Thứ Năm, 13 tháng 6, 2019

5 NGÀY Ở HẢI ĐẢO (II) - Phan Khương Thái


(Giũ, rửa, giã... thật nhiều lần rau câu vẫn còn lẫn san hô và cát nhuyễn). Trẻ em lợi dụng khi đi gỡ rau câu, nhặt thêm lũ ốc xa cừ, ốc hương, ốc heo... Than ôi! Chúng nào biết giá trị của vỏ ốc sống khi được mài dũa thành đồ trang sức, vật kỷ niệm..., nên chúng đem luộc hoặc nướng tất, rồi đem đập vỏ nát, lấy thịt ăn ngon lành.

Bức tranh chiều tàn trên bãi biển, hôm nay đẹp tuyệt. Nền biển với trời xanh lơ, xám nhạt dần và muốn che cả vầng thái dương ửng đỏ. Trên bãi san hô lởm chởm nâu và lốm đốm trắng là những bóng cao thấp không đều, lom khom thẩy từng túm rau câu vào gùi tre đeo sau lưng.

Mấy đứa lội nước lõm bõm, quên đem giầy bata nên đành chống đá ngầm với san hô bằng dép da. Chẳng mấy chốc mấy túi nylon đầy ắp ốc với san hô, phải loại bớt để chứa mấy con cầu gai. Khi đem về T. và Hải lui cui lôi phọt-môn ra tiêm ngay vào lũ ốc, sao biển, nhím biển và cầu gai... T. bắt được một con cá nóc bằng bàn tay, nhưng rất tiếc chú ta bị kim độc của nhím biển bắn chết, nằm lật ngửa phình bụng. Ốc với san hô được ngâm cho báng mùi, còn sao biển, cầu gai được T. và Hải phơi trên sân xi măng. Con chó mực lạ lùng chạy đến đánh hơi ốc với san hô rồi len lén chú ta ăn cắp miếng khô cá của hàng xóm phơi ở bờ tường tha vào gầm giường nhâm nhi.

Có tiếng còi xe Jeep như mời gọi. Thì ra một trong hai chiếc xe Jeep duy nhất trên đảo vừa ngừng trước cửa nhà Hải. Ba của Hải ngoắc hai đứa lên xe đi một vòng, cả Đáng nữa. Tài xế chính là chủ xe, ông nghị viên của tỉnh Bình Thuận, nhưng lập nghiệp và nhà cửa ở đảo. Trẻ nít tò mò bu theo cái xe lạ, dù nó được mang về hơn hai tháng rồi. Một chiếc khác của một ông nhà giàu thuộc xã Tam Thanh. Cả hai ông đều dùng xe để chở hàng và làm chân đi lại trên đảo. Chiều nay mười mấy ông có thể coi như toàn bộ tham mưu của đảo hội họp rủ nhau đánh chén. Chạy vòng vo rồi cũng về xã Long Hải. Tiệm kem của ông nghị viên được trưng dụng bàn ghế để làm một màn nhậu nhẹt. Mấy ông không cho tụi này nhậu kem. Mấy ông bắt buộc tụi này phải sơ sơ  ba chai la ve với mồi mực tươi xào dưa leo, rồi mực khô, cá khô... Trời tối lúc nào không hay, những câu chuyện dai nhách của mấy ông xã trưởng, phái viên, thư ký... hầu như không muốn dứt. Anh Hùng (em ông Nghị Viên) thay làm tài xế, đưa từng người về nhà. Anh dặn tụi này sáng mai đến anh dẫn đi leo núi. Bác L. (ba của bạn Hải và Đáng giờ đã nhập ngũ) hứa hẹn trưa nay cho tụi này, khi leo núi về, nhậu một bữa lăn quay với đồ biển, không chừng có cả gà với rượu mạnh.

Nhưng ba đứa chúng tôi không thể y hẹn. Vì sáng ngày đi nửa đường xe Honda của của Đáng nổ ruột, bung vỏ, phải lếch thếch dắt về. T. thắc mắc rất nhiều chuyện muốn các bạn kể nghe, nhưng họ hẹn ngày mai... ba đứa lại lông nhông làm một phát tắm biển... Tắm biển đối với dân đảo không có gì thích thú, ngày nào họ chẳng đụng chạm với nước mặn cho nghề nghiệp đâu... Tối chủ nhật cả bọn gặp vài bạn quen. Đáng lẽ giờ này họ ngủ và nghỉ ngơi để khuya thức dậy đi biển. Nhưng lâu ngày gặp kẻ "du học" từ phương xa trở về họ phá lệ. Chúng tôi không uống cà phê ở quán của nhà Đáng, mà kéo rốc tới quán của ông phái viên. Trò chuyện mãi cho đến khi quán sửa soạn đóng cửa dẹp mới thôi. Tuy rằng cũng có giới nghiêm, có tổ chức N.D.T.V. thật đấy, nhưng nơi đây yên lành, bà con xóm giềng với nhau, tha hồ đi lang thang không cần giờ giấc. Ngày thứ tư trên đảo là một ngày đầy kỷ niệm. Trước khi lên đường, má của Hải nướng ba con tôm thiệt là lớn và đổ gạo vào bao cho chúng tôi mang theo. Chở thêm cái tên rảnh rỗi hổm rày và thường đi chơi chung, mấy đứa lỉnh kỉnh đồ ăn với máy hình, trực chỉ xã Long Hải. Vì không thể đem xe theo nên mấy đứa gửi ở tiệm kem quen, còn gửi lại bọc đồ ăn, chỉ mua thêm mấy cái kem bánh. Núi Cao Cát cao độ từ 70 m đến 80 m bị bốn đứa chinh phục nhanh chóng. Ấy là chưa kể khoảng thời gian làm dáng chụp hình. Nào những lúc đang leo núi, trợt té, hay vin đám cây dại, hoặc ngồi trên mỏm đá cheo leo (tương truyền đó là chỗ hàm rồng). Bốn đứa leo tít Quan Âm Phật Đài ngồi từ bi nhìn xéo về hướng đông. Nắng mai dìu dịu chan hòa sau vài cơn mưa nhỏ không đủ ướt những rẫy bắp rộng lớn. Nhìn xuống, có thể thấy bao quát toàn thể đảo. Đối diện là núi Cấm, cao độ khoảng 60 m, buồn tênh vì không có thắng tích gì ngoài cột Hải Đăng như ở đỉnh núi Cao Cát. Ruộng vườn phân ranh từng ô rõ rệt, san sát không một chỗ trống chen chúc với nhà cửa li ti của xã Ngũ Phụng, Long Hải. Xã Tam Thanh thì nằm mút  tầm mắt với hàng dừa rậm rạp của xóm Núi. Bốn đứa khoan khoái đón gió biển lộng tư bề, ăn vội mấy cái bánh kem. Chuyến về chuyền lần ngõ chính lên núi, chứ không mò mẫm mặt lưng nữa. Lưng chừng là Linh Sơn cổ tự. Theo truyền thống của những kẻ nghịch ngợm, bốn đứa chúng tôi vào bếp lôi con dao mũi nhọn ra khắc tên và đánh dấu ngày tháng trên cây bồ đề trước sân chùa, vốn dĩ chi chít những tên cùng họ của du khách đến trước. Ông Từ không ở thường trực, mỗi chiều tối mới lên thắp nhang. Khách thập phương cứ việc vào chánh điện lễ bái, và nồi niêu, chén bát sẵn đó, kiếm củi là có thể tự nấu cơm ăn... Bốn đứa uống lấy uống để nước mưa ngọt và trong chứa ở hai lu ngay máng xối. Bận xuống có bực thang xây theo vách đá nên đếm bước không mấy khó. Đầu lối lên chùa là một cái miếu hoang. Gần chân núi có miếu  bà Chúa, cây cối um tùm bao quanh tạo một vẻ huyền bí thâm u. Tương truyền hồi xưa có một số người Chàm ở Cù lao Ré đi biển bị bão dạt ra đảo, họ đem khoai theo ăn, rồi gây giống khoai rất nhiều trên đảo, nên xưa đảo Phú Quý còn có tên là Cù lao Khoai. Về sau người Việt ra ở, đánh đuổi người Chàm đi. Cho đến nay không còn vết tích gì của người Chàm trên đảo ngoài cái miếu thờ Bà Chúa của họ, khi xưa chết được họ chôn ở đấy. Linh ứng thì không rõ, chớ nghe đồn miễu có ma, ít ai dám qua lại nơi đó từ sẩm tối.

Trên đảo có nhiều miễu rải rác, chẳng hạn như miễu Cây Da (thờ Thành Hoàng) mà bốn đứa vừa chạy xe ngang qua trên đường đến Mộ Thày. Ngoài ra toàn là miễu thờ thần Nam Hải tức cá Ông. Ở Mộ Thày cũng sẵn đồ nấu bếp, chỉ việc đem thức ăn và bỏ công chút đỉnh thôi.

Nơi đây tự do ăn mặn, người khác vẫn thường cúng gà vịt, nên chúng tôi thản nhiên đánh tiệc cơm tôm nướng với nước mắm dầm ớt. Nồi cơm chín không đầy 1 tiếng đồng hồ. 1 phần leo núi mệt, 1 phần đã quá ngọ, bốn đứa vét sạch nồi cơm. Rửa vội nồi, đũa, chén dĩa, đem trả vào kho vật dụng của mọi người cúng nơi mộ, bốn đứa móc quần áo vào nhánh cây cách, ào xuống vụng biển. Đá ngầm, đá nổi, vô khối. Mấy con cua biển chưa biết hãi sợ loài người, nhưng cũng nhút nhát lẩn nhanh vào kẽ đá. Rong nâu trôi lềnh bềnh tìm chỗ tấp vô, cùng với những cái nang mực trắng hình bầu dục đủ cỡ. Lội chán, bốn đứa ngồi trên gộp đá nghe Đáng kể sự tích Mộ Thày. Đáng cẩn thận rào đón, vì nghe kể đi, kể lại nên tích có "tam sao thất bổn" mất nhiều, tuy nhiên đáng tin cậy vì qua người già lão thuật rõ ràng vào những lúc "trà dư tửu hậu".

Chuyện xảy ra cách đây mấy trăm năm... khi 1 thuyền buôn của người Tàu bị bão dạt lên đảo. Trên thuyền có 1 ông rành về khoa địa lý. Thuyền buôn lo lấy nước ngọt và đổi vật thực cần thiết sửa soạn trở về. Ông thày cũng theo lên đảo quan sát đất đai, phong thổ. Ở lại, ban đêm, ông thấy phát xuất một hiện tượng kỳ lạ xảy ra vào dịp trăng sáng, may có mặt ông. Nhìn từ xa, 1 mỏm núi mường tượng miệng một con rồng, nơi đó hào quang chốc chốc vút lên thinh không. Ông thày nhận xét được một kiểu đất. Nếu táng xác người nào vào nơi đó, sẽ kết phát, chính người được táng sẽ thành thần và con cháu sẽ học giỏi, thi đỗ, vẻ vang trên đường sự nghiệp, làm quan to và hiển đạt. Cái huyệt không ở hàm rồng, vì hàm rồng há miệng khơi khơi với thiên nhiên, mà mập mờ ẩn hiện ở rún rồng. Chót đuôi con rồng nằm uốn khúc chính là 2 hòn đảo trơ trụi: hòn Đen và hòn Đỏ giữa biển. Mình rồng nằm dựa ven biển, núi đá tựa vẩy, cheo leo. Đối với người thường chẳng có gì quan trọng, nhưng với con mắt nhà nghề của thày địa lý, đã chấm rồi linh huyệt. Lặng lẽ thày Tàu theo bạn ghe ra về. Câu chuyện bọn người Tàu xí xô, xí xào lạc vào đảo dần dà chìm theo năm tháng.

Một đêm trăng nọ, dân đảo hơi ngạc nhiên thấy ánh lửa cùng khói bốc lên tại một góc đảo (chính là chỗ long huyệt: rún rồng). Vốn quen đời bình dị, không ai tò mò đến đó tìm hiểu xem tại sao có lửa? Lửa của bọn cướp? Hay lửa của nhóm người đi ghe lạc lối? Hay lửa thiêng của trời đất phát sanh?

Sáng ngày, có vài đứa trẻ chăn bò, nhân đánh bò qua chỗ có lửa đêm hôm, chợt phát giác một cái mả vô danh. Theo lời mục đồng báo tin, dân đảo cũng tụ đến xem xét, chịu không nhận ra dấu vết gì, dù là 1 chiếc ghe đã cập bến ban đêm để làm cái công việc tang ma lặng lẽ trên. Rồi họ cũng để yên ngôi mộ, vì đó là đất hoang và thấy cũng chẳng thiệt hại gì cho ai, dù sự việc xảy ra rất kỳ lạ và khó hiểu. Ngôi mộ đất tròn trịa có đá hòn xếp quanh được chấp nhận nằm đó, thi gan cùng tuế nguyệt. Từ đó về sau, theo 1 chu kỳ bí mật như sự hiện diện của ngôi mộ, vài làn ánh sáng xẹt lên. Không xẹt từ "hàm rồng" nữa, ánh sáng xẹt từ "rún rồng" có vòng như cái cầu rơi xuống tắt phụt ở vùng đất khác cũng gần đó. Lại thêm tiếng sấm động ầm ầm tựa tiếng gào thét của quái vật cựa mình sau giấc triền miên. Nhưng tuyệt nhiên trời không có gió bão với mưa gào. Ánh sáng thì rực rỡ như hỏa pháo, tiếng động thì kỳ bí và không phải bất cứ người nào cũng thấy và nghe được. Khiến cho một số dân "được" chứng kiến sợ hãi, đồn đãi với nhau về một sự linh thiêng của 1 kẻ khuất mặt bắt đầu tác yêu tác quái. Dân đảo nào hay biết, ông thày Tàu rành khoa địa lý đã sai con cháu đem chôn xác ông ở cái huyệt trời ban trên đảo, mà dân đảo không có may mắn hưởng phúc. Những người có thẩm quyền trên đảo định san bằng, hay đào mộ liệng ra biển, để đem lại sự an lòng cho dân đảo. Nhưng chính ông thày Tàu hiện về báo mộng kể rõ khúc nôi và tự xưng Thần. Nếu dân đảo lập cho ông một chỗ nương nhờ nhang khói, ông sẽ là một Thổ Thần phù hộ cho mọi người. Đôi khi ông còn hiển hiện, cái bóng trắng tiên phong đạo cốt, chống gậy đi từ chỗ ngôi mộ, theo làn ánh sáng rồi biến mất theo nó. Một số dân đảo nhiệt thành tin cậy, xây cất một cái miễu con để thờ phụng ông Thày. Nhiều sự cầu xin, khấn vái được kết quả như ý. Họ đồn đãi với nhau. Ngôi miếu được tu bổ và khang trang dần theo địa thế xinh tốt mà giờ dân đảo mới nhận ra. Cả vùng đất bằng và hơi trũng đó (bụng rồng) người ta gọi là Mộ Thày. Còn Dinh Thày là nơi đốm sáng hạ tan và tắt ngúm, họ cho xây thêm một miễu con và gọi là Dinh Thày, ngụ ý chỗ ông thày ngự lúc dạo chơi. Hồi vua Gia Long bị nhà Tây Sơn đuổi mãi tận đảo, ngài cũng cầu xin ở thần và được mãn nguyện bao điều ước. Về sau, khi lên ngôi vua có ban sắc để phong tặng sự thần đã giúp đỡ. Sắc phong đó cư dân trên đảo vẫn còn giữ. Mấy năm gần đây (1969-1970), dân đảo không biết, vô tình sửa sang ngôi mộ thày, đắp gọn theo hình bát quái, bề ngoài rất đẹp. Một ông Đại Tá (quên tên) cũng sành khoa địa lý đã cho hay chỗ sơ hở nhân dịp đi thăm toàn đảo. Phải phá hình thức bát quái chụp ngôi mộ như mảnh bia yểm đi linh khí của huyệt thiêng. Mọi người theo lời khuyên, tuy tiếc công trình, nhưng cũng vui vẻ đập phá ra và trả lại hình dáng nguyên thủy của ngôi mộ. Ngày nay ngôi mộ vẫn nằm trơ đó, đá hòn vây quanh, xa trông như một miệng giếng to. Gần mộ là ngôi miễu vuông vức. Xế lưng miễu là 1 gian nhà dài của dân đảo hảo tâm dựng lên, làm nơi bày biện cỗ nấu để cúng kiến, có bàn ghế để ăn, có chiếu để trải ra nghỉ. Bên hông là chỗ chứa chén đũa, nồi... cũ, mới... lẫn lộn. Dứa dại um tùm mọc lẫn với cây sầm và cây cườm thảo lan xuống góc núi có một cái bếp cất dựa theo hốc đá, kín đáo và an toàn. Bực tam cấp lợi dụng theo địa thế, dẫn lên Mộ Thày, trổ xuống bếp, dài ra vụng biển là bãi tắm thiên nhiên an lành. Đôi lúc có lễ lớn, hoặc trúng vụ mùa đánh cá hay rẫy bái, có người còn tổ chức hát bội, cúng kiến linh đình, diễn ra trên mặt sân tráng xi măng bằng phẳng chỗ Mộ Thày. Toàn thể dân đảo đều tin vào sự linh hiển, phò trợ của Thày. Họ cầu xin cho con em thi đỗ, học giỏi, buôn may bán đắt, đi biển bình an, trúng mùa (trúng mực, trúng cá...), đi lính thì tai qua nạn khỏi. Chính Hải, bạn T., một con người "văn minh khoa học" của thế kỷ 20 vẫn hằng tin tưởng vào sức giúp đỡ linh thiêng trong các kỳ thi mà gia đình Hải đã cầu khấn hằng năm...

Bốn đứa chúng tôi vùng vẫy chán chê, lên bờ hong khô đầu tóc, quần áo. Khát nước kinh khủng! Nước đá làm phụ theo máy kem mua hồi sáng đã tan hết, nước đem theo không còn một giọt. Cả bọn rủ nhau về Xóm Núi mua dừa uống cho đã thèm. Thế là nhong nhong về xã Tam Thanh, 4 đứa không ghé nhà đi thẳng. Cứ vài chặng lại phải dắt bộ, vì xe khó vượt động cát trải dài. Mấy bụi dứa dại không đủ sức ngăn đồi cát di chuyển dần về phía trong đảo. Hình như dân đảo không có ý định trồng phi lao để chặn bớt sức gió và giữ cát. Xóm Núi thuộc ấp Triều Dương. Có một núi nhỏ 2, 3 chục mét, gọi là núi ông Đụn, tên của người khai phá lập xóm đầu tiên ở đấy. Vùng đó thích hợp với dừa, nên dừa ngon ngọt và được trồng nhiều nhất. 4 đứa chúng tôi tham lam mua cả quày. Nhưng chỉ đủ sức ních mỗi đứa hai trái và số còn dư xách về. Chùa chiền sao mà lắm? Thật vậy, hầu hết dân đảo thờ Phật. Nổi tiếng nhất là Linh Quang Tự do vua Gia Long cho xây hồi tẩu quốc. Chùa nằm ở xã Tam Thanh. Kế đến là Linh Sơn cổ tự ở triền núi Cao cát. Rồi đến chùa Bạch Mã (khá linh thiêng) ở ấp An Hòa (xã Ngũ Phụng). Rải rác còn vài chùa nhỏ nữa. Trên đầu đảo (xã Ngũ Phụng) còn có một nơi gọi là Bãi Lăng thờ Thành Hoàng. Đầu đảo ngoài mô đất đó (tiếng địa phương gọi là mom đất hay giàn đất), ấp Mỹ Khê (xã Tam Thanh) có lăng Cô, không rõ sự tích nhưng rất linh hiển. Tương truyền năm 1945-1946 có một đoàn tàu hải tặc ghé đảo, dùng súng bắn vãi vô đảo để thị uy. Cư dân cúng vái ở lăng cầu xin sự che chở. Ngay lúc đó có một dải lụa trắng từ lăng Cô bay ra đốt cháy tàu chúa cướp. Cả đoàn tàu thất kinh rùn rùn nhổ neo bỏ chạy cho xa.

Hiện thời đảo còn có một giáo đường của đạo Tin Lành. Một nhà giảng của đạo Bahais và một chùa Cao Đài... không mấy phát triển. Mục sư, thủ từ... sinh sống bằng lương thực chu cấp hằng tháng từ đất liền.

Mấy đứa tôi lội về qua những quãng đường cát lún, số lượng nước dừa dưới ánh nắng mặt trời đã muốn bốc hơi từ những giọt mồ hôi tươm đầy thân thể. Mạnh đứa nào, đứa nấy lo về nhà tìm chỗ ngủ. Buổi tối thức dậy ăn cơm hãy còn sật sừ. Hải gặp bạn đi biển rủ ngồi quán (của ông phái viên). Những người bạn mới lấy làm tiếc T. đến chơi không nhằm mùa biển động. Khi ấy họ sẽ đưa đi hòn Tranh cách đảo không đầy một cây số. Hòn Tranh còn có một hòn phụ là hòn Trứng (đây là hòn Trứng của hòn Tranh). Trên hòn Tranh chỉ có vài gia đình sinh sống coi ruộng rẫy mà thôi. Vả lại cuốn phim T. đã chụp hết nhẵn. T. hẹn sang năm sẽ lại cùng họ chèo ghe đi hòn Tranh thăm đền thờ Đức Trần Hưng Đạo và Vũng Phật. Hai địa danh này đều có sự tích khá ly kỳ. Tương truyền có một ông đánh cá, mùa biển động nên qua hòn làm rẫy. Làm biếng đi đi về về ông cất chòi và mang gia đình qua hòn sinh sống luôn. Thằng bé con ông, một hôm nhặt được một hình nhân gỗ trôi tấp vào bãi, nó bèn nhặt làm đồ chơi. Cha nó liền được thần nhân báo mộng quở trách. Ông đem chuyện lạ về đảo thuật cho mọi người hay. Người ta ngắm nghía, suy xét và nhận dạng tượng gỗ của Đức Trần Hưng Đạo, chẳng biết lẽ nào trôi giạt đến đây. Họ bèn xây cất đền thờ và giao việc trông nom cho ông đánh cá đó. Còn Vũng Phật nằm ở cuối hòn. Cái vũng tròn vo như có người tạo ra. Kỳ lạ ở chỗ rằm và mùng một mỗi tháng có một hòn đá từ đáy nổi lên và vũng réo ầm ĩ, sôi sục... Người ta bèn nhặt hòn đá, chạm trổ hình tượng Phật và thỉnh về thờ trong Linh Quang Tự. Cho nên đền thờ Đức Trần Hưng Đạo và Linh Quang Tự vẫn còn linh thiêng đến nay. Những người bạn mới cho T. biết, họ cực khổ quanh năm với nghề đi biển, chính lúc biển yên gió lặng là họ phải ra sức tranh đua với thiên nhiên tìm cái sống. Biển động, họ không bó tay ở nhà, họ làm rẫy, đi qua hòn Bố, hòn Vung lượm trứng chim về bán. Quần đảo Phú Quý ngoài hòn Bố, hòn Vung... tụ tập hải âu, chim biển... còn có hòn Khám, hòn Tiền, hòn Đen và hòn Đỏ (đuôi rồng). Trên đảo không thiếu một thức gì, trừ lúa gạo phải mua thêm ở đất liền và một vài loại cây ăn trái khó trồng. Đời sống dân đào không mơ ước cao xa và đòi hỏi nhu cầu giải trí gì quá tấm sức. Bi da, banh bàn không kiếm ăn nổi trên đảo. Có một rạp xi-nê lại quá tệ, chỉ là một căn nhà rộng 4m, dài 30m, cũng có lầu, nhưng lâu lâu chủ rạp "mượn" được cuốn phim thời sự, trình chiếu, bán vé hẳn hòi. Không một phong trào, với mốt thời trang nào xâm nhập được, vì dân đảo vốn cần cù, bận rộn với sinh kế hơn là lo đến vấn đề nào khác. Trẻ em không biết đến một tiếng chửi thề, chỉ biết tụ tập bày trò chơi hoang sơ và rất lạ lùng với xe Jeep, với chiếc trực thăng mỗi tháng hai lần công vụ đáp trên sân banh lộ thiên trước trụ sở nha phái viên, chúng nhao nhao bu theo như cái đuôi để xem. Và nhất là thích thú với ba máy vô tuyến truyền hình của Tổng Thống vừa tặng cho ba xã nhân dịp ông đi kinh lý.

Ngày cuối ở đảo, T., Hải và Đáng theo gia đình đến Mộ Thày để cúng. Chú Liếu, một ông lang bang phất phơ nhưng lại đa nghề nghiệp, nhất là làm đầu bếp cho bất kỳ gia đình nào có cúng kiến, giỗ quảy. Một nồi cháo gà, hai con gà xé phay, lại thêm mực tươi dồn râu mực chiên gia vị, rau sống... mà chú Liếu, ba má của Hải, hai ông bạn quen của ba Hải, ba đứa này, vị chi là 8 người, ăn không hết, phải gọi lũ trẻ chăn bò coi việc phơi mực lên ăn phụ. Chúng được gói cho cả bọc xôi với mực chiên, chuối, mía nữa đem về cho mấy đứa em.

Sau đó, ba đứa theo lệnh người lớn, sì sụp lễ bái và khấn vái trước mộ và miễu của Thày. Dọn dẹp đã có chú Liếu và má của Hải lo, ba đứa rảnh rỗi vòng quanh triền núi, lần theo những gộp đá trơn tru có, bén có, bị xâm thực bởi gió và sóng biển đêm ngày. T. để mắt tìm thêm một ít ốc heo và nang mực. Hình như có tiếng đồi mồi thở phì phò trong kẹt đá. Đáng và Hải cãi nhau, hổng chừng có con chình (một loại rắn biển), nếu thọc tay bậy bạ, coi chừng nó cắn chết tươi. Dân đảo chỉ có một, hai người bắt đồi mồi, chế tạo thành vật trưng bày để bán. Ngoài ra ai nấy bắt được đồi mồi, đều thả đi làm phúc. Quanh mộ Thày nồng mùi ngải cứu, người ta quen gọi là lá Từ Bi hay Ngũ Trảo. Lá này, T. còn bắt gặp mọc xen với cây sầm dứa dại ở vùng núi Cao Cát. T. nhặt được một con đồn đột (hay đồm độp) đã hóa đá trắng hếu. Có nơi người ta gọi nó là đỉa biển. Hình dáng nó tương tợ con đỉa, mà to lắm kia, có thể cỡ 1 khúc tay người lớn. Nó nằm im như 1 cái bánh gai, hiền lành và di chuyển chậm chạp. Màu sắc thì đen hắc hay xám xám. Nếu có điểm lấm chấm đỏ, gọi là đồn đột gai. Nhưng chỉ có loại màu vàng sậm như da bò, bắt được giữa biển khơi và hiếm có mới được dùng làm món ăn, tên chúng gọi rất văn hoa: hải sâm. Dân đảo cũng có làm nước mắm, nhưng chỉ để gia đình dùng và chia chác với người quen. Họ chỉ thiếu vài nghề của dân miền biển như : làm khô cá thiều, làm đồ trang sức bằng vỏ ốc, và khai thác bào ngư mà thôi. (Bào ngư: bong bóng cá đường, dân biển vùng mũi Cà Mau, Phú Quốc rất hay bắt cá đường chỉ để mổ lấy bong bóng, vứt xác). Nhưng cần gì, nhìn khái quát, đời sống dân đảo cũng khá sung túc, nhà cửa gạch, ngói, chắc chắn... mọc lên hoài. Nhìn nhà nào, người ta đều biết rõ tuổi tác căn nhà với con số năm xây to tướng ngay chính giữa. Nếu 2 bên không là tên hiệu tiệm, sẽ là hoa lá cành trông rất lòe loẹt và rập một khuôn. Chúng sẽ để lại nhiều kỷ niệm khi T. rời đảo, vì chính đêm nay có ghe chở hàng đi Phan Thiết. Mãi mãi T. không bao giờ quên những người bạn mới quen. Tất cả mọi người dân đảo đều niềm nở, hiếu khách, họ giảng giải từng chút gì T. thắc mắc, tiếp đãi lúc nào cũng chu đáo. 5 ngày ở đảo T. ăn cá biển thật là đủ hương vị. Nào cá liềm, cá luồng, cá mím, cá ngác, cá bè, cá gáy, cá sọ dừa, cá bò, cá nhồng, cá ngừ, cá mú (mú chiên, màu hồng, và mú xảy, da sọc xám), cá hồng, cá khế, cá mó (mó tro, mó xanh, mó củ... đủ loại, đủ màu)... Ôi thôi còn nhiều loại mà T. ăn rất thường khi chúng được bán ở đất liền như cá cam, cá nục, cá thu, cá mối, cá chim... Còn nhiều lắm, chẳng hạn: "cá đổng, cá tà mà, cá thèn, cá thút thít, cá cờ, cá căng, cá đém, cá sơn, cá suốt, cá thòi lòi biển, cá lầm, cá vi, cá đưng, cá bui (cá đối biển lớn cỡ bắp chuối), cá chàm v.v..." T. chỉ mới nghe bạn kể tên. Hẹn nhau một dịp thuận tiện hoặc không còn dịp nào khác T. sẽ lại ra "hòn" sống trọn những ngày tháng tiêu dao như một bực ẩn sĩ. Có còn chăng những hình ảnh T. ghi được qua cuốn phim ngắn ngủi và mơ hồ trong tiềm thức vốn mau quên, những thanh âm sóng biển rì rào, chim chóc ít ỏi, ca ngợi vùng trời yên bình tự do, những giọng nói mộc mạc, khó nghe mà chân thật. Những con thuyền thô sơ lần lần cơ giới hóa, bóng dáng ngư phủ sửa lưới, sửa thuyền. Những khi ghe về bến tấp nập người lấy vi, xẻ cá... có những chiếc gùi quen thuộc trên lưng, giống bất cứ thiểu dân miền sơn cước nào... mãi mãi sẽ không thể xa rời ký ức T. được.

Họ quá giang vào Phan Thiết chật ních cả ghe. Mùa này còn đi buôn được. Mùa biển động, đàn bà con gái hay vào đất liền, túa đi các tỉnh, về Sàigòn làm mướn, không lãng phí thời gian bao giờ. Ghe chòng chành sau hồi máy nổ. Hải và Đáng có chút việc phải đi Phan Thiết, sẵn dịp đưa T. về luôn. Thật may, trời êm sóng gió như hôm T. đến đảo. Đã khuya lắm rồi, nhưng ông già cầm lái vẫn thao thức với bổn phận và nhắm hướng không sai chạy chút nào. Một cơn mưa nhỏ rì rào khiến 3 đứa nằm sát nhau hơn, trùm kín tấm poncho. Lời dặn dò nhau và trò chuyện, mãi rồi làm nhảm theo giấc mê, không đầu không đuôi. T, ngủ quên với cảm giác lênh đênh, chập chờn theo nhịp lướt của chiếc ghe. Hình như ghe đã đi khỏi tọa độ có mưa và âm thanh biển cả như thầm mời gọi T. chớ vội xa lìa.


PHAN KHƯƠNG THÁI 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi các số 115, 116, 117, 121) 
  

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2019

5 NGÀY Ở HẢI ĐẢO (I) - Phan Khương Thái


Chuyến đi của T. vội vàng và không báo trước gây ngạc nhiên cho cả gia đình. T. chỉ kịp mua một ít đồ lặt vặt, còn quần áo đã ủi xếp sẵn cho kỳ du khảo bụi, giờ chỉ việc xách theo. Hai đưa đi mua vé xe đò Sàigòn – Phan Thiết chuyến chót. Còn rộng thì giờ để cả hai mua "phọt-môn", phim và một ít sách dành đọc giết thì giờ. T. chở bạn lang thang trên đường phố Sàigòn rồi về ăn cơm. Chẳng trễ được với giờ giấc xe chạy ưa co dãn như dây thun.

Trên xe Hải thiu thỉu ngủ, trong khi T. lạ mắt quan sát cảnh vật qua cửa sổ. Từng địa danh lúc vun vút, lúc chờ mời khi xe đón thêm khách hoặc thả bớt xuống... Bốn giờ chậm chạp trôi với những trận mưa rào, gây một không khí hâm hấp nóng. Bến xe rất trống trải và dời về cửa vào tỉnh lỵ làm tốn kém cho hành khách cần di chuyển. Cả hai đi xích lô đạp đến tận nhà bà dì của Hải. Tiếng chuông điện reng dài đánh thức hai con chó già có bộ mặt lầm lì đáng sợ trước tiên. Dì Hai giúp việc ra mở cửa, đon đả chào hỏi cả hai đứa... Ôi thôi, đủ mọi chuyện:

- Tụi mày về sớm sớm, chắc "quá giang" trực thăng ra "hòn", khỏe ru.

- Ba rưỡi chiều hôm qua tụi con chỉ mới thi xong môn cuối ở Tây Ninh, làm sao về kịp...

- Ba mày (ba của Hải) ổng mới về sáng hôm kia. Ổng bỏ quên cái áo da, treo kia kìa.

- Đã nói tụi con mới có mặt ở Sàigòn hồi 7 giờ sáng đây. Họa chăng bay mới về kịp. À bữa nay có ghe đi "hòn" không dì Hai?

- Ai biết, nhưng chắc tối mai mới có, đâu mày ra bến hỏi thăm coi...

Bao hăng hái vụt tan biến. Hai đứa uể oải tắm táp, dẹp đồ, rồi dạo phố, đi ăn cơm. Mới một tua đã gặp bạn. Hải và Đáng sánh vai nhắc bao chuyện ngày qua. Đáng lý Đáng đã theo trực thăng về rồi, nhưng vì nhận được thư và tập nhạc của Hải, nên Đáng có ý định chờ bạn cùng về ghe chung cho vui. Cả ba đi xi nê, ngặt nỗi ba rạp ở đây chiếu toàn phim cũ của Sàigòn nên đành thôi. Phan Thiết về đêm phố xá rực đèn và rất rộn rịp, tiếng nhạc từ các hàng quán vang vang, cũng có những sân trượt patin nực mùi mồ hôi người. Ngoài này họ gọi bánh khọt là bánh căng và bánh xèo là bánh khoái. Đó đây những quán cóc tráng bánh, khói thơm nức mũi, nhưng vì còn no, cả ba đứa ăn chè bông cau và chè thập cẩm rồi về. Sang một ngày lang thang cho biết phố xá Phan Thiết, từ một con đường chính vui vẻ đến những ngõ hẻm buồn thiu. Hải dẫn bạn đi khắp... nào các trường học, tòa sơ thẩm, ty bưu điện, công viên, bồn chứa nước, hội quán quần vợt, chùa, nhà thờ... Nếu còn đủ thời gian và phương tiện có lẽ ba đứa sẽ rủ nhau đi tắm ở bãi Vĩnh Thủy, ngang lầu ông Hoàng và ra tận Mũi Né chụp hình.

Đi đâu T. cũng thấy Hải gặp người quen, nhiều nhất là các bạn hàng chất hàng hóa lên ghe, sửa soạn về "hòn". Đêm nay có hai ghe đi Phú Quý. Chiếc của ông Diêu mới mua, máy mạnh và còn tốt, thủng thẳng khởi hành sau chiếc kia. T. hỏi thăm ông thuyền trưởng và được biết 2 giờ khuya ghe mới chạy. Đủ mọi hạng người đã chồng chất như hàng hóa để ngủ. Khác ở chỗ là hàng hóa trong khoang, dưới hầm, còn họ thì nằm trên mui, trên boong, trên phòng lái. Đầu châu vào nhau, chân day ra ngoài, say ngủ đến nỗi khi ba đứa loạng choạng đạp nhầm họ vẫn không buồn càu nhàu. Còn vài chỗ trống đằng mũi ghe, đủ để ba đứa ngồi ghé lưng. T. sốt ruột xem đồng hồ từng chập, nước lớn và sắp ròng. Chiếc ghe đi trước chắc đã nuốt được phân nửa đường. Con sông Phan Thiết lững lờ chảy dưới ba cây cầu im lìm theo thành phố lặng ngủ. Xa xa dãy Trường Sơn không rõ hình thù, đen đúa và trơ ra dưới ánh sáng yếu ớt của các vì sao. Ông "Thuyền Trưởng" đã dậy, lục tục réo gọi bạn ghe quấn đỏi, quấn neo, giựt máy nổ... Có tiếng trẻ nít giật mình khóc è ẹ. Tiếng chó sủa ran trên bờ đưa tiễn. Máy ghe nổ xình xịch vẫn không đánh thức nổi một số người. Trăng hạ tuần vừa nhô lên, cùng chòm sao Bắc Đẩu, sao Mai... sẽ giúp ông "lái ghe" định hướng. Đồng hồ dạ quang của T. chỉ đúng 3 giờ rưỡi. Ghe xoay mũi trôi nhẹ theo con nước. Xóm Hàm Hộ (xóm chuyên nghề đi biển) hình như không biết ngủ là gì. Đuốc sáng rực cả chợ cá Phan Thiết, soi rõ cả vài hãng nước mắm phía bờ đường bên kia. Qua khỏi chiếc xáng vét lòng sông, thổi cát, đã thấy gió biển lồng lộng. Sóng vẹt hai bên mũi ghe lấp lánh như pha lân tinh. Và một hàng đèn chạy dài không thấy chỗ đứt quãng. T. được Hải giảng, đó là đèn Măng-xông của những ghe đi "làm mực". Một ông già bịt khăn đốt cả bó nhang khấn vái Thủy Thần. Ông vừa quơ quơ cho lửa tắt bớt, luôn thể làm dấu cho các ghe nhỏ biết mà tránh. Thêm một ông khác đốt liên hồi giấy vàng bạc, sau khi biểu ông kia cắm bó nhang ở đầu mũi ghe. Mấy ông chỉ cần thay tay lái khoảng vài tiếng thôi, còn bây giờ các ông cứ việc tìm chỗ trống đánh giấc. Như mọi người, Hải và Đáng không say sóng và yên ngủ. Dù đã uống trước hai viên Nautamine ngừa say sóng, T. vẫn mang cảm giác nôn nao và muốn tuôn tất cả những gì đã ăn ban chiều. Trăng khuyết hình lưỡi liềm lên còn thấp, trông như cách mặt biển khoảng một thước tây, như cười duyên với hàng đèn của ngư dân làm mực biển và trời mênh mông vô tận. Mỗi lần vượt qua chỗ ghe làm mực, T. thấy các đèn "măng-xông" họ đặt riêng trên phao nổi cũng nhấp nhô theo sóng nước. Mấy ngày rày biển êm, T. chập chờn ngả lưng trên bó tre chở theo ghe. Sương đêm hay bọt sóng li ti làm ướt đẫm gương mặt của T. Cả người T. đã trang bị quần dày, áo "ba-đờ-suy" và nón... chỉ chừa có mỗi đôi bàn tay đã khoanh kín trong tấm "poncho". Cảm giác nhồi lắc bất tận và T. quen dần theo nhịp ghe lướt bềnh bồng.

T. chợt thức khi trời sáng trắng. Mọi người bỡ ngỡ quan sát nhau. Như những con quái vật cựa mình, vài cái đầu tóc sút xổ của mấy bà già ló ra sau đám chăn mền. Họ đã quá quen thuộc để biết phải đem theo gối nằm, bỏ sẵn trong bao nylon. Ai như tụi trẻ gối bằng cánh tay, có vài cái bị lại lười biếng bỏ tuốt trong hầm ghe. Tất cả đều là dân đảo Phú Quý đi buôn trở về. Người lớn vồn vã hỏi thăm Đáng và Hải. Họ không quên một chi tiết nào, cả sự có mặt bất thường của T. Họ trọng nể người đi xa và có học thức vô cùng. Nhất là đối với Đáng và Hải.

Không phải dân trên đảo, ai cũng có tiền dư để cho con "du học" ở đất liền được. Xưa kia có hai ông thuộc nhà giàu có nhất nhì trên đảo, đi học rồi đỗ bằng "Primaire" mà đã vinh hạnh và vẻ vang lắm thay, họ trở về làm lớn, oai quyền khôn kể. Mãi đến thời nay có vài anh học đến Tú 2, nhưng hỏng và nhập ngũ cả rồi. Hải bạn của T., lên được Đại Học nên "giỏi" nhứt đảo rồi đó. Đáng và một đứa khác, tập tễnh lên lớp 12 vậy là chiếm hạng nhì... Gần đây, nhiều nhà cũng cố gắng cho lũ trẻ vào đất liền học trung học, còn lớp đàn anh đành để ở nhà đi biển, làm ăn, với cưới vợ. Mới đầu còn ngượng ngùng, sau khi cả ba đứa đã quen với câu hỏi đầu môi chót lưỡi của dân đảo là: "Vợ con gì chưa?"Đó là tình trạng chung cho lứa bạn bè của Hải còn ở lại đảo.

Mấy ông già dùng chung một ống ngoáy trầu bằng vỏ đạn cũ, nhai ngồm ngoàm. T. tránh xa mỗi khi họ nhổ bã trầu, cũng như tránh những khi mấy cô bé trên ghe cho "cá ăn chè". Mấy nhóc tì len lỏi từ mũi ra sau lái, leo lên mui, ở đâu cũng có mặt chúng, trừ cái cột buồm, bỗng reo lên: "Hòn kìa".

Hải chỉ cho T. một chấm đen hiện ở mặt phẳng của biển. Ghe đã đi được hơn nửa đường. T. làm quen với ông Cuộc Trưởng Cảnh sát ngoài đảo đang nhức đầu và say sóng. T. cười thầm khi được ông ấy khen: "Cậu nhỏ mới đi lần đầu mà chịu đựng sóng giỏi quá". Biển thật êm và trời trong vắt, ghe đi như còn trong dòng sông. Nhiều con cá chuồn hốt hoảng bay vun vút trước khi rơi tòm xuống biển thật bất ngờ như khi chúng xuất hiện. Không một bóng dáng Hải Âu giữa vùng trời nước bao la này. "Hòn" lớn dần dần. Đáng nói rằng đảo Phú Quý trước có tên là cù lao Thu do tàu của Hải Quân đặt, vì nhìn từ xa trông như con cá Thu. Nhưng riêng T. nhìn nó giống con cá sấu với cái đuôi hơi ngắn. Có nhiều bãi ghe đậu, nhưng riêng ông Diên sẽ ghé bãi Tam Thanh tiện cho cả ba đứa vì đó gần nhà và tiện cho cả chủ ghe. Ghe vòng qua xã Ngũ Phụng cho thấy núi Cấm chơ vơ ngọn Hải Đăng. Rồi ba cây dừa với một cái chòi lá mới tinh lộng gió tứ bề. Chỗ "doi dừa" đó xưa rất nhiều cây dừa lão, họ mới đốn chừa ba cây tượng trưng cho ba xã và cất cái nhà mát cho Tổng Thống nghỉ chân nhân dịp ông đi kinh lý và ghé đảo. Đây là lần thứ nhì một vị nguyên thủ quốc gia thăm đảo. Lần thứ nhất là vua Gia Long thời kỳ tẩu quốc. Còn ngoài ra chỉ có thủ tướng và các tướng vùng ra đảo bằng tàu hay trực thăng vì lý do quân sự mà thôi.

T. như đang sống trong mơ. Giờ này hôm qua mình còn ở Phan Thiết, có ngờ đâu vượt 120 cây số đường biển đến chốn xa khơi này. Thực ra đảo Phú Quý cách đất liền có 80 km. Nhưng đi bằng ghe hay tàu, còn tùy thuộc ở sóng gió, thời tiết... cản trở nên hơi lâu. Những 7 giờ đồng hồ lênh đênh, để rồi thấy hòn Trứng của đảo Phú Quý cô đơn với lũ chim dạn dĩ. Và đảo Phú Quý xinh tươi sẽ là nơi T. nghỉ những ngày hè đầu. Mọi người chuyển đồ sang ghe nhỏ để lên bãi. Những cây dừa oằn bóng mát cố che cái nắng sắp giữa trưa. Xã Tam Thanh có lẽ giàu nhất với xóm nhà tập trung đông đảo ven biển. Nhà của Hải ở ấp Mỹ Khê. Xã còn hai ấp nữa là Hội An và Triều Dương. Vì vậy mà gọi là xã Tam Thanh (Tam là ba), ngày xưa còn có tên là xóm Ba Làng. Cũng như xã Ngũ Phụng gốm năm ấp là: Quý Thạch (Xóm Bầu), Thương Hải (Xóm Biển), Hải Châu (Bãi Lăng), Phú Mỹ và An Hòa (còn gọi là xóm Chợ). Đặc biệt xã Long Hải gồm hai ấp Long Hải Đông và Long Hải Tây cách biệt với nhau. Tùy theo mùa mà ghe tàu buôn sẽ ghé bãi Tam Thanh về mùa gió bấc và mùa gió nồm (mùa Nam) sẽ ghé bến Long Hải Đông để núp gió, tránh sóng lớn va chạm làm mau hư ghe.

T. theo Hải đi những bước lún vì cát nóng, đôi ống quần lết phết và hành trang chỉ muốn vứt cho rảnh tay. Nhà Đáng hai căn, đều kế cận nhà Hải. T. và Hải cất đồ trong căn nhà trống day lưng phía bãi ghe. Hai đứa về nhà trong ăn cháo nóng. Ba má của Hải được thư báo tin nên đoán chắc con sẽ về, ai dè trễ nải như vầy. Không rõ ghe chạy với vận tốc bao nhiêu. Ông lái ghe cho biết cỡ "700, 800 ga, theo kinh nghiệm của ông. Và T. có thể tính nhẩm, vận tốc trung bình của ghe khoảng 15 tới 20 cây số giờ. Việc đầu tiên của hai đứa là quét dọn căn nhà trống, lúc trước vợ chồng bà chị của Hải ở, nay anh chị đã dời về dạy học ở Phan Rí Cửa. Từng dưới là nhà kho chứa dầu gasoil, đậu, tiêu... để bán, kế bên là cái chái để máy phát điện, cung cấp điện cho cả xóm. Trên là căn gác trống, mặc sức cho cả hai đứa tự do tung hoành. Con chó mực nhận ra Hải, sủa vài tiếng ngắn rồi quấn quít ngay. Sóng biển sát vách tường nhà sau rì rào theo từng cơn gió thổi thốc tới một mùi cá tanh tưởi. Mặc, cả hai đứa mở toang các cửa sổ và leo lên giường gần bếp đánh một giấc. Một giấc thật dài và an lành không nhồi không lắc không một tiếng động phá rầy. Mãi đến khi trời khẽ vạch biển xanh để chun trốn, có tiếng ba của Hải đập cửa gọi hai đứa về nhà trong ăn cơm. Bữa cơm toàn thức ăn biển. Mực tươi xào với dưa leo và khế, cá liềm kho... Hai đứa chiếu cố tận tình. Trong lúc trên lầu ba của Hải đang khề khà nhậu "sec" rượu mạnh với ông bạn già. Thú vui duy nhất ngoài đảo vắng này chỉ có thế, nếu muốn có một trò cờ bạc nào thì dịp Tết mới hoạt động mà thôi.

Loanh quanh không biết đi đâu, Hải và Đáng tìm được hai chiếc Honda và rủ thêm một bạn nữa. Anh bạn này bỏ học vào đất liền làm nghề thợ may, nay cũng về thăm nhà. Vậy là bốn thằng ma cà bông đèo nhau vượt 7 km đường ngoằn ngoèo, hết cát là đá, lại tối om, để đến xã Long Hải ăn kem. Vị kem mát lạnh và chất nước đá tan trong bình nước làm khoan khoái T. và Hải vốn quen những nhu cầu nước đá, tăm xỉa răng... từ lúc còn trọ học nay mới gặp lại. Trên toàn đảo chỉ có  ba nhà máy sản xuất kem. Một ở xã Tam Thanh, ăn dở như bột ướp lạnh. Và hai tiệm kế cận nhau ở xã Long Hải Đông này. Chuyện trò với vài người bạn xa cách đã lâu, cả bọn nghe nhạc chán, rủ nhau quay về. Hầu như dân chúng trên đảo đều quen biết lẫn nhau. Có nhiều nhỏi gì với dân số chỉ trên dưới 12.000 người. Đa số chuyên nghề đi biển, lấy vi cá, bắt mực, gỡ rau câu... Làm rẫy chỉ là nghề phụ. Họ cũng trồng được lúa, nhưng hoa màu chính trên đảo là bắp, kế đến là đậu (đậu xanh, đậu đỏ, đậu váng, đậu nàng, đậu mèo...) Máy phát điện đã tắt lúc 11 giờ đêm. Toàn đảo ngập trong bóng đêm thâm u. Nhưng ngoài khơi là hàng đèn của ngư dân "làm mực". Hải và Đáng tận tình giải thích những gì thắc mắc cho người bạn ở chốn đất liền. Bên ánh đèn dầu mù mờ cả ba ngưng đọc truyện để nghe Đáng kể về nghề làm mực.

Bây giờ chính là lúc biển êm gió lặng. Mùa làm mực bắt đầu. Làm mực nghĩa là đi câu hay lưới mực. Ngư phủ khởi hành lúc hoàng hôn với hai cây đèn măng xông và chỉ trở về khi trời bình minh không sử dụng được ánh đèn để dụ mực được mới thôi. Đến một vùng biển đã chọn, họ buông neo và đốt đèn. Một cái để soi treo trên ghe. Một cái cột chắc trên giàn nổi bằng phao ruột xe hay bằng "móp". Ánh sáng tỏa ra một khoảng, quyến rũ những con mực tò mò thích rong chơi. Người ta thả một sợi dây dài có buộc cục chì nhỏ ở đầu dây xuống biển. Kế tiếp cục chì là những mảnh vải chữ nhật bằng kim tuyến lấp lánh, cách khoảng đều với nhau. Người ta giựt nhẹ nhẹ... Vài con mực háu ăn bơi đến, nhởn nhơ không biết cạm bẫy và táp lấy mồi là mảnh vải kim tuyến. Một người nghe tiếng động, nhanh tay phăng sợi dây lên để người khác cầm cây vợt xúc chặn. Thường thì chặn ở phía đuôi mực, vì mực quen xịt nước và tống thân hình thụt lùi nhanh hơn là vọt mình về đàng trước. Công việc tuy dễ dàng là thế mà cũng rất công phu. Có thể mực vẫn thoát khỏi vợt xúc dễ dàng. Đôi khi mực lại cắn chặt mảnh vải gỡ không ra, hoặc chúng bị ghim dính bởi cây chĩa họ đâm hớ. Mùa "làm mực" bắt đầu từ tháng 6 dương lịch. Đến tháng 10 thì số thu hoạch ít dần và người ta có thể câu loại "mực thước" ban ngày. Đại khái các loại mực như:

– Mực thẻ: thịt ngon ngọt nhất.

– Mực ghim: đít của con mực hơi nhọn.

– Mực lá: loại này hay được muối nước đá tiêu thụ ở Sàigòn. Thịt dày, 2 bên có vè lớn bầu ra.

– Mực nang: còn tươi ăn ngon, phơi khô thì dầy.

– Mực thước: thân hình dài hơn một thước.

Chỉ có ở tận gốc mới mua được mực tươi rói để làm thức ăn. Hầu hết người ta phơi khô mực trên các gộp đá (cách này bất tiện khi có mưa) hay trên những tràng bằng tre đan hình vuông. Con mực đổi màu dần và quắt queo chờ ngày cân kí, tập trung lại rồi phân phối đi khắp nơi. Đa số dân miền duyên hải đều có "làm mực". Mực ngon có tiếng phải kể ở vùng Long Hương, rồi đến Phan Rí (đều thuộc tỉnh Bình Thuận). Năm nay vùng Bình Tuy trúng mùa. Lái buôn đổ xô về Bình Tuy để mua bán. Dân làm mực cũng mang tâm trạng như người đánh bạc, họ dồn nhau về vùng mực nhiều... Cho nên đôi lúc ánh đèn rực một khúc, một khúc trống tối... Cứ thế dẫy đèn nhấp nhô xa xa thay đổi tùy theo mực nhiều hay ít. Từ bờ nhìn ra chúng ta tưởng tượng một con lộ thắp đèn liên tục và thơ mộng... hay liêu trai như chợ ma trên Đông Hải.

Câu chuyện tới đây thì dứt. Hải thổi phụt ánh đèn dầu và dặn T. nhớ nhắc mình mai mang theo chai nước với cái ly từ nhà trong ra để tiện uống nước.

Tiếng trẻ nít chơi đùa líu lo như chim rừng đánh thức T. dậy. Dân đảo nói một thứ tiếng nửa Trung, nửa Miên. Khi họ nói nhanh hay chậm đều khó nghe. Họ nói chậm nghe gằn và nặng vô cùng. Dân "hòn" có khác!

Giếng nước trong vắt và dâng đầy theo nước thủy triều. Chưa quen xài nước giếng, T. súc miệng vẫn cảm thấy lờ lợ. Đáng mời hai đứa về quán nhà uống cà phê sữa. Mấy nhóc (em Đáng) xách tô đi mua bánh canh cá. Xui cho ba ông tướng ngủ trưa, bánh canh hết, ăn tạm mấy quả bắp luộc. Sáng nay xe Honda không có để đi núi, vì ba Đáng, ba Hải bận lấy đi làm việc ở công sở. T. và Hải trở về tảo thanh quần áo dơ. Chỉ một thoáng là quần áo được phơi trên dây làm bạn với hàng lớp khô cá cũng trơ với nắng mưa nằm vắt trên bờ tường đá. Lũ ruồi nhặng vo ve, tanh tưởi. Hải cũng chịu đựng cho quen, vì bà con cả, khó nói, sợ mích lòng. Hết  ra lại vô, T. nhìn Hải lăng xăng bán đồ bắt tức cười. Món gì cũng phải hỏi má, vậy mà cũng bày đặt giúp đỡ. Các tiệm tạp hóa trên đảo đều mang đúng nghĩa tạp hóa của nó. Đủ các đồ đi biển, chạy máy ghe, đuôi tôm, phụ tùng, xe đạp, Honda, đồ sơn, đồ sắt, đồ điện, đồ mộc, đồ hồ, thuốc Tây, thuốc Ta, vài vóc, đồ nấu, nhu yếu phẩm (gạo, củi, than, đường, đậu, nước mắm...), y như một tiểu siêu thị.

Trưa đó, mấy đứa tụ ở nhà Đáng ăn cơm, trò chuyện như bắp rang và khen các món cá biển, lâu ngày được bữa khoái khẩu. Cá ở đây tươi rói và giá rẻ. Loại ngon và đắt như cá bò (ăn giống thịt gà) chỉ độ khoảng 120đ một kí là cùng. Mỗi gia đình đi chợ hàng bữa không tốn tới 150đ, vẫn có cá kho, nấu... ăn thả cửa. Ở đảo không dùng mỡ heo, chỉ xài dầu tự chế biến hay mua dầu hộp. Heo, bò... có nuôi đấy, nhưng khi béo, lớn... họ chở vào đất liền bán tuốt luốt. Mùi vị "thịt mỡ..." chỉ xuất hiện vào dịp Tết khi họ rủ nhau chung thịt mà thôi. Thế nên những hạng người ở đây đã quá quen cá biển, không biết phong với ngứa là gì.

Ngày thứ nhì ở đảo. Chiều nay mới biết biển là gì. Biển đủ màu xanh từ đậm tới lợt, phản ảnh của đáy là lớp cát, san hô, hay đá ngầm ở dưới. Giờ này một số ghe đi biển chưa về. Mỗi chuyến đi họ kiếm được trên trăm ngàn. Chưa kể đã khấu trừ chi phí linh tinh như thức ăn, nước uống đem theo 2 thùng phuy dầu gasoil mà giá đến 11.000đ 1 thùng... Chẳng trách khi gặp vài ông hàng xóm đang sửa chữa ghe cho chuyến đi sắp đến chê tụi này:

- Mấy đứa bây, tụi "say sóng" hả? Con trai bây lớn đi biển hết ráo. Tụi bây lại tắm biển nữa, lạ không!

Mấy đứa đành cười xòa, đánh trống lảng và hỏi ông mấy chuyện cá, chuyện biển. Mà quả đúng như vậy, chỉ còn trẻ con và ông già bà lão với phụ nữ là ở nhà. Nhưng họ nào ở không. Ho chăm sóc rẫy bái, trở khô, khi ghe về thì xúm lại lấy vi, lột da xẻ thịt. Khi nước cạn (khoảng mỗi đầu tháng âm lịch) để trơ những bãi san hô, họ đi gỡ rau câu, nhặt ốc... Cuộc sống bận rộn với những cối bắp hay gạo hằng bữa. Đôi khi cối đá được dùng giã rau câu cho rơi san hô và sạn sỏi bám trong rễ. Chẳng cứ gì người lớn, trẻ em giúp nhau, bỏ từng nắm bắp hay trở mớ rau câu vào cối, đầu kia một em nhún lên nhún xuống trên cần dài của cái chày gỗ. Một số em đem gùi đi kiếm đồ về chụm. Nghĩa là mọi thứ gì khô có thể dùng đốt lò được như cây, lá, bắp, lá và rễ cây bồn bồn, lá và trái dứa dại (pandanaceae), vì cây củi trên đảo rất hiếm, không có cây loại cổ thụ nào đáng kể cả. Đảo vốn do hỏa nham thạch lâu năm biến đổi trồi lên giữa biển, phần lớn trên đảo người ta gặp rải rác loại đá huyền vũ. Đá này hủy hoại cho những lớp đất trồng hoa màu phụ rất tốt, tốn ít công chăm sóc và chỉ cần những trận mưa hiếm hoi vẫn có thể tươi xanh. Đảo không có những điều kiện sinh sống như đất liền ; như các đảo khác tách ra từ đất liền (các đảo vùng IV) nên dân chúng rất cần cù nhẫn nại, luân canh, không bỏ phí 1 tấc đất nào. Trời cũng giúp người, nên mặc dù không sông suối chi, đâu đâu người ta cũng có những giếng nước khá trong và ngọt. Cuộc sống êm ả cứ bình thản trôi, dân trên đảo không hề biết đến súng đạn với chiến tranh gieo sầu là gì từ non thế kỷ nay. Ở đảo cũng có tổ chức hành chánh y như đất liền. Vì đảo trước thuộc quận Hàm Thuận, sau năm 1970 được xáp nhập vào quận Tuy Phong, đều nằm trong tỉnh Bình Thuận. Hiện thời có một cơ quan hành chánh đại diện cho cả ba xã, đó là nha phái viên, đặc phái từ đất liền ra. Ngoài ra xã trưởng, tổng thư ký, cuộc trưởng cảnh sát, trưởng ấp, cán bộ xã hội, y tá v.v... đều là dân trên đảo. Có muốn đổi ai ra vùng đảo họ cũng không muốn. Đối với dân đảo đã sinh ra và sẽ chết ở đảo, đều yêu lấy quê hương chơ vơ, không đủ tiện nghi giữa trời nước bao la này, chớ không như dân phương khác tự coi như đi tù mới ra chốn ấy. Hầu hết dân đảo đều đi biển cùng buôn bán hải sản. Nơi đây sản xuất vi cá nhiều nhứt. T. và các bạn thôi ngâm nước dò dẫm tránh san hô cắt chân để tiến lại mé bãi xem xẻ cá. Có những con cá mập to gấp hai, ba người nằm phơi thân hình đồ sộ. Lại có chú cá đuối lớn hơn hai, ba mặt bàn nhập lại bềnh bồng theo sóng vỗ sát bãi. Đa số là cá mập mắc câu. Cá mập là loại cá sụn, chỉ có một lõi xương sống, tuy vậy chúng rất dữ dằn, ăn tạp, tấn công ghe thuyền, đồng loại và cả cá voi. Nếu mổ ruột chúng ra (cho khỏi thúi) trong khi còn lênh đênh chưa về bến kịp, ngư phủ gặp thịt cá ông (cá voi) sẽ liệng bỏ cá ngay. Họ vẫn còn tin cá ông là thần Nam Hải, không dám xúc phạm đến. Ngư phủ săn giết ráo cá mập, khai thác vi cá. Thịt cá mập ăn không ngon, chỉ có cách xẻ làm khô, nhưng bộ da, bộ vi với những sợi cước bên trong quý và bán có giá vô cùng.

Người mình lại kém chế biến trong các món ăn như người Trung Hoa, nên đa số vi cá được bán tận Chợ Lớn, dư dùng họ lại xuất cảng ra nước ngoài. Chúng ta có thể gặp vi cá trong một vài bữa cỗ, tiệc cưới... với tên rất văn hoa, hay trong bánh dẻo, bánh nướng dịp Tết Trung Thu. Phần lớn cá lấy vi thuộc loại cá mập mà T. tìm hiểu được như:

– Cá nhọn: Loại này thường, dễ câu, mỏ cá nhọn, đầu vi có chấm đen. Bộ vi con lớn nhất có thể bán được khoảng 12.000 đ (thời giá năm 1973).

– Cá cào: Tiếng gọi của dân địa phương, trong sách vở mang tên là cá mập búa.

– Cá bống: Da hơi hơi trắng.

– Cá khơi.

– Cá bung.

– Cá bẻo: Loại này hung hăng nhứt, tấn công và ăn bất cứ gì chúng gặp dù lớn nhỏ hơn nó, da có vằn.

– Cá nhám chuối: Thịt ngon nhứt, trái lại bộ vi rẻ rề, khoảng 5 hay 6 trăm một bộ mà thôi.

– Cá giống: (Cá mẹ của cá dót), bộ vi mắc nhất, thịt cá con (cá dót) cũng khá ngon. Một con cá giống thật lớn bộ vi có thể lên đến gần 50.000đ... Giá bán một bộ vi cá gốm đuôi, vi, ngạnh... có thể từ vài trăm, 4.000đ đến 50.000đ, nghĩa là còn tùy theo loại cá trong vi có cước nhiều hay ít và tùy theo cá lớn hay bé. Và cũng còn tùy theo giá cả thị trường. Biển động, không có cá, không có vi, thì giá gia tăng, Vi phơi khô sẵn, cân kí, sẽ mắc hơn vi còn tươi vừa cắt bán liền. Vi đã rút sợi cước ra từng bộ còn mắc hơn. Ngư phủ đánh cá, lấy vi, thường bán ngay cho chủ vựa nhiều vốn. Họ chỉ cần tiền để trang trải chi phí và lại tiếp tục ra khơi chuyến khác. Đôi lúc thị trường vi cá ối đọng, chủ chứa lỗ nặng không biết chừng. Con cá mập nằm tênh hênh khoe hàm răng nhọn hoắt, trắng hếu. T. bật cười nhìn đàn trẻ hò dô ta đẩy con cá trụi lủi lên bờ cát mịn. Để lát nữa đây cả nhà chúng xúm lại lấy tiếp bộ da, xẻ từng miếng thịt dài như những miếng thịt ba rọi (heo) bày bán trên thớt thịt của chợ ở đất liền. Họ không phí phạm miếng thịt nào, trừ những vụn dính ở xương hàm, vứt cho lũ chó đang xum xoe chạy tới chạy lui. Lũ chó thản nhiên rượt bắt nhau, xô cả xuống biển, chúng không hấp tấp như lũ ruồi nhặng, vo ve, đáp xuống chỗ thịt xương thừa, hay trên những miếng gan cá to hơn cái bắp chuối nào to nhất. Họ bỏ bừa bãi, mặc thủy triều kéo hộ ra khơi. Trước có vài người chuyên đi nhặt gan cá nấu dầu, nhưng nay họ đã bỏ vào đất liền làm nghề khác. T. và Hải bàn nhau:

- Hay tụi mình nhặt bỏ một xó, chờ mùa Nam (gió nồm) vớt thêm mớ rong lá hẹ, trộn làm phân bón cây, tốt đất vô cùng. Mà thôi vui chơi mấy bữa hè cái đã, chuyện đó để người lớn lo.

Cá xẻ xong, đem phơi ngay, hai nắng là khô chất nước, nhường chỗ cho loại cá tươi khác. Cứ thế khô cá phơi dậm thêm đến lúc cứng còng và quắt queo như khúc củi khô, chờ giờ tiêu thụ ở thị trường khô cá, khô mực...

Tắm lại bằng nước giếng xong, Hải rủ T. đi dọc theo bãi bể. Mọi người nhìn bốn đứa kỳ dị với cái máy hình và mấy bọc nylon cầm ở tay. T. cũng nhìn mấy bà và trẻ em dị kỳ với cái gùi họ đeo trên lưng. Trong khi bốn đứa bước sì sụp nhặt ốc, cầu gai, sao biển, nhím biển... thì họ chăm chỉ tìm gỡ rau câu. Dân đảo đi chợ, đi rẫy, hay đi nhặt rau câu, đều dùng gùi, không quen dùng giỏ xách. Họ mầy mò gỡ từng chút rau tre (hình dáng tương tợ cây tre), rau sói (giống rau tre nhưng cọng nhỏ hơn), rau sa (ngon và mắc nhứt), rau đá (hình dáng giống miếng đá trải ra như bàn tay), hay một loại rau tên địa phương hơi tục vì đặt tên theo hình dáng là rau lông dái... Tất cả các loại rau câu trên khi nấu với đường để ăn cần phải lược, trừ rau đá dễ tan và dễ nấu nhất.

_________________________________________________________________ 
Xem tiếp PHẦN II

(Trích tuần báo Thiếu Nhi các số 111, 112, 113, 114)

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


Thứ Ba, 11 tháng 6, 2019

HÙNG KHÍ DIÊN HỒNG - Nhật Tiến



Dưới thời Trần Nhân Tôn (1279-1293), Vua Mông Cổ tự ý phong Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương rồi sai sứ giả Sài Thung thống lãnh 1000 quân đưa về nước. Nhưng khi đến cửa Nam Quan, Sài Thung bị bắn mù một mắt chạy về Tàu.

Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mông Cổ vì thế bùng nổ lần thứ hai. Vua Trần Nhân Tôn bèn triệu tập các bô lão tại điện Diên Hồng để bàn xem nên hòa hay nên chiến.

Kể từ đó, hùng khí Diên Hồng ngùn ngụt dâng trào, chiếu sáng rực rỡ suốt gần một ngàn năm lịch sử biểu dương ý chí sắt đá hào hùng của các bậc anh hùng tiên liệt...

Y PHỤC:

- CÁC VỊ LÃO ÔNG, THẦY KHÓA: Khăn đống, áo dài (đen hoặc gấm), quần trắng.

- 2 NGƯỜI KHIÊNG CÁNG: Quần áo bà ba đen hay nâu, quấn khăn đầu dìu.

- LÍNH GỌI LOA: Áo nẹp, nón lá, quần xà cạp.

DỤNG CỤ:

- GẬY: cho các lão ông.

- QUẠT GIẤY: cho Thầy khóa.

- LOA, GIẤY CÁO THỊ: cho lính gọi loa.

- ĐÒN, VÕNG (bằng chăn dạ): cho 2 người khiêng cáng.

- BĂNG, THUỐC ĐỎ: Cho Lão ông III bị thương tích.

- RÂU: Các em lấy loại dây cột đồ bằng nilon để trắng (nếu làm râu bạc), bôi mực đen (nếu làm râu đen), rồi tước ra thành nhiều sợi nhỏ gắn trên một gọng bằng dây thép, có thể đeo lên cằm.

(Mở màn, sân khấu không có người. Lính gọi loa vào trước. Một tay cắp xô hồ và chổi. Một tay cầm tờ cáo thị và cái loa. Đặt đồ lề xuống, phất hồ lên tờ cáo thị rồi dán lên bảng. Khán giả nhìn thấy một tấm giấy chữ Nho lớn, đóng triện đỏ).


LỚP I
Lính gọi loa

LÍNH (giơ loa lên gọi theo điệu bài hát HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG): Toàn dân nghe chăng, Sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên hòa hay chiến?

(Toàn thể khán giả): QUYẾT CHIẾN.

LÍNH: Toàn dân nghe chăng, Sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên hòa hay chiến?...
 

(Toàn thể khán giả): QUYẾT CHIẾN.

Giọng của lão ông I la lên: Trời... trời... Sao lại quyết chiến... Sao lại quyết chiến... Tôi chủ trương hòa. Có hòa mới sống được (Giọng nói kéo dài từ lúc nhân vật này đi từ hàng ngũ khán giả lên tới sân khấu).


LỚP II
Lính gọi loa. Lão ông.

LÃO ÔNG: (Phân bua với khán giả)

Thế giặc hùng mạnh như chẻ tre, đi đến đâu ào ào như phong ba bão táp, Toa Đô như hùm, Thoát Hoan như cọp, đường bộ thì Khả Ly thất thủ, Lộc Châu tan nát, Kinh Bắc đang sửa soạn quằn quại kêu thương, đường thủy thì Toa Đô như kình ngư quẫy nước, như thác đổ về nguồn, hạm đội Triều đình tan nát như lá tre trước gió, tình thế như vậy mà không cầu hòa là mang lấy họa diệt vong!

Lính gọi loa: Toàn dân nghe chăng, Sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên HÒA hay CHIẾN?...

LÃO ÔNG I: (Quay lại dậm chân):

Biết mình biết người, trăm trận đánh, trăm trận thắng... Các ông là người của Triều đình, các ông phải thấy cái thế của ta với giặc là cái thế châu chấu đá xe, cái thế trứng mỏng chọi với đá nghìn thu. Nay chủ trương chiến đấu là đem muôn dân vào vòng khói lửa, nhà sẽ tan, cửa sẽ nát, giang sơn cẩm tú này sẽ điêu tàn dưới sức mạnh giông bão của Thiên Triều. Tôi phản đối! Tôi phản đối!...

(Quay lại khán giả) Có ai đồng ý với lập trường của tôi không?

(Thầy khóa ở trong hàng ghế khán giả): Tôi! Tôi đồng ý!... (Chạy lên sân khấu).


LỚP III
Lính gọi loa. Lão ông I. Thầy khóa

LÃO ÔNG I: A! Thầy khóa!...

THẦY KHÓA: Dạ... Tiểu sinh xin kính chào lão ông!

LÃO ÔNG I: Ừ! Thầy là kẻ có học, đọc rộng hiểu nhiều, biết lẽ tới lui. Ngày xưa Hai Bà Trưng cũng chỉ vì không tự lượng sức mình mà phải trầm mình nơi sông HÁT. Thứ Sử LỤC DẬN sức mạnh là bao so với quân Thiên Triều hiện tại mà Triệu Nữ Vương cũng phải tự hủy BỒ ĐIỀN. Rồi từ thời thuộc Nam Triều, Bắc Triều, đến Nhà ĐINH, LÊ, LÝ có bao giờ dân tộc nhỏ bé chúng ta không chịu thần phục. Thần phục để mà hòa. Hòa để mà yên ổn, hòa để mà lấy an cư lạc nghiệp, hòa để mà thiên hạ thái bình, cái lý lẽ sống còn đó lẽ nào có kẻ lại u mê không thấy được.

THẦY KHÓA: Lão Ông dạy chí phải. Những lời Lão Ông vừa phát biểu thật là của một người từng trải, biết lo cái lo của dân, biết sợ cái sợ của dân, biết tránh những điều mà dân muốn tránh... Tiểu sinh xin bội phục... Bội phục...

(Thêm Lão Ông II, lom khom bước ra)


LỚP IV
Thêm Lão Ông II.

THẦY KHÓA: Xin kính chào Lão Ông...

LÃO ÔNG II: Ai như thầy khóa đấy phải không?

THẦY KHÓA: Dạ, thưa Lão Ông chính phải.

LÃO ÔNG II: Kìa, ai như có phải Lý đệ đó không?

LÃO ÔNG I: Xin kính chào Lão huynh.

LÃO ÔNG II: Các người làm gì ở đây mà bàn luận có vẻ tương đắc như vậy?

LÃO ÔNG I: Kìa! Có Lệnh Triều Đình truyền tất cả các Bô lão đi họp tại Điện DIÊN HỒNG để quyết định, Hòa hay Chiến. Lão huynh không biết sao?

LÃO ÔNG II: Có... Có... Tôi thấy mấy cháu ở làng trên mới về cũng đang xôn xao vì vụ đó...

LÃO ÔNG I: Làng trên gì. Chiếu chỉ của Thiên Tử đã về tới đây rồi. Lão huynh không thấy sao? (Chỉ lên bảng)

LÍNH GỌI LOA: Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên hòa hay chiến...

LÃO ÔNG II: Quyết chiến!... Quyết chiến!...

LÃO ÔNG I: Ý trời đất ơi!... Lão huynh đã suy nghĩ kỹ càng chưa mà tuyên bố như vậy?

LÃO ÔNG II: Lý Đệ! Lý đệ nói cái gì tôi không hiểu. Thế nào là suy nghĩ kỹ càng mới lại không kỹ càng?

LÃO ÔNG I: Phải! Tôi nói là phải suy nghĩ kỹ càng trước khi quyết định hòa hay chiến. Vận mệnh của cả một dân tộc nằm trong có hai chữ đó chớ không phải chuyện chơi.

LÃO ÔNG II: Đúng lắm! Cả vận mệnh dân tộc nằm có trong hai chữ đó, ai dám nghĩ là chuyện chơi. Nhưng Lý đệ có am hiểu tình hình nước nhà trong mấy thời gian gần đây không?

LÃO ÔNG I: Tôi rất quan tâm đến thời cuộc, nên vẫn nghe ngóng thường xuyên.

LÃO ÔNG II: Sài Thung bị bắn mù một mắt khi vừa qua cửa Nam Quan, Lý đệ biết chứ?

LÃO ÔNG I: Dạ, biết chứ. Đó là một sai lầm lớn về ngoại giao của Triều Đình ta.

LÃO ÔNG II: Hừ! Lý đệ thật nông cạn. Một vấn đề quan trọng đến như thế mà đưa ra lời nhận định thật là viển vông. Này Thầy Khóa, thầy có biết vì lý do gì ta bắn mù mắt của Sài Thung không?

THẦY KHÓA: Dạ, trình Lão Ông, theo thiển kiến của tiểu sinh thì bởi vì triều đình ta không chấp nhận Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương theo lệnh của triều đình nhà Nguyên.

LÃO ÔNG II: Hà... Hà... Bảo vệ danh dự của Quốc gia dân tộc mà gọi là lỗi lầm về ngoại giao sao Lý đệ?

LÃO ÔNG I: Bảo vệ lấy danh dự nhưng nhà chẳng còn, nước cũng mất, dân bị tiêu diệt. Cái danh dự đó há chẳng phải là phù phiếm, không thực tế sao?

LÃO ÔNG II: (Giận dữ) Bớ Lý Đệ! Lý Đệ muốn dân tộc này muôn đời trở thành nô lệ, cúi đầu thần phục ngoại bang như loài chim muông cầm thú. Sao mà Lý đệ mở miệng ăn nói càn rỡ như vậy?

LÃO ÔNG I: (phân trần) Không phải như vậy. Nhưng ở đời phải biết lẽ phải chăng. Giặc mạnh thì ta lùi, giặc suy thì ta tới. Nay thế giặc mạnh như chẻ tre, đi đến đâu cũng gieo tang thương, tàn phá đến đó. Chủ hòa là làm dịu xuống cái họa diệt vong, còn chủ chiến là đổ thêm dầu sôi vào lửa bỏng. Lão huynh muốn cái giang sơn cẩm tú này nát bấy dưới gót giầy tàn bạo của binh lính Thiên Triều sao?

LÃO ÔNG II: (Cười gằn) Này Thầy khóa. Thầy là người vẫn từng sôi kinh, nấu sử. Thầy thử cho tôi biết có một dân tộc nào đớn hèn, nhu nhược mà lại ngồi yên tọa hưởng được thái bình, an lạc hay không?

THẦY KHÓA: Dạ... Trình Lão Ông... Sách Thánh hiền đã dạy Dân hưng thì nước thịnh. Dân nhược thì nước suy. Bởi thế Quốc Gia hưng vong thất phu hữu trách...

LÃO ÔNG II: Ha... Ha... Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu trách. Thời kỳ nguy khốn này đã phải là lúc đem lại hưng vong cho đất nước hay chưa? vả lại, Lý đệ tưởng rằng cái thế cuộc hiện tại này cứ chủ hàng là có thái bình yên ổn đó sao? Ha... Ha... Tôi không ngờ Lý Đệ lại nông cạn, hẹp hòi đến thế. Lý Đệ phải hiểu rằng, nước  Nam của ta tuy nhỏ bé nhưng lại là một miếng mồi ngon của Phương Bắc. Dã tâm xâm lược của họ đã bộc lộ rõ ràng triền miên trong suốt dòng lịch sử của dân tộc, không những ngày xưa, bây giờ, và mãi mãi còn ở cả thế hệ mai sau. Cho nên đừng nói tới chuyện cầu hòa. Vậy chỉ còn một lối thoát cuối cùng là đánh, đánh đến cùng, đánh để tự vệ, đánh để thà chết vinh còn hơn là sống nhục nhã trong nô lệ, gông cùm...

(Trong khi ấy 2 người khiêng cáng Lão Ông III đi ra)


LỚP V
Thêm 2 người khiêng cáng và Lão Ông III

NGƯỜI KHIÊNG I: Chúng cháu xin kính chào các cụ. Xin các cụ chỉ cho chúng cháu lối nào lên Kinh Đô đây?

LÃO ÔNG II: Các Ông không phải người vùng này sao mà lại không biết đường tới Kinh Đô...

NGƯỜI KHIÊNG II: Trình Lão Ông, không phải. Chúng cháu ở rất xa, mãi ở vùng Lộc Châu mới xuôi về đây ạ.

LÃO ÔNG I: Ủa!... Mấy bác ở Lộc Châu về, có nghe tin tức gì không?

NGƯỜI KHIÊNG I: Ôi!... Đau thương, thê thảm kể làm sao cho xiết... Quân Nguyên đi đến đâu tàn phá đến đó. Chúng gặp người giết người, gặp của cướp của,. tiếng kêu than uất ức của dân lành kêu thấu đến tận trời xanh.

LÃO ÔNG I: Ha... Ha!... Lão huynh đã thấy chưa... thật chứng nhân rành rành trước mắt. Tôi đã bảo là sức mình chỉ là châu chấu đá xe, trứng để đầu đẳng. Còn đánh còn thua. Còn đánh còn chết chóc dân lành. Còn đánh muôn dân còn đồ thán. Thôi, cứ xin hòa quách là yên chuyện.

LÃO ÔNG III (Nằm trong cáng, mình mẩy băng bó khắp chỗ bỗng bật dậy hét lên). Ai thế? Đứa nào thế... đứa nào mà mở mồm ra toàn những  lời vong quốc, nhục mạ anh hùng tiên liệt như vậy...

LÃO ÔNG I: Ơ... Ơ... Lão này gì kỳ lạ không...

LÃO ÔNG III: Kỳ lạ cái gì? Cái miệng mi mới là thốt ra những lời kỳ lạ. Thời cuộc này, tình thế này, hoàn cảnh này, đầu hàng là chết mi hiểu chưa. Như lão đây mới ở vùng địch chiếm về, mắt lão thấy biết bao nhiêu cảnh dã man tàn ác, đàn bà, con trẻ bị chặt đầu phơi trên dáo mác, đàn ông, con trai phải xếp hàng trước hố sâu để bị chôn sống tập thể, nhà tan, cửa nát, máu chảy thành sông, oán hờn chất cao như núi, đến như lão đây cũng bị giặc hành hạ cho đến thương tích đầy mình. Tình cảnh thê lương, uất ức như vậy làm sao mà hòa? Làm sao mà hòa?

LÃO ÔNG I: Phải hòa vì không thể đánh. Đánh với giặc thì quân ở đâu? Hậu thuẫn ở đâu mà đánh được lâu dài?

LÃO ÔNG III: Cái nỗi hờn căm uất ức của kẻ tự vệ nó làm hậu thuẫn cho cuộc kháng chiến lâu dài. Đó là hồn nước kết tụ bởi bao truyền thống anh linh tiên liệt. Còn quân đâu? Ôi chao! Những hạng như thầy khóa này còn chờ gì mà không sửa soạn tòng quân. Ta đi qua một giải đồng bằng từ LỘC CHÂU về KINH BẮC, đâu đâu thanh niên cũng náo nức về chuyện bỏ sách vở tham gia chiến đấu, còn các cụ già thì xôn xao về hội nghị Diên Hồng. Thiên Tử đã có định kiến là chiến đấu đến cùng. Nhưng còn muôn nhân tâm, muôn người như một nên mới mở ra hội nghị tại điện Diên Hồng... Bình sinh cả triệu người mà ta gặp, chưa ai mở miệng nói là nên hàng như dân chúng ở đây cả.

LÃO ÔNG II: Xin lão huynh đừng nóng giận. Đó mới là ý kiến của mình Lý đệ và thầy khóa ở đây thôi. Chớ còn lòng dân sở tại thì bừng bừng sát khí, chúng tôi ai cũng đều chủ trương phải chiến đấu để bảo vệ đất nước cả.

THẦY KHÓA: Xin quý vị lão trượng vui lòng bớt giận. Tiểu sinh từ nãy nghe những lời vàng ngọc của quý vị nên đã sáng mắt ra rồi. Tiểu sinh quyết từ bỏ sách đèn để tòng quân giết giặc.

NGƯỜI KHIÊNG CÁNG I: Tôi cũng vậy. Tôi làm xong nhiệm vụ đưa lão trượng đây tới điện DIÊN HỒNG họp hội nghị rồi tôi cũng tòng quân.

NGƯỜI KHIÊNG CÁNG II: Dễ thường tôi thua các bác đó phải không. Tôi tuy ít học, không được tới cửa Khổng, sân Trình, nhưng cũng được gia nghiêm dạy cho mấy câu "Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách".

LÃO ÔNG III: Hay lắm! Hay lắm! Thôi ta liệu lên đường cho kịp. Chỉ còn hai ngày nữa hội nghị Diên Hồng khai mạc rồi... (trèo lên cáng).

LÃO ÔNG II: Cho đệ đi theo với...

LÃO ÔNG III: Đi!... Đi!...

(Tất cả mọi người đi 1 vòng sân khấu hay lửa trại. Lão ông I đứng tần ngần một lát cũng vùng lên chạy theo): Cho tôi đi với!... Cho tôi đi với...

LÍNH: Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng... nên hòa hay chiến...

CÁC NHÂN VẬT: QUYẾT CHIẾN!

Hậu trường đồng ca bài nhạc hùng HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG!


NHẬT TIẾN      




(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 9, ra ngày 10-10-1971)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2019

CON TÀU TRÊN BIỂN - Thiều Quang


Lão hói gục đầu suy nghĩ: Lão muốn chàng thanh niên nhà giàu ngồi trước mặt lão kia lên chiếc du thuyền của lão lắm.

Hàng lông mày rậm trên đôi mắt cú vọ gian hùng của lão hói cau lại. Lão đang tìm một mưu kế để dụ chàng thanh niên đang ngồi trước mặt lão xuống tàu.

Trong khi lão cố moi đầu óc thì chàng thanh niên kia bỗng nói:

- Tôi e chiếc "Rita" cũ kỹ này của ông sẽ không đủ sức chạy lâu trên mặt biển và rồi nó sẽ chết máy giữa biển để cho những ngọn sóng tử thần kia kéo nó chìm sâu xuống đáy biển!

Lão hói quay đầu nhìn ra biển, những ngọn sóng bạc đầu đang la hét, gầm thét chạy xô vào bờ. Chiếc "Rita" cũ kỹ đang chòng chành như muốn lật úp, lão đặt tay lên chiếc ca-nô cũ kỹ đó và nói ngay:

- Không đâu, chiếc này đủ sức mà! Anh cứ tin chắc đi, tôi bảo đảm đàng hoàng!

Chàng thanh niên cười:

- Bảo đảm hay đảm bảo gì, khi đó dù ông có bồi thường bao nhiêu tiền tôi cũng không sống dậy nữa để mà hưởng!

Lão giả bộ làm cao nói:

- Thì thôi! Anh cứ đi tìm chiếc khác mà thuê, ở đây tôi đã rút giá tiền xuống ít hơn những tàu khác còn gì nữa!

Nhưng chàng thanh niên nói:

- Thôi được! Với giá 500 cents đi tới Eđinburgh. Nhớ nhé!

Lão hói đáp:

- Tốt! Bây giờ khởi hành chứ?


Chàng thanh niên nói:

- Khoan! Còn em tôi nữa, nó sắp tới!

Lão hói hơi thất vọng, song lão tỏ ra bình tĩnh như không:

- Được tôi sẽ chờ em cậu!

Lão đổi chàng thanh niên từ "anh" xuống "cậu" để được thân mật hơn. Chàng thanh niên có lẽ cũng nhận ra điều đó nên khẽ mỉm cười.

Vài phút sau, một chiếc xe song mã lọc cọc xuống bến, nó chạy được một quãng thì dừng lại bởi bờ biển nhiều  cát quá, con ngựa già cúi đầu thở khìn khịt.

Người xà ích ở trong xe nhảy ra quất túi bụi vào lưng con vật khốn nạn, nó rít lên đau đớn rồi cào bốn vó cố kéo chiếc xe lết trên mặt cát.

Khi chiếc xe song mã lại gần, một thanh niên khác trông trẻ hơn thanh niên này từ trong xe nhảy xuống, anh ta kêu lên:

- John! Anh đã thuê được tàu đi Edinburgh chưa?

- Rồi Bob à. 500 cents từ đây tới đó!

- Rẻ nhỉ! Sao anh thuê cái tàu cũ kỹ thế này?

John, tên người anh, đáp:

- Hết tàu! Mấy chiếc kia đều có khách cả rồi!

Và trong khi cả hai lúi húi vác đồ đạc của họ lên tàu thì lão hói cho xăng vào bình. Sau khi khuân hành lý lên tàu xong xuôi, John trả tiền cho người xà ích rồi leo lên tàu.

Lão hói mở máy, một mình lão trong phòng hoa tiêu, chiếc "Rita" rùng mình rồi rè rè rẽ sóng lướt đi.

John và Bob ra ngoài trên sàn ca-nô. Nó tương đương với một con tàu nhỏ, cũng có boong, chỗ hóng gió đàng hoàng.

Bỗng tiếng John hỏi Bob làm lão hói giật mình:

- Em đã lãnh mandat của ba gởi ra chưa?

- Rồi! Em định lãnh tiền ngay nhưng anh bảo đến Edinburgh hãy lãnh nên em còn đem theo mình đây!

Lão hói mừng khôn xiết, lão toan làm tiền hai anh em này bằng cách khác, bây giờ nghe Bob nói, lão vừa nghĩ ra một kế thật tuyệt diệu. Lão vừa chăm chú lái, vừa theo dõi câu chuyện của hai anh em. John hỏi:

- Em định lãnh tiền ở đâu?

Bob đáp:

- Nhà băng Edinburgh chứ đâu!

John nói:

- Tốt lắm! Chúng ta sẽ có những cuộc vui chơi thỏa thích tại Edinburgh.

Bob nói:

- Ba thì ở London! Má thì ở Edinburgh. Thật là một phương trời xa cách, em cảm thấy hơi buồn!

Lão hói cười thầm:

- Buồn hay vui gì thì chúng mày cũng sắp chết đến nơi rồi, đừng hòng thoát tay lão già này!

Và lão gật gù cái đầu hói gần như trọc, cười thầm một mình.

Tàu chỉ chạy với tốc độ tối đa 50 hải lý một giờ nên anh em John có vẻ sốt ruột. Cả hai luôn luôn nhìn xuống đồng hồ xem giờ.

Gió mát rượi thổi tạt vào mặt John và Bob làm cả hai khoan khoái.

*

Khoảng 6 giờ chiều...

Chiếc "Rita" vẫn lướt sóng đều đều làm John và Bob sốt ruột. Bỗng Bob nói:

- Sao mọi lần đi, em thấy tới Edinburgh mau lắm mà bây giờ cả 3 giờ rồi sao chưa tới? Và phong cảnh trên bờ có vẻ khác lạ?

Lão hói nghe thế, nói:

- Không đâu cậu ơi! Chiếc "Rita" này chạy chậm lắm, nên tôi mới lấy 500 cents thôi! Chứ còn những chiếc tàu khác tối tân hơn họ lấy đến 1.000 hay 1.500 cents chứ chẳng chơi!

John chép miệng:

- Chán quá! Tiếc rằng không có tàu khác chứ nếu 2.000 cents tôi cũng chịu đi!

Lão hói cười:

- Thì cậu giầu mà! Chỉ có trường hợp bất đắc dĩ lắm các cậu mới đi tàu này chứ gì?

Nói xong lão hói bật cười to lên hô hố đầy vẻ bí mật và hăm dọa.

Bỗng Bob nhìn sang hai bên bờ chàng chỉ thấy toàn là màu nước biển xanh rờn chẳng thấy bờ biển đâu nữa, chàng ta hốt hoảng la:

- Chết lộn rồi ông già ơi! Bao giờ tàu cũng chạy ven biển và tôi đều thấy bờ biển, sao ông rẽ lối nào mà hai bên đều đều một màu nước xanh rờn thế này?

Lúc ấy, lão hói mới bật cười lên hô hố, lão la to:

- Hỡi hai cậu nhỏ ngu si kia ơi! Các cậu có biết các cậu đang bị lừa đưa vào hang hùm hay không?

Bob ngạc nhiên hỏi:

- Sao, ông nói gì?

Lão hói đáp to:

- Ta đang đưa các cậu ra đảo Hải-Điểu đấy! Nơi đó đã có đồng bọn ta chờ sẵn! Ha ha! Sở dĩ ta phải ăn bận rách rưới và sắm chiếc tàu cũ kỹ này để che mắt thế gian. Thỉnh thoảng, những nhà giàu lọt vào tay ta là được mang ngay tới đảo Hải-Điểu. Vài tháng sau dù nhà chức trách có điều tra, họ cũng ít nghi ngờ ta, vì ta ít rước khách lắm. Ngoài những vụ bắt cóc kể trên, ta còn làm nghề bắt người đem bán cho ngoại quốc nữa! Vì vậy hiện giờ ta có một số vốn kha khá để làm việc khác. Ha ha ha!

Thôi trước khi chết ta cho các cậu biết để mà hối tiếc, hối tiếc đã lên tàu ta. Chết xuống âm phủ đừng trách ta nhé!

Nói xong lão lại bật cười to hơn trước, tiếng cười ngạo mạn khinh thị.

Hiểu hết được sự thật, John tức muốn điên lên được, chàng lồng lộn nhưng không làm sao vào phòng máy của lão hói được vì lão khóa cửa cẩn thận, còn những tấm kính bao quanh phòng lão đều dày cộm và là thứ lính ngăn đạn.

John không vào được đành hậm hực đứng nhìn lão hói điều khiển tàu. Lão nói:

- Khi trở về đảo, các chú sẽ bị thủ tiêu tung tích bằng cách mang sang một đảo khác, giao cho bọn buôn người quyết định.

Bob thì bình tĩnh hơn John, chàng kéo John ra đằng trước boong tàu khẽ nói:

- Mình ngu quá! Mình đã nói chuyện với nhau, vô tình tiết lộ cho nó biết tấm mandat của ba gởi!

John khẽ gật đầu, nhưng chàng cũng nói thêm:

- Nhưng nếu ta không giàu nó cũng bán ta cho lũ buôn người, số mình khốn nạn thật.

Bob năm tay cương quyết:

- Dù thế nào mặc lòng! Em cũng phải chiến đấu tới cùng và nếu lọt vào tay địch thủ thì em thủ tiêu luôn tấm mandat cho nó tiếc!

Sực nghĩ tới tấm mandat John đau lòng khôn xiết. Chàng sực nghĩ tới mẹ ở Edinburgh, chàng tức giận chạy thẳng đến chỗ lão hói xỉ vả không tiếc lời.

* 

Khoảng 8 giờ...

Con tàu cũ kỹ rẽ sang một phía, trước mặt tàu là một hòn đảo lù lù, trên đảo cả hai thấy ánh đèn chớp.

Lão hói khôn lắm, lão không cho tàu rẽ vào đảo mà vòng ra ngoài bấm một hồi còi làm hiệu: Toe! Toe! Toe!

Từ sau đảo một chiếc tàu khác từ từ xáp tới, hàng chục tên cướp lực lưỡng nhảy sang, chúng hỏi lão hói:

- "Quà đây hả"? 

Lão hói gật đầu. Bọn cướp ào tới toan bắt trói anh em John, họ kháng cự mãnh liệt.

Bob xách cái cặp có tấm mandat toan liệng xuống biển liền bị hai tên to lớn tóm lấy. Chúng giật cái cặp của Bob và dùng dây quàng qua bụng chàng toan siết lại thì Bob dùng hết sức vùng mạnh, đá hậu một cái vào bụng tên toan trói, rồi Bob chạy thật nhanh nhảy ùm xuống nước, bơi thật mau.

Bọn cướp nã súng theo, có vài tên hung hăng nhảy xuống bơi rượt Bob, thành ra đồng bọn không dám bắn nữa sợ nhầm vào chúng.

Bob may mắn tìm được một hốc đá nhỏ chui lọt vào đó nằm gọn.

Bọn cướp tìm không ra, chúng leo lên ca-nô. Lão hói tức giận la hét ầm ĩ:

Ban nãy tao cố gắng không cho tàu cặp sát vào chỗ có nhiều mô đá thế này. Thế mà chúng mày để sổng mất. Đồ khốn nạn!!!

Mắng lũ tay chân một thôi một hồi, lão mới ra lệnh cho tàu vào bờ, mang theo John và tấm mandat.

John tức lắm, chàng nghĩ thầm "nếu em mình mà mang theo được cái cặp có tấm mandat thì đỡ quá!"

Đêm nằm, lão hói bắt đầu lo nghĩ: lão sợ Bob trốn về được  báo với nhà chức trách tới thì nguy! Song một điều làm lão hơi yên tâm: Ngày mai lão ra lệnh cho bọn đàn em thâu lượm tất cả những chiếc thuyền trong đảo để cho Bob không làm sao trốn khỏi đảo được. Và lâu dần, Bob sẽ phải ló đầu ra vì: "Đói thì đầu gối phải bò".

*

Sáng hôm sau, lão hói thơ thẩn ra bờ bể xem lũ đàn em thâu dọn những chiếc thuyền. Lão hỏi:

- Đủ không? Bữa nọ tao bỏ ta 50 chiếc!

Tên chuyên việc kiểm soát đáp:

Còn có 45 chiếc, 3 chiếc bị hỏng mang vào kho, còn một chiếc mất tích!

Lão thất vọng, thế là Bob đã thoát mất rồi và lão bắt đầu la hét, chửi rủa lũ đàn em om sòm.

Trong lúc lão đang la hét lũ đàn em thì một tên từ xa đi tới, nó giơ ra một mảnh vải dài ướt đẫm nước và máu, nói:

- Thưa ông! Tôi bắt được 2 mảnh vải này tấp vào bờ, có lẽ tên kia bị cá mập ăn thịt!

Lão hói cầm lấy xem xét, lão bảo:

- Mang thằng John ra đây hỏi xem có phải mảnh áo của em nó không?

Hai tên lực lưỡng kéo John ra. Lão hói hất hàm hỏi:

- Phải mảnh áo này của em cậu?

John nhìn kỹ, chàng giật mình hoảng hốt:

- Trời! Đúng áo của em tôi rồi! Hôm qua nó thay chiếc áo ca rô này!

Khi John nhìn xem mảnh quần thì chàng tin rằng em mình bị nguy hơn. Lão hói xoa hai tay vào nhau hả hê nói:

- Thôi! Đỡ rồi, em chú mày đã vĩnh viễn nằm trong bụng cá mập rồi.

Bỗng một đợt sóng xô tóe vào bờ mang theo một chiếc giày và một mảnh gỗ thuyền. Lão hói nhặt lên xem: Ở mảnh gỗ có khắc chữ Paull Harvey, lão càng mừng hơn, lão nói:

- Mảnh gỗ này dính ở thuyền thằng Paull Harvey đây mà! Phải chiếc thuyền thằng Paull mất không hả?

- Phải!

Còn chiếc giày nữa, John xem xét là đúng của Bob, chàng bỗng trở nên điên cuồng vùng thoát khỏi tay hai tên lực lưỡng rồi nhảy xổ lại tống cho lão hói một đấm nên thân vào cằm làm lão bật ngửa. Nhưng một tên to lớn khác đã xông vào và theo lịnh của lão hói nó nện những cái đấm nặng như núi vào cằm cho tới khi chàng bất tỉnh nhân sự. Lão hói ra lịnh đem giam John lại.

*

Sớm tinh sương hôm sau nữa, lão hói mới đem tấm chi phiếu 1000 dollars cướp được của John đến Edinburgh để lĩnh. Lão không dám cho đàn em đi nhận sợ nó cuỗm luôn tiền mà đi thì phiền. Bởi lẽ, những tên mà lão thu nhận đều là những tay lưu manh đầu trộm đuôi cướp cả.

Khi tới Edinburgh lão hói đi thẳng tới nhà băng, lão thản nhiên đi vào đến chỗ người giữ két bạc, lão đưa ngân phiếu ra và đồng thời... Bên ngoài một chiếc xe cảnh sát đỗ két tới và hơn năm nhân viên cầm súng bước tới tóm cổ lão hói...

Bàng hoàng khôn xiết, lão lắp bắp:

- Tại sao? Tại sao các ông lại biết tôi là ai? Mà... mà bắt?

Bob thản nhiên xuất hiện làm lão hói hết hồn, lão nói:

- Trời! Ta bị lừa! Có phải mày cố tình làm những mảnh áo quần, chiếc giày để lừa tao?

Bob mỉm cười đắc chí:

- Đúng! Bữa trước ông lừa tôi mang về đảo thì bây giờ tôi lừa ông có thế thôi! Giờ các ông mau mau đi giải thoát cho anh tôi, mang theo cả lão già quỷ quyệt này nữa!

Vẻ tức giận hiện ra trên nét mặt, lão hói nói:

- Khốn nạn! Đồ ranh con! Rồi mày sẽ biết tay tao!

Bob nói:

- Thôi đi lão già ơi! Ông đã lọt vào tay cảnh sát rồi thì đừng hòng thoát!

Nói xong chàng liền mượn chiếc còng và tự tay còng lão hói vào.

*

Chiều hôm đó, hơn 90 chiếc ca nô của cảnh sát rẽ sóng tiến về đảo của lão hói. Sau những cuộc tấn công, bọn cướp biết không cầm cự nổi nên đầu hàng. Bob nóng lòng cứu anh nên chàng xô lão hói đi trước, bắt lão chỉ chỗ giam Bob.

Lão hói chỉ tới một cánh cửa bằng sắt kín mít. Bob bèn dùng chia khóa lão đưa để mở cửa ; khi cửa mở, Bob xô lão vào trước đề phòng có cạm bẫy thì lão lãnh đủ.

Không có gì! Bob thong thả bước vào, chàng thấy John nằm mê man dưới nền đất.

Chàng tiến tới cõng John và đẩy lão hói ra. John được cứu tỉnh, chàng vui mừng vô kể và ôm chặt lấy em. Sau cùng chàng quay về phía lão hói, loi thẳng vô mũi lão một đấm để trả thù nhưng cú đánh của tụi đàn em lão.

Đoàn cảnh sát trở về. Hai anh em John, Bob trở lại Edinburgh gặp mẹ.

Bob viết thư cho cha biết tin này và chàng cho biết ba mẹ con vẫn mạnh như thường.

Ba mẹ con Bob, John sống những ngày sung sướng tại Edinburgh.

Cha của Bob, John cũng viết thư tỏ ý vui mừng về đứa con trai can đảm.


THIỀU QUANG   


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 46, ra ngày 1-6-1966)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2019

NGỌN GIÓ PHIÊU LƯU - Nhã Uyên














Khi mặt trời lên trong buổi sáng mai

Là lúc bắt đầu của một ngày dài

Gió muốn điểm tô cho một ngày mới

Sống động huy hoàng  rực rỡ tương lai


Khi đã thoát ra khỏi đám sương mù

Gió lại  bắt đầu một chuyến viễn du 

Qua biển mênh mông ̣qua vùng sa mạc

Qua núi đồi cao  qua chốn hồ thu


Khi nắng vừa lên  thì gió  lướt nhanh

 Mộng ước đầu ngày quá đỗi mong manh

Từ một góc trời  xa xôi  nào đó

Dừng lại khu vườn hoa lá  mướt xanh


Gió cất tiếng reo  lao xao nhẹ nhàng

Lay động cành hoa  tỉnh giấc mơ màng 

Lóng lánh sương đêm hoa khoe hương sắc

Xinh xắn cười duyên theo ánh nắng vàng


Gió tìm  bình yên  bên những nụ hoa

Tìm chút yêu thương tưởng đã nhạt nhòa

Tìm chút  nồng nàn  hương hoa trong gió 

Rồi  đêm lại về  cuốn gió  bay xa...


                                                                Nhã Uyên

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2019

TRỜI MƯA THÁNG SÁU - Đỗ thị Hồng Liên













Ngày đã nghe buồn về
Sáu tháng dài lê thê
Vừa đủ tàn niên học
Và, nghe rồi tiếng ve

Bé cặp vở trên tay
Che bóng nắng một ngày
Anh muốn thành bóng mát
Lối về đường không ngay

Bỗng ngập tràn trong hồn
Từng nỗi nhớ môi hôn
Lần cuối cùng chung bước
Đường có nghe gần hơn?

Bé thấy gì trên cành
Từng chiếc lá màu xanh
Rắc vào hồn bóng mát
Chân qua đó sao đành

Anh muốn đường mãi dài
Ngày cuối cùng chia hai
Bé không còn qua đó
Tóc buông dài ngang vai

Cho anh hoài ngẩn ngơ
Áo màu xanh bay mờ
Trong sân trường im nắng
Mắt nhìn nhau là thơ

Tháng sáu trời vội buồn
Anh về thương sao hôm
Tay ôm choàng nắng vỡ
Thương bé, trăm lần thương

Sẽ nhớ hoài bao lần
Thăm bé chiều bâng khuâng
Anh đi ngang phố chợ
Tháng mấy trời mưa giăng

Trên lối cỏ ngủ vùi
Anh và bé chung đôi
Trưa nay trời rất nắng
Chung cả nỗi ngậm ngùi

Đã qua rồi một năm
Trên lối về cách ngăn
Bé chẳng là chim sẻ
Ngủ trong lòng tay anh

Ôi mùa mưa ngang vai
Mắt bé sầu giọt dài
Anh nghe lòng nức nở
Còn thấy nhau ngày mai?

Bé ơi chiều một mình
Về với ngón chân xinh
Trong mùa xưa im tiếng
Nghe hương tình lênh đênh

                        ĐỖ THỊ HỒNG LIÊN (BMT)

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 27, ra ngày 5-6-1972)

Bìa của Vi Vi : Vườn đời


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2019

KHI EM VỀ - Trần thị Phương Lan













Chân em bước êm trong vườn mùa Hạ
Em chợt nghe hoa nắng chảy say mê
Nơi này xưa vẫn chờ chân em đó!
Nhớ không em? Rồi mai sẽ đi về!

Chim hót trong miền quê hương ngày đó
Khi đùa vui trong khúc hát giao mùa.
Chân em bước ngày nào hoa nắng vỡ
Áo em xinh còn nguyên nét thẹn thùa.

Em muốn khóc khi chiều nao hoa nắng
Quắt quay trong trí nhớ của ngày xa
Chim vẫn hót trong khu vườn thơ ấu
Dễ thương, và nghe vẫn cứ ngây ngô.

Quê hương ngày xưa ngút ngàn thương nhớ
Khi em về, khi mái tóc còn xanh.
Nghe trên cao, chim vẫn hót vô tình
Em lúc ấy đi tìm ngày thơ ấu.

                                   TRẦN THỊ PHƯƠNG LAN
                                        (Bút nhóm Hoa Nắng)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 177, ra ngày 15-5-1972)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com