Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

TUỔI THƠ - Nguyễn Tịnh


Khi Sơn tới trường thì trời còn tối lắm. Cổng trường mở rộng bên trong sâu hun hút. Những lớp học chia thành hai dẫy bao lấy sân trường loáng thoáng cỏ xanh. Những cành cây khẳng khiu khuất sau mái ngói vẽ những nét nguệch ngoạc trên nền trời xám đục. Mây từng đám nặng như chì thấp hẳn xuống làm tăng thêm cái vẻ tối tăm và lạnh lẽo của một ngôi trường ngoại ô.

Những đứa trẻ con tụm năm tụm ba trong sân. Chúng chơi đánh đáo. Đứa nào cũng mặc áo rét vì trời đã trở lạnh. Có đứa cẩn thận chùm cả mũ len kín mít trông như một ông già Noӫl. Bóng chúng thấp thoáng sau những cây bàng cây điệp ở sân trường.

Thỉnh thoảng có đứa cãi nhau chí chóe, có đứa bỏ đi không chịu chơi nữa. Nhưng đám nào cũng vui vẻ và náo nhiệt lắm. Có mấy đứa co ro, chúng nhón từng gót chân trên mặt đất còn ướt nước mưa.

Bây giờ là mùa chơi đánh đáo. Những đứa trẻ có từng lúc chơi một trò chơi duy nhất. Rồi đến một ngày nào đó, khi đã chán lại quay sang một trò chơi khác. Nếu tuần này chúng bắt đầu chơi đánh bi thì có thể ít ngày sau chơi đánh đáo, đánh cầu hay chạy đuổi… Những trò chơi ấy như một thứ giải trí không thể thiếu được ở bọn trẻ nhỏ. Chúng ham mê đến độ những ngày mưa ướt át hay những lúc trống học đã điểm từng hồi lũ trẻ vẫn còn nấn ná ở sân trường để bàn cãi hơn thiệt về một ván đáo hay ván đánh bi. Rồi thì ông gác cổng xuất hiện. Người già cỗi và khẳng khiu như một khúc củi, tay cầm cái roi mây đi đến từng đứa trẻ để lùa chúng vào lớp học. Lúc ấy sân trường bỗng náo loạn, chúng nó mạnh ai nấy chạy như một đàn ong bị phá tổ. Nhưng cũng không quên hẹn nhau sẽ tiếp tục cuộc chơi vào giờ ra chơi tại một địa điểm nào đó đã được định sẵn.

Và bây giờ thì bước sang mùa đánh đáo. Có lẽ tụi trẻ con tới trường sớm lắm nên khi Sơn đến đây đã thấy chúng lố nhố đầy sân.

Sơn nhìn lũ trẻ đang chơi đùa, một cách thích thú. Có đứa vẫy tay gọi nó lại chơi nhưng Sơn lắc đầu. Nó trở về lớp mình học đứng tựa cửa nhìn ra ngoài.

Nó đội một chiếc mũ rộng vành, sụp xuống  tận mắt. Người nó nhỏ thành ra như bơi trong cái áo dài lụng thụng tới gần đầu gối. Trời còn đầy sương và cái lạnh làm da nó tái lại. Hai tay nó run run ôm lấy đống sách vở đựng trong một cái bao. Đó là cái cặp của nó.

Mặt nó vui hẳn lên khi thấy một đứa trẻ đã khéo léo dùng một miếng đá vỡ chọi trúng một đồng bạc cắc. Sơn định lại gần xem nhưng nó nghĩ cũng chả cần. Những lần chơi đánh đáo có bao giờ mình dự vào đâu. Nó thò tay vào túi quần và rút ra một đồng xu. Đó là một thứ tiền đồng nhẵn cả hai mặt và phẳng lì. Tiền này chỉ có thể dùng như một thứ vật lấy hên vì cũng chả có đứa nào chịu chấp nhận cuộc chơi có những đồng tiền không thể nào dùng được. Đồng tiền này hết xài rồi. Lũ trẻ con vẫn thường bảo nhau như thế mỗi lần trông thấy đồng xu của Sơn.

Nó cũng chả biết phải làm gì hơn. Nó dự vào cuộc chơi bằng cách đứng nhìn một cách khoan khoái và hứng thú. Rồi đến lúc tàn cuộc lũ trẻ lục tục trở vào lớp thì Sơn lại tiếc rẻ. Sơn lững thững đi dọc hành lang để tìm bắt những con kiến đen rồi cho chúng đá với nhau giải khuây. Nhưng những trò chơi lạc lõng như thế cũng phải hết. Sơn cách biệt với tụi trẻ con vì không có một đồng xu dính túi để mà nhập bọn.

Ban đầu nó cũng hay ra ngoài cổng trường để xem người ta làm việc trong nhà máy hoặc ra bờ sông nhìn những bãi đất, những cây xanh mờ mịt ở bờ bên kia để tìm một cái gì an ủi cho nỗi hiu quạnh. Nhưng sau, ông gác cổng ngăn cấm tụi trẻ con không được tha thẩn ngoài đường mà phải vào ngay trong sân trường. Ông ta làm như thế một phần cũng để bảo vệ cho cái sạp hàng của ông ta. Vì tụi trẻ con thích quanh quẩn ở ngoài để mua đồ ăn hơn là đến viếng cái quán của ông ở trong trường. Ông ta dữ tợn, cũng như những món hàng được bày bán : Một mớ những trái tầm ruột xanh, những me chua xát muối ớt đỏ lừ, những khúc bánh ỉu lấm tấm ruồi nhặng.

Và Sơn ở trường để nhìn thời gian trôi đi, ngày lại ngày, mùa đánh đáo tàn lụi. Có một bọn trẻ nào đó xướng ra trò chơi bắn bi. Thế là cái mùa bi lại bắt đầu, lũ trẻ đi học với những nắm bi xanh đỏ chất đầy trong túi quần túi áo. Sơn thích chơi những viên bi ấy lắm. Có những viên có hình lưỡi liềm như mặt trăng, có những viên trong suốt một màu tím hay màu hổ phách. Lũ trẻ sắp hạng những viên bi cẩn thận và rất quý những thứ đạn nào màu sắc khó kiếm. Trong lớp học thỉnh thoảng lại có những viên bi rớt ra khỏi túi áo một học sinh ngủ gục, lăn lông lốc đến tận gầm bàn của thầy giáo. Những viên bi ấy sẽ bị tịch thu và để đầy trên bàn thầy cho đến giờ về chủ nhân của nó mới được hoàn trả lại.

Tình hình đối với Sơn cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa hơn. Những bận về học, qua tiệm của người Tàu già bán tạp hóa, nó vẫn dừng lại dòm vào, tần ngần, vì không có tiền để mà mạnh dạn bước vào. Nó biết rõ lắm, không bao giờ quên được. Ở góc trái của tủ kính có một đống những viên bi xanh đỏ đẹp vô cùng. Và Sơn vẫn hay đứng ỳ ra đó để mà nhìn cho đến lúc ông Tàu già nghểnh cái đầu bạc trắng và đôi mắt đùng đục mở to lên nhìn qua tủ kính. Sơn chạy vù đi một mạch tiếc rẻ cho một viên bi nào đó, rất đẹp, không biết sẽ lọt vào tay ai.

Nó trở về nhà với những ước ao, những buồn bã lẫn lộn. Sau cùng Sơn quyết kiểm soát lại tất cả các đồ chơi của mình để xem có thể đổi được vài viên bi của tụi bạn không. Nó có một con tôm, hai con cá đen, dăm cái hộp quẹt và một con đười ươi bằng nút chai đẽo gọt rất vụng về. Sơn đem những thứ ấy đổi cho tụi bạn lấy được năm hòn bi.

Hôm sau nó hí hửng mang bi đến trường. Nhưng trò chơi đánh bi thực đã tàn lụi. Sân trường không còn những đứa trẻ dự cái trò chơi ấy nữa. Một con vịt ai thả lạc lõng trong bãi cỏ gần cột cờ cất lên những tiếng kêu khàn khàn.

“Thế là hết” Sơn lẩm bẩm tiếc rẻ và cất những viên bi một cách cẩn thận vào cặp rồi trở vào lớp.

Trời đã ấm lại, lá cây đã xanh, những cành cây thiểu não đã tươi lại vì đầy những lá non. Những ngày học trong lớp đã có chút nắng buổi sáng mang cái dịu dàng và thuần khiết vào lớp học. Không gian trong suốt như pha lê. Thỉnh thoảng lớp học đang im lặng lại ồn lên vì một con chim sẻ bay vụt ngang và kêu lên những tiếng rộn rã.

Nắng vàng tươi in trên cửa kính lớp học những vệt sậm của lá hay bàn tay của một đứa trẻ nghịch ngợm xòe ra đủ cả năm ngón.

Vạn vật đã đổi mới, lũ trẻ cũng phải có những trò chơi khác. Chúng bắt đầu chơi chạy đuổi rồi chơi u. Những trò chơi này Sơn chỉ được mời đến để phân xử hơn thiệt hơn là dự phần vào. Vì nó chạy đã chậm lại rất yếu hơi. Trò “u” cần những đứa rất dai hơi để mà xông sang đất địch. Nó còn phải khỏe nữa để có thể trở về vùng của phe mình cho đến khi lũ đối phương không đủ sức giữ nó lại và ngã bò càng.

Những trò chơi này xem ra tàn lụi rất mau chóng vì tụi trẻ con bị rách hết quần áo. Có những đứa trở về nhà với một cái cúc mất, tay chân thì xây xát và mẹ nó cho ăn một trận đòn. Vài hôm sau trò chơi này tàn đi rồi thì mất hẳn.

Bây giờ thì lũ trẻ chơi đánh con quay. Trò này được rất nhiều đứa hưởng ứng. Sân trường nhộn nhịp với những con quay xoay tít và những tiếng dây vụt đi nghe vun vút.

Sơn thích lắm. Nhưng trò chơi này cũng như những trò chơi khác, nó chỉ đứng nhìn một cách thèm muốn. Đến khi có đứa bạn nào chán vì đã mỏi tay thì Sơn chạy lại mượn con quay để vụt vài cái cho nó quay đi lông lốc. Những khoảng thời gian ấy rất ngắn ngủi làm nó tiếc vô cùng. Cho đến một hôm chú nó đến thăm nhà, có dẫn nó đi chơi và mua cho Sơn một con quay.

Ngay buổi chiều hôm ấy, Sơn đem con cù ra ngoài hè. Một mình nó quay cuồng với sợi dây và con quay cho đến khi mệt lử vì nắng.

Sớm hôm sau nó đem thứ đồ chơi ấy đến trường thì một tin làm nó kinh hoàng. Những đứa trẻ nào chơi con quay đều bị tịch thu hết. Lệnh của ông Hiệu Trưởng ban ra để ngăn tụi trẻ con chơi trò nguy hiểm có thể mù mắt.

Lớp học u ám hẳn lại, những con quay trong cặp của tụi chúng đều bị thầy giáo tịch thu và đưa cho ông gác cổng. Ông ta đích thân vào từng lớp một và mang đi một đống những con cù. Ông ra đi và không bao giờ trở lại.

Những lần đi qua nhà ông gác cổng lũ trẻ vẫn thấy đứa con nhỏ của ông lẩn thẩn với mấy con quay lăn lóc.

Có những khoảng thời gian nào đó mà đứa trẻ không hề để ý đến nhưng vẫn trở lại bằng những bước lặng lẽ và êm ả. Giống như sao mai chớm mọc vào những buổi sớm lạnh lẽo những gió và dìu dịu một màu lam, như những tiếng dế vẫn âm thầm rả rích đón màn đêm trở về với vạn vật.

Những cây sao gần trường bắt đầu trút xuống những quả khô đét mang hai lá màu nâu già, quay lông lốc như chong chóng.

Lũ trẻ con bắt đầu thích ném những quả sao ấy lên trời để nhìn nó rơi trở xuống quay tít, một cách rất thú. Và Sơn đã chơi cái trò chơi ấy. Nó đã tìm được một thứ giải trí đúng mùa của nó nhất. Khi mà những đứa trẻ thích thơ thẩn ở ngoài đường để lượm những quả khô ấy và giấu đầy trong cặp.

Những buổi trưa êm ả, khi cổng trường vừa khép lại, lũ học trò trở về nhà, Sơn thơ thẩn trên con đường sắc xám, tìm những quả sao ném lên trời để nhìn nó quay tít mù. Sơn đã tìm được một trò chơi đúng lúc. Nó không còn cảm thấy lạc lõng nữa.


NGUYỄN TỊNH 


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 205, ra ngày 15-7-1973) 


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

NGÀY NẮNG - Vũ Chinh


● 30-8

Bây giờ thì mình đã hiểu tại sao hôm qua Thúy từ chối lời yêu cầu của mình. Đó là tại Thúy không thích đi xe hơi, thế thôi. Thúy đã làm mình một đêm suy nghĩ và hờn giận. Mình đã gác tay lên trán, tại sao, tại sao. Thúy khinh mình chăng. Chả khi nào. Vì có bao giờ một người nghèo xơ nghèo xác lại đi khinh kẻ giàu. Vô lý quá. Chứ tại sao. Buổi tan học đến với lớp thật thân mật và ồn ào, những tà áo màu túa ra như đàn bướm. Đẹp quá. Mây trời cũng đẹp nữa (phải không Thúy). Mình biết xe Thúy hỏng từ hôm qua. Do đó, hôm nay Thúy phải về bộ. Mình quàng tay lên vai Thúy:

- Hay là Thúy lên xe của Thanh về đi nghen.

Thúy lắc đầu:

- Đi bộ cũng được, cám ơn Thanh.

- Có gì đâu phải ngại, Thúy lên xe đi.

Một chiếc xe đạp trờ tới thật đúng lúc với ánh mặt đang dự phòng cầu cứu của Thúy. Thúy nói với mình:

- Thôi Thanh về đi. Hẹn Thanh lần khác nhé. Đừng giận nghe bồ!

Mình tức muốn khóc đi được vì không sao hiểu nổi Thúy. Mình đành mở cửa xe, phóng lên thật vội. Chiếc xe lao đi. Qua cửa kính, mình còn thấy hai bóng dáng mảnh khảnh của Thúy và Hà.

● 2-9

Hình như cả lớp không ai ưa mình. Thế tại sao. Mình có làm gì đâu. Mình chỉ có cái tội ít nói. Mình chỉ quen thân Thúy. Nhưng ba hôm rồi mình tìm cách tránh xa Thúy, để cho Thúy biết rằng tính kiêu kỳ của Thúy đã là nguyên do chính sự rạn vỡ tình bạn giữa hai người. Thúy hiền lắm. Thúy có vẻ đẹp thật thùy mị và giản dị. Ở Thúy, không tìm thấy một màu sắc giả tạo lộng lẫy nào. Đẹp nhất ở Thúy là đôi môi. Đôi môi tròn nhỏ, luôn luôn đỏ hồng mướt mịn như thoa son. Mình thèm cắn vào đó, như cắn một quả nho chin mọng. Nhưng bây giờ thì hết rồi, tình bạn giữa mình và Thúy.

Hết rồi, những buổi sáng đuổi bướm sau trường bắt ép tập chơi, những buổi sáng ngồi bên nhau chia nhau kết từng mẫu thêu và nụ cười hai đứa rực đỏ dưới màu nắng mơn mởn. Thúy ơi! Hết rồi. Mình đã khóc một đêm, khi biết mình sắp sửa cô đơn. Ngày tháng sẽ trôi qua với nhịp độ thật buồn chán.

● 3-9

Buổi sáng đến trường, vào lớp học.

Rồi về. Mình nghe chán mệt làm sao. Cả lớp coi như không có mình, vui đùa ồn ào chung quanh. Nhưng Thúy đâu rồi. Thúy đâu. Mình chú ý đến sự vắng mặt của Thúy bắt đầu từ hôm nay.

Ngồi trong xe hơi, mình phóng mắt nhìn ra con đường ngút xa. Nơi đó, những tà áo màu đang phất phới bên nhau. Gió mơn man màu sác. Gió chải từng làn tóc mướt đen. Những nụ cười nở tươi. Tiếng cười ròn rã. Đời sống thật tự do. Họ, những cánh chim, sau giờ phút hợp quần, tung lướt khắp bầu trời. Những vòng bánh xe lăn đều trên con đường nhiều sỏi trắng.

Chỉ có mình. Chỉ có mình bị bó buộc trong một khung xe kín gió. Mình muốn thoát ra nhưng làm sao được. Mình thèm thuồng được như họ, những người tự do đang đuổi bắt niềm vui, cho tôi hòa mình với, hỡi bạn bè, cho tôi sát cánh với, hỡi những đàn chim.

Lời kêu gọi này có ai nghe không. Chiếc xe ngừng trong những cử động khô và chán. Mình xuống xe. Vào nhà. Bàn ghế đó, sang quá, tốt quá, nhưng sao mình không thấy thích.

Rồi bữa ăn đến với những món ăn béo bổ, nóng sốt, sao mình ăn không ngon. Ba nói với mình:

- Chiều nay con đi coi hát với chị Trang và chú Phương không?

Những hình ảnh, những niềm vui, những nụ cười, những pha đấu súng, những cử động đuổi bắt dồn dập, mình đành tìm chúng trong những giờ giải trí. Bữa ăn qua rồi. Mình nằm dỗ giấc, sao mình không ngủ được. Thúy ơi! Thúy ở đâu? Sao Thúy giận Thanh. Cho tôi tự do với, hỡi bạn bè!...

Mình thiếp đi thật lâu. Và khi những giọt mưa đầu tiên tình cờ rơi trúng trán mình, mình choàng dậy thật vội. Mưa ném xuống ào ạt. Mưa ở ngoài phố. Những hàng cây nghiêng ngả.

Không biết làm gì, mình thơ thẩn ở cạnh cửa sổ. Giá mình biết làm thơ, mình sẽ tả lại những tình cảm bé bỏng xuất phát từ mưa. Nhà nào cũng đóng cửa. Xe cộ thưa dần. Mây kéo ngập trời. Ô kìa! Một đứa trẻ đứng trú dưới mái hiên mình.

Tội chưa, cô bé. Quần áo ướt lem, gió lạnh buốt như cắt da. Cô bé đứng co ro, môi mím chặt, hai tay khoanh siết chặt vào như cố gắng gây thành sức nóng truyền dẫn khắp thân thể. Cô bé đứng nép sát vào tường, bắt đầu bước lên bậc thang cuối cùng trước ngưỡng cửa nhà mình.

Tự nhiên mình nghe thương hại cô bé. Mình bước vội xuống cầu thang, mở cửa thật nhẹ. Gió ào vào. Cô bé hoảng hốt tiến xa hai bước. Mình gọi cô bé vào nhà cho đỡ lạnh. Cô bé ngần ngại. Một xấp báo ướt nhèm dưới chân. Mình gọi to:

- Vào đây!

Bây giờ cô bé mới dám bước vào. Mình đóng cửa lại. Cô bé nghe ấm hơn, đặt xấp báo xuống chiếc ghế bên cạnh. Mình lấy khăn khô cho cô bé lau. Và mình có thời giờ ngắm nét mặt của cô bé. Ồ! Sao cô bé giống Thúy quá. Không lẽ…

Mình biết tên cô bé là Kim. Kim, tên đẹp thật, khuôn mặt cũng đẹp không kém.

- Nhà Kim ở đâu?

- Dạ, nhà em ở khu phố kiến thiết đàng kia.

- Nhà em là nhà của phố kiến thiết?

- Dạ, không. Nhà em ở xóm trong.

- Em có đi học không?

- Dạ, có.

- Em có chị chứ?

- Dạ, có.

- Chị em cũng đi học?

- Dạ, chỉ học trường Trung học ở Ngã bảy.

Mình hồi hộp lạ. Chắc quá tồi.

- Chị em tên gì?

- Dạ tên Thúy.

Rồi cô bé tiếp:

- Từ hồi nãy em chưa biết tên chị.

- Tên chị hả? Tên Thanh.

- Chị là chị Thanh?

- Sao Kim ngạc nhiên?

- Phải chị cũng học trường ở Ngã bảy?

Mình gật đầu. Cô bé lấy trong túi ra một mảnh giấy gấp tư:

- Chị Thúy em gởi chị thư này.

- Kim là em của Thúy hả?

- Dạ phải.

Mình cầm lấy lá thư. Mưa đã tạnh. Cô bé ôm xấp báo lên:

- Em cám ơn chị Thanh, bây giờ em xin đi.

- Em đi đâu?

- Dạ em đi bán.

- Chị Thúy em sao ban sáng nghỉ học?

- Dạ, tại chị bịnh.

Nói đoạn, cô bé phóng đi. Mình cúi đầu vào trang thư Thúy.

● 5-9

Mình không sao tìm được niềm vui bên Trinh, mặc dầu Trinh rất vui tính. Trinh là con một thương gia giàu có, bạn thân của ba mình. Mình thấy ở Trinh có những cái mà nếu so với trước đây rất giống mình. Đó là những yên vui trong một tháp ngà do chính mình xây tạo lấy. Sống không cần biết gì hết, ngoài kia, trong đó, ai khổ nhọc đau buồn. Tháp ngà đó làm tính tự kiêu tự phụ nổi dậy rất nhanh. Tình cảm cũng bị thu hẹp lại trong một tầm mức tối thiểu. Mình chỉ biết mình, ba má, anh em, bạn bè, ngoài ra không cần biết đến.

Bây giờ tháp ngà mình đã bị phá vỡ bởi chính người xây dựng nó. Mình đã ý thức được sự sai lầm một cách ích kỷ đó. Phải hòa mình với tất cả, vì niềm vui chỉ có trong sự hòa mình đó.

Mình bỏ Trinh trên lầu, mượn cớ đi thuê sách để đến nhà Thúy. Má hỏi:

- Đi đâu đó Thanh?

- Dạ con đi thuê sách.

- Kêu chú ba tài xế đưa đi.

- Thôi, con đi xe đạp được.

Và mình thoát ra cửa. Chiếc xe đạp dựng nghiêng như chờ đợi. Mình đạp vội. Mình đã là cánh chim tự do. Lối vào nhà Thúy đầy cát lầy. Nước bẩn văng tóe dính vạt áo mình. Mặc. Mình bắt gặp những cặp mắt trẻ thơ nhìn ngó mình, mình thấy thân mật và gần gũi hơn những lần trước đây.

- Thúy ơi!

Tiếng cửa mở.

- A! Chị Thanh.

- Hôm nay Kim không đi học sao?

Kim cúi đầu buồn. Mình biết mình vô tình gợi cho cô bé nỗi xúc động, vội lảng tránh:

- Chị Thúy đâu Kim?

- Dạ, chỉ nằm bên trong kìa.

Thúy gầy và xanh thấy rõ. Mình muốn khóc được trước sự thay đổi bất ngờ của Thúy.

- Thúy!

Thúy khẽ mở đôi mắt:

- Thanh!

Hơi thở Thúy không đều, có lẽ bị giao động.

- Lớp vẫn học đều chứ Thanh?

Mình gật đầu:

- Thúy thấy khỏe lắm không?

- Khỏe nhiều.

- Bác đâu Thúy?

- Có lẽ vừa đi khỏi.

Căn nhà bị ánh nắng chiếm tràn ngập. Mình nắm tay Thúy:

- Thúy! Thanh xin lỗi Thúy về sự hiểu lầm hôm đó.

Thúy mỉm cười:

- Thanh quá khách sáo. Có gì đâu.

● 8-9

Niềm vui đã đến với mình. Mình đã là cánh chim thật sự. Tháp ngà bị phá nát không còn dấu vết. Thúy bắt đầu đi học lại. Hai đứa sánh vai nhau dưới bóng mát cây lá, kể nhau nghe từng mẩu chuyện vụn tuổi thơ.

Những đêm mưa to đã làm ướt bẩn khu vườn tâm hồn mình, mình là đóa hoa, đóa hoa đón chờ hương sắc của một cảnh trí thơ ấu. Đêm mưa đầy những đám mây u tối, không tiếng chim hót trong đám lá xanh như độ nào. Mình chờ. Mình chờ, và, thời gian trôi qua, một ngày lại bắt đầu, ngày nắng đã bắt đầu trong tuổi mình. Nụ cười mình bây giờ sao tươi tắn lạ.


VŨ CHINH  


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 89, ra ngày 15-4-1968)



Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2018

CHƯƠNG XIII, XIV_CÔ GÁI CHÚC SƠN


CHƯƠNG XIII
 
TRẬN TỤY ĐỘNG
 
 
Đầu tháng mười, thời tiết thay đổi, đang rét ngọt bỗng đổ mưa từng trận nhỏ, lai rai suốt ngày. Đúng là “mưa rươi” như người xưa chiêm nghiệm : “Tháng chín đôi mươi, tháng mười mồng năm”.
 
Đương đầu với mưa lạnh thấu xương, đoàn quân của Mã Kỳ ở mé sông Bùi ngong ngóng chờ ám hiệu xung phong từ canh một.
 
Hết canh tư, vẫn chưa thấy động tĩnh. Chúng uể oải, mong sớm được rút lui chờ bữa khác giao tranh.
 
Ở bến đò Mai Lĩnh, quân của Trần Hiệp mỏi mệt không kém. Chúng đã phải vội vã lên đường, vội vã sang đò và yên trí được nghỉ ngơi đến sáng.
 
Nhưng thình lình, vào giữa canh năm, tiếng súng hiệu nổ vang. Đúng lúc ít ai chờ đợi nhất.
 
Hai tiếng ngập ngừng 5 chập, rồi một tiếng sau cùng kéo dài như cương quyết xé không gian.
 
Đúng là súng hiệu nhà ! Họ Mã, Phương thúc quân tiến tới. Từ hai mặt, trên dưới bẩy vạn quân lăn xả vào chỗ không người.
 
Trong bóng tối mờ mờ, nghe như có tiếng người ngựa xô nhau chạy.
 
Ruộng chiêm chỗ thấp chỗ cao, chỗ lầy lội rút chân lên không đươc, chỗ lại trơn như đổ mỡ, chúng nhắm mắt đuổi bừa, ngã lên ngã xuống.
 
Chỉ có một người quất ngựa xông vào cõi u minh mà thấy hiển hiện trước mắt một trời rực rỡ. Đó chính là Trần Hiệp, linh hồn của giặc.
 
Bằng ảo giác của một tay nghiện ngập, y thấy trước một chiến tích lẫy lừng trong Minh sử, một chiến công oanh liệt của riêng y. Một đoàn tù binh đang được áp giải đến tận Bắc Kinh và một lễ tiến triều rất mực huy hoàng trong đó y hãnh diện nhận sắc phong Vương tước.
 
Hàng trăm tiếng nổ long trời bỗng kéo y ra khỏi cơn mê. Rồi tiếng quân reo, tiếng voi gầm, ngựa hí từ mạn Chúc Sơn và Phụng Hoàng đổ xuống.
 
Kinh hoàng, chúng lắng tai nghe. Có tiếng ào ào như thiên binh vạn mã đuổi theo sau bén gót.
 
Chết rồi ! Nước từ mặt tây bắc đổ xuống ầm ầm như thác. Bây giờ chúng mới nhớ đến cái cống Đồng Chữ ở gần bến sông Bùi.
 
Xa xa, mạn chính nam, tiếng gầm thét muôn phần ghê rợn của con sông Đáy, của con sông Bùi tắc nghẽn.
 
Từ Ngã ba Thá đổ lên, nước quay cuồng giận dữ, phá tung bờ, tràn vào cánh đồng chiêm mạnh như thác lũ.
 
Quân Minh, đông như kiến cỏ, dẫm đạp lên nhau trong bãi bùn mênh mông, không biết lối nào là lối sống vì bốn phương tám hướng đều có tiếng quân reo và tiếng trống trận thúc liên hồi.
 
Chốc chốc, tiếng trống lặng im trong khoảnh khắc nhường chỗ cho những tiếng loa :
 
- Vương Thông ! Trần Hiệp ! Muốn sống hàng đi !
 
- Phương Chính, Mã Kỳ ! Xuống ngựa, hàng đi !
 
- Chúng bay mắc mẹo quân sư ta rồi ! Muốn sống về với vợ con thì hàng ngay đi !
 
Mắc mẹo ! Viên Binh bộ thượng thư họ Trần của nhà Minh há đợi đến khi có tiếng loa nhắc mới biết mình mắc mẹo sao ?
 
Tuyệt đỉnh thông minh, y thấy ngay thế cờ của Nguyễn Trãi bày ra để hơn y một nước. Trong chớp mắt, y bừng tỉnh ngộ. Ôi thôi ! Ở đây, chẳng có Bình Định Vương nào hết. Tin giả trá chỉ là một miếng mồi thơm nhử cá.
 
Ở đây, chẳng có một tên quân, chẳng có một mống dân. Họ ngấm ngầm rút khỏi khu vực trống trơn bằng đường thủy.


Y đoán ra, sáng suốt như chính mắt y trông thấy, hoạt động của dân ba làng Lương Xá, Quảng Bị, Tụy Động dưới quyền chỉ huy của Trần Kiện trong mấy ngày đầu tháng. Nào đẵn tre, đan thật nhiều thuyền thúng làm phương tiện tới lui. Nào chuẩn bị bao cát cho thật nhiều để khi nghe tiếng súng hiệu thì ném xuống lấp khúc sông nơi Ngã ba Thá. Nào đồn quân ở phía bên kia đường cái với voi, với ngựa, để đổ xuống phá cống Đồng Chữ, chẹn đứt lối về của đoàn quân vừa mắc bẫy…
 
Y thầm nghĩ : Thế cờ hiểm hóc cách mấy cũng có thế phá giải. Trong chỗ mười phần chết, thế nào cũng còn một đường sống. Chịu khó tìm, ắt thấy.
 
Và y bình tĩnh tính toán : Vương Thông còn trong tay trên dưới ba vạn quân. So với lực lượng bao vây, số quân này không phải là ít. Họ Vương có thể đánh thốc qua sông, quét sạch con đường cái dài có mấy chục dặm từ bến đò Mai Lĩnh đến bến đò Tích Giang. Đại quân ta sẽ có lối về sau một hai ngày bị vây khốn là cùng…
 
Nếu chuyện ấy Vương Thông làm không nổi, ta sẽ tính sau… Sao sao cũng phải tìm ra lối thoát!...
 
Trời sáng rõ, họ Trần thản nhiên truyền lệnh cho ba quân lên những chỗ đất cao mà đóng.
 
Kéo vào các làng Quảng Bị, Tụy Động và Lương Xá ẩn mình sau những luỹ tre xanh, chúng ngạc nhiên thấy mấy trăm tên quân tinh nhuệ nằm chết ngổn ngang, rải rác. Thì ra bọn này đã xông vào đây từ lúc cuối canh năm và đã bị những toán dân quân ở lại giữ làng hạ sát trước khi rút cả ra sông.
 
Nước mỗi lúc một lên, sáu bẩy vạn quân ướt như chuột lột chen chúc ở trong ba làng như ở trên những hòn đảo chơ vơ.
 
Tụy Động là hòn đảo cao nhất và rộng nhất, nhưng không phải vì thế mà dễ sống nhất. Vì khắp cả ba nơi, không một hạt gạo, không một hạt thóc. Không cả đến một củ khoai, một dây sắn.
 
Một chiếc thuyền thúng cũng không tìm đâu ra nữa. Quân Minh phải liều chết bơi ra những chỗ khá sâu mong đoạt được một ít thuyền làm phương tiện di chuyển. Nhưng tên nào ra xa là tên ấy bị bắn chết tươi liền.
 
Hai ngày trôi qua, viện binh vẫn không thấy tới. Đôi khi lắng tai nghe thấy có tiếng trống thúc liên hồi chen lẫn với tiếng reo hò inh ỏi, song chỉ một lát sau lại thấy im lìm. Chắc Vương Thông độ quân sang sông không nổi rồi. Biết tính sao đây ?
 
Trong lúc cùng quẫn, Trần Hiệp ngồi thừ ra ngẫm nghĩ, bỗng giật mình nghe có người hiến kế :
 
- Tôi có mẹo nhỏ, nếu quan Tham tán dùng, may ra thoát được.
 
- À ! Anh Rực ! Mẹo thế nào, nói thử nghe coi !
 
Rực ghé miệng thì thầm, tay chõ về hướng đông làng Lương Xá. Họ Trần tươi hẳn nét mặt, vỗ vai y :
 
- Trời chưa nỡ tuyệt ta nên mới xui khiến cho anh ở bên cạnh lúc này… Ta sẽ không quên công lao khó nhọc của anh đâu.
 
Trần Hiệp nhớ lại việc đã qua như vừa xẩy ra trước mắt. Lúc sắp cất quân, Nguyễn Lịch bỗng nổi cơn đau bụng kinh niên. Lăn giường trên xuống giường dưới. Thiếu Lịch, họ Trần như gẫy một cánh tay. Chưa biết tính sao, bỗng thấy thầy trò Vương Thông tới. Rồi Đặng Rực tình nguyện đi theo họ Trần để làm tai mắt.
 
Mấy trăm quân còn mạnh khoẻ đẵn cấp tốc mấy chục cây tre và đan cấp tốc lấy mươi chiếc thuyền thúng.
 
Mỗi thuyền chở được hai người, một lo chèo chống và một lo cự địch.
 
Những tên đầu sỏ vào hạng nhất leo cả lên thuyền. Đặng Rực cưỡi một chiếc đi đầu, quanh co theo một con đường tắt. Chín chiếc khác nối đuôi theo, rời làng Lương Xá và lướt như bay về giòng sông Đáy ở hướng đông.
 
- Thế là thoát hiểm !
 
Chúng vỗ tay reo, sung sướng như đàn cá vừa quẫy mình ra khỏi chậu. Nhưng chợt tiếng trống trận nổi lên quyện theo ngọn gió bấc thổi ù ù tới. Từ thượng lưu sông Đáy, một đoàn mười chiếc thuyền thúng vùn vụt trên mặt nước nhanh như tên bắn.
 
Chúng đã bị đội tuần tiễu mặt Đông chặn đầu. Và chúng rụng rời cả chân tay khi nghe viên tướng cao lớn cầm siêu đao thét :
 
- Ta là Trần Kiện ở Lương Xá đây. Muốn sống, hàng đi !
 
Tiếng thét chưa dứt, thuyền đã lao tới sát thuyền có tên tướng mặt chuột mặc áo bào tía và đội mũ khảm ngọc long lanh.
 
Ánh đao loé lên phản chiếu ánh sáng mặt trời. Đầu Trần Hiệp được vớt bay sang thuyền Trần Kiện thật ngọt.
 
Trong thời gian chớp nhoáng ấy, một tướng Minh khác cũng bào tía xênh xang choáng tai khi nghe tiếng thét ở sát thuyền :
 
- Lý Hậu ở Chúc Sơn đây ! Chết này !
 
Lưỡi đoản đao phập xuống lúc âm vang của hai tiếng “Chết này” chưa dứt. Đầu nội quan Lý Lượng lăn lông lốc trong lòng thuyền.
 
Mũi đao của họ Trần, họ Lý chỉ về phía nào, thuyền chuyển vèo vèo sang phía ấy, nhanh như ngựa chạy trên đất bằng.
 
A ! Thằng giặc bán nước đây rồi !
 
Thanh siêu đao một lần nữa lại vung lên.
 
- Đừng giết, chú !
 
Tiếng la hốt hoảng của Hậu không đủ nhanh để kìm hãm làn đao thần tốc của họ Trần sà xuống vai Đặng Rực.
 
Hậu nhẩy ùm xuống nước vớt xác gã đồng hương. Chàng thở dài :
 
- Thôi thế cũng xong ! Bắt sống về cho thầy xử chỉ thêm đau lòng cho gia đình vô tội của y thôi.
 
Lớp kịch vừa rồi tuy diễn ra trong nháy mắt, cũng đủ cho những thuyền ngăn giặc phân tâm. Lợi dụng thời cơ, 17 tên còn lại hè nhau nhẩy xuống sông sau khi vội vàng thả hết giáp bạc, mũ đồng trôi lều bều trên mặt nước hay quấn quanh những chiếc thuyền vô chủ.
 
Trần Tráng và Toàn Trâu Nước đâu chịu buông tha. Như hai con rái cá tinh khôn, họ chỉ quẫy mình mấy cái là đã tóm được hai tên quăng lên cho người trên thuyền trói lại, cứ thế cho đến khi không còn một mống.
 
Trần Kiện cười bảo hai gã sau khi kiểm điểm và tra hỏi tù binh :
 
- Chúng bay bắt được 15 con cá nhưng vẫn để tuột mất hai con lươn. Hai thằng Mã Kỳ, Phương Chính lùi thoát được, kể cũng là những tay lặn khá !
 
*
 
Quân Minh bị bao vây như rắn mất đầu. Nhưng chúng rất đông, và từng đợt, từng đợt, chúng hè nhau chạy tìm đường sống.
 
Trong bốn năm ngày liền, không một tên nào trốn thoát. Những mũi tên đầy sinh lực của dân quân lúc nào cũng hờm sẵn để chờ đón những kẻ nào liều lĩnh nhất. Những đứa may mắn thoát được hoạ này lại không đủ sức vượt qua được hàng rào sắt thép trên đường cái quan hay giòng nước vô tình của hai con sông Bùi, sông Đáy.
 
Đến ngày thứ bẩy, quân Minh hoàn toàn kiệt quệ.
 
Cống Đồng Chữ được bít lại, những bao cát ở Ngã ba Thá được lấy đi. Mực nước quanh ba làng hạ xuống thật nhanh. Quân ta kéo vào, mặc sức chém giết những tên ương ngạnh còn cầm khí giới trong tay. Những tên sắp chết đói đầu hàng vô số.
 
Tính ra, trận Tụy Đông năm Bính Ngọ (1) thật là một trận ly kỳ. Giặc có bẩy vạn quân và bốn tên đầu sỏ ghê gớm nhất. Ta chém được hai tên là Thượng thư Trần Hiệp và Nội quan Lý Lượng, và để sổng mất hai tên là Phương Chính, Mã Kỳ. Còn bẩy vạn quân thì chết hại đến hơn năm vạn, phần bị tên bắn, giáo đâm, phần giày xéo lẫn nhau mà chết, phần lại ngã xuống sông chết đuối hoặc đói lả gục xuống đám ruộng chiêm ngập nước để không bao giờ đứng lên được nữa.
 
Số còn lại cả thẩy hơn một vạn người đều bị bắt sống, không một tên nào lọt lưới.
 
Các đồ đạc khí giới, quân ta thâu được không biết bao nhiêu mà kể.
 
______________
(1) Bính Ngọ : 1426.
 
 
CHƯƠNG XIV
 
CHIM SƠN CA LẠI HÓT
 
 
Trong bữa tiệc khao quân tại Chúc Sơn, Mai khoe với thầy :
 
- Thưa cụ, nếu không nhờ có anh Hậu sang Lương Xá tiếp tay với chú Trần canh phòng mé Đông, không khéo tụi đầu sỏ quân Minh chạy thoát hết.
 
- Ừ, ông Trần có kể chuyện ấy cho thầy nghe rồi. Chả là vì ngày trước thằng Rực hay lân la sang bên ấy chơi nên các đường ngang ngõ tắt nó thông thuộc hết.
 
- Vâng. Mé đông làng Lương Xá ruộng sâu, nước cao và gai góc chằng chịt nên ít đứa dám liều mạng chạy về phía ấy.
 
Hậu nối lời :
 
- Chỉ có thằng Rực mới nghĩ ra mẹo chạy luồn ra sông Đáy bằng con lạch nhỏ. Đường bí mật này đâu có ai dùng mà biết đến. Chỉ có tụi trẻ con hay nô đùa bơi lội mới khám phá ra mà thôi.
 
Cụ Cử thở dài than :
 
- Thằng Rực dù sao trước kia cũng là học trò thầy. Nó theo giặc làm xằng, thầy cũng mang nhục lây… Vì nó, cuộc vui hôm nay không được trọn.
 
Mai tìm lời an ủi :
 
- Nhưng được cái may là cụ không cần phải đưa vụ ông hai Quang tố cáo hôm nọ ra xử lại mà anh Hậu và anh Lịch tự nhiên được minh oan.
 
Hậu vội trình tiếp :
 
- Anh Lịch có dặn con trình với cụ đừng khơi vụ ấy ra làm chi nữa vì anh ấy muốn đóng trọn vai trò của mình cho đến khi thành Đông Quan được hạ xong.
 
Nghe Hậu nói, Mai chợt nhớ đến một câu dặn dò của Lịch chiều qua khi chàng ghé vội bến đò Mai Lĩnh trong lốt áo nhà buôn :
 
- Trước khi xuôi Nam , quân sư bảo anh phải giữ kín hành tung cả với những người thân thiết nhất. Quân Minh chưa rút hết về Tầu thì anh còn phải ở lại Đông Quan, quân sư còn có việc dùng đến.
 
“Như vậy là anh chưa có thể về làng với em được.
 
“Những khi nhớ nhau, em cứ hát lên cho đỡ nhớ. Còn anh, anh sẽ gửi lòng vào tiếng đàn. Tiếng đàn, tiếng hát sẽ cùng theo gió lên cung trăng…
 
Cụ Cử vuốt râu, ra chiều toại ý :
 
- Được, thầy xếp chuyện cũ ấy lại. Chắc ông hai Quang và thằng Quý còn mừng nữa là đằng khác vì họ đã thừa hiểu tâm địa của thằng Rực và tội lỗi của nó rồi.
 
“À, thầy nghe nói thằng Rực là chân tay của Vương Thông. Sao trận Tụy Động vừa rồi nó lại đi theo Trần Hiệp ?
 
Hậu cười thưa :
 
- Chúng nó mắc mưu anh Lịch hết. Sau khi dụ cho chúng yên trí cất quân, anh ấy liền giả vờ đau nặng không đi theo Trần Hiệp được. Trái lại, thằng Rực chắc mẩm quân Minh sẽ thắng mười mươi nên tình nguyện đi thay để thừa dịp lập công.
 
Cụ Cử đắc chí cười ha hả :
 
- Thì ra trước khi mắc kế của ta, chúng vẫn đinh ninh ta mắc kế của chúng !
 
- Vâng. Chỉ tội cho tên Trần Hiệp chưa than thở được câu nào đã bị rơi đầu. Bác Trần Lương Xá vớt siêu đao hay quá.
 
- Chuyện ! Đường đao gia truyền của Đức Hưng Đạo Đại Vương để lại mà !
 
Dạo này, Mai đã hết vẻ đăm chiêu mặc dầu anh chàng Lịch chưa có thể trở về Chúc Sơn sum họp với gia đình và gặp mặt người yêu.
 
Nàng lại trở thành cô gái tươi tắn nhất làng như trước. Đôi mắt thêm long lanh, nụ cười thêm rực rỡ, và tiếng hát dịu dàng lại văng vẳng trên sông.
 
Nàng ửng hồng đôi má, vuốt làn tóc mai gió quạt rối bời khi các bạn gái quá giang cười cợt :
 
- Sướng nhé ! Chim Sơn Ca lại hót véo von rồi !
 
Những đêm có trăng, nếu thuận gió, mấy anh dân quân đi tuần dọc hai bên bờ đê có thể nhận ra những tiếng hát thiết tha chờn vờn trên sông :
 
Lòng anh như nước sông Hồng
 
Nhớ em theo xuống một vòng Chúc Sơn.
 
Tim em sạch hết giận hờn,
 
Dưới trăng hòa nhịp tiếng đờn Đông Quan…
 
 
CHÂN PHƯƠNG 
Tháng 10 1973   
  
__________________________
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
- Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
 
- Bài “Nguyễn Trãi với trận Tụy Động” của CAO TRUNG đăng trong Giai Phẩm Khoa Học Huyền Bí số 1 – 1 (tháng 9 – 1973)