Thằng Thành vừa đi song song với tôi ra cổng trường, miệng nó tía lia:
- Tao đoán đâu có sai, "ổng" ăn hiếp mình quá hả mày!
Tôi bực dọc đá viên sỏi trên lối đi:
- Mày nói tiếng nữa coi chừng tao à.
Tôi
nói như thế chứ Thành "tả oán" vậy cũng không phải là vô lý (tôi nghĩ
vậy) vì hai giờ Việt văn của Thầy Lương, tôi và một số các bạn khác
trong đó có nó phải bất đắc dĩ nghe một bài đại luận dài gần hai trăm
trang, nào là ngu như lợn, lười như sên, để rồi kết luận bằng hai con
"dê rô" to tướng.
Đó là hậu quả của cuộc du hí trong rạp hát ngày chủ nhật rồi quên làm bài.
Thế
nên tôi oán thầy Lương, oán những bài soạn mà thầy cho và oán luôn cả
ngày thứ hai trong tuần, cái ngày thứ hai "xui xẻo" ấy nó làm cho tôi
phải phập phồng lo sợ, ngồi xuống ghế lại bật ngay dậy như ngồi phải cục
than hồng trong đó có chứa đựng cặp mắt khủng khiếp của thầy Lương. Cầm
viết nắn nót được hai chữ bình giảng tôi tưởng chừng như làm xong một
việc nặng nhọc đến toát mồ hôi. Không phải tội.
Tiếng thằng Thành vang lên:
- "Ổng" mà biết mình nói thầm thì tức lắm chứ chả chơi đâu.
Tôi cười nhẹ như biểu đồng tình.
- Thôi tới làm một ly cho đỡ khát.
Ly nước mát lạnh làm cơn tức của tôi nguôi dần.
Bỗng thằng Thành hích cùi chỏ:
- "Ổng" kìa mày!
Thằng
Thành nói lớn quá làm thầy Lương nghe thấy, thầy quay lại, tôi tưởng ít
nhất cũng một cái xoắn tai rồi lên văn phòng lãnh giấy cấm túc. Tôi rủa
thầm:
- Cái thằng đần độn này mày hại tao rồi!
Nhưng
may thay, thầy Lương chỉ quay lại, đóng cái cặp mắt sắc như "mã tấu"
vào giữa mặt làm tôi choáng váng tưởng chừng như cả một tấn sắt áp vào.
- Đỡ quá mày, tao cứ tưởng...
- Tưởng con khỉ, lát nữa coi chừng có giấy mời lên văn phòng đó.
Thằng Thành trả tiền xong kéo tôi vào chỗ vắng nói nhỏ:
- Tao nghĩ mình nên kiếm cách chơi "ổng" một vố.
Tôi
tán thành và nó đưa ra nhiều ý kiến nhưng đều bị tôi bác bỏ vì hành
động là lộ tẩy ngay, ý kiến của thằng "ngu si" ấy nó cũng "ngu si" nốt,
cuối cùng tôi "nặn óc" mới ra.
Tối
chúa nhật đi qua, sáng thứ hai trở lại với tôi, cái ngày thứ hai có
biệt danh là "thứ hai kinh khủng" ấy đem lại cho tôi nhiều nỗi lo âu lẫn
khoái trá vì sắp được trả thù!
Trong suốt thời gian ấy thằng Thành hết hích cùi chỏ, lại nháy mắt cười ruồi có vẻ thích thú.
Tiếng ồn ào bỗng im bặt, chỉ còn nghe tiếng nói nho nhỏ:
- Ê! Ổng vô kìa.
Dáng người nhỏ thó xuất hiện ở ngưỡng cửa.
- Nghiêm!
Thầy vừa vẫy tay vừa bước tới.
- Thôi các em ngồi xuống...
Tiếng "xuống" vừa dứt thì người thầy Lương chao đi lảo đảo, cuốn Việt văn và cặp kính cận cùng rớt ra một lượt.
Sau
giây phút ngạc nhiên cả lớp bỗng cười rộ lên, mà trong số đó có hai kẻ
cười to nhất, thì ra ai đã quái ác đặt cây thước bảng giữa lối làm thầy
Lương phải lãnh đủ, kẻ đó không ai xa lạ mà chính là tôi, tôi đặt cây
thước giữa lối đi khi thấy bóng thầy Lương thấp thoáng ở phòng giáo sư.
Lượm cặp kính lên cùng cuốn sách, thầy Lương trịnh trọng đeo vào và đảo
mắt xuống phía dưới, cặp mắt sắc như dao ấy dừng lại giữa mặt tôi.
- Trò nào?
Cả
lớp im phăng phắc, tôi vẫn phớt tỉnh "ăng lê" nhưng trong lòng bấn loạn
vô cùng. Thầy nhìn tôi một lúc lâu rồi bước lên bục gỗ nói:
- Các trò coi chừng tôi.
"Coi
chừng tôi" có nghĩa là sẽ dồn sự tức giận vào bài vở mà thầy sắp cho,
liên tiếp sẽ là cú đầu, xoắn tai, sẽ là ngu như lợn v.v...
Quả nhiên thầy Lương ra lệnh:
- Lấy vở ra chép bài.
Thầy gỡ cặp kính bước xuống bàn, bỗng thầy bước vội lên bàn chụp cặp kính đeo vào và đảo mắt nhìn lên bảng.
- Trò nào viết hàng chữ này?
Lại một trận cười ròn rã vang lên, tác giả hàng chữ này chính là thằng Thành, nó nắn nót từng chữ to tướng:
Ông Lương bốn mắt hai mày
Dáng đi lạch bạch như bày vịt xiêm
Sau
bữa đó thầy Lương phải cực khổ đẩy chiếc xe đạp lép kẹp cả hai bánh mà
đi kiếm chỗ bơm, mỗi lần như vậy, hai thủ phạm đứng cuối sân chơi cười
khúc khích.
Lần
sau tôi bỗng chú ý đến chiếc xe honda dame cũ rích của thầy Lương, vì
cả một bộ máy rắc rối có thể hư hại nặng chỉ vì một vật nhỏ bé như cát
hay hạt muối.
Muối
là một chất mặn có thể làm rỉ sét các chất kim loại, thế là ra rồi, tôi
cũng la lớn "ra rồi, ra rồi" như Archimède ngày xưa vậy. Thế là tôi sẽ
tà tà bỏ vào bình xăng xe của thầy Lương một nắm muối và thầy sẽ lãnh đủ
cái hậu quả tai hại của những "hồng ân" mà thầy đã "ban" cho tôi ở
những ngày đã qua, tôi không ngờ mình thông minh quá, tôi học cái ý kiến
cho thằng Thành biết, nó khen lấy khen để, nó còn nói:
- Mày phá hoại kiểu khoa học.
Tiếng
ồn ào trong lớp càng ồn ào thêm khiến tôi khó chịu. Sở dĩ có trường hợp
"bất trị an" như vậy vì sau khi tôi bỏ muối vào bình xăng xe của thầy
Lương, máy hư mà thầy không có tiền sửa nên thầy phải đi dạy bằng xe
lam, mỗi ngày thầy trễ ít nhất phải là hai mươi phút, có lần vào trễ
thầy bị ông hiệu trưởng kêu lên văn phòng, lúc trở xuống mắt thầy đỏ
hoe.
Bắt
đầu từ lúc ấy tôi mới thấy cái xót xa nó thấm thía vào tâm hồn khi nhìn
thấy ánh mắt thống khổ của thầy Lương, ánh mắt thầy nó chỉ chứa đựng
một sự chán nản và buồn thảm. Cái ngày "thứ hai kinh khủng" được trí óc
tôi đảo ngược lại là "thứ hai buồn thảm". Ánh mắt thầy đi chung với ngày
thứ hai ấy.
Bỗng
dưng tôi thấy thương thầy vô hạn (tôi không phân biệt được thương thầy
với lòng thành hay là thương hại), nhất là nghĩ đến bài luận văn mà thầy
phát ra có phê hàng chữ:
Rất khá! Có tiến triển.
Thì ra thầy nào có ác ý với tôi đâu, thế mà tôi cố tình ám hại thầy.
Tôi
có thể làm thế chăng? Tôi có thể đang tâm thù hằn một kẻ đáng gọi là
cha, kẻ đã dạy tôi biết làm bình giảng, biết sáng tác ra một đoạn văn.
Bây giờ tôi đã hối hận, thốt ra hai tiếng hối hận tôi cảm thấy trút được
một phần gánh nặng tâm hồn, phần còn lại đến bây giờ tôi chưa trả được.
Bây
giờ tôi không cần biết thầy Lương có ác cảm với tôi không mà chỉ cần
biết đã có thêm một kẻ biết được cái tình thầy trò thiêng liêng cao quý
nhất.
Kính dâng hương hồn của một người thầy đã khuất núi, và gởi những ai đã oán thầy, đang oán thầy và sắp oán thầy.
PHẠM VĂN ĐỨC
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 94, ra ngày 17-6-1973)


Không có nhận xét nào:
Không cho phép có nhận xét mới.