú trên mái nhà. Em nhớ ngày xưa chi lạ, nhớ da diết. Mai này em xin phép mẹ về quê để nhìn lại khung cảnh mà ngày xưa em đã yêu mến. Ôi chao, bây giờ em làm sao có được những giây phút bé bỏng trẻ trung nữa. Thấm thoát mà đã mười mua thu đi qua. Mười mùa thu trong thành phố cao vời này, đếm lá vàng xao xác mà tưởng như mùa thu ngày xưa mới xảy ra hôm qua. Ơi! Mùa thu, có hay biết em đang nhớ da diết mùa thu quê ngoại không?
 
 
LÊ THÚY MẮT TÍM     
Nhóm Tình Biển         
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 162, ra ngày 1-10-1971)


 

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

TRONG RỪNG TRE - Thơ Thơ

 


Sáng sớm nay như thường lệ, ông Trung lúi húi thổi cơm rồi dở cơm đem theo. Quầy quả đi về hướng rừng tre thay vì ra đám ruộng như mọi hôm, ông muốn tìm một cây tre già để làm cho thằng Thành một cái lồng đèn. Trung thu tới rồi, ông muốn dành một sự ngạc nhiên cho đứa con tội nghiệp của ông, để làm vơi bớt đi nỗi buồn mất mẹ của nó.

Má thằng Thành -- cô Tuyết ‐- là một phụ nữ chịu thương chịu khó, vừa xinh đẹp lại vừa giỏi giang. Cũng vì cái nết siêng năng làm lụng, tham công tiếc việc để phụ giúp gia đình đó mà cô Tuyết đã mất sớm vì lao lực cách đây 1 năm.Từ sau khi mẹ mất, không đêm nào thằng Thành chịu ngủ yên giấc. Đêm nào nó cũng hành ông Trung cho tới gần sáng, vì nó cứ liên tục khóc lóc đòi má. Ông Trung hết ẵm rồi cõng con đi khắp xóm khắp làng cho nó giải khuây. Ông Trung dỗ con, chỉ trỏ nào trăng sao trên trời, lúc thì ghé nhà thím A cho nó coi TV, khi lại đi ăn đám giỗ nhà bác B...Ông đi đến khi rạc cẳng thì nó cũng vừa thiếp vào giấc ngủ, lúc trời cũng vừa hừng sáng!

Ông Trung ngồi nghỉ mệt dưới một bụi tre xanh tốt. Gió sớm thổi xao xác cả một cánh rừng. Ông muốn tìm một cây tre phải già mới có đủ độ dẻo dai, bền chắc, và ông cũng có ý định để lại cây tre này trong rừng trong suốt thời gian làm chiếc lồng đèn đó, những khi ông rảnh rang ghé vô nơi đây, vì nếu mang về nhà làm thì thằng Thành sẽ biết và hết ngạc nhiên. Ông muốn thằng bé tìm thấy lại niềm vui trong mùa trung thu sắp tới. Ông chỉ có thể làm đèn được thôi, còn vụ bánh trung thu thì có lẽ ông sẽ lại phải nhín tiền ra mà lên phố mua cho nó mấy hộp bánh nướng bánh dẻo. Khi còn sinh thời, cô Tuyết mẹ bé Thành thường tự tay làm bánh, và khi rảnh rang hay khỏe khoắn, còn làm bỏ mối cho những cửa tiệm trên phố nữa. Ông vẫn còn nhớ như in những tiếng động khi Tuyết khỏ nhè nhẹ chiếc khuôn gỗ xuống tấm phản để cho ra những tấm bánh dẻo trắng phau. Ông vẫn còn mường tượng ra được hình dáng Tuyết trong ánh lửa bập bùng khi nướng những mẻ bánh nướng thơm phức trong lò. Sao người tốt như nàng lại ra đi sớm quá, để lại mình ông phải gà trống nuôi con,  chật vật xoay sở với bé Thành còn nhỏ dại, chỉ mới vừa bước chập chững trên đường đời. Thật đúng như câu ca dao người ta lưu truyền: 
 
Thế gian được vợ hỏng chồng
Được cả đôi đàng có kẻ chết non

Rừng tre mênh mông bất giác xào xạc theo cơn gió sớm. Ông Trung cứ ngồi đó, mắt buồn nhìn đăm đắm vào cõi xa xăm mơ hồ,  như muốn dõi tìm một hình bóng cũ...
 

THƠ THƠ              
(Bút nhóm Hoa Nắng)    


Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

CHIẾC ĐÈN MỚI - Ái Phú Điền

 

Trời về chiều. Ánh dương đã ngả, phớt vàng trên các ngọn cây. Từng cơn gió thu nhẹ thổi. Vài chiếc lá vàng lả tả trên người Nhân.
 
Cắm cúi trong công việc Nhân không buồn phủi, mặc cho đầy người, đầy mặt chõng. Chậm rãi phết hồ lên miếng giấy bóng đã cắt xong, nó đặt nhẹ lên sườn đèn, vuốt nhẹ, ngắm nghía từng chút. Luân em nó, từ xa chạy đến leo ngồi bên anh. Thấy lá đầy mảnh giấy, Luân đưa tay giũ nhẹ, vài chiếc lá rơi ra rồi nằm im dưới đất.
 
- Coi chừng nhèo của tao à!
 
Nhân nhắc chừng. Không để ý, Luân mỉm cười nhìn chiếc lồng đèn gần hoàn thành.
 
- Anh làm mà không có bánh trung thu ăn nghĩ uổng thật!... Phải ba màu đẹp há!
 
- Tiền đâu? Hai màu cũng tốt rồi... để mua đèn cầy nữa chớ!
 
Ngẩng nhìn về phía Tây, Nhân buột miệng:
 
- Mau quá! Nhưng cũng kịp chán!
 
- Ừ, ráng lên... em qua coi thằng Năm Mập. Làm sao anh hơn nó thì làm...
 
* 
 
Khoan khoái, Nhân xách chiếc đèn ngắm nghía từng chỗ một. Chiếc đèn không sắc sảo mấy nhưng đối với đứa trẻ mười hai thế cũng là quá rồi.
 
Luân xuất hiện ở hàng rào và chạy nhanh đến. Nó toan rờ vào chiếc đèn nhưng Nhân đã nâng cao.
 
- Chụp chụp nó hư hết bây giờ!
 
- Đẹp quá hén... thế nào cũng ăn thằng Mập rồi... chút nữa nó xách qua cho coi, xấu ỉnh! 
 
Ngoài cổng tiếng con Ki sủa rồ làm chúng giật mình nghe ngóng. Luân nhanh nhẹn chạy ra và mất hút sau hàng rào dâm bụt.
 
- A! Anh Hai về!
 
Tiếng Luân vọng vào làm Nhân quýnh lên. Nó quăng chiếc đèn mới lên chõng đánh "bộp" một cái, vội vã phóng ra.
 
Một người thanh niên khỏe mạnh trong bộ quân phục tiến qua hàng rào. Hai bên là Nhân và Luân lủng lẳng với chiếc cặp và gói đỏ to. Mặt hớn hở chúng xách đèn chạy nhanh vào nhà. Đặt cặp lên ván, Nhân chạy luôn ra sau vườn.
 
- Má ơi! Anh Hai về... lẹ lên...
 
Không kịp để bà Hai hỏi gì, nó ùa vào nhà như sợ anh Hai biến mất.
 
Bà Hai tiến ra bên cửa, mặt tươi cười:
 
- Ủa! Sao con về thình lình vậy, mà tối nữa?
 
- Con về chơi một bữa... mai con sẽ đi. Xui xẻo về kẹt xe khúc dưới nầy!
 
- Kìa, gói gì đỏ đỏ đó?
 
Vừa hỏi bà Hai vừa chỉ gói to đặt trên ván.
 
- Bánh đấy! Mai là Tết của trẻ con mà! 
 
Nghe bánh, Nhân Luân mừng quýnh. Căn nhà rộn rịp hẳn lên, bỏ mất cái lặng lẽ khi nãy.
 
- Mầy thấy chưa, có lồng đèn là có bánh!
 
Nhân lên mặt sung sướng.
 
- Í! Nhờ người ta ước mới có đó!
 
Luân không kém, cãi lại. Chúng vừa cãi nhau vừa chồm lên mình Quang, anh chúng.
 
- Tụi bây làm gì muốn ăn sống nó vậy?
 
Bà Hai lườm một cái. Nhân, Luân sụt xuống đứng im nhưng trong lòng chúng tràn trề một niềm vui.
 
*
 
- Ái... ái trời cháy... 
 
Nhân nhỏm dậy phóng khỏi bộ ván. Nó nhào chụp chiếc đèn trên tay Luân dập mạnh xuống đất. Nhưng... đã trễ, một phần sườn tre cháy đen đã ló ra. Nhân dậm chân, mắt trợn ngược, hầm hừ với Luân:
 
- Mầy chết! Cho mầy mượn rồi còn làm cháy hả! Vậy thì mầy...
 
Nhân đưa tay cao sắp "cốc" xuống. Luân nhắm mắt bưng lấy đầu.
 
Một bàn tay đã giữ chặt Nhân lại và một giọng nhỏ nhẹ:
 
- Nhân! Bỏ đi nghe hôn!
 
Tiếng Quang làm Nhân phải xuôi tay nuốt hận. Nó quăng chiếc đèn "mới" vào vách, ôm mặt tức tưởi.
 
Quang xoa đầu em vỗ về, chiếc lồng đèn không là bao nhưng cũng quí lắm đối với Nhân. 
 
- Nín đi! Mai mốt anh mua cho cái khác.
 
- Mai anh đi rồi còn gì! Mà hết Trung Thu nữa!
 
Nhân vùng khỏi tay Quang, thụt vào kẹt vách.
 
Có tiếng gọi, Nhân lau nhanh nước mắt rồi quay ra. Năm Mập hiện ra ở cửa với chiếc đèn lồng sáng.
 
- Đâu, của mầy đâu... ủa... dạ thưa anh Hai!
 
- Cháy rồi còn gì! Tại thằng quỉ kia! - Nhân chỉ về phía Luân.
 
Quang mỉm cười trong khi bà Hai mang bánh lên. Mùi thơm tỏa ra bát ngát. Nhân quên đi phần nào chiếc đèn mới, với cả bao công trình.
 
Năm chiếc bóng quây quần bên bộ ván...
 
Ngoài vườn, trăng lên cao lơ lửng trên khoảng trời xanh đen, chiếu vằng vặc xuống vạn vật. Tất cả tưng bừng vui nhộn dưới ánh trăng. Nhân mừng, quên cả chiếc đèn màu đang nằm im nơi kẹt vách.
 
 
ÁI - PHÚ - ĐIỀN        
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 9, số  đặc biệt Trung Thu, ra ngày 25-9-1963) 


Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

MỪNG TẾT TRUNG THU - Thơ Thơ

 

Mây dừng chi lại chốn này
Xóm làng em bé vui vầy trung thu
Đừng che trăng, áng mây mù !
Mỗi năm chỉ tết trung thu một lần
Múa lân rộn rã tưng bừng
Rộn ràng tiếng trống thùng thùng tươi vui
Trăng tròn chiếu sáng ngàn nơi
Có bầy em bé tươi cười dưới trăng
Đèn lon lách cách quanh sân
Đèn lồng xanh đỏ quây quần bên hiên
Cành tre xào xạc gió hiền
Trẻ thơ hát, múa, huyên thuyên truyện trò
Chú Cuội dưới gốc đa xưa
Mong vầng mây chớ che mờ trần gian
Mong trăng thu mãi huy hoàng
Để bầy em bé đường làng mừng trăng
 
THƠ THƠ
(Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

TRUNG THU CỦA BÉ - Kiều Lệ Ngân

 

Trên bầu trời chị Hằng Nga yểu điệu
Trải lụa vàng che phủ khắp nơi nơi
Gió rì rào hòa bài ca muôn điệu,
Cho sao trời vui vẻ hé đôi môi.
 
Chị Hằng ơi! Xuống đây chơi với bé,
Bánh dẻo này bé để đãi chị đây
Chú Cuội ơi! Xuống đây chơi cùng nhé,
Bánh nướng này bé để đãi chú đây.
 
Này đèn màu với hình tôm hình cá,
Bướm đẹp xinh dành tặng chị Hằng Nga,
Đèn xe tăng, máy bay ôi, đủ cả,
Bé tặng này, chú Cuội phải cầm nha.
 
Đủ cả rồi nào là trà là bánh,
Nào lồng đèn nào bánh ngọt thơm ngon
Đêm Trung Thu huy hoàng ôi, muôn cảnh,
Bé đợi chờ nhớ xuống cả nha hôn!
 
                                              KIỀU LỆ NGÂN
                                           (t-v-đ. HƯNG ĐẠO)
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 95, ra ngày 15-9-1968)



Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

ĐOẢN KHÚC CHO MÙA THU - Vũ Hoài Văn

 


Chiều trung thu thật vui, cảnh tấp nập nhộn nhịp làm vang cả khu phố ; bây giờ chắc các bé đã chuẩn bị đón trăng rồi đó, nào đèn lồng, nến và cả bánh nữa chứ, nhắc đến bánh thì khỏi chê, những cái bánh to đủ cỡ, có cái bột trắng thật xinh màu đùng đục có cả hoa trên đó nữa trông nó dẻo làm sao ấy và chắc ngọt lịm người đi chứ, còn loại bánh "thập cẩm" thì còn tuyệt nữa chung quanh được bọc bằng một thứ bột màu vàng thiệt "láng cóng" và thơm phưng phức, cả bánh ấy được đặt vào cái hộp vuông có in nhãn hiệu và cả cô tiên ăn vận theo thời xưa thật lộng lẫy, có lẽ các hộp bánh ấy được cất chắc kỹ lắm (không khéo bị bé nó gỡ thì mất cả thẩm mỹ). Ngoài phố dăm ba đứa xách lồng đèn và toe toét cười trên gương mặt "trự" nào cũng lộ vẻ hớn hở.
 
Xong đèn lồng, nến bánh, ngày 15 rồi còn gì nữa đây... à, còn đợi trăng lên thôi hở bé, theo bao ngày thì trời về đêm quá sớm nhưng hôm nay thì thật dài há, giây phút sao quá dài, kim đồng hồ muốn ngừng chạy. Bầu trời lúc nầy đổi sang màu xam xám, các hàng mây lờ lững trôi qua chầm chậm, ánh thiều quang đã khuất cuối chân trời chỉ còn sót lại một vài tia nắng le lói.
 
Thời gian qua thật chậm, giờ thì màn đêm vừa phủ xuống, mọi vật chìm trong một màu huyền ảo, gió đưa xào xạc. Sau dãy phố, các cụm mây vừa tản mác để lộ vẩng trăng chưa tỏ hẳn, nhưng đã đem lại nguồn vui cho toàn bé.
 
Thời gian nầy bắt đầu thú vị, khắp xóm đã thắp cả các đèn lồng cùng sáng rực như các vì tinh tú nổi bật trên nền trời đen thẫm, kế đó là những âm thanh huyên náo do các bé tạo nên, thỉnh thoảng lại có một vài tiếng cười vụng dại vang lên thật hồn nhiên của trẻ thơ đang mải mê đùa giỡn.
 
Một lúc sau vầng trăng đã lên cao sáng trong và tròn, xung quanh là các vì sao đã hiện lên lốm đốm khắp bầu trời, phảng phất vài đốm mây lướt qua thật nhẹ nhàng mờ ảo. Trong những đêm trăng thì chắc là có đôi ba ngày nầy là tuyệt nhất và cũng là ngày vui nhất của các bé thơ thích mùa thu điềm đạm.
 
Trong đêm, toàn thành phố đều giăng đèn sáng rực lên và đó là các chú bé cầm đèn đi chơi dạo, chốc lát cái radio lại vang lên bài ca ngày tết giữa mùa thu và cả đêm trăng thần thoại.
 
 
VŨ HOÀI VĂN       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 7,  ra ngày 26-9-1971)

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

ĐÔI GIÀY ỐNG CỦA BỐ - Linh Hương

 Bé mím môi xỏ chân vô chiếc giầy một lần nữa. Bàn chân tụt lần xuống và hơi mắc kẹt ở cái gót, nhưng chả mấy lúc, nó nằm gọn trong lòng giầy, ừ, có thế chứ. Bây giờ thì đến bàn chân thứ hai, lần nầy dễ hơn, vừa xỏ vô, bàn chân tuột xuống ngay vị trí được "ấn định" (Bé bắt chước câu nói của chị Bé đấy, đừng cười Bé nhá!). Thế là xong, nhưng mà Bé cũng mệt lắm rồi, hơi thở phì phò, mặt nóng bừng, nghỉ chút đã...
 
Đến bây giờ, Bé mới có dịp nhìn kỹ lại đôi giầy ống của Bố, quả thật xứng với tên "ống", nó cao gần đến đầu gối của Bé, mõm đen xì, bóng loáng giống như mõm con Mino mỗi lần ăn tóp mỡ của Me. Nhưng điều làm Bé buồn cười nhất là chiếc giầy nặng kinh khủng, cứ mỗi lần Bé nhấc chân lên là mũi giầy lại oằn xuống, nặng trĩu, đi vấp váp như mang khối đá dưới chân.
 
Và, bắt đầu đi nào, a lê, một, hai... trông oai vệ ra phết! Chỉ còn thiếu 2 bông mai vàng nữa là giống Bố y hệt... Nhưng mà chưa hết đâu, Bé "di chuyển" đôi giầy đến trước tấm kiếng ngắm nghía. Ấy chết! Suýt nữa lại quên rồi, phải nhét áo vô quần nữa chứ! Xong cả nhé! Bé ưỡn bụng ra phía trước, đặt tay trái. À quên, tay mặt chứ! - lên trán, phác một cử chỉ chào (theo kiểu quân đội đấy mà!) với mình trong kiếng rồi mỉm một nụ cười thật tươi và hãnh diện thầm "con gái của Bố mà, chứ chơi đâu!"
 
Chợt có tiếng cười rúc rích sau cánh cửa, Bé giật mình nhìn lại và cô Bé Linh bỗng nổi giận ngang : Bé Hòa và bé Thanh - con bác Tư - núp sau cánh cửa vừa nhìn lén, vừa cười nho nhỏ. Mắc cỡ quá, cô bé xông lại định "trừng phạt" 2 con bé "hỗn láo" ấy theo "quân kỷ", nhưng đã muộn, chúng nó đã tung cửa chạy biến. Bé tức tối nắm tay dọa: "Một hồi Bố "ta" thức dậy biết tay "ta"!"
 
*
 
- Bé ơi, rót dùm cốc nước cho Bố nhé con!
 
Bố nói xong, nằm thiêm thiếp như cũ. Bé lo lắng rót nước đưa tận tay rồi leo lên giường sờ trán Bố (Bé bắt chước Me đấy!), nóng bỏng! Bé rụt tay lại rồi leo xuống buồn buồn nhìn quanh, nhà vắng lặng quá! Me cũng đi mua thuốc cho Bố rồi. Còn ai nhỉ? Chỉ còn Bé, chỉ còn Bố. Nghĩ đến Bố, Bé thở dài nhè nhẹ (lại bắt chước Me nữa đấy!). Nhưng rồi lâu quá chồn chân, Bé đi quanh quẩn trong nhà, lục lọi hết cái nầy đến cái kia, nhưng không tìm được cái gì "đáng" cho Bé chơi cả, Bé định quay đi thì chợt mắt Bé sáng hẳn lên - như ngọn đèn pha ấy - A! Đôi giầy ống của Bố, Bé nhảy lại, vui mừng cuống quýt như gặp lại một người bạn cũ. Bao nhiêu câu chuyện "oai hùng" hôm nọ làm Bé hồi hộp lạ thường, Bé nhè nhẹ xỏ chân vô... chết! Cái gì trong đôi giầy thế? Nó mềm mềm và hình như... kêu nho nhỏ nữa... À! Thôi đúng rồi, đúng là... Bé toát mồ hôi trán, kéo mãi mà chiếc giầy vẫn dính cứng. Sao kỳ quá vậy nè? Mọi khi rút ra dễ lắm cơ mà! Bé ngồi bệt xuống đất. Đôi mắt bắt đầu rướm lệ rồi thình lình... khóc òa... trong lúc bầy chuột vẫn nhảy múa một vũ khúc bất tuyệt trong đôi giầy ống....
 
 
Linh Hương       
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 95, ra ngày 15-9-1968) 



Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

MÙA THU MẮT NAI - Dạ Vũ - Châm Khanh

 

Một chút lá cho vàng mùa thu tới
Mây hờ bay rộn rã dấu chân ngoan
Em, tiểu thư trong màu áo nắng vàng
Như buổi sáng rất thơm đường cây lá
 
Đi bước lại khung trời hoa tóc xõa
Có hồn hương say ngủ giấc ca dao
Em muốn về xây mấy lối ngọt ngào
Vương thoang thoảng hoa bay ngày tuổi nhỏ
 
Trăng có lên tô mắt màu sương cỏ
Thắp ánh đèn soi rộng tuổi ngày xưa
Trời rất trong sao sáng mấy cho vừa
Theo bước  chân có tiếng cười dòn dã
 
Một chút buồn khẽ động hồn hoa lá
Mây vẫn hồng trong ngăn cửa mùa thu
Huyền thoại kia hư ảo đã xa mù
Với Hằng Nga vấn vương ngày xưa nhỏ
 
Đi rất nhẹ với niềm vui mở ngỏ
Mùa thu ơi! Công chúa giữa vườn trăng
Theo cơn mơ đến dự hội nguyệt rằm
Và ươm ấp nụ cười thầm e ngại
 
Thu có đến với tuổi ngời hoang dại
Gió nghiêng nghiêng len nhẹ những bàn tay
Em có nghe ngơ ngất ở một ngày
Trăng ở đây, chút sầu vương hồn hậu
 
Khi đã thắp ngọn nến hồng mười sáu
Có còn đâu ngọn nến của ngây thơ
Đêm đã soi bên khung cửa hững hờ
Trong mắt nai, mùa Thu say gió thoảng
 
Em đi về giấc ngủ hồn mây thoáng
Sao thật gần thắp sáng ở bên quanh
Xin sương bay ru khẽ giấc mộng lành
Và em ngỡ đi trên nghìn hư ảo
 
                          DẠ VŨ - CHÂM KHANH 
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 11, ra ngày 5-10-1971)