Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

CHƯƠNG VII, VIII_CÔ GÁI CHÚC SƠN


CHƯƠNG VII
 
CHÉN TRÀ THƠM
 
 
Khác với mọi lần, cửa nhà Thắm hôm nay chỉ mở hé. Không khéo nó đi vắng. hay là cả nhà đi đâu chơi, nó có một mình nên không dám mở toang cả hai cánh cửa. Nếu thế, thì càng hay, tha hồ nói chuyện. Cả làng, chỉ có con Lãm và con Thắm là dễ thương nhất !
 
Nàng đắn đo mãi rồi mới ngập ngừng lên tiếng :
 
- Thắm có ở trong nhà không, Thắm ơi !
 
Gọi đến hai câu mới thấy có tiếng động lịch kịch. Cánh cửa vừa mở rộng đã có tiếng reo mừng rỡ :
 
- A ! Cô Mai ! Mời cô vào chơi !
 
Ngỡ ai, hóa ra anh chàng Rực, dạo này mặt mũi sáng sủa hơn, ăn nói dạn dĩ hơn.
 
- Cái Thắm có nhà không, anh Rực ?
 
- Có. Nó chạy lên phố một tí tẹo về ngay bây giờ ấy mà. Cô Mai vào chơi…
 
- Thôi, tôi đợi đây cũng được.
 
- Ồ, ai lại đội thúng đứng ngoài đường như vậy, trông sao được ! Hay là cô chê nhà tôi tối tăm, dơ bẩn ?
 
Y mở toang hai cánh cửa, đứng nép một bên, nói thêm :
 
- Bà con trong họ ngoài làng cả, chả mấy khi gặp nhau, cô cho hỏi thăm một vài nhời là quý…
 
Cha ! Cái anh chàng này bây giờ mồm miệng cũng bẻo lẻo ra trò ! Ừ, vào thì vào sợ gì. Có giở võ ra cũng không ăn đứt được gái này cơ mà !
 
- Thôi được, để tôi vào chờ nó một tí vậy. Anh cứ để tự nhiên. Anh lo làm việc của anh đi.
 
Rực cười hề hề :
 
- Tôi có bận bịu gì đâu. À, để tôi thắp cái đèn cho sáng nhé.
 
Mai giật mình. Mải nói chuyện ở đàng thím Tư, xế chiều lúc nào không hay. Làm sao về kịp đây ?
 
Nàng nóng nẩy, vừa ngồi xuống ghế đã đứng phắt dậy, ôm thúng bánh :
 
- Thôi, giời tối rồi, tôi phải về. Để khi khác tôi lại thăm hai bác và cái Thắm vậy.
 
- Tối rồi, về không kịp đâu. Ra cửa thành cũng rắc rối lắm. Cô Mai chịu khó nán lại một chút, thầy đẻ tôi và cái Thắm về ngay bây giờ chứ có lâu la gì…
 
Sực nhớ ra một điều, y tươi hẳn nét mặt :
 
- À, lâu lắm không được trông thấy bánh Thanh Trì, cô Mai chịu khó cuốn cho tôi mấy cái ăn cho… đỡ nhớ. Được không ?
 
Lần thứ hai, Mai giật mình. Thằng này hôm nay lại đưa ra cái giọng nửa nạc nửa mỡ, định giở trò gì đây ?
 
Nàng quắc mắt nhìn. A, cái miệng cười lẳng lơ, đôi mắt lại có ý gian… Phải coi chừng thằng này mới được !
 
Bất đắc dĩ, nàng phải đáp lời :
 
- Anh Rực không đợi cả nhà về cùng ăn sao ?
 
- Đợi cũng được. Cô Mai muốn tôi đợi thì tôi xin đợi…
 
Y say sưa đứng ngắm từ đôi bàn tay cô những ngón thon dài, đến khuôn mặt trái soan ẩn dưới chiếc khăn vuông tùm hụp. Tia mắt sắc sảo của y lột bỏ hết lớp vàng nghệ bên ngoài để chỉ thấy mầu da trắng hồng quen thuộc bên trong.
 
- Chết chưa ! Khách quý tới nhà mà không có được một chén nước chè !
 
Y khẽ la lên rồi quay ngay vào bàn nước, loay hoay một lát, đoạn bưng ra hai chén trà bốc khói.
 
- Cô Mai uống nước đi, xem trà đẻ tôi ướp có ngát bằng ở đằng nhà không.
 
- Anh mặc tôi.
 
Rực nâng chén của mình lên uống mấy hớp và săn đón hỏi :
 
- Lâu nay cô Mai có gặp anh Lịch không ?
 
- Không.
 
- Lịch dạo này làm ăn khá lắm. Trần Tham Tán tin dùng anh ta nhất đấy !
 
- Thì cũng như Vương đại tướng tin dùng anh chứ gì !
 
- Như làm sao được mà như !
 
- Sao vậy ?
 
- Vì… anh Lịch giúp họ Trần chuyên hơn. Chắc cô Mai còn nhớ, tôi làm việc này là do cụ Cử sai. Mục đích chính là giúp họ Lê, là giúp nước. Chứ không như anh Lịch, tự ý anh ấy làm việc cho họ Trần…
 
Mai gắt, giọng nàng lạc hẳn đi :
 
- Thôi, anh đừng bắt tôi nghe những chuyện ấy nữa.
 
Bỗng nhiên, nàng thấy khát khô cả cổ. Bên kia bàn, Rực cầm chén nước uống một hơi. Bất giác, nàng cũng nâng chén, nhắp vài ngụm nhỏ. Vừa uống vừa nghe, không thấy gì lạ, nàng uống gần cạn chén.
 
Trầm ngâm, Rực nói, buông từng tiếng như rót vào tai người đẹp :
 
- Anh Lịch là con người không ra gì như vậy, mà xem chừng Mai vẫn còn quyến luyến. Còn tôi, tôi yêu Mai vô cùng, sao Mai cứ luôn luôn hờ hững ?
 
Xoáy cặp mắt quan sát người đối thoại, y nở một nụ cười tinh quái, từ từ đứng dậy, đi vòng quanh chiếc án thư đến cạnh cô gái, giơ tay khẽ vuốt má nàng.
 
Mai giật mình và như vừa thoát khỏi một cơn mê, nàng phản ứng nhanh như chớp. Tiếng quát lanh lảnh của nàng chưa dứt, cổ tay Rực đã bị đánh trúng, đau như tiện, và nàng đã đứng lùi ra phía cửa thủ thế.
 
Rực vẫn đứng nguyên chỗ cũ, không nhúc nhích, mỉm cười trơ trẽn.
 
Ô hay ! Sao lại choáng váng thế này ? Mắt nàng hoa lên, cố gắng lắm mới không ngã quỵ. Thôi chết rồi ! Thế là mắc mưu tên khốn kiếp. Nó lén bỏ thuốc mê vào chén nước của mình. Nó đâu có bỏ vào trong ấm tích mà mình đợi nó uống trước ! Trời ơi ! Ngu ơi là ngu !
 
Vừa sợ vừa tức, mồ hôi toát ra như tắm. Nàng thấy dễ chịu. hay là hơi thuốc cũng thoát ra theo ? Nghiến chặt hai hàm răng, nàng rán trấn tĩnh, rán tự chủ, rán đứng cho thật vững.
 
Cách xa mấy bước, tên kia vẫn cười nham nhở :
 
- Thế nào ? Cô đã nghĩ kỹ chưa ?
 
Rồi với một giọng ngọt ngào, y thả lời dụ dỗ :
 
- Cô thử so sánh lại cho kỹ xem tôi thua kém thằng Lịch ở điểm nào. Từ gia thế cho đến cái mẽ con người, cả nghề văn, nghiệp võ nữa, nếu nó tám lạng thì tôi cũng nửa cân.
 
“Nó theo giặc, cô tuyệt vọng, nhưng cô vẫn thương yêu nó một cách mù quáng. Còn tôi, tôi vì thầy, vì làng, vì nước, chịu khuất thân với giặc mà cô vẫn dửng dưng, hờ hững. Tại sao vậy ? Cô có thấy bất công và tàn nhẫn với tôi không ?
 
Mồ hôi cứ vã ra, không có gió mà người như gấy lạnh. Hai chân dường như không chống nổi thân hình sắp lao đao. Bao nhiêu ý chí còn lại đều dồn vào câu thuyết phục sau cùng :
 
- Tôi không có duyên nợ với anh. Đừng đeo đuổi tôi làm gì, vô ích. Anh Lịch dù sao vẫn là một… hình ảnh tôi tôn thờ. Tôn thờ cho đến… lúc chết !
 
Tiếng cười, giọng nói đối phương từ dịu dàng cám dỗ bỗng đổi thành tàn độc, nham hiểm :
 
- Hừ ! Tử tế, cô không muốn ! Cô muốn tôi tàn nhẫn. Được !... Này tôi bảo cho mà biết. Khôn hồn thì ưng thuận tôi đi. Không thì tôi trói cô lại, đem cho tên Vương Thông… làm thịt !
 
Như bị một quả đấm tống vào mặt, nàng rú lên một tiếng, lùi lại một bước loạng choạng.
 
Được thể, tên kia bức bách, giọng thô lỗ cộc cằn :
 
- Mai ! Trả lời ngay một tiếng. Có thuận lấy tôi không ?
 
- Không ! Không đời nào !
 
- Ha ha ! Ha ha ! Người đẹp Chúc Sơn thích làm tì thiếp của Vương Thông !
 
- Khốn kiếp !
 
Tuy tức giận đến cùng cực, nàng còn một điểm sáng suốt trong đầu để rán tìm phương thoát hiểm. Hai cánh cửa ra đường đã đóng chặt rồi. Cửa đi xuống nhà dưới tuy khép hờ nhưng tên Rực đứng trấn thế kia thì chạy làm sao nổi.
 
Bỗng có tiếng động ở sau cánh cửa này. Một tiếng động khá mạnh, cả Rực cả nàng cùng nhận thấy. Thật là một cơ hội bằng vàng khó thể bỏ qua.
 
Rực vừa ngoái cổ lại xem thì nhanh như cắt nàng đã ra một đòn chí tử. Trúng ngọn đá thần sầu này, tên kia chỉ có nước gục !
 
Nhưng ngọn đá chỉ bay được nửa vời, tay chân nàng đã rời rã, và chính nàng mới là người gục xuống, bất lực, hoàn toàn bất lực.
 
Bằng một cố gắng vô vọng, nàng chống lại cơn hôn mê ập tới, tai còn nghe văng vẳng tiếng cười bỉ ổi của tên vô sỉ, mắt còn lờ mờ thấy y tiến tới, tiến tới và sắp đụng đến người nàng.
 
Đột nhiên cánh cửa, nơi có tiếng động lúc nẫy, bật tung, một bóng đen bay vào cùng với một tiếng quát mắng :
 
- Khốn kiếp !
 
Bóng đen bay vào như một cây than hầm có cánh. Rực chưa kịp giở tay đã lãnh một đòn vào mặt, mạnh như trời giáng. Y ngã xuống, lăn long lóc, bất tỉnh.
 
Trong cơn mê chập chờn, Mai còn lờ mờ thấy một khuôn mặt đen thui, lởm chởm một hàm râu quai nón, cúi xuống nhìn nàng. Còn nghe như có tiếng gọi “Mai ! Mai !” êm đềm. Còn cảm thấy một giọt nước mắt rỏ xuống môi mằn mặn, và một đôi tay cứng rắn nhưng dịu dàng bồng nàng.
 
Tiếng gọi “Mai ! Mai !” nghe quen quen và mỗi lúc một rõ dần. Nàng mở mắt ra và thấy hai chị em Nhàn , Nhã cùng mừng rỡ reo lên :
 
- Tỉnh rồi ! Chị Mai tỉnh rồi ! Chị mê lâu, em sợ quá !
 
- Ai cứu chị ? Sao chị lại nằm đây ?
 
Nhàn cười nhẹ :
 
- Ông than hầm, râu chổi xể cứu chị đó !
 
- Quen nhà ta à ?
 
- Chắc thế.
 
- Tên ông ta là gì ?
 
- Em… không biết.
 
- Cậu Thanh đâu ?
 
- Anh em ngủ rồi. Đi đâu cả ngày về mệt, ăn qua loa vài chén, nước chưa kịp uống, mắt đã díp lại rồi.
 
Mai nắm tay Nhàn, nhỏ nhẹ dỗ dành :
 
- Nhàn kể cho chị nghe đầu đuôi câu chuyện đi. Chóng ngoan.
 
Nhàn dịu dàng dỗ lại :
 
- Chị hãy dậy ăn tí cơm lấy sức, rồi thư thả em sẽ kể chị nghe.
 
- Không. Nhàn không chịu nói, chị không ăn đâu.
 
Nhàn, Nhã cùng cười khúc khích. Nhã quẹt ngón tay vào má mình, ngạo :
 
- Ứ ừ, nhớn đầu còn làm nũng ! Chị Nhàn đây chứ có phải anh Lịch đâu mà cô nương nũng nịu ! Lêu lêu ! Xấu hổ !...
 
Nghe con nhỏ cắc cớ nhắc đến tên anh Lịch, nàng hồi tưởng lại bóng đen cúi xuống mặt nàng. Tiếng gọi “Mai ! Mai !” nghe sao mà thắm thiết ! Không nhẽ đó là chàng ! Chàng là một trang thanh niên tuấn tú, chứ đâu có mặt mũi đen thui và râu ria sồm soàm trông gớm chết !
 
Nàng mơ màng nghĩ trong khi Nhàn cũng mơ màng kể :
 
- Cả nhà vừa ăn cơm xong thì nghe có tiếng động ở dưới vườn. Cửa lên nhà trên không đóng nên chưa ai kịp chạy xuống xem cái gì lục đục dưới ấy đã thấy một bóng đen to lù lù bước lên, tay ẵm một người bất tỉnh.
 
“Bóng đen là một người cao lớn, mặt như chôn chảo, râu quai nón đâm tua tủa như gai. Y bảo anh Thanh : “Cô Mai uống phải nước chè có thuốc mê, suýt nữa thì lâm nguy ở nhà thằng Rực. Đổ cho cô ấy một liều thuốc giải. Tối nay, cửa thành đóng mất rồi, không về được đâu. Sáng mai, phải giục cô ấy ra về cho sớm, kẻo thằng Rực tỉnh dậy, nó cản trở thì rắc rối to…
 
Mai ngạc nhiên :
 
- Nói vậy, người ấy biết chị sao ?
 
- Cố nhiên rồi ! Nếu không, ai hơi đâu mà dặn dò kỹ thế !
 
- Ai vậy ? Nhàn cho chị biết tên đi.
 
Nhàn đáp sau một tiếng thở dài :
 
- Trước sau gì rồi chị cũng biết…
 
- Chị muốn biết ngay bây giờ cơ.
 
- Không được đâu. Cả nhà em đã hứa với người ấy phải giữ bí mật tung tích của ông ta.
 
Mải nghĩ xem người ơn của mình là ai, Mai không để ý đến Nhàn bỗng dưng có một nét mặt rầu rầu nhưng càng buồn càng đẹp.
 
Người con gái mới nhớn lên này ngước đôi mắt mơ màng nhìn vào chỗ xa xăm để ôn lại những gì nàng giấu bạn. Nàng nhớ từng cử chỉ của người con trai anh tuấn tháo bỏ bộ râu ria bước xuống sân rửa mặt sạch sẽ rồi chạy lên tươi cười bảo Thanh :
 
- Mày có nhớ lúc chúng mình vừa về nhà đã nghe thím Tư khoe Mai ở đây chơi cả một buổi và vừa đi, nói là lại chơi nhà cái Thắm không ? Tao biết ngay có chuyện chẳng lành vì vào giờ ấy chỉ có một mình thằng Rực ở nhà. Mà bộ mặt thật của thằng này, chúng ta đã biết rõ.
 
Nàng nắm tay người ấy nhõng nhẽo :
 
- Làm sao anh Lịch biết anh Rực có một mình ở nhà ?
 
Lịch cười, cái cười thật tươi trông dễ ghét !
 
- Khó gì đâu, Nhàn. Ông Cả Sáng đánh tổ tôm ở nhà ông Đội Tiệp từ sáng và còn đang uống rượu say bí tỉ ở đó. Bà cả và cái Thắm thì dắt nhau lên chùa, Thanh và anh vừa gặp hồi chiều. Thế nào chả ăn cỗ chay rồi mới về. Còn thằng Rực ở nhà làm giời làm đất gì ai biết !
 
Chàng nói thêm :
 
- Thằng Rực mới nếm có một đòn đã ngất xỉu. Trước khi nhét giẻ vào mồm cu cậu, anh đã đổ cho cu cậu xơi nốt chỗ thuốc mê để quên trên bàn nước. Rồi trói gô cu cậu lại, tống vào trong góc nhà kho tối om om. Sớm lắm thì sáng mai nó mới tỉnh. Thanh liệu tìm cách cho Mai ra khỏi cổng thành sơm sớm nhé.
 
Rồi chàng còn dặn kỹ càng hai đứa, làm như người ta hãy còn bé bỏng lắm :
 
- Nhàn , Nhã nhớ kín miệng giùm anh nhé. Thằng Rực mà nghi ngờ bọn anh thì hỏng bét cả đấy !
 
Trước khi ra về, chàng tần ngần đứng nhìn Mai, thở dài, rồi nhìn Nhàn, nhìn Nhã, mỉm cười. Cứ tưởng người ta là con Lãm, em gái mình, không bằng !
 
- Nhàn nghĩ gì mà ngây người ra thế ?
 
Nàng giật mình, ngượng ngập trả lời bạn :
 
- Không , Nhàn có nghĩ ngợi gì đâu.
 
- Có, em đừng giấu chị.
 
- Nếu em có nghĩ thì… em nghĩ chị Mai dù sao cũng là… một người sung sướng.
 
- Còn em ?
 
- Em ấy à ? Em mừng khi… người ta vui và em sung sướng khi… người ta sung sướng !
 
 
 
CHƯƠNG VIII
 
TÍNH VÀO HANG CỌP
 

Vương Thông và Trần Hiệp họp bàn riêng trong trướng. Quân canh nghiêm mật ở ngoài, bất cứ thân sơ không ai được bén mảng đến gần.
 
Hai tay đầu não giặc Minh tuy thân mật ngồi sát bên nhau, nhưng đối chọi với nhau như hai thái cực.
 
Một tên thì mặt tròn vành vạnh như chiếc mâm bằng thịt nạc, lúc thích chí cười vang, cái miệng loe ra trong khi đôi mắt híp lại chỉ còn hai khe ti hí. Hai chòm râu mép như từ hai lỗ mũi trổ ra, chạy một đường vòng quanh mép thành một cặp lưỡi liềm đen nhánh và sắc lẻm.
 
Còn một tên thì, trái lại, mặt quắt như hai ngón tay tréo có cặp mắt láo liên và đôi môi mỏng dính lúc nào cũng sẵn sàng nhếch một nụ cười lạnh lẽo. Chiếc cằm nhọn hoắt được bộ râu dê kéo dài thêm làm cho bộ mặt thêm phần nham hiểm.
 
Cả hai gã đều là những con người đáng sợ. Nếu kẻ này có những nét đặc thù của một tên giặc hung tợn và tàn ác thì kẻ kia tượng trưng cho một mẫu người xảo trá, lọc lừa, thâm độc.
 
Chúng thủ trong tay, mỗi tên một tẩu thuốc bào dài như cây gậy bằng ngọc nổi vân xanh, hai đầu bịt vàng lấp lánh.
 
Chúng hút liên miên lấy hứng.
 
Không khí lo âu đặc quánh như có thể cắt được bằng dao. Họ Vương là người đầu tiên cất giọng ồm ồm làm rạn nứt khối yên lặng bao quanh :
 
- Lê Lợi khởi binh chống nhà Minh ta từ năm mậu tuất (1). Tính đến năm giáp thìn (2) được sáu năm, họ thua không biết bao nhiêu trận đến nỗi phải rút về nương náu ở Chí Linh đến ba lần, tưởng không thể nào ngóc đầu lên được. Vậy mà tại sao chỉ trong vòng có hai năm sau này họ vùng lên được, hết đánh Nghệ An đến vây khốn Tây Đô, nay lại còn tiến ra Đông Đô nữa ?
 
Viên Tham tán họ Trần giải thích, giọng âm thầm ảo não :
 
- Đó là vì bọn Trần Trí, Phương Chính tính sai. Hoàng Phúc lại càng sai nữa. Họ Hoàng chỉ say mê có mỗi một việc là làm thế nào đồng hoá hết người nước Nam với người Trung Quốc. Y quên bẵng tính cách quật cường, không bao giờ chịu khuất của dân tộc đối phương. Còn họ Trần, họ Phương thì cứ tưởng quân mình là “binh trời” đánh đâu được đấy, bây giờ mới sáng con mắt !
 
- Ông Tham tán luận như vậy là chí lý. Ta thua vì ta khinh địch. Nhưng đó là việc đã rồi. Bây giờ thanh thế họ Lê quá lẫy lừng, ta phải tính sao ? Tôi lo quá !
 
- Tướng quân đừng lo. Tôi đã tính đâu vào đấy cả rồi. Chỉ mấy ngày nữa thôi, ta sẽ xoay chuyển hẳn lại được thế cờ.
 
Họ Vương tươi hẳn nét mặt, nhổm người lên hỏi :
 
- Ông tính thế nào ? Xin nói thử cho nghe.
 
- Tướng quân thừa rõ chiến tranh ăn thua là ở trận cuối cùng. Tôi đang lo bầy một trận quyết liệt sau chót đây.
 
“Hiện giờ tôi còn chờ một tin do thám xem sự thật có đúng như dự liệu của tôi không. Nếu đúng, có thể nói trận này mười phần ta ăn chắc cả mười.
 
“Thua trận này, công trình ngót mười năm của họ Lê sẽ tan ra như mây khói và không bao giờ hồi lại được.”
 
- Ông hãy cho tôi biết đại khái mưu cao ấy đi.
 
Thay vì trả lời, họ Trần hỏi lại viên chủ tướng :
 
- Tướng quân có biết sách lược của họ Lê bây giờ ra sao không ?
 
- Có. Nguyễn Trãi mưu lấn dần dần từ Nam ra Bắc như tằm ăn lá.
 
- Theo tôi, đó là hạ sách. Thật không đáng quan tâm.
 
- Nhưng Lê Lợi chủ trương cầm chân ta ở Thanh, Nghệ để đem toàn lực ra hạ ta ở Đông Đô.
 
- Đấy mới là thượng sách. Và đấy mới là mối lo tâm phúc của ta.
 
Vương Thông trầm ngâm đáp :
 
- Tôi cũng nghĩ vậy. Quân tế tác chạy về cho hay hiệu cờ của Nguyễn Trãi đang phấp phới ở ngoài thành Tây Đô. Không thấy hiệu cờ của Lê Lợi ở Thanh cũng như ở Nghệ.
 
- Vâng. Toán thám mã riêng của tôi cũng báo tin y như vậy. Tuy nhiên, thú thật tôi vẫn không khỏi nghi ngờ.
 
- Nghi ngờ chuyện chi vậy, ông Tham tán ?
 
Từ tốn, Trần hiệp giải thích :
 
- Có ba điểm rất đáng ngại ngùng. Điểm thứ nhất, không nhẽ một người tài trí như Nguyễn Trãi lại thấp mưu đến nỗi không nghĩ đến kế uy hiếp Đông Đô. Điểm thứ hai, không nhẽ Lê Lợi là chủ tướng phải đích thân cầm quân đánh vào Đông Đô. Dưới trướng của y thiếu gì tướng giỏi có thể thực hiện được chủ trương của người đầu não. Và sau hết, điểm thứ ba là không nhẽ bọn họ lại quá vô mưu đến nỗi đưa nhau vào chỗ chết mà đóng quân. Khu Tụy Động ba mặt là sông, khác nào một cái rọ. Chỉ cần vây chặt mặt phía bắc, đánh thốc vào, thì chạy đằng nào cho thoát !
 
Vương Thông cười, biện luận hăng say khác thường :
 
- Tưởng gì chứ trong ba điểm ấy tôi thấy chả có điểm nào đáng làm cho ta nghi ngại.
 
“Trước hết, ta bàn điểm thứ nhất. Nguyễn Trãi là một người cẩn trọng muốn hạ được thành nào ăn chắc thành ấy. Đại quân của ta ở cả Nghệ An. Thành này một khi đổ rồi thì cả Tây Đô lẫn Đông Đô đều lung lay. Chủ trương của họ Nguyễn chưa ắt phải là hạ sách.
 
Dĩ nhiên, chủ trương của họ Lê lợi hại hơn. Nhưng đánh Đông Đô là một chuyện khó khăn. Nếu không có mặt một trong hai người chủ chốt, vị tất những người dưới đã tất lực (3). Vì thế, hoặc họ Lê hoặc họ Nguyễn, phải có một người nắm quyền điều khiển cánh quân quan trọng này. Tôi thấy Nguyễn Trãi ở lại để Lê Lợi cầm quân đánh Bắc chuyến này chẳng khác chi Lưu Bị ngày xưa hưng binh đi đánh Đông Ngô trong khi Gia Cát Khổng Minh ở lại giữ Thành Đô. Chả có chi là lạ. Đó là điểm thứ hai.
 
Còn điểm sau rốt. Họ dồn quân ở Tụy Động và có thể tự cho là đắc sách vì không sợ bị đánh vào mặt sau và hai bên sườn. Chỉ cần giữ cho chắc hai cái bến đò Mai Lĩnh và Tích Giang là yên. Khi nào không giữ nổi nữa, cần chạy, họ sẽ chạy tuốt lên mặt Bắc, lẩn trong khu vực Chúc Động và Phượng Hoàng Sơn, rộng gấp mấy bên Tụy Động…
 
Trần Hiệp vẫn còn áy náy :
 
- Dù sao tôi vẫn chưa thế nào yên tâm được. Thú thực tôi sợ những sơ hở lộ liễu của giặc. Tôi ngán những nước cờ quá thấp đối với tầm vóc của người cầm quân.
 
Vương Thông thở ra :
 
- Nói như ông Tham tán thì đánh chác gì nữa. Nước cờ cao cũng sợ, mà nước cờ thấp cũng sợ luôn ! Vậy đứng dậy, chịu thua đi cho rồi !
 
- Không phải thế đâu, Vương tướng quân. Tôi sợ đây là sợ cái mưu cao ẩn trong nước đi thấp. Tôi đã thử đặt mình vào địa vị của họ để tính xem họ trông vào những cái gì để đánh thắng mình. Tôi nghĩ đã nát óc mà nghĩ không ra.
 
- Vâng. Ông Tham tán cẩn thận thế cũng phải. Phần tôi, tôi cho là chẳng có mưu mẹo lừa dối gì đâu. Chủ trương của họ là vậy. Thực lực của họ cũng chỉ có vậy. Tham tán cứ tin ở tôi đi. Đa nghi quá không nên.
 
Trần Hiệp miễn cưỡng đáp lời :
 
- Dạ, tôi xin lĩnh ý. Tuy nhiên, xin tướng quân hãy thư cho tôi vài hôm rồi hãy quyết định.
 
- Nghĩa là…
 
- Tôi đã cho mấy kẻ chân tay xâm nhập khu Tụy Động dò xét xem có thực Lê Lợi ở đó không ! Và có thực Nguyễn Trãi không có mặt ở đó không.
 
Họ Vương cười ngạo :
 
- Tôi xem ý ông chỉ ngán có vị quân sư họ Nguyễn.
 
- Đúng vậy. Đành rằng đấu trí với một kẻ cao tay là một cái thú, nhưng trong cái thú đó có một mối lo sinh tử. Lo họ có những nước cờ cao mà mình không nghĩ tới. Khi vỡ lẽ ra thì đã quá muộn.
 
Viên chủ tướng không đáp. Y quơ tay lấy chiếc điếu ngọc đầy vân, nhồi thuốc và châm lửa, bập bập mấy hơi dài.
 
Câu chuyện được kết thúc sau khi y hả hê phà khói thuốc bào thơm nức.
 
- Dù sao, ta cũng phải liều một chuyến. Không vào hang cọp, làm sao bắt được cọp con ?
 
Họ Trần, miệng đã ngậm vào điếu, vội nhả ra đáp :
 
- Cả một bầy hổ lớn chứ cọp con gì !
 
Y trầm ngâm một lúc khá lâu rồi mới thong thả buông từng tiếng, lẩm nhẩm như nói một mình, que đóm cháy gần đến đầu mấy ngón tay y vẫn không hay :
 
- Miễn là mình tính không sai ! Bằng không, dám chết luôn cả đám !...
 
_________________________
(1) Mậu tuất : 1418
 
(2) Giáp thìn : 1424
 
(3) Tất lực : hết sức.

______________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IX, X

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2018

CHƯƠNG V, VI_CÔ GÁI CHÚC SƠN


CHƯƠNG V
 
BỨC CẨM NANG
 
 
Sáng sớm hôm mồng một tháng mười, bà Lý Cốc ra quán hàng trễ hơn thường lệ.
 
Bà đang lúi húi xếp những tấm bánh giò nóng hổi trên chiếc sạp tre thì có tiếng người nhẹ nhàng bước vào trong quán cùng với tiếng cười trong trẻo :
 
- Thím Lý có gì cho con ăn không đấy ?
 
- Ồ, con Sơn Ca đấy hả ? Đi đâu sớm thế ? Bánh giò tao gói, nhân thịt nạc, mộc nhĩ nấm hương ngon lắm. Tao bóc mấy cái, ăn mở hàng cho tao nhé ?
 
- Vâng. Thím bóc cho con hai tấm ăn lót lòng. Còn hai tấm, thím lấy lạt buộc lại cho con mang đi ăn đường.
 
- Giời rét ngọt thế này, tội thân gì mà mày đi đâu sớm thế ?
 
- Ở nhà thầy đẻ con cần tiền, con phải đi Thanh Đàm mua bát họ (1) về tiêu.
 
- Ừ, giời đất này, phải có sẵn đồng tiền trong tay, nhỡ có phải đi đâu cũng đỡ khổ… À, Sơn Ca này, đêm hôm qua mày có nghe thấy gì không ?
 
Mai suýt soa :
 
- Úi giời ơi ! Cả đêm hôm qua, con sợ quá. Cả nhà có ai chợp mắt được tí nào đâu.
 
- Phải rồi. Nhà tao cũng thế. Tiếng người quát tháo, tiếng ngựa hí bên này sông, nghe cứ rõ mồn một. Tao ghê quá, cứ ngỡ là giặc. Sau thấy yên, tao độ chừng là quân mình sang sông. Sáng ra, tao cũng cứ đi liều, may chả có gì… Thấy con Lãm chở đò, tao tưởng mày đau ốm làm sao cơ chứ !
 
Mai cười cười :
 
- Tuy chưa đau ốm nhưng lo muốn chết đấy, thím ơi !
 
Rồi nàng ghé tai bà Lý nói nhỏ :
 
- Con nghe đồn Đức Bình Định Vương sắp ra đóng quân ở mạn này để đánh vào thành Đông Quan đấy. Chưa biết đóng ở bên Chúc Sơn mình hay ở bên Tụy Động. Đạo quân đêm qua không rõ đóng ở đâu, thím nhỉ ?
 
Bà Lý cũng thì thào, giọng lo ngại thì ít mà thích thú thì nhiều vì tin mới lạ và gay cấn vừa nghe được :
 
- Quân của Bình Định Vương ở đâu thì tao không biết. Nhưng quân đêm hôm qua không vào làng mình thì một là vào trong Lương Xá, Tụy Động, hai là đi tuốt lên Phượng Hoàng Sơn.
 
- Vâng, chắc thế.
 
- Mà mày có biết quân đêm qua là quân của ai không ?
 
- Có mấy anh trong làng trông thấy hiệu cờ của Lý tướng quân. Vậy là quân của ông Lý Triện.
 
Bà hàng kinh ngạc :
 
- Quân của ông Lý Triện hả ? Sao tao thấy hôm qua bọn lái buôn kháo nhau ông Lý Triện vừa đánh được thằng Mã Kỳ một trận to ở Mọc (2) ? Nghe đâu ông ấy chỉ có một nghìn quân mà ông ấy lập mẹo phục binh rồi đổ ra chém được hơn một nghìn cái đầu giặc và bắt sống được hơn năm trăm mạng nữa. Thế có giỏi không ?
 
- Vâng, con cũng nghe thấy thế. Nhưng chuyện binh đao được thua là một sự thường mà thím. Có điều đêm hôm tăm tối, sông rộng nước chẩy xiết, mà quân đóng bè sang sông không loạn, đủ thấy đó không phải là một đạo quân thua. Hoặc giả có thua nhưng mà không thiệt.
 
- Ừ, mày nói đúng. Tao thấy tối như đêm 30 – đêm qua đúng là đêm 30 chứ còn gì nữa ! – mà họ đông đến một nghìn người sang đò cứ êm như ru… Đáng mừng ở chỗ tướng ta giỏi và quân ta giỏi.
 
.           .           .           .           .           .
 
Tướng ta tài quân ta giỏi thật mặc dầu Lý Triện và Đỗ Bí vừa thua một trận ở bến Cổ Sở.
 
Dưới ánh sáng chập chờn của mấy chục bó đuốc soi cho quân lính đẵn tre đóng bè, Lý Triện tâm sự với viên phó tướng bằng một giọng nói ngượng ngập :
 
- Ông Đỗ à, tại tôi quá nông nổi nên mới có trận thua này. Cũng may là ông còn sáng suốt gọi giựt tôi lại và cương quyết ra lệnh lui quân. Bây giờ hồi tưởng, tôi còn giật mình vì chỉ chậm một khắc nữa toàn quân mình không tài nào thoát khỏi vòng vây. Người, ngựa, và cả voi nữa, sẽ không còn một mống về đây.
 
Viên phó tướng họ Đỗ an ủi :
 
- Đã đánh nhau thì phải có lúc thua, có lúc được, chứ xưa nay có danh tướng nào dám tự hào không thua một trận nào đâu. Nếu đem so sánh thì ta còn “trên chân” tụi Tầu nhiều.
 
Họ Lý cười chua chát :
 
- Vừa được một ván ở Nhân Mục, lại thua ngay một ván ở Cổ Sở, thế là hoà.
 
“Chỉ tức một nỗi là giặc nó dùng ngay cái mẹo mình vừa dùng xong mà mình vẫn mắc để cho nó quật lại mình ! Đau quá !...
 
“Chẳng những thế, mình lại bỏ mất chỗ Ninh Kiều rộng rãi về chui rúc nơi đây. Thế là kém nước thì có chứ trên chân cái nỗi gì ?
 
- Đâu có thể luận như vậy được, tướng quân ! Này nhé, ta thắng một trận lớn ở làng Mọc, chém hơn một nghìn giặc, bắt sống hơn năm trăm tên, đến nỗi Mã Kỳ phải một người một ngựa chạy bán sống bán chết mới thoát thân. Còn như thua ở Cổ Sở, ta có thiệt gì đâu. Người ngựa còn nguyên. Mấy thớt voi cũng không suy suyển.
 
- Cái đó hoàn toàn là công của ông. Ông quả thật có tài. Và quân sư quả có con mắt tinh đời.
 
Họ Đỗ ngạc nhiên hỏi viên chủ tướng :
 
- Quân sư nói sao về tôi, thưa tướng quân ?
 
- Dạo ấy, đã lâu rồi, quân mình còn thua tới tấp phải chạy về Chí Linh. Một hôm, luận về tài năng các tướng, quân sư khen ông trước mặt chúa công. Chúa công lấy làm lạ vì ông còn trẻ chưa từng một mình đánh thắng được một trận nhớn nào. Quân sư giảng giải cho chúa công và chúng tôi nghe : Khi có lợi thế, bất cứ ông tướng nào cũng có thể thừa thắng xông lên được. Nhưng lúc thất thế, phải là một tướng có tài mới điều khiển được một cuộc lui quân không hỗn loạn. Quân không loạn thì dù có lui, giặc cũng không làm gì được. Đỗ Bí tuy ít tuổi nhưng đã biết tiến lui đúng phép, sau này sẽ là một vị tướng tài…
 
“Chúng tôi không mấy ai tin lời nói ấy. Hôm nay vào việc mới thấy lời quân sư phê phán bữa ấy thật hay.
 
Cuối canh ba, Lý Triện là người sau chót qua sông. Một ngàn người thản nhiên nằm ngồi ở ven đường chờ tướng lệnh.
 
Viên chủ tướng giục ngựa tiến lên hàng đầu tìm viên phó tướng. Hai người sóng cương bàn bạc :
 
- Ông Đỗ à ! Bây giờ ông tính ta nên đóng quân ở đâu ? Qua Chúc Sơn hay vào Tụy Động ?
 
- Bộ ông quên bức cẩm nang của quân sư rồi hay sao ?
 
Một lần nữa, ông tướng họ Lý giật mình, tỉnh mộng :
 
- Tôi thật là một kẻ dũng phu, hễ say đòn là quên hết mọi sự. Không có ông nhắc cho, nhỡ hết việc còn gì ! Phải rồi, khi giao bức cẩm nang cho tôi, quân sư có dặn khi nào qua bến đò Mai Lĩnh hãy mở ra xem.
 
- Vâng. Khi chúng ta còn đóng ở Ninh Kiều, quân sư đã đoán trước được trận đại thắng ở Nhân Mục và trận lui quân ở Cổ Sở.
 
Lý kinh ngạc thốt :
 
- Lại có chuyện “thần thánh” như vậy sao ?
 
- Không. Có thần thánh gì đâu. Quân sư chỉ suy luận và quyết đoán.
 
- Tôi không hiểu. Xin ông giảng rõ hơn.
 
- Đầu đuôi thế này. Bữa nọ, sau khi đi thăm ba đạo quân của ta đang cầm cự với ba đạo quân của giặc, quân sư có nói riêng với tôi một câu : “Hai ông Đinh Lễ và Nguyễn Xí rất trầm tĩnh có thể cầm cự được lâu dài mặc dầu quân số của ta và của giặc quá chênh lệch. Nhưng ông Lý Triện thì không thế, ông ta nóng nẩy hơn và cũng hăng hái lập công hơn. Đó là cái hay lẫn lộn với cái dở. Hay vì thế nào ông ta cũng cố nghĩ ra một mẹo để đánh thắng cho kỳ được một trận ra trò mới nghe. Còn dở là vì được một trận nhớn rồi, thế nào ông ấy cũng ỷ tài, rồi chui vào bẫy giặc. Vậy điều tôi cậy ông là khi nào ông ta sắp mắc kẹt, ông nhanh tay gỡ giùm…”.
 
“Trước khi từ biệt về Lỗi Giang, quân sư còn dặn đi dặn lại : “Nếu có thua thì bỏ Ninh Kiều, về Mai Lĩnh mà đóng quân. Mở cẩm nang ra xem, sẽ có kế vạn toàn”.
 
Lần đầu tiên trong ngày, Lý Triện nở một nụ cười và thở ra nhẹ nhõm :
 
- Thì ra quân sư đã tính trước cho chúng ta những mấy nước cờ. Nào, thử xem những nước kế tiếp ra sao.
 
Hai người châu đầu vào nhau đọc bức cẩm nang vừa được trịnh trọng mở ra. Họ nhẩm đi nhẩm lại những lời chỉ dẫn cho đến lúc nhập tâm (3) mới châm tờ giấy vào ngọn đuốc bập bùng đốt cháy từng đêm đen như mực.
 
Họ Lý thắc mắc hỏi bạn :
 
- Quân sư chỉ dạy thật rõ ràng. Nếu cứ nhắm mắt tuân theo thì chẳng lấy gì làm khó. Nhưng thú thật, tôi chưa hiểu được cái ý sâu sắc của quân sư. Phó tướng nghĩ sao ?
 
- Thưa, tôi cũng vậy. Nước cờ sắp tới của quân sư thật khó đoán.
 
- Tôi biết ý muốn quân sư dụ chúng chui vào trong một cái túi mà bắt cho gọn. Dụ thì dễ, nhưng bắt mới khó. Vì chúng quá đông. Rủi “vẽ hổ không thành” (4), mình chưa tóm được chúng, chúng đã tóm lại mình, cái ấy mới chết !
 
Đỗ Bí trả lời với giọng tin tưởng :
 
- Nếu chúng ta hiểu được nước cờ sâu sắc của quân sư thì giặc chúng nó cũng hiểu được, và như vậy còn làm sao đánh lừa được chúng !
 
Theo tôi nghĩ, cái khéo của quân sư là cố ý hớ hênh để cho giặc nhìn thấy cái chỗ nhược (5) của bên ta. Chúng sẽ đắn đo, cân nhắc, rồi sau rốt nhận định rằng cái chỗ nhược ấy chúng ta không tài nào khắc chế được. Do đó, chúng sẽ dương dương tự đắc lấy kế của chúng ta làm kế của chúng và yên tâm đâm đầu vào chỗ chết.
 
Họ Lý nửa lo ngại, nửa bông lơn :
 
- Song nếu chúng ta vụng tính thì chính chúng ta vướng bẫy trước. Hết đường ra đấy, ông Đỗ ạ !
 
- Vâng. Thì cũng như mình đấu võ, cố ý để hở bụng cho đối phương đá thốc vào. Nếu không đủ bản lĩnh chặt chân đối thủ thì chính mình sẽ bị nó đá ngã lăn chiêng…
 
Bàn định xong, hai vị tướng lãnh hạ lệnh cho quân sĩ từ từ tiến về phía làng Lương Xá.
 
Suốt đêm, họ băn khoăn không hiểu cái nhược điểm to tát của quân ta sẽ được hoá giải bằng cách nào. Và họ mong chóng có một cuộc đụng độ.
 
__________________________
 (1) Mua bát họ : hốt hụi.
 
(2) Mọc : tên nôm của làng Nhân Mục ở Hà đông.
 
(3) Nhập tâm : thuộc lòng.
 
(4) Vẽ hổ không thành : làm chuyện lớn không xong.
 
(5) Chỗ nhược : chỗ yếu kém.
 
 
CHƯƠNG VI
 
CÔ HÀNG BÁNH CUỐN
 
 
Từ Thanh Đàm đến Đông Quan, đường càng xa càng vắng người đi lại. Không khí chiến tranh như bàng bạc đâu đây khiến cho kẻ yếu bóng vía không dám ra khỏi cửa.
 
Tuy nhiên, từ sáng sớm tinh sương người ta đã thấy một cô hàng bánh cuốn lặn lội vượt qua những chặng đường thưa thớt ở gần làng đến những trạm canh phòng nghiêm mật sát thành Đông Quan.
 
Đến đây, cô mới cất tiếng rao lanh lảnh :
 
- Ai bánh cuốn Thanh Trì ra mua !
 
Âm thanh trong trẻo thu hút người ta đến độ mấy chú lính Tầu mới nghe thấy đã phải ngẩn ngơ giương mắt ngó.
 
- Hầy ! Cái nị lại tây !
 
Lời gọi chưa dứt, chúng đã nhăn mặt, hất tay ra hiệu cho đi gấp :
 
- Thôi ! Ti ti !
 
Là vì cô hàng chỉ có mỗi một tiếng rao là điểm dễ thương. Còn mặt mũi chân tay toàn một mầu nghệ vàng khè. Vuông khăn mỏ quạ bạc thếch chít sùm sụp kín gần hết mặt, cặp áo nâu và chiếc quần vải thâm vá chằng vá đụp, cái thắt lưng nhuộm vỏ dà và đôi dép quai ngang mỏng dính lê quèn quẹt cho thấy cô là một thiếu phụ nghèo mới ở cữ xong đã phải xông pha sương gió lo việc mưu sinh.
 
Đến cổng thành, cổ nàng rụt xuống dưới sức nặng của thúng bánh từ sáng chưa bán được đồng nào. Một tên lính nham nhở vừa thò tay định vuốt má cô hàng bỗng rụt phắt tay lại trước miếng vải điều cũ kỹ che trước mắt nàng. Y quát :
 
- Tau mắt hả ? Ti ti !
 
Mới nằm chỗ xong, lại đau mắt nặng nữa, thế mà cô hàng bây giờ đi phăng phăng đến những phố quen với thúng bánh đội trên đầu.
 
- Ai bánh cuốn Thanh Trì ra mua… nào !
 
- Bánh cuốn !
 
- Bánh cuốn ! Lại đây, tôi gọi trước !
 
Tiếng rao quen thuộc được đáp ứng bằng hai ba tiếng gọi cùng một lúc. Cô hàng mỉm cười, bước vào trong một nhà kín đáo nhất, hạ thúng bánh xuống giường. Chủ nhà, một thiếu phụ trạc bốn mươi tuổi, phát vào vai nàng, mắng yêu :
 
- Con khỉ ! Người ngợm gì mà trông phát khiếp !
 
- Con nỡm nó độn bụng có khéo không ? Cứ y như người mới đẻ xong xổ bụng !
 
- Có thế mới thoát khỏi bàn tay sờm sở của tụi lính chứ !
 
Hai ba người tranh nhau nói trong khi Thoa, thực tế hơn, nhắc cô hàng :
 
- Cuốn bánh đi chứ, Mai. Đằng này thèm lắm rồi !
 
Mai, cô gái đáo để ở bến đò Mai Lĩnh, cười trêu :
 
- Tưởng đằng ấy ghê không dám ăn chứ !
 
Bánh cuốn xếp thành tảng được bóc ra từng tấm mỏng tanh, trắng bóng, điểm lưa thưa mấy lát hành xanh trông như những miếng bạch ngọc nổi vân.
 
Cô hàng có một mình xếp bánh không kịp cho số người chầu chực khá đông. Trong khi chờ đợi, họ nói chuyện cho đỡ thèm.
 
- Đã lâu không được ăn bánh cuốn Thanh Trì , nhớ quá !
 
- À, nước mắm gì đây, Mai ? Trông trong như hổ phách !
 
- Nước mắm Vạn Vân đấy ! Ngon tuyệt trần. Ăn quên chết luôn !
 
- Nói láo ! Thời buổi này làm gì có nước mắm Vạn Vân !
 
- Ai bảo thế đấy cô ?
 
Mai ghé gần tai cô bạn, nói tuy khẽ song cũng đủ cho tất cả những người có mặt cùng nghe :
 
- Nước mắm chính cống gánh từ xứ Nghệ gánh ra. Tụi lái buôn ranh mãnh theo gót quân Đức Vua ra Bắc mà !
 
Bà chủ nhà cẩn thận vội bảo cô con gái lớn :
 
- Con Trâm chạy ù ra đóng cửa lại đi đã. Tai vách mạch rừng…
 
Rồi mỗi người một câu, bọn đàn bà con gái đua nhau tọc mạch :
 
- Có thật Đức Vua ra không đã ?
 
- Sao lại không thật ! Đức Bình Định Vương Lê Lợi mà.
 
- Thế Vua ra bao giờ ?
 
- Mới được mấy hôm nay thôi.
 
- Ở đâu ? Chính mắt mày có trông thấy không đã ? Hay cô ả chỉ nghe hơi nồi chõ ! (1)
 
- Ứ ừ ! Nghe hơi thế nào được ! Chính mắt tao trông thấy này !
 
Nhiều tiếng hỏi dồn :
 
- Ở đâu ? Bao giờ ?
 
- Ông vua mặt mũi ra sao ? Ăn mặc thế nào ? Nói nghe đi.
 
Ra vẻ bí mật và trịnh trọng, Mai thì thầm :
 
- Chu yện này kín lắm, bà con nghe sao biết vậy, chớ có đồn ầm lên mà chết cả lũ đấy nhé… Cách đây mấy hôm, trẻ con bên làng Tụy Động bép xép với nhau rằng mới có vua ra ở trong làng Lương Xá. Tôi tò mò muốn xem chúng nó nói có thực không…
 
- Thế có thực không ?
 
- Mày im cái mồm đi để cho người ta nói có đầu có đuôi nào.
 
- Ừ, con Sơn Ca nó nói phải đấy. Lặng yên mà nghe, đừng đứa nào hỏi đâm ngang nữa.
 
Mắt lấm lét nhìn ra cửa, Mai tiếp tục thì thào kể, tiếng nhỏ tiếng to. Mấy người ngồi bao quanh phải lắng tai mới nghe rõ được từ đầu chí cuối :
 
- Xưa nay, người Chúc Sơn mình sang chơi các làng bên kia đường cái dễ dàng như đi chợ, đâu có ai hỏi han gì. Thế mà bây giờ bên ấy canh phòng cẩn mật quá chừng.
 
“Giữ việc tuần canh là những người lạ mặt, giọng nói nặng chình chịch, đặc là dân xứ Nghệ. Họ làm như dân Chúc Sơn mình đều là những kẻ đáng nghi nên hỏi căn hỏi vặn : Đến nhà ai ? Đến để làm gì ? Họ hàng thân thuộc thế nào với ông ấy, bà ấy ? Lôi thôi đủ thứ…
 
“Tức mình, định thèm vào đi nữa, ai ngờ may mắn làm sao gặp ngay thằng Tráng, con ông Trần kiện. Nó nhận tôi là chị họ, nói một tiếng là tôi được vào ngay.
 
“Thì ra vua ở trong nhà nó, có ghê không ?
 
“Mới qua khu rừng nhỏ cạnh đầm Minh Nguyệt đã thấy phấp phới mấy lá cờ. Người đi lại rầm rập, ngựa chiến cả đàn, có cả mấy ông voi nữa.
 
“Thằng Tráng chỉ cho biết mặt mấy ông tướng, nào Lý Triện, nào Đỗ Bí, ông nào trông cũng oai phong lẫm liệt. Nhiều tướng đi hộ giá từ Nghệ mới ra, nó chưa biết tên…
 
Thoa không nhịn được, bật lên tiếng hỏi :
 
- Có thấy ông Nguyễn Trãi không ? Ông này đẹp giai và nói giọng Bắc.
 
- Ai còn lạ gì ! Cụ Cử, thầy tao vẫn nhắc đến Ức Trai tiên sinh, người huyện Thượng Phúc mà. Tao cứ tưởng tượng chỗ nào có ông Lê Lợi là có ông Nguyễn Trãi , nhưng sự thực không phải thế. Thằng Tráng bảo rằng ông ấy còn bận chỉ huy mặt trận Tây Đô, chỉ có Bình Định Vương ngự giá thân chinh ra lấy Đông Đô thôi.
 
Trâm tò mò không kém Thoa, hỏi một câu cốt tử (2) :
 
- Mà mày có thấy mặt vua không ?
 
- Sao lại không ? Lúc thường, ông ấy ăn mặc như các tướng vậy thôi. Chỉ khi nào họp bàn chính sự, mới khoác thêm chiếc áo vàng có thêu rồng và đội mũ triều thiên.
 
“Tao phải năn nỉ thằng Tráng mãi, nó mới chịu dẫn tao vào coi trộm một tí. Vì lộ ra là mất đầu chứ đâu phải chuyện chơi.
 
“Ông ấy có cặp mắt thật oai, tiếng nói sang sảng như chuông. Râu ba chòm thật đẹp…
 
Bánh cuốn Thanh Trì lâu không được ăn, ai mà không nhớ. lại thêm có nước mắm Vạn Vân trông như hổ phách và vài giọt cà cuống thơm dịu dàng mà ngon thấm thía. Cánh trẻ tuổi còn dầm thêm một quả ớt chỉ thiên cay xé lưỡi, vừa ăn vừa suýt soa, vừa chẩy nước mắt ra mới thấy tuyệt vời.
 
Cả nhà ăn một bữa bánh trừ cơm. Lại nghe được một chuyện hay ho, đáng đồng tiền bát gạo.
 
Cô hàng hoan hỉ đội thúng bánh sang một nhà quen khác.
 
Vẫn những câu hỏi tò mò, vẫn những lời thổ lộ kín đáo, và vẫn những lời dặn dò vô ích : tin tức bí mật, đừng nói cho ai biết đấy nhé !
 
- Tao nghe thằng Tráng nói lại những nhời của thầy nó là ông Trần Kiện mới hiểu rõ nội tình của bên ta. Ông Ức Trai chủ trương hạ Nghệ An xong sẽ hạ Tây Đô, rồi mới đánh dần dần ra Bắc. Trái lại, Bình Định Vương chủ trương một mặt đánh cầm chừng ở mạn trong, còn mặt khác đánh mạnh ở ở mạn ngoài. Hễ hạ được thành Đông quan là các thành khác phải đổ theo.
 
“Quân sư cho như vậy là liều lĩnh vì ông ấy ưa ăn chắc và không dám mạo hiểm.
 
“Bình Định Vương đành phải để quân sư ở lại cầm chân giặc ở Tây Đô, còn Vương thì dẫn hết các tướng tài ra Bắc tìm cách đánh thốc vào thành Đông Quan…
 
Bà chủ nhà suýt soa :
 
- Kể ra Bình Định Vương cũng liều lĩnh nhỉ ?
 
- Chu yện ! Đánh giặc thì phải liều chứ. Có vào hang hùm mới bắt được cọp con mà. Vả lại ông ấy đã trải nhiều trận gian nguy nên coi thường mọi chuyện hiểm nghèo.
 
- Thế tướng tá, quân sĩ có nhiều không ?
 
- Nhiều lắm. Có đến một vạn quân chứ không ít. Tướng cũng vô khối, ông nào trông cũng ghê ghê là.
 
Nhàn, con gái nhớn chủ nhà, hỏi bạn :
 
- Họ có đóng lan sang bên Chúc Sơn mình không ?
 
Không. Nhưng sợ rồi sẽ có đánh nhau to. Tụy Động mà cháy thành thì Chúc Sơn cũng bị vạ lây. Vì thế thầy đẻ tao định tạm lánh về Thanh Trì…
 
Mai quay sang hỏi bà Tư, chủ nhà :
 
- Chết chưa ! Nãy giờ mải nói chuyện quên hết mọi sự. Chú Tư con đâu hả thím ? Cả cậu Thanh nữa ?
 
- À, chú mày lại đằng cửa Nam ăn giỗ ở một nhà quen, tối mới về. Còn thằng Thanh thì đi đâu với cậu Lịch từ sáng sớm… Này, cậu Lịch vẫn hỏi thăm mày đấy. Tội nghiệp, nó vẫn thương mày như trước. Hơn trước nữa cũng có ! Mà sao mày…
 
Mai giẫy nẩy ngắt lời :
 
- Con không biết đâu. Mặc kệ anh ấy chứ !...
 
Nàng rầu rầu đứng dậy, đội thúng bánh lên đầu, mặc cho bà Tư và cái Nhàn, cái Nhã thở dài thườn thượt.
 
- Thôi, con xin phép thím chạy sang bên con Thắm một tí. Rồi còn về kẻo tối.
 
____________________
(1) Nghe hơi nồi chõ : nghe phong thanh, nghe đồn.
 
(2) Cốt tử : quan trọng bậc nhất.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VII, VIII