Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

NGHỈ HÈ TRÊN NÚI - Minh Quân


Mỗi trưa, mỗi chiều hễ ngồi vào bàn ăn là cả gia đình tôi bàn tán xôn xao, sôi nổi về vụ nghỉ hè sắp đến.

Ba tôi bao giờ cũng chậm rãi tuyên bố sau hết, sau khi bọn tôi thay nhau góp ý cả mươi phút trước. Ông nói:

- Vẽ chuyện. Nghỉ hè, đổi gió là khi nào người ta ở chỗ chật chội, không đủ không khí và làm việc nhiều kia. Đằng này, học hành sơ sịa, qua loa, nhất là thằng Vũ: mỗi ngày lên học tận Thủ Đức, rộng rãi, mát mẻ thế đó, bày đặt làm chi...

Mẹ tôi ngừng nhai, sắp sửa phản đối thì ông đã tiếp:

- Còn con Thu: đi cắm trại cả tuần dưới Vũng Tàu mát mẻ chán ra rồi, đi đâu cho mệt?

Hai người lớn tiu nghỉu như vừa bị ăn trứng ngỗng ở lớp, chỉ mình tôi là can đảm lên tiếng:

- Còn con thì được đi phải không ba?

Ba tôi lập nghiêm tức thì:

- Ai nói con được đi?

Ấy! Ba tôi có tính hay quên bất ngờ những điều chính ông đã hứa. Nhưng lũ tôi không bao giờ để cho ba quên luôn. Chúng tôi nhắc lại cho ông nhớ và... đồng thời mẹ tôi cũng giúp chúng tôi làm cho ba giữ tròn chữ Tín. Tôi đĩnh đạc trả lời:

- Thưa ba, ba hứa cho con đi mà.

- Ba hứa hồi nào đâu?

- Ba hứa hôm con nạp đơn thi vô Đệ Thất, ba quên sao? Ba nói: "Con Hà coi cố học thi đậu vô Đệ Thất, ba sẽ cho đi nghỉ hè một tháng".

- Mà con đã đậu chưa? Đã thi chưa?

Lại ung dung, tôi trả lời:

- Thưa ba, chưa thi, chưa đậu, mà con sẽ thi và sẽ đậu.

- Chắc không?

- Thưa ba, chắc!

- Ồ, vậy thì tốt. Hãy cứ lo học thi đi, rồi sẽ hay.

Thằng Minh tiếp liền:

- Con không đi, con ở nhà với ba. Ở nhà coi ti-vi sướng hơn.

Bé cũng phát biểu thêm:

- Con đi! Con đi tắm biển sướng hơn.

Mẹ vẫn chưa lên tiếng. Ba tôi có ý chờ đợi, sau cùng ông quay sang mẹ tôi, hỏi:

- Còn mợ thế nào? Có đi không? Tôi thấy năm nào mợ cũng kêu: "mệt quá! mệt quá!" sau khi đi về, nên năm nay tôi có một sáng kiến cốt cho mợ khỏe...

- Nghĩa là?...

- Nghĩa là mợ đừng đi.

- Dễ nghe chưa? Tôi hầu hạ cha con anh quanh năm suốt tháng, mà đến mùa hè cũng không cho... người ta nghỉ ngơi sao? Anh đọc sách nào nói rằng nhà ở không chật chội thì khỏi cần nghỉ hè? Còn về chuyện làm việc: anh thấy tôi làm việc ít phải không? Đến như lũ trẻ thì hè là phải cho chúng nghỉ chứ, lại viện cớ này cớ nọ...

- Là người ta giúp ý kiến, còn muốn đi thì cứ đi. Nhưng tôi muốn mợ đi nghỉ một mình kia. Để lũ nhỏ ở nhà. Chỉ mình con Hà được đi sau khi đậu.

- Á... à... lại có luật mới... Tôi không đi một mình. Tôi đi với con kia.

- Theo tôi, học giỏi, đậu sau khi thi, có nhiều nết tốt, có điều đáng khen mới được đi... nghỉ hè. Mợ cứ tạo thói quen hư cho con...

- Như vậy, nghỉ hè theo ông là một... giải thưởng phải không? Nghỉ hè mà là tạo thói hư... Này, thôi thì ông cứ đặt luật lệ, nhưng mà mỗi năm tôi cứ đi chơi với con tôi. (Mẹ nhìn Minh nghiêm nghị) thằng bé kia! Còn toàn xương với da, phải đi chơi với mẹ, đừng theo cái ti-vi mà khổ. Nói không nghe, mẹ bán ti-vi đó!

Nhùng nhằng, nhũng nhẵng hoài như vậy cho đến khi tôi thi, cho đến khi tôi đậu. Ba tôi giục:

- Mẹ con coi sửa soạn đi cho rồi. Cuối tháng bảy rồi.

Mẹ tôi còn nán lại đ đôi ôi hôm vì một vài công việc nọ kia chi đó, chưa đi. Tôi sốt ruột quá, mà không dám giục, vì động có giục, mẹ tôi nói:

- Nếu con vội, thì sao không đi với thằng Vũ, con Thu?

Quên, xin thưa rõ với các bạn là mẹ tôi đã tranh đấu cho chị Thu với anh Vũ được đi chơi nửa tháng ngoài bà tôi ở Phan Rang. Hai người đã về từ ba hôm nay, cả hai đều tỏ ra vui vẻ, tươi tỉnh và nhớ ơn mẹ tôi. Vì nếu mẹ tôi không khi mềm dẻo, khi cứng rắn mà tranh đấu cho thì có là sang năm mới được đi.

Tôi tự tìm thú vui trong khi chờ đợi. Tôi nhủ thầm: "chờ đợi cũng có cái thú của sự chờ đợi. Càng kéo dài ngày đi càng vui thêm. Vội gì".

Tôi lo chuẩn bị cho chuyến đi: áo quần lạnh, (đi Đà lạt mà) vài cuốn sách mang theo. Lại còn được lệnh mẹ tôi: sửa soạn áo quần cho hai em. Bé thủ thỉ bên tai tôi suốt ngày về chuyến đi sắp tới, về những viên kẹo bọc trong giấy bóng mầu trên máy bay, về mấy cô chiêu đãi viên mặc áo xanh lơ, có thêu đầu rồng trên cổ áo. Minh thì vẫn nằng nằng:

- Con không đi, con ở nhà với ba.

Tôi dọa mãi nó không lay chuyển. Còn mẹ thì rằng không có nó, mẹ không yên tâm, thế nào cũng phải có nó. Mẹ biết dọa không xong nên mẹ đổi chiến lược, mẹ nói:

- Con không đi với mẹ, mẹ buồn lắm, con không thương mẹ sao? Không nhớ mẹ sao?

Minh chưa kịp trả lời, chị Thu đã đánh một đòn tâm lý rất ác:

- Ừ, được rồi! Minh không đi với mẹ, Minh ở nhà, hễ có đánh nhau lại lạc như hôm tết thì đừng khóc nghe không? Nói cho biết.

Các bạn có ngờ không? Câu dọa dẫm đó làm Minh xúc động, đổi ngay ý kiến, song cu ta còn lưỡng lự, nó hỏi mẹ tôi:

- Con đi với mẹ! Mà ở Đà Lạt có ti-vi không?

- Sao không có?

Anh Vũ trả lời bừa đi. Mẹ ôn tồn nói:

- Không. Nhà cô trên đó không có ti vi, đừng gạt em làm chi. Hãy để cho nó...

- Con đi! Không có ti vi con cũng đi, con thương mẹ!

Nét mặt mẹ rạng rỡ hẳn lên:

- Hay lắm! Mẹ biết con sẽ đi với mẹ, con đi là phải. Ở nhà không ai săn sóc, lỡ đau ốm, mẹ đi không yên.

*

Chiều đó, trong bàn ăn, chị Thu báo cho ba hay quyết định của Minh. Ông không tin, ông cười mà rằng:

- Tao thách mẹ con mày đó, nó không đời nào...

Nhưng cu ta đã xác nhận nguồn tin trên là đúng:

- Con chịu đi với mẹ rồi, ba.

Làm ông hơi... thất vọng, song ông cũng cố giấu sự thất vọng đi bằng một nụ cười gượng (tôi biết ông cưng Minh nhất nhà) mà hỏi nó:

- À, như vậy con không ngủ trên lầu với ba, hả?

- Con về, con ngủ chớ.

- Vậy con không coi ti vi hả?

- Con về, con coi chớ.

- Vậy ai nhổ tóc bạc cho ba?

- Con về, con nhổ chớ!

- Con không thương ba hả?

- Dạ, thương chớ. Mà con cũng thương mẹ. Mẹ nói con phải đi cho khỏe để nữa về học.

- Thôi được! (giọng ba ỉu xìu như bánh đa ngâm nước) tao không cần! Nhưng mà tao chỉ sợ mẹ mày mệt, đem theo làm chi nhiều, một đứa đủ rồi.

- Sao được! Ở nhà với ông hai đứa lớn rồi. Phần tôi ba đứa nhỏ. Đứa nhỏ ở nhà không tiện.

- Tao bao giờ mà thắng được mẹ mày!

Ông giơ hai tay lên trời, nói thêm:

- Mẹ nói! Lúc nào cũng mẹ nói, y như mẹ mày là ông Khổng tái sanh!

Tôi có thì giờ soạn thêm vài cuốn sách, xin của mẹ một lọ nước hoa tí teo, một ít bạc giấy mới (loại một đồng, loại năm đồng, mười đồng và hai chục đồng) khăn tay mới... cái gì cũng mới...

Suốt đêm tôi ngủ chập chờn, nôn nả chờ sáng lên tàu. Uống có cốc sữa mà cũng không cạn, khác hẳn ngày thường. Chả là cái vui nó chẹn ở cổ mình mà lại.

Mẹ tôi giao cho mỗi đứa một món nhỏ để xách, cho ra vẻ tụi này trách nhiệm. Không như năm ngoái, tôi tỉnh táo nhìn phong cảnh bên ngoài, năm nay tàu vừa cất cánh độ một nhoáng là tôi không chống được với cơn buồn ngủ, thế là nó thắng tôi: tôi ngủ thẳng cánh, ngủ thực sự cho đến khi mẹ lay nhè nhẹ mới choàng dậy.

Trời mưa lất phất, chưa ra khỏi bụng máy bay mà đã nghe cái rét gây gấy luồn vào hỏi thăm mình. Vừa may, mẹ tôi giở xách tay ra phát cho mỗi đứa một cái áo len.

Phi trường lác đác đôi chục người, rộng thênh. Mẹ tôi thò đầu ra cửa xe, vươn vai thở mạnh không khí khoáng đãng một cách thích thú. Cả bọn làm theo. Đợi một lát khá lâu, xe ca mới chạy. Phong  cảnh hai bên đường trông mát cả mắt: núi đồi thoai thoải, suối chảy ngoằn ngoèo, hiện rồi mất, mất rồi hiện ra hai bên đường. Vườn ngô, vườn bắp cải. Đồi thông. Nệm cỏ. Nước mưa từ trên cao tuôn xuống các con suối, bị đá chặn lại, sủi bọt trắng ngần. Tôi ao ước thầm: giá mình được đầm chân xuống đó thì... phải biết!

Minh và Bé thiu thỉu ngủ. Cái tụi gà mờ! Chả biết thưởng thức cảnh đẹp gì cả.

Tôi thấy mẹ tôi có lý khi bà cương quyết tranh đấu để chúng tôi được nghỉ hè ở một nơi xa, cách Saigon hàng dặm như thế này. Và tôi cũng tự khen tôi đã biết xin đi Đà lạt, dù Đà lạt không có biển – mẹ tôi thích ra biển, vì bà ưa bơi lội, nghĩa là mẹ tôi đã hy sinh sở thích vì tôi – Chừng về Sàigòn, tụi bạn hỏi:

- Năm nay mày đi nghỉ hè ở đâu?

Tôi sẽ ngẩng đầu cao lên, ỡm ờ nói:

- Tao lên núi!

Tao lên núi! Nghe có tuyệt không? Mê đi chứ lại. Ra bể mà làm gì? Xoàng quá! Vũng Tàu đó, bể gần gụi quá, muốn đi lúc nào mà chả được.

Nghĩ ngợi lan man thế cho nên xe ca vào ga lúc nào chẳng hay. Mẹ trông trước trông sau cố ý tìm cô chú.

Hành khách nhốn nháo chen nhau xuống, gọi nhau ơi ới.

- Kia rồi! Cô chú kìa!

Tôi còn ngơ ngác thì cô chú đã chạy lại. Cả lũ vòng tay ngay trên xe ca. Thật là lễ phép không nhằm chỗ: cản trở lưu thông!

Nhà cô chú ở dưới một thung lũng hơi xa thành phố, tận Chi Lăng. Mái nhà thấp hơn mặt đường. Mỗi bận xuống, chúng tôi cứ chúi mũi như bị xô, vui đáo để! Nền xi măng, cửa kính có dăm gốc thông già, vài đôi bồ câu, một chó, một ao cá (nhưng không có mống nào) một chuồng thỏ, một bầy gà, một giàn su, vài bụi hồng dại nở đỏ ối, thơm ngan ngát và đặc biệt nhất là trên một chục vồng lang.

Nắng ở Đà Lạt không nóng mà ấm.

Nhưng thật là xui xẻo cho tôi: chỉ được có ngày đầu. Cả năm ngày tiếp trời cứ mưa rả rách không ngừng. Mẹ cũng cố cho chúng tôi đi phố, nhưng cứ mỗi bận đi về là mẹ phải thay, giặt một lô quần áo, phơi cả ba hôm chưa chịu khô cho!

Mẹ lại đi chợ mua rất nhiều thức ăn ngon cho chúng tôi và các con cô chú. Trong những lúc mẹ và cô đi chợ, chúng tôi chơi đùa trong nhà chán quá nên kéo nhau ra, mãi chạy nhảy cười đùa không nghe, không thấy lạnh. Cu Minh thấm mưa, em Bé cũng thế, vì chúng cởi phăng áo len ra, cho đến lúc mẹ về, đứa nào môi cũng tím ngăn ngắt, da tái lại. Tôi bị rầy một trận nên thân.

Chú vẫn đều đặn đi làm. Mẹ hứa cho chúng tôi đi chơi Hồ Xuân Hương nhưng mãi vẫn chưa đi được. Cứ diện vào là trời đổ mưa.

Ngày thứ sáu, ông mặt trời he hé một tị, lại gặp ngày lễ, chú B ở nhà. Mẹ rủ:

- Đào khoai chơi, tụi bay!

Thế là cuốc xuổng được mang ra. Cu Minh, Bé và các con cô chú cũng được dự. Khoai vườn nhà cô chú củ nào cũng to cự đại, có củ bằng cả cái hoa chuối. Mẹ đào mải mê. Cu Minh lại thừa dịp cởi áo len ra, tuột luôn đôi dép, tất cả đều làm y như nó. Mưa loáng thoáng trong lúc mẹ ra giếng xách nước với cô. Mưa loáng thoáng trong lúc mẹ lo dóm bếp luộc khoai. Tôi cũng quên phắc hai đứa. Thì bạn tính, ở nhà, tôi có phận sự về chúng nó đâu mà bảo nhớ? Tôi có phải chị Thu đâu kia chứ? Khi mẹ sực nhớ, réo gọi hai con út của mẹ vào thì môi đứa nào cũng tái ngắt, vậy mà chúng đã vào ngay đâu: chúng còn chạy vòng quanh ngoài vườn, dưới mưa, sau con chó Li Li hai vòng liền nữa đã. Áo chúng ẩm cả nước.

Hôm sau, chúng hâm hấp sốt. Ấy là mẹ đã lo xa: xức dầu khắp người, mặc áo len, mang tất và bắt chúng lên giường đấy.

Cu Minh lại húng hắng ho. Mẹ dầm mưa đi mua thuốc. Không đi bác sĩ. "Mẹ biết chữa mà" Mẹ nói cứng nhưng vẫn không giấu được nỗi lo ngại. Uống một tí, thêm vài hườn tọa dược. Không xài trụ sinh. "Thuốc độc, không xài". Vẫn lời mẹ tôi tuyên bố.

Hai hôm sau, hai đứa hết sốt. Ho chỉ còn sơ sơ. Tôi dậy sớm, vừa mới ra bếp quay vô bỗng lên cơn đau bụng. Mẹ lại xoa dầu, đắp chăn, vẫn nói cứng:

- Không can gì.

Một chốc thấy đơ đỡ và nghe đói, mới uống cốc sữa, vừa nằm xuống thì nôn ra hết. Và cơn đau tăng lên. Lại sốt. Mẹ cuống lên, cô tỏ ý lo muốn đi bác sĩ, song mẹ tôi thấy trời mưa, nhà ở nhằm chỗ vắng kêu xe không được, nên lại cố chờ đến trưa. Ăn tí cháo vào buổi xế cũng nôn ra. Tôi run bây bẩy. Nhưng đau bụng thì hết rồi. Mẹ nói:

- Nếu đến chiều mà không bớt thì phải tính...

May sao, chiều đó tôi bớt. Ăn cháo không nôn nữa, không sốt và cũng không nghe đau bụng. Cả nhà yên tâm. Ra mẹ tôi cũng khá mát tay.

Đêm, chú B. phải trực ở sở. Tôi nằm trong chăn dày, không ngủ được, lắng tai nghe những tiếng động bên ngoài. Gió vi vút trên ngọn thông. Gió ù ù tuôn vào thung lũng. Gió o o o vào khe cửa hung bạo, dữ dội. Tôi hé mắt nhìn ra khung cửa kính, thấy những cành thông bị gió lay dặc ngả nghiêng, bóng cây quét lên mặt kính nom tựa bóng người qua lại trước nhà, tôi thêm hãi. Thỉnh thoảng, con Li Li sủa hóng lên vài tiếng, rồi ông trăng rằm cô độc buồn nản thế nào lại chui tọt trong tảng mây dày. Và mưa, mưa quật những ngọn roi nước vào mặt kính kêu lên răng rắc, mấy con bồ câu ngoài chuồng giở chứng lại gù gù lên một loạt, nghe mới não lòng làm sao!

Đã thôi đâu: mình đang trong tình trạng kinh hãi như thế, bỗng đâu tiếng súng lớn vang lên ỳ ầm, ỳ ầm dội vào lòng thung lũng và làm những mặt kính rung chuyển dữ dội. Rồi, trời ơi! Có tiếng đập cửa lớn thình thịch (tận bây giờ nhắc lại tôi còn nghe trống ngực đổ dồn) làm tôi rúm ró cả người. Tôi kêu thầm: "Trời ơi! Chú B! Chú đi trực làm chi ác vậy, chú ơi! Nhà toàn đàn bà con trẻ cả, biết làm sao đây, hả chú?"

Có tiếng mẹ tôi gọi cô T. bên cạnh:

- Cái gì vậy hở cô T.? Ai gọi cửa giờ này?

Tôi hồi hộp tợn, lắng nghe câu trả lời của cô T. từ phòng trong:

- Không sao đâu chị. con Li Li đó mà.

- Con Li Li? Nó đập cửa làm chi vậy, thưa cô?

Tôi cố trấn tĩnh hỏi. Cô T. cười khúc khích:

- Con quái đó có tật hễ nghe tiếng súng là sợ, đòi vô ngủ trong nhà. Hà sợ phải không?

- Ai không sợ? Chị đây còn hãi nữa là con nít. Này! Chỗ cô ở có yên không?

- Vững như bàn thạch. Mọi hôm đánh nhau kịch liệt mà cũng chỉ đánh ở cây số bốn. Chị cứ ngủ đi, đừng lo.

- Đừng lo! Này, tôi cho cô hay, nếu tiếng súng cứ tiếp tục thế này thì ngày mai mẹ con tôi chuồn gấp. Ở Sài Gòn đã nếm rồi, không ưa đâu. Lên đây chơi chứ không phải lên đây nghe súng đâu đấy, nhá?

- Em đã bảo chị đừng sợ, mình bắn đi đấy mà.

- Mình với đầu...

Mẹ tôi chưa dứt lời, tiếng súng lại vang dội lên, to hơn, rền lâu hơn và cửa kính gần như sắp vỡ tan, rồi xa xa có tiếng súng liên thanh giòn giã nổ.

*

Hai ngày nữa chậm chạp trôi qua. Vẫn mưa, vẫn có tiếng súng ngay từ buổi chiều. Con Li Li vẫn giữ cố tật, đập cửa bất cứ giờ nào mỗi lần nghe tiếng súng. Mẹ tôi vẫn lăng quăng: mang áo quần ra được hai phút là lại phải mang vào vì ông mặt trời tai ác cứ he hé hai phút lại trốn biến sau mây, như ý muốn chơi trò cút bắt.

Hình như đánh nhau ở một chỗ nào gần đó, không quá nhà ba cây số. Hình như một chỗ tu hành bị tấn công. Hình như...

Ba đứa chúng tôi đều đã mạnh. Mẹ con chúng tôi đều chán Đà Lạt đến tận cổ, cũng chỉ vì các con cô chú tôi quyến luyến quá, không nỡ rứt mà đi, chứ thật ra muốn lên tàu tức khắc.

Tôi hối hận vì đã chọn nhầm chỗ nghỉ mát. Mẹ đăm chiêu họp chúng tôi lại mà rằng:

- Các con muốn xuống Phan Rang không?

Phan Rang! Thoạt nghe, tôi đã nhớ đến biển Ninh Chữ, đến vườn mận chĩu quả của bà tôi, đến món chè đặc biệt của dì tôi và đến vô số món quà của các bạn mẹ tôi. À! Sao tôi ngu thế, không nghĩ ra từ trước? Phan Rang chắc không bao giờ có cái lối mưa dai dẳng kỳ quái như trời Đà Lạt. Thế là chúng tôi vui vẻ tán thành ý kiến của mẹ tôi.

Từ giờ phút đó, chúng tôi chỉ ngong ngóng đợi cậu tôi từ Đơn Dương mang xe lên đón về Phan Rang. Trong chờ đợi, chúng tôi cũng thấy náo nức niềm vui.

Ra đúng như người ta nói, con người chỉ sống vui trong hy vọng!

Chiều thứ bảy, cậu tôi về. Kể sao cho xiết nỗi mừng: nhờ có xe cậu, chúng tôi được dạo qua một vòng phố phường Đà Lạt, dù phố phường đó vẫn như giăng mắc trong màn nước chẳng có gì là thú vị.

Theo lời cậu dặn, chúng tôi sửa soạn sẵn, sáng hôm sau, cậu mang xe lại đón để xuống Đơn Dương.

Cơm chiều xong, chúng tôi tụm lại nô giỡn chán chê, chẳng bị người lớn la rầy chi cả vì là cuộc vui ngày chót. Mẹ thì hí hoáy cắt áo cho cô T.

*

Xe rộng lớn, nhưng vì có hơi đông người, vả lại là những người lạ nên chúng tôi phải giữ ý không dám đùa cười tự do như những bận đi cùng với cậu một mình. Tôi đã hơi chán phong cảnh: lại đồi thông, nệm cỏ, giòng suối v.v... Độ hơn một giờ thì đến Đơn Dương. Đồi trà ở Đơn Dương mới đẹp làm sao. Tôi thề là tôi chưa từng thấy vườn cây gì mà đẹp thế: xanh rờn, đều đặn, thoai thoải từ cao đến thấp trông mát mắt không thể tả!

Cậu cho ghé vào nhà khách của sở ở Đơn Dương nghỉ, rửa mặt và uống nước rồi lại lên xe. Trời bắt đầu bức. Chúng tôi tuột hết áo len ra. Đường xấu tệ: Chỗ lồi chỗ lõm, vô số ổ gà. Gặp một chiếc xe ngược chiều là bụi đỏ tuôn vào mù mịt, dù đã lên kính nó cũng chui tọt vào làm mọi người ho sặc lên.

Xe cứ chạy vòng quanh như đường trôn ốc, tôi sốt ruột ngó ra ngoài xe thấy mấy cái ống dẫn nước của đập Đa Nhim ngay trước mắt mà mãi vẫn không tới! Mồ hôi tuôn đẫm áo, nực quá thể! Tôi nhắm mắt lại cố ngủ cho quên nỗi nhọc đường dài.

Thế rồi nó cũng qua đi: 11 rưỡi chúng tôi đến Krong-pha. Mấy nhà khách của sở ở đây lại còn đẹp xinh hơn trên Đơn Dương nhiều. Có hồ bơi cho trẻ con, có hồ bơi cho người lớn. Có sân tơ nít. Nhà nào trước sân cũng có dăm cây trứng cá, trái đỏ ối làm chúng tôi thèm rỏ dãi ra.

Ăn uống xong phải đi ngủ một giấc. Dậy tắm rửa rồi được ra hồ bơi. Cậu cho xả hết nước cũ, chùi hồ sạch sẽ cho nước mới vào, chúng tôi tha hồ nghịch phá. Lại ước ao: giá nhà mình có một hồ bơi như thế này! Mấy ông bạn của cậu rủ chị em tôi:

- Nào các cháu có ưng đến nhà máy coi không?

Còn gì bằng? Thật là một dịp hãn hữu. Nhưng chúng tôi còn muốn được voi đòi tiên, nghĩa là nằng nằng kỳ kèo mẹ cũng đi nữa, thế mới vui. Mẹ cũng chiều chúng tôi.

Nhà máy điện Đa Nhim thật lớn, đặc biệt nhất là những phòng máy điều khiển ở tầng trên: sàn lát cao su êm, trang bị máy lạnh (lúc chúng tôi có mặt tại nơi thì máy hư nên không lạnh nhưng mà vào trong mát rợi) những cái máy điện, cái nào cũng như một chiếc tủ đứng lớn tướng, cắm chằng chịt dây điện và vô số ngọn đèn mầu xanh đỏ, trông y như mình lạc vào một cơ quan bí mật của một cơ sở khoa học gián điệp nguyên tử tây phương trên màn ảnh!

Tầng dưới chứa những máy móc to kinh khủng. Tôi ngạc nhiên không hiểu người Nhật họ mang những máy này sang xứ mình bằng cách nào. Đứng từ cao nhìn xuống thấy máy nào cũng to trên sức tưởng tượng của mình.

Bậc thang lên xuống rộng, phẳng, đá mài hoa bóng nhoáng. Bên ngoài nhà máy thì là một khoảng sân rộng lớn, trồng cơ man là cột điện, dây chằng chịt như những trạm biến điện ở Thủ Đức. Núi ngay sau lưng nhà máy. Nhìn lên đó, mình nom thấy rõ hai đường ống dẫn nước và thấy cả khúc ống bị vỡ. Cậu cắt nghĩa cho chúng tôi biết rằng ống ấy vỡ vào ban đêm, nước chảy băng lôi theo cát, đá và cát đá làm lấp hết một nửa nhà máy. Bây giờ đường ống vẫn chưa nối lại được, song người ta đã khóa đầu "van" phía trên... Tôi chưa bằng lòng lắm với lối giải thích đó, toan hỏi cậu cho rõ, nhưng ngay lúc đó có một người lính tiến vào, tay anh ta như có vẻ bị dập nát (không phải vì đánh nhau mà vì ngã cây thì phải) nên cậu phải lo cho xe chở anh ta đi cứu cấp. Thế là đành hiểu nửa chừng.

Trên đường trở về, tôi thấy từng tảng đá to bằng bằng cả một cái bàn nằm lăn giữa đường. Hỏi thì cậu bảo đó là đá bị nước cuốn hôm vỡ ống mà nhân viên nhà máy chưa thu dọn kịp. Ghê không?

Krong-pha nóng kinh khủng. Thật là kỳ diệu: cũng là đất nước Việt Nam cả cách nhau có mấy giờ đồng hồ xe chạy mà Đà Lạt thì rét căm căm còn đây thì nóng như không khí có lửa vậy.

Tối đó, chúng tôi ăn cơm xong là lo súc miệng, chải răng rồi đi ngủ sớm. Cậu và mấy người bạn tỏ vẻ ái ngại vì không có xe để đưa chúng tôi đi Phan Rang. Song mẹ vui vẻ cảm ơn tất cả và thêm rằng đoạn đường từ đây xuống Phan Rang mẹ có thể đi xe đò, vì đã hết dốc đèo nguy hiểm như trên kia.

Cậu cho người đi mua vé trước và dặn họ sáng sớm đến đón mẹ ra xe. Cậu lại cho mẹ mượn cái đồng hồ reo để phòng xa, kẻo ngủ quên thì... mệt!

Mẹ con chúng tôi được cả một cái nhà to, đêm vắng trông ghê quá. Được cái chỗ nhà máy điện có khác: điện sáng chói, trông thấy rõ cả từng trái trứng cá trên cây!

Tám giờ tối, trời vẫn bức như giữa trưa. Cái máy điều hòa không khí chạy nghe xào xào mà không mát. Đúng là nó hỏng rồi. Mẹ tôi sai Minh chạy qua nhà cậu mượn cái màn, nhưng cậu không cho nằm màn, cậu lại sang điều chỉnh cái máy và dặn mẹ cứ yên tâm, một chốc nữa máy sẽ lạnh. Mẹ cầu nhầu là không ưa nằm máy lạnh. Giọng mẹ cao lên:

- Lát nữa nếu không mát, chị sẽ mở cửa sổ ra...

- Chị nên nghe em, mở cửa sổ cũng không mát đâu, chỉ tổ cho muỗi rừng nó xơi ngon. Cứ nghe em, chốc nữa là mát ngay ấy mà. Thôi, chị và các cháu ngủ đi, ngày mai em sẽ đưa chị ra xe.

- Chớ, cậu cứ ngủ đi. Chị đi được rồi.

Cậu đi ra, đóng cửa lại, bỏ chúng tôi trong cái nhà rộng thênh, vắng ngắt. Mẹ tắt hết đèn các phòng. Chỉ còn đèn ngoài đường và trước hiên. Ánh sáng lại đung đưa các cành lá quét lên mặt kính, song lần này tôi khá vững tâm. Tôi thở mạnh, nghĩ thầm: "Mình phải ngủ để ngày mai ngắm cảnh". Song tôi thao thức khá lâu.

Chúng tôi thu dọn xong đồ đạc thì xe cũng vừa đến. Mẹ tôi biên lại vài giòng cho cậu, lấy cái đồng hồ chặn lên, đoạn se sẽ dắt chúng tôi ra xe. Năm rưỡi sáng. Sao thưa thớt, ánh trăng lờ mờ. Trời vẫn bức. Người tài xế đưa chúng tôi ra đến bến xe thì trời bắt đầu sáng. Chúng tôi lên xe ngay. Phải dậy sớm nên tôi vẫn còn ngái ngủ. Tôi dựa vào thành xe thiu thỉu. Đường thẳng tắp, nên không bị xóc mấy, dù xe chúng tôi đi là thứ xe hàng cũ kỹ, già nua. Mỗi bận bị xóc, tôi lại mở choàng mắt ra và y như là xe qua một cái cầu tạm. Khúc đường từ Krong-pha có bao nhiêu cái cầu là bấy nhiêu cái bị sập, bị phá hư tất. Xe chạy từ sáu rưỡi, nhưng ngừng lại từng chặng, hùng hằng, hục hặc, qua cầu, qua suối cho đến chín giờ rưỡi mới vào bến xe thành phố.

Chúng tôi xuống xe, gọi xích lô về nhà bà.

Xe xích lô vừa ngừng lại, cái thắng xe kêu lên một tiếng "cách" thì chú Tô xông ra. Nhưng nhận được chúng tôi, chú vẫy đuôi rối rít. Nhiều tiếng reo lên từ dưới bếp, trên nhà và chỉ một nhoáng là tin mẹ chúng tôi về đã đến tai bà tận trên lầu. Bà tôi xuống đến hai phần ba bậc thang thì mẹ tôi cũng vào đến nhà.

Mẹ tôi ào tới, nắm tay bà tôi và hôn vào cánh tay bà, liếc trộm một cái, tôi thấy mắt mẹ tôi ướt đẫm. Bà tôi nở một nụ cười hiền lành, xoa đầu đứa này, ôm hôn đứa kia, giọng bà trầm lại:

- Mẹ con chúng mày về được bao lâu? Hay là chỉ hai ba hôm lại đi như năm trước?

Giọng mẹ tôi giỏn giã:

- Bà đừng lo, kỳ này con ở những cả tháng kia.

Thế là câu chuyện nở bung ra. Bỗng mẹ tôi nhớ ra là từ sáng mẹ con chưa có gì dằn bụng, mẹ tôi nói:

- Các con muốn ăn gì này? Về bà tha hồ vòi.

Tức thì bà gọi gia nhân lên, lo cho chúng tôi ăn sáng. Mỗi đứa được quyền đòi thứ mình ưa.

Nhà bà rộng, mát, vô số cửa kính, cửa chớp, lầu cao, sân rộng, vườn to và chĩu quả, tha hồ cho chúng tôi chạy nhảy, nghịch phá và hái quả ăn. Bưởi mọng nước, ngọt lịm, trái sà xuống đất, mỗi lần nhìn cây bưởi nhỏ nhất tôi lại liên tưởng đến một con lợn mẹ sà sễnh bao nhiêu là chiếc vú sữa kéo lê dưới đất! Ổi giòn khứu, hái hoài không hết. Ớt đỏ tươi, cứ mỗi bữa ăn Minh và Bé lại chạy ra hái vài quả tặng mẹ và bà. Nhãn dầy cơm bốc mùi thơm điếc mũi. Mận thì, ôi thôi! Khỏi nói, bóng lưỡng, hồng như má lũ trẻ ở trên Đà Lạt. Cam thì trái lại xanh ngăn ngắt, bổ ra ruột vàng óng như mầu tơ sống.

Ngoài chợ, tôm cá tươi xanh như mới vớt ở biển lên. Tôm búng tành tạch, cá thở thoi thóp. Rau cải xanh rờn trông ngút mắt. Cái gì trông cũng ưa nhìn. Sữa, sữa đặc, sữa bột, kẹo, bánh, hàng nào cũng chất tận mái lều.

Mầu nắng ở đây trông cũng đặc biệt, trông óng ả vàng và trong như mật ong từ tổ mới vắt ra! Tôi thích mầu nắng ở Phan Rang lắm.

Chỉ hiềm một nỗi về cái gió: gió hốt bụi tạt vào mặt mình, không kiêng nể! Gió ào ào như mà lại không mát, có kỳ không?

Nhưng chúng tôi không than thở chi, chúng tôi tha hồ tận hưởng hoa quả, tôm cá, cải rau. Chúng tôi tha hồ vọc nước chứ không như Đà Lạt. Nóng thì mở toang cửa sổ ra, có khó khăn gì.

Ở Phan Rang được ba hôm, đêm thứ tư đang ngon giấc thì chợt nghe tiếng mẹ gọi khe khẽ dựng dậy đang lúc nửa đêm. Hồn bất phụ thể, tôi chưa hiểu ngô khoai gì thì nghe tiếng súng ăm ẳm thật lớn rung chuyển cả sàn lầu. Lập tức, tôi dò trong bóng tối, bước từ bước xuống cầu thang, chui vào hầm núp. Không có súng nhỏ, chỉ nghe súng lớn "Đoàng đoàng" "Ầm ầm" bốn phía. Mẹ se sẽ lên lầu bế hai đứa nhỏ xuống. Cỡ nửa giờ mới yên. Lại bế hai đứa nhỏ lên, tôi theo sau, bà đi sau rốt, y tựa một cuộc diễn hành trong bóng tối.

Nằm một chốc nghe đồng hồ đổ hai giờ sáng.

Đêm thứ hai lại tái diễn trò này. Bà cháu, mẹ con lại kéo nhau xuống hầm núp. Nhưng đêm thứ hai tiếng súng lớn dữ dội hơn, chen lẫn trong tiếng liên thanh nổ mau và gần quá thể. Lại có còi báo động. Dễ sợ không? Báo động nửa đêm! Mà lại những hai bận liên tiếp cơ. Tôi bắt đầu biết sợ. Hai đứa nhỏ vẫn ngáy đều bên chân mẹ, vì mẹ đã lo mang theo quạt, quạt cho chúng không ngừng. Trong nhà tối om, thỉnh thoảng ánh hỏa châu bùng lên, sáng lóe, cả nhà trông rõ mặt nhau.

Bà soi đèn bấm thì thấy hơn nửa giờ trôi qua. Thình lình, có tiếng máy bay ngay đâu trên đầu mình rồi tiếng đạn rốc kết nã ròn rã. Tôi sợ run.

Tiếng súng lơn và liên thanh thì im luôn. Bà tỉnh táo nói:

- Không sợ nữa, đem các cháu lên lầu cho chúng ngủ. Khi nào máy bay bắn như vậy là yên rồi.

Mẹ làm theo lời bà. Rồi tôi theo chân mẹ và bà lại gần bên cửa sổ nhìn ra. Ngoài trời đen thẫm, chiếc máy bay kéo dài một vệt sáng lướt nhanh ngay tầm mắt mình, đột nhiên nó như đứng lại và tức thì từ đâu trong cánh (hay đuôi nó?) lóe ra từng tia lửa đỏ rực, tiếng nổ phát ra ròn, khô, mau, liên tiếp. Cứ hết chiếc nọ đến chiếc kia, vẽ lên bầu trời những tia lửa. Ánh hỏa châu rực trời, soi rõ cả khuôn mặt bà và của cả mẹ tôi. Tôi thấy mắt mẹ và bà đều lóng lánh ướt: ra hai người cùng khóc. Tôi hơi ngạc nhiên, bà đã nói yên rồi mà? Sợ gì nữa? Song mẹ tôi quay lại vuốt tóc tôi, ra hiệu cho tôi vào giường và giọng nghẹn ngào, mẹ nói với bà:

- Con cứ nghĩ đến những tia lửa quái ác kia trúng nhằm nhà đồng bào vô tội...

- Cái đó là thường... Mọi hôm cứ...

- Bà có nhận ra họ đánh nhau ở chỗ nào không? Sao con trông có vẻ gần quá?

- Phải, gần lắm. Cách  ta đâu hơn cây số chứ không xa...

Máy bay vẫn rền trời, tiếng nổ vẫn ròn, mau. Bầu trời vẫn tiếp tục lóe sáng nhưng chúng tôi trở vào giường, sau khi còi chấm dứt báo động vang lên.

Mẹ tôi cầu nhầu:

- Nếu mai còn thế này thì về Saigon quách. Mẹ bực quá thôi.

Tôi tán đồng ý kiến mẹ tôi ngay.

Đêm thứ ba không có súng nhưng tôi lên cơn sốt. Nghĩ có phiền không? Mẹ tôi gần khóc lên. Tôi cũng gần khóc lên. Lại kiêng ăn, lại thuốc, lại tọa dược. Chỉ những nơm nớp lo gầy thì về ba không cho đi năm tới. Ông sẽ nói:

- Đi chơi mà đau ốm như vậy thì đi làm gì?

Trong ba ngày tôi nằm đó, mẹ phải giặt gịa, là liếc một mình, không ai giúp đỡ. Nhà có người đấy, nhưng mẹ không muốn sai. May sao, sang hôm thứ tư tôi hết hẳn. Thật là vui như Tết.

Lại tha hồ nghịch phá, hái quả, ăn uống bù vào.

Chúng tôi còn được đi ciné – Ở Sàigòn một năm ba mẹ cho đi cỡ hai lần là nhất rồi – Cậu B. cho chúng tôi cả tập vé, muốn đi lúc nào thì đi. Mẹ lôi dì P. đi nữa, có hôm mẹ bắt dì đi biển, làm dì phải nghỉ dọn hàng ngoài chợ. Dì không tắm, ngồi trên nhìn chúng tôi vùng vẫy dưới nước xanh.

Tắm xong, dì mỡ hộp bánh, gọt táo, bổ cam cho chúng tôi ăn.

Có hôm dì không đi thì cậu B. lại đem xe đến chở chúng tôi.

Những hôm ấy, chúng tôi không lo ngại gì cả, đầm nước cho đến tận 11 giờ trưa, khỏi đi xe lam sợ nắng và khỏi ngồi chung với cá! Mẹ tập cho tôi bơi (tiếc thay khi mình vừa mới nôi nổi thì đã đến hạn phải trở về Sàigòn nhập học). Tắm xong lên bờ đã có sẵn bánh mì, chả lụa, nước ngọt, chúng tôi chén no nê.

Có hôm, cậu chở chúng tôi đi Tri Thủy, Tháp Chàm, ngắm cảnh.

Càng gần đến ngày về Sàigòn, gió lại càng ít, trời lại càng đẹp, súng im hẳn và càng có nhiều chuyện thú vị. Than ôi! Thật là ngày vui ngắn chẳng tày gang!

Chẳng mấy chốc mà ngày về đến sát bên lưng. Đêm trời mát, mẹ tôi khỏi phải thao thức canh chừng để thay áo cho chúng tôi nữa.

Rời Phan Rang, tôi vẫn còn như thấy trước mắt ruộng mạ xanh rờn, ruộng muối trắng lốp, thấy con đường đi Ninh Chữ rộng, phẳng với động dương vi vút và bãi biển lấp lánh sáng lòa trong nắng ban mai! Tôi hẹn với bà, với dì P., cậu B. và mọi người cùng một câu chắc nịch:

- Sang năm con lại về chơi!

Trước khi lên máy bay, tôi nhìn vào kính chiếu hậu của cậu B. nom mình cũng ra vẻ người đi biển lắm chứ không đến nỗi nào: da tôi nâu bóng. Mẹ cũng nâu. Bé cũng nâu. Minh cũng nâu. Thế là tốt rồi. Còn đòi hỏi chi hơn. Tôi khá vững lòng. Tôi dặn lũ em giấu biến chuyện đau ốm. Thế là xong một mùa hè. Ngắn quá! Ngày mai đã phải đến trường. Nhưng không sao, hè đến lại được đi chơi, nghĩ đến đó tôi vui ngay. Con người ta vốn sống bằng chờ đợi và hy vọng mà, thưa bạn!


MINH QUÂN    


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 154, ra ngày 1-6-1971)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2019

TUẦN LỄ CỦA HUYỀN - Hoài Mỹ


THỨ HAI

Có như vậy mà Mẹ cũng gắt. Mình buồn quá. Dường như trong gia đình không ai hiểu mình. Riêng có Ba, mình còn thấy "tạm được", nhưng sao Ba không nói gì khi Mẹ la mình? Trong ánh mắt của Ba, mình đọc được những nét cảm thông, thế mà Ba không lên tiếng! Thôi đúng rồi, có lẽ cả nhà đã về hùa nhau "ghét" mình. Nghĩ vậy tủi thân, mình chạy lên phòng nằm khóc...

Tới giờ cơm, Ba cho chị Tư lên gọi, nhưng mình không xuống. Tiếng của Mẹ vọng lên: "Úi chao, quí hóa lắm đấy còn làm bộ!" – Cơn nghèn nghẹn dồn lên ngực, nước mắt lại ứa ra... Mẹ, sao Mẹ nỡ khắt khe với con gái của Mẹ? Thay vào những lời gay gắt đó, Mẹ mở cửa vào phòng nói với con một câu dịu dàng, như: "Thôi cưng cho Mẹ xin, xuống ăn cơm đi con – Khóc xấu lắm, lêu lêu" – thì chắc con sẽ ôm chầm lấy Mẹ mà khóc, như chưa bao giờ được khóc, khóc vì sung sướng! Nhưng... Mẹ đã ghét mình rồi. Mọi khi Mẹ vẫn dịu ngọt với mình cơ mà? Mình đâu có làm gì quá đáng để Mẹ phải thay đổi? Chỉ tại con Mimi làm vướng chân mình nên mình mới ngã làm vỡ chiếc bát chứ. Nghĩ lại mình càng thấy buồn thêm, không thích sống nữa...

Ngoài trời, gió chuyển mình. Những giọt mưa nhẹ bắt đầu rơi. Mình vẫn ngồi tựa đầu vào song cửa sổ, mơ ước một chuyến đi xa. Thỉnh thoảng một cơn gió mạnh thổi tạt những giọt nước vào mặt. Mát mát. Mình tìm được sự dễ chịu hơn.

Ở dưới nhà, Ba vừa mới nhắc đến anh Tân. Anh Tân tới thư viện học thi. Mình cũng thấy tội nghiệp cho anh Tân. Nếu anh về giờ này, chắc bị ướt hết. Ý nghĩ này vừa thoáng hiện trong đầu thì cũng vừa đúng lúc tiếng xe Honda của anh Tân dừng lại trước cổng. Vào nhà anh Tân hỏi con Huyền đi chơi rồi hả Mẹ? Mẹ trả lời là nó đang ăn vạ trên kia kìa ; rồi Mẹ kể câu chuyện hồi chiều. Mình những tưởng anh Tân thể nào cũng bênh mình, nhưng ngược lại với điều mình nghĩ, anh Tân nói lớn sao Mẹ không cho nó một trận!

Mình mím môi lại. Không hiểu sao mình không khóc. Sự "tội nghiệp" lúc nãy mình dành cho anh Tân tan đi. Trước mặt mình trải ra khoảng trống vô tận. Và trong bóng tối của căn phòng mình chỉ tìm thấy có một mình mình. Buồn!


THỨ BA

Giờ Việt văn, giáo sư không đến ; lớp ồn ào ; nhất là bọn con trai được dịp phá phách và ném giấy sang phía con gái. Những ngày cuối niên học thật nhạt nhẽo. Mình nói chuyện với Thanh về tương lai. Nhỏ Thanh nói sang năm nó chỉ đi học sinh ngữ thôi rồi đi làm. Mình "khuyên" nhỏ Thanh đừng bỏ học như vậy uổng lắm vì mình biết nó thuộc loại thông minh. Nhưng câu trả lời của Thanh làm mình thoáng nghĩ ngợi. Học nhiều cũng thế thôi ; lấy chồng là hết ; hơn nữa học cao quá ai mà thèm lấy. Nhỏ Thanh hỏi ngược lại mình là chừng nào mày tính lấy chồng – Mình cười nói là làm sao tao tính được – Thế còn chàng Cường của mày? Mình biết là Thanh cũng như các bạn trong lớp đã hiểu lầm. Cường là anh của Cúc mà Cúc là bạn thân mình thì làm gì có... "chuyện đó". Mình nói điều này với Thanh, nhưng nó có vẻ không tin. Mình giải thích thêm là anh Cường coi tao như em ruột, mày đừng nghĩ bậy. Nó cười: Em ruột... dư hả?

Tan học. Như những con ong vỡ tổ, các bàn đầu ùa ra một lượt. Mình với Thanh phải ngồi lại. Khi ra khỏi lớp hai đứa gặp Quang đứng ngấp ngó ngoài cửa. Mình hỏi chuyện gì đó anh Quang? Ấp úng mãi Quang mới nói nổi câu nhờ chị viết dùm cho mấy chữ – Viết về l'amour được không – Câu nói của Thanh làm Quang đỏ bừng mặt, luống cuống quay đi mất... Mình trách Thanh. Nó cười con trai mà cũng bầy đặt lưu bút, lưu biếc – Ê mày, lật ra xem có thư tình không – Nhiều lúc nhỏ Thanh lý lắc lắm, làm "điên đầu" nhiều người.

Trang đầu cuốn lưu bút, Quang viết những lời giã từ bạn bè. Trong mùa hè này, Quang sẽ nhập ngũ. Những dòng chữ thật cảm động. Của một người sắp sửa rời bỏ bóng mát học trò. Mình nghĩ làm con trai trong thời chiến thật thiệt thòi. Học hành dang dở. Tương lai không lối thoát...

Mình viết cho Quang những lời chân thật – Các anh đi, tụi này buồn lắm... Đáng lý mình còn viết dài, nhưng tiếng hát của anh Tân cứ oang oang ở phòng bên. Mình chấm hết vội.

Cứ hát đi anh Tân – Còn anh nữa đó – Rồi anh cũng sẽ lên đường và rồi Mẹ và em cũng sẽ buồn, sẽ khóc trong ngày anh đi...


THỨ TƯ

Một ngày dài lê thê. Buồn ôi là buồn!


THỨ NĂM

Anh Tân rủ mình đi ciné. Thật lạ! Thường anh vẫn chủ trương đi ciné một mình vì đi với người khác, phải nói chuyện không thưởng thức được trọn vẹn cuốn phim. Nhiều lần có phim hay mình năn nỉ thế nào anh cũng từ chối, nhất là trong thời gian này, anh viện lý do học thi để thoái thác. Tự nhiên anh trở nên rộng rãi. Tất cả phải có nguyên nhân. Để "trả đũa" mình giả vờ không chịu – Thôi mất thì giờ anh ; sắp thi rồi, anh ở nhà học bài đi. Anh Tân cười mỉm bảo thì lâu lâu mình cũng phải... giải trí một chút chứ. Mình vẫn không tin lời anh Tân. Gặng hỏi mãi, anh Tân mới chịu thú thật: Chiều nay, anh mời được một... cô bạn mới quen đi ciné – Thì dính dáng gì tới em – Không, tại anh... "lỡ" quảng cáo Huyền kỹ quá nên cô ta cứ đòi anh giới thiệu Huyền.

Thì ra vậy. "Người ta" dùng mình (mà không xin phép trước) để làm nhịp cầu tìm đến nhau. Bây giờ thì mình hiểu những lúc anh Tân rời cuốn sách học, ngồi nhìn mây bay, khung trời xanh, hiểu những chữ viết chằng chịt trên mặt bàn và hiểu sự thay đổi trong cách ăn diện của anh Tân. Thật rắc rối và kiểu cách! Mình nghĩ sau này nếu... chẳng may mình bước vào "con đường" đó, mình sẽ rất đơn giản, chân thật. Nhưng... biết đến bao giờ nhỉ?

Chị Ngọc của anh Tân coi cũng đẹp, dễ thương. Trong câu chuyện chị Ngọc cho biết cũng cùng tuổi với mình – 17 – Ở nhà anh Tân vẫn coi mình là trẻ con – trẻ con mà biết gì – Thế mà bây giờ anh Tân lại chọn một người-trẻ-con. Dĩ nhiên mình không dám nói ý nghĩ này cho anh Tân hay chị Ngọc nghe, chỉ cười một mình.

Vào trong rạp, mình chọn một ghế ngồi xa. Để "thiên hạ" được tự nhiên chứ!

Phim thật hay, nhưng buồn. Chủ đề về tình yêu và thân phận con người. Mình thương Juliet trong phim quá!

Sau khi xem ciné, anh Tân dẫn đi ăn kem. Nhìn anh Tân luống cuống kéo ghế mời chị Ngọc ngồi mà mình suýt bật cười. Giá ở nhà anh cũng cưng chiều em gái của anh như thế nhỉ!

Đưa chị Ngọc về xong, hai anh em còn đi vòng mấy con phố. Có lẽ vì mới "mắt vương tơ", anh Tân vui vẻ bảo anh tặng Huyền một món quà để đền ơn, tùy ý Huyền chọn. Được dịp, mình đòi mua những 5 cuốn sách thật dầy. Cho... bõ ghét! Ai bảo vẽ chuyện!


THỨ SÁU

Mình ở nhà Cúc ra về thì trời chợt mưa.

Sáng nay mình thấy vui vui. Không hiểu tại sao. Tự nhiên mình thích đi dưới mưa. Bên đường, hai dẫy me cao vút chụm đầu vào nhau, rắc xuống những chiếc lá vàng và những giọt nước lớn. Một vài chiếc lá đậu trên tóc và vai mình. Mình để yên vậy. Những bông hoa đó.

Nước ướt thấm qua làn áo làm lành lạnh. Nhưng mình thích. Mình nghĩ giá nhỏ Cúc biết mình "lang thang" thế này chắc nó thèm lắm. Lúc nãy con nhỏ làm mình "quê" quá, cứ thỉnh thoảng nói bóng gió mình với anh Cường. Cũng may anh Cường không để ý. Mình bước đi mà dường như vẫn nghe tiếng anh Cường văng vẳng trong tiếng rì rào của lá me. Anh Cường nói chuyện vui ghê. Anh nói chuyện nắng, mưa, sách vở mà như anh tâm sự. Tại giọng anh trầm, ấm...

Mình như vừa uống một ly rượu mạnh. Lâng lâng...


THỨ BẨY

Nhỏ Yến bị cô vạn vật bắt quả tang viết thư cho bồ trong lớp. Cô trừ có 3 điểm hạnh kiểm. Nhưng mình không đồng ý cô đã dùng những lời lẽ quá đáng để la nó và đọc lá thư cho cả lớp nghe. Mình nghĩ tuổi mới lớn như nụ hoa vừa chớm nở làm sao tránh được những giọt sương đậu long lanh trên cánh hoa? Nếu là cô giáo, mình sẽ không "nặng lời" với "tuổi-mới-nứt-mắt-mà-cũng-bày-đặt-yêu-với-iếc" (chữ dùng của cô đấy) nhưng mình sẽ lợi dụng việc này để ca tụng sự cao đẹp của tình yêu, đồng thời nêu ra những hướng dẫn thực tế cho những "con nai vàng còn ngơ ngác"... Ngồi trong lớp mà mình nghĩ thương anh Tân. Anh Tân dặn hoài là Huyền đừng nói chuyện của anh với ba mẹ nghe ; ba mẹ mà biết được thì chết anh – Người lớn và tuổi trẻ luôn luôn bị ngăn cách ; chỉ bởi người lớn không chịu cúi xuống, hòa đồng cảm thông với tuổi trẻ...

Nhìn mặt nhỏ Yến buồn rượi, mình chuyển sang cho nó một múi chanh với dòng chữ "Đừng thèm nghĩ ngợi – Mày ngậm múi chanh này là "buồn ơi, giã từ".

Mình thấy nhỏ Yến cười gượng với mình rồi đưa múi chanh vào miệng. Nó hơi nhăn mặt. Có lẽ múi chanh chua quá!


CHỦ NHẬT

SÁNG

Mẹ hứa nếu thằng Tân thi đậu ba mẹ sẽ cho cả hai anh em lên Đà Lạt nghỉ mát một tuần lễ. Mình mừng rú - "Sinh mạng" của em nằm trong tay anh Tân đấy nhé... Em mà không được đi thì em méc chị... Mình chưa nói hết câu anh Tân đã chạy lại ký một cái vào đầu. Mẹ chẳng hiểu gì cả, kêu ơ hay sao lại đánh nó – Tại con thương nó đấy mẹ ạ – Cả nhà cười làm mình cũng bật cười theo sau khi "tặng" cho anh Tân một cái nguýt thật dài.

Tính nhẩm, mình thấy còn những hai tuần lễ nữa anh Tân mới thi, sau đó còn chờ kết quả thi viết, rồi vấn đáp. Lâu quá nhỉ. Mình trông đợi một chuyến bỏ thành phố ồn ào và nắng cháy này. Mơ hồ mình có cảm giác như đang được hít khí lạnh cao nguyên, lắng nghe tiếng nỉ non của ngàn thông, được cho tay xuống vớt nước trong vắt của con suối, được ngắm các thung lũng mang những tên thật thơ mộng... Tuy nhiên điều mình mong ước hơn cả là được dịp thoát khỏi, dù trong thời gian ngắn, sự độc điệu của cuộc sống hiện hữu ; cái gì đều đều dễ làm cho con người chán ngán. Sự thay đổi, mình hy vọng, sẽ đem lại ít nhiều tươi mát cho ngày tháng con gái...

CHIỀU

Trong một tuần, chiều chủ nhật là chiều buồn nhất. Nghĩ tới thứ hai và chuỗi ngày tiếp theo, mình có cảm tưởng như phải khởi đầu lại một hành trình mà mình vừa hoàn tất, như một người cố gắng leo lên tới đỉnh núi rồi đi xuống rồi lại phải leo lên, như con chuột bạch đánh vòng tròn. Chán!

Lại một chu kỳ nữa chờ mi, Huyền ạ...


HOÀI MỸ     


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 4, ra ngày 20-6-1971)

Bìa của Vi Vi : Suy tư

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2019

LƯU BÚT KỶ NIỆM - Nhã Uyên














Tiếng ve sầu  trong  ngày đầu tháng hạ

 Phượng đỏ mầu trong cơn gió vờn bay

 Em giật mình khi sắp sửa chia tay

 Với thầy bạn... sao em buồn muốn khóc !


Quyển lưu bút bạn em chuyền tay đọc

 Và ghi thêm dòng cảm xúc đậm sâu

Mới hôm nào mình xa lạ sao đâu

Mà nay đã  mến thương nhau bồ bịch


Trong lưu bút bạn vẽ vời tinh nghịch

 Có người  kèm  hình ảnh chụp linh tinh

  Chút đùa vui  nhưng lại giấu tên mình

  Nhìn chữ viết, em nhận  ra tác giả


 Mùa hè nóng làm đỏ bừng đôi má

  Kỳ lạ chưa,  có  người bạn chọc quê

 Tính nhút nhát em chỉ biết  cười huề

  Đọc dòng chữ  " Hẹn gặp nhau em nhé "


  Kèm thơ riêng làm tim em đập nhẹ

  Ba tháng hè cho bạn ấy được gần

  Gặp mặt nhau và trò chuyện quen thân

  Vì nhớ lắm mà  chưa  lần bày tỏ 


  Thật hồi hộp  em ngạc nhiên lắm đó

  Bấy lâu nay em chẳng biết mô tê 

  Và từ nay ta chung bóng đi về

  Chẳng lẻ loi mình dìu nhau sánh bước 


  Lúc tan trường em có người  đón rước

  Em thẹn ghê nhưng lại thấy yêu đời

   Tim rộn rã  tình cảm lạ ghê nơi

   Nhưng lặng lẽ em cúi đầu rảo bước


    Và cứ  thế  em lầm lì như trước

   Mắt trao nhau  em  khẽ mím môi cười 

   Thuở ban đầu lưu luyến dấu chân người

   Làm  người lớn  em thấy lòng khác lạ


  Quyển lưu bút  mang yêu thương mùa hạ

   Mối tình đầu  là huyền thoại đời em

    Qua  bao  năm   trang giấy đó cũ mèm

    Phai dấu mực vẫn đậm đà kỷ niệm.

                                                           Nhã Uyên

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com/

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2019

MÙA HÈ TRONG ẤU THỜI - Mộng Du


Mái nhà nhỏ nằm khuất sau vườn cây cạnh quốc lộ, tôi vẫn còn nhớ, căn nhà chứa tất cả mật ngọt của ấu thời xa lắc, có anh Bằng và tôi mỗi kỳ hè rực rỡ.

Khi những con ve ngoài vườn cây bắt đầu rỉ rả, anh em tôi lắng nghe mùa hè, đến thật êm đềm bằng những bông phượng nở đỏ chói bên cạnh quốc lộ. Mùa hè, anh Bằng vất sách vở qua một bên, bắt đầu đi săm soi những cành cây đầy tiếng ve bi thiết. Phía sau nhà là cánh đồng lúa xanh mướt, buổi chiều tôi tung tăng xách con diều giấy chạy theo anh Bằng, cánh đồng lồng lộng gió mùa Hạ, hương lúa non lẫn mùi đất ẩm tạo nên một mùi vị thật thân yêu mà đến bây giờ tôi vẫn còn thương nhớ. Cánh diều lên cao, cao dần trong bát ngát trời mây xanh thẳm, nó chỉ còn là một vệt dài uốn éo trên không. Tóc anh em tôi cũng phất phơ như sóng lúa rì rào bên cạnh. Cánh diều no gió như niềm vui căng đầy trên khuôn mặt rạng rỡ của anh tôi. Tôi ngồi trên bờ ruộng, dõi mắt theo cánh diều chao lộn trên nền trời, nghe tiếng gió xào xạc trên rặng tre xa, như ru đời ấu thơ trong tấu khúc tuyệt vời của quê hương nồng nàn mùa hạ.

Hai anh em tôi sống hồn nhiên như những con chim ngoài vườn, má tôi để hai đứa rong chơi rất dễ dãi, nhất là mùa hè, khi sách vở và những ràng buộc với học đường được xếp lại một bên. Suốt ngày, chúng tôi mầy mò trong vườn với những con dế đen nhánh, hoặc lần ra bờ sông leo vắt vẻo trên cành sắn vừa hái trái ăn vừa ném xuống nước, tạo thành những âm thanh khuấy động cái yên tĩnh buồn ngủ của buổi trưa hè. Có hôm nắng soi rực rỡ mảnh sân quang vắng, má đổ thóc ra phơi và tôi với anh Bằng phải ngồi cạnh đó để... đuổi gà. Tôi còn nhớ dưới ánh nắng gay gắt, anh Bằng đầu đội chiếc mũ vải kéo lê đôi chân nhỏ bé trên đệm lúa mà lùa những hạt thóc trở nắng. Tôi ngồi nhíu mắt bên hiên nhà cầm cây tre dài xua đuổi mấy con gà tham ăn vẫn lần quẩn vào mổ thóc. Buổi trưa oi bức hơi nóng, những hạt bụi thóc bám trên chân anh Bằng trắng mốc, tôi lơ đãng nhìn ra ngoài xa, những hàng cau thẳng tắp trên nền trời cao vút. Trong không gian êm vắng đó, tiếng má tôi gánh nước đổ ào ào vào lu, âm thanh vui vẻ mà mát dịu.

Trước nhà tôi có hai hàng vạn thọ, những bông hoa tròn trĩnh vàng tươi thật dễ yêu, mỗi sáng chiều má lại xách nước về xăm soi cành lá, niềm vui của má tôi chỉ quanh quẩn bên luống rau xanh mướt, bên giàn mướp trổ hoa, và sau khi ba tôi bị đổi đi xa thì những hàng vạn thọ yêu quí của ba cũng vào tay má săn sóc. Có lần má sai anh Bằng tưới bông, anh vừa tưới vừa đổ nước vào hang dế cạnh đó, nước tràn lan trên mặt đất, và chỉ lát sau là anh bị trợt té, ngã đổ cả mấy gốc vạn thọ, khi má tôi thấy quang cảnh tiêu điều thì anh Bằng cũng bị mấy roi vào mông đau điếng. Từ đó, má không dám sai chúng tôi tưới cây nữa, nên hai anh em tha hồ mà bày trò chơi.

Những buổi xế trưa, tôi và anh Bằng lén ra gốc phượng ngoài quốc lộ. Cây phượng chắc mọc từ lúc chúng tôi chưa ra đời, cành lá xum xuê và tỏa bóng mát rợp một quãng. Về mùa hè, lá xanh lẩn mất bởi những đóa hoa rực rỡ nở kín cành lá. Tôi không thích leo cao, chỉ quanh quẩn dưới gốc nhấm nháp quả ổi nhìn anh Bằng thoăn thoắt lên trên. Quốc lộ buổi trưa yên tĩnh lạ lùng. Tôi đưa mắt nhìn dãy đường lồi lõm ổ gà như bốc hơi dưới ánh nắng rát, cây cỏ hai bên vệ đường vàng da và ủ rũ, cỏ trinh nữ xơ xác đầy gai nhọn. Anh Bằng leo ngồi trên một cành cao, bẻ một nhánh phượng đủ cả hoa lá cành ném xuống nền cỏ, tôi chạy lại nhặt lên và nâng niu trong tay, những bông phượng mịn màng bám víu vào cành khô. Anh Bằng níu vào canh cây nhìn suốt trên quốc lộ rồi một lúc bỗng gọi tôi:

- A, sắp có xe đò qua Như ơi, anh thấy nó bên kia cầu kìa, nhỏ xíu hà!

Tôi vội nuốt miếng ổi cuối cùng qua cổ, hỏi dồn:

- Không biết co ba về không hả anh Bằng?

Chẳng nghe tiếng trả lời, tôi cũng chăm chú dõi mắt về phía quốc lộ , chiếc xe đò to lớn chạy vụt qua và mất hút sau đám bụi mù, quốc lộ trở nên im vắng như trước, bên tiếng ve rền rĩ từ những rặng cây cao, bên kia đường lúa bát ngát nhấp nhô vì gió gợn. Một lúc sau, anh tôi tụt xuống, phủi những vết bẩn trên cánh áo nói với tôi:

- Sao ba lâu về quá há Như? Mình đón hoài mà chẳng thấy gì hết!

Tôi ngẩn ngơ nhìn anh rồi chép miệng:

- Chắc mai mốt ba mới về, đâu vô hỏi má thử coi.

- Ừ!

Anh tôi trả lời rồi hai đứa vụt chạy theo đường đất băng qua bờ ruộng để về nhà. Nắng chói chang trên đầu, tôi giơ nhánh phượng đỏ thắm lên cao, chạy về nhà như một kẻ anh hùng vừa thắng trận. Những đốm sáng vẫn còn nhảy múa trên mi mắt khi hai anh em đứng thở dốc dưới bóng mát của giàn mướp trước sân.

Buổi chiều, ba mẹ con tôi ngồi bên hiên nhà nhìn ra cánh đồng. Lúa trổ xanh ngút mắt, và ngoài sân, giàn mướp lốm đốm hoa vàng. Anh Bằng vân vê mấy xác ve khô, nhánh phượng tôi cắm trong lon sữa bò tựa vách héo rũ. Xác ve và xác phượng, những vết tích mùa hè, nhưng lúc đó tôi chưa biết nghĩ ngợi gì ngoài việc mơ đến chuyến xe đò mang ba tôi về nhà, anh Bằng từ cành phượng tuột xuống, tôi chạy ra mỗi đứa níu một tay ba dẫn về nhà, chắc là vui lắm.

Ấu thơ trôi qua như bóng mây, anh Bằng vào lính, lâu lâu khi thấy phượng nở, anh lại viết thư nhắc nhở mùa hè năm xưa, hai anh em đứng bên gốc phượng trông đám bụi mờ ngoài quốc lộ. Hoa phượng vẫn nở hằng năm đưa thuyền ấu thơ dần xa, mùa hè bây giờ nồng nàn kỷ niệm, và cũng ngậm ngùi như xác những con ve chết khô dưới gốc cây mà mùa hè nào anh em tôi vẫn nhặt được.


MỘNG DU (QHVN)   


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 126, ra ngày 1-7-1974)



Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com/

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2019

THƯƠNG VỀ PHƯƠNG TRỜI CŨ - Trần thị Phương Lan














Chiều qua ngõ cũ năm nào
Thấy màu hoa kỷ niệm  nao nao lòng 

Hồn nhiên, thơ dại, trắng trong
Dưới giàn hoa tím tuổi hồng thơ ngây 

Búng thun,  banh đũa, nhảy dây,
Năm mười, rồng rắn lên mây, lò cò... 

Đời chia trăm ngả bến bờ
Ngõ xưa, chiều vắng, bơ vơ một mình 

Chim trời  khuất cõi mông mênh
Hoàng hôn dần xuống, buồn tênh cõi lòng 
Hoa xưa tim tím thủy chung
Người xưa biền biệt, tương phùng mong chi 

Ngậm ngùi lệ ướt hoen mi
Lật trang lưu bút, tiếc gì ngày xanh... 


                                           Trần Thị Phương Lan
                                            (Bút nhóm Hoa Nắng) 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2019

XỨ MỘNG CỦA NHI ĐỒNG - Phan Khương Thái


Viết theo phim "Willy Wonka
au pays enchanté"

Gia đình cậu bé San Lý rất nghèo. Mẹ của cậu – một góa phụ đảm đang – làm quần quật suốt ngày trong một xưởng giặt ủi, chỉ đủ gói ghém cho sáu miệng ăn. Ông bà Nội, ông bà Ngoại của San Lý đã quá già yếu, không thể giúp đỡ mẹ cậu trong bất cứ công việc lớn, nhỏ nào. Ngày hai buổi, San Lý phải cắp sách đến trường. Một ngôi trường cũng bé nhỏ như làng của San Lý sinh sống. Sau buổi học, bạn bè San Lý túa vào hàng quà bánh. Còn San Lý? Kìa! Cậu bé đang thèm thuồng dán mũi nơi cửa kính của một tiệm kẹo lớn nhất trong làng. San Lý thích nhất kẹo sô-cô-la, nhưng cậu phải đi giao báo. Một việc làm phụ trội hợp với khả năng của cậu bé.

Rồi cũng đến một buổi chiều lãnh lương. San Lý lí nhí cám ơn ông chủ sạp báo tốt bụng. Nhanh như một con sóc, cậu bé bỏ 1 tờ vào hộp thư, nhét vào khe cửa, ném tận thềm hay tung hẳn vào rổ rau cải của một bà đang lui cui trên luống xanh non... San Lý ùa vào căn nhà tồi tàn lụp xụp một làn gió mùa xuân vừa đem sinh khí cho bốn ồng già bà cả: Những người ở không, bệnh hoạn... làm gánh nặng cho mẹ của San Lý.

- Dậy đi bà. San Lý về kìa.

Ông Gia – Nội của San Lý – trổi dậy trước tiên, rồi đến ông Ngoại của San Lý. Hai bà Nội, Ngoại càu nhàu vì bị chồng đùa khỏi mảnh chăn ấm áp. San Lý hôn lên trán từng người thân. Cậu dừng lại trước chén súp lõng bõng của ông Gia:

- Đây là bữa ăn tối của Nội hả Nội?

Ông Gia đưa thìa súp lên miệng, khôi hài trước cặp mắt kinh ngạc của cháu:

- Của ông với cháu đấy.

Mẹ của San Lý ái ngại quay đi, và khi bà quay lại.

- Ồ! San Lý, con lấy ở đâu ra?

- Một ổ bánh, nhìn da bánh chín đến ngon.

Hai ông già nạt vợ:

- Ở đâu ra cũng mặc, miễn là nó không ăn cắp thì thôi.

Mẹ của San Lý chưa hết sững sờ. San Lý dốc túi quần – cái quần rộng thùng thình của ba nó được sửa lại – San Lý đưa hết tiền cho mẹ. San Lý chỉ xin giữ vài đồng lẻ để mua sô cô la, và vài đồng cho ông Nội mua thuốc hút. Ông Gia cảm động đẩy tay cháu:

- Không, ông bỏ hút thuốc rồi. Hút thuốc không no cái bụng.

- Ông cứ cất cho cháu nó vui. Và tối nay chúng ta sẽ có tiệc. Một bữa ăn thịnh soạn có bánh mì, khoai chiên, bít tết...

Căn nhà vui hơn cả lúc ba San Lý còn sống. Họ quây quần bên máy truyền hình. Phút tin tức sốt dẻo được loan báo: "Ông Vỹ Liệt có in năm cái vé bằng vàng giấu trong thanh kẹo sô cô la. Kẹo tung ra bán khắp thế giới. Đây là một cuộc chạy đua vĩ đại, 5 người có vé ấy sẽ được ăn sô cô la miễn phí suốt đời..." Ông Gia phê bình:

- Đó chỉ là một trò quảng cáo của con buôn.

Nhưng San Lý trái lại, cậu bé tin tưởng và hy vọng sẽ là kẻ may mắn. Vì cậu bé đã đọc tin giật gân này trên báo. Mới hồi chiều, trên phố San Lý chợt thấy khung đèn quảng cáo của hãng kẹo nổi tiếng nhất làng chớp tắt chữ: Vương Cang. San Lý dừng lại cách cổng xưởng một quãng xa mà vẫn ngửi được mùi thơm của đường, mật, va-ni... San Lý thèm kẹo, thèm được vào khu xưởng một lần để thỏa mãn óc tò mò. Một ông già đi lượm đồ phế thải kể với San Lý:

- Đừng hòng một ai vào đó ăn cắp bí quyết của ông Vỹ Liệt Vương Cang. Kể từ ngày người cộng sự của ông ta là Sơn Bảo học thành thạo nghề và tách riêng, ông đuổi hết công nhân, trong đó có lão, và bế môn đã ba năm nay. Tại sao ông ta lại đổi ý và sửa soạn rước khách vào thăm xưởng chứ?

Đêm đêm, ông cháu San Lý thì thầm dưới ánh đèn tù mù. San Lý dẹp hết các chuyện cổ tích qua một bên và cứ nhắc đến "Sô cô la Vương Cang":

- Liệu cháu có "trúng số" không hả ông?

- Sao lại không, nếu cháu ngoan ngoãn mãi và chăm học.

Ông Gia rút dưới gối nằm ra một vật:

- Cháu mở thử xem.

- Ồ! Tiền mua thuốc lá của ông. Ông mở giùm vì cháu hồi hộp quá.

- Cháu mở đi, tay ông cũng run.

Phép lạ không xảy ra. Hy vọng của San Lý nguội dần dà theo tin tức ghi từ các nơi, thuật lại trên báo, truyền hình.

Vé đầu tiên lọt vào tay cậu bé Tám Phì Lũ, ở một ngôi làng nhỏ bên Đức. Ngôi làng rộn rịp hẳn lên. Bà mẹ cũng mập như cậu con tham ăn, đã trả lời phỏng vấn của báo chí và truyền hình:

- Cảm tưởng của tôi? – Bà ta kiêu hãnh ngó chồng – Tôi tin chắc con tôi sẽ trúng giải. Mỗi ngày nó ăn những 72 thanh sô-cô-la.

Còn cảm tưởng của cậu?

- Đói kinh khủng.

Tám Phì Lũ không phí một giây để miệng ngưng hoạt động. Cậu  bé dùng bữa thản nhiên giữa buổi tiếp tân long trọng. Cậu chỉ xao lãng ít phút để nghe một ông cận thị ghé vào tai dặn nhỏ một sự gì bí mật.

Vé thứ hai, cô bé Hoa Sim. Hãy nghe cô khoe:

- Tôi ăn kẹo cao su suốt ngày. Từ hôm có cuộc thi tôi đổi qua ăn sô cô la.

- Vậy làm sao cô dùng bữa?

- Tôi dán miếng kẹo sau vành tai, ăn xong lại tiếp tục. Xem nè, miếng kẹo này tôi nhai đã 3 tuần liền.

Cô bé Hoa Sim vẫy tay chào bạn học trước ống kính truyền hình:

- Cẩm Liên, tôi đã thắng chị, chị đã nhả miếng kẹo sau 2 tuần.

- Cảm tưởng của cô?

- Không có, sau khi được vé vàng, tôi trở lại ghiền kẹo cao su.

Vé thứ ba tìm thấy ở nước Anh. Ông Sâm hét công nhân từng chặp. Mọi công việc ở hãng ráp xe đạp tạm nghỉ để động viên số người bóc giấy những thanh sô cô la.

Vậy mà cô bé Vi Vu hỗn hào – con gái cưng độc nhất của ông bà Sâm – vẫn chưa vừa lòng, cô giậm chân, nạt lại ông Sâm:

- Ba không hề lo cho con. Con sẽ nghỉ học luôn.

- Này con, kẹo bán ra khắp thế giới, nào chỉ tập trung ở đây.

- Con muốn có một Vé Vàng ngay.

Bà Sâm thở dài, ông Sâm đưa hai tay lên tỏ vẻ chán nản:

- 19.000 thanh kẹo một giờ, 5 ngày trôi qua, 76.000 thanh kẹo bỏ đi.

- Thì ba bắt họ làm đêm luôn.

- Các người nghe đây, ai tìm ra tấm Vé Vàng sẽ được thưởng xứng đáng.

Một chị người làm giơ lên tấm vé lấp lánh, lập tức mọi người ngừng ngay công việc buồn tẻ mấy ngày rày. Tất cả đều có lý do để vui mừng, nhất là cô chủ nhỏ Vi Vu:

- Má ơi! Con tìm được (?) vé vàng rồi.

Bà Sâm đặt cái bàn căng thêu áo xuống ghế sa-lông, chắp đôi tay:

- Cám ơn Trời Phật. Ôi! Hạnh phúc gia đình tùy thuộc chỉ một tấm vé cỏn con.

Vé thứ tư do cậu bé Mai-Cơ tìm ra. Không hiểu sao một cậu cao bồi con ở tiểu bang Arizona mê xem truyền hình, không thiết học hành lại có được cái may đặc biệt. Cuộc phỏng vấn phải khó khăn, vì các câu trả lời nhát gừng của Mai-Cơ, đang chăm chú xem một phim cỡi ngựa, bắn súng... tàn bạo, hấp dẫn. Bà giáo sư Sử Địa – mẹ cậu – rầy con không được đành phải trả lời thế.

Nhiều chuyện buồn cười xảy ra bên lề cuộc thi. Một bà giàu có đến bót cảnh sát khai chồng mất tích. 10 phút sau, điện thoại reo, cảnh sát trưởng lạ lùng:

- Bọn bắt cóc đòi phải chuộc chồng bà với một thùng kẹo sô cô la.

- Trời, thùng sô cô la Vương Cang, lô cuối cùng mà tôi phải trả rất cao trong buổi sáng bán đấu giá.

- Tùy bà lựa chọn giữa chồng và thùng sô cô la. Đây, địa chỉ chúng hẹn để trao đổi con tin...

Thêm một chàng thanh niên mơ tưởng đến tấm vé vàng đến sinh bệnh "tương tư". Cậu chữa bệnh với một nhà phân tâm học:

- Tôi luôn luôn thấy tấm vé vàng ấy ở...

Bác sĩ phân tâm học chừng như cũng động lòng:

- Nói mau, anh thấy vé ấy ở đâu?

Lập tức, chàng thanh niên nhảy khỏi giường và ra về để giữ trong đầu cái bí mật hoang đường. Vài ngày sau, chàng thanh niên ấy tìm ra vé vàng cuối cùng. Trẻ em thôi chen nhau mua sô cô la Vương Cang. Các tiệm kẹo bánh vắng hẳn. Thời gian qua người ta, già có, trẻ có đã đổ tiền chỉ để mua sô cô la. 5 vé vàng xuất hiện, thì những thỏi sô cô la còn lại dù mang nhãn hiệu Vương Cang cũng trở nên tầm thường. San Lý thờ thẫn từng bước trên lề đường vắng vẻ. Cậu bé không hay rằng người ta đang tranh nhau giành đọc một "tít" lớn: "Chàng thanh niên mắc tâm bệnh, con một nhà tỷ phú đã ngụy tạo tấm vé vàng..." Người ta hân hoan trở lại, vừa mắng bâng quơ anh chàng mưu sĩ nọ. San Lý chợt sáng mắt lên. Có lẽ đồng tiền vàng nằm âm thầm trong một góc cống cũng không sáng bằng. Cậu be lách tay qua khe vỉ sắt đậy cống nhặt lấy. Tung tăng chân sáo, San Lý đến sạp lấy báo. Cậu bé lách đám đông ồn ào và đọc ké. Báo hết nhẵn, ông chủ cho San Lý tạm nghỉ. Cậu bé tông cửa tiệm kẹo im lặng.

- Sô-cô-la Vương Cang, ông Hai.

- Lớn hay nhỏ?

- Cả hai. Một để tặng ông Nội tôi.

- Trả tiền đi em bé. Cho gửi lời thăm ông Gia nhé.

San Lý ngốn thanh sô cô la to. Bỗng cậu bé đổi ý kiến. "Hay ta bóc ra thử..." Hi hí mắt San Lý lột nhãn, xé giấy, nặn từng chút như một tay đánh bạc.

- Ồ! Vé Vàng, ta mơ?

Một bà nội trợ về chợ ngang qua. Bà dừng lại, chộp tay San Lý (?) À không! Bà mừng phụ San Lý:

- Xem đây, tấm vé vàng cuối cùng.

Từ sạp báo, các nhà gần đó... mọi người ùa đến nhìn sự thật. Bà hồi nãy cố kéo San Lý khỏi đám người hiếu kỳ:

- Thằng bé ngộp thở mất! Cháu hãy giữ chặt vé và chạy một mạch về nhà mau lên.

Vẫn chưa hết bàn tán:

- Có thế chứ. Ít ra ông Vỹ Liệt phải chừa một vé cho trẻ em trong làng, ngay chỗ sản xuất kẹo mới đúng.

Tin giờ chót. Cuộc thi chấm dứt. Ông Vỹ Liệt có nhã ý mời thêm 5 phụ huynh của mỗi em cùng vào thăm bên trong xưởng kẹo của mình.

Ngày chủ nhật trọng đại đến trong bầu không khí tưng bừng náo nhiệt. Toàn quốc đổ xô về ngôi làng của san Lý chỉ để nhìn 5 đứa bé may mắn bằng xương bằng thịt. Họ thèm thuồng tiếc rẻ. Ông Vỹ Liệt Vương Cang nhẹ nhàng khép cửa tòa biệt thự. Tấm thảm đỏ chạy dài đến cổng sắt hàng rào. Đám trẻ em vẫn đu, bám tòn teng trên cổng, liếm môi nhìn những kẻ may mắn được ông Vỹ Liệt hướng dẫn vào trong xưởng. Ông Vỹ Liệt đưa mọi người từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thoạt đầu San Lý thấy ông đi cà nhắc với chiếc gậy. Nhưng ông cầm gậy, buông tay. Tưởng ông té, nào dè ông nhào mấy vòng và đứng lên nhảy nhót giữa những tràng pháo tay hoan hô. Và đây, mọi người toan máng nón, áo choàng... thì đã có những bàn tay sắt máy móc cầm giữ làm ai nấy hoảng hốt một phen. Ông Vỹ Liệt mở cửa phòng thứ hai. Cô bé Vi Vu hỗn hào vụt chạy. Ảo tượng thị giác khiến mọi người nhìn lầm căn phòng dài hun hút bởi những bức vách quái dị trước mặt. Cô bé Vi Vu bị ép chặt hơn ai hết, la to:

- Ông già, chơi trò gì kỳ vậy?

-Căn phòng hẹp dần. Sao ông lại nhốt chúng tôi?

- Đừng nóng, tôi đang tìm lối ra. Đây quả nắm.

San Lý đứng chót ngăn lại:

- Không phải ông ơi, chúng ta vừa vào lối này.

Cậu bé Tám Phỉ Lũ thở hổn hển:

- Cửa nào cũng được, cho tôi trở ra gấp.

Tựa một ông phù thủy biến hóa, ông Vỹ Liệt mở cửa lúc vào, nhưng căn phòng đã trở nên một hành lang dài thật sự với những cửa vào nhỏ bé. Cha cô bé Hoa Sim bật cười:

- Ông định bắt chúng tôi chun vào những cái hang chuột ấy?

Bà mẹ cậu bé Tám Phì Lũ đòi trở ra ngay, không xem gì thêm.

- Mọi người đừng nóng, chúng ta còn đi xem nhiều.

Ông Gia thắc mắc:

- Chỉ có người lùn mới vào những cửa nhỏ ấy được.

- Đúng quá, ông có nghe nói đến giống người lùn?

Bà giáo sư Sử Địa – mẹ của Mai Cơ – phản đối:

- Không thể có được bên cái xứ đầy ác thú...

- Bà lầm, có xứ người lùn và giống người lùn, tôi đã mang tất cả họ về đây sống yên ổn. Cửa này mở bằng một bản nhạc...

Và San Lý chợt hiểu ra cái bí mật đã giúp xưởng kẹo hoạt động âm thầm như bầy mối trốn ánh sáng trong tổ, từ ba năm nay. Bà giáo sư Sử Địa lần này am hiểu và thốt lên xuất xứ của bản nhạc phát ra từ máy ghi âm. Cửa mở lớn. Một thiên đàng hạ giới có phải? Ông Vỹ Liệt cho biết mọi người có thể tùy tiện ăn bất cứ một thứ gì. Thích vô cùng. Người lớn không ngớt trầm trồ, thán phục:

- Kẹo đây sao? To như bong bóng ăn sao cho hết?

Cô bé Vi Vu bứt những hoa gặp được ; đá những trái banh kẹo. Cô bé Hoa Sim đập vỡ một quả dưa để vục tay vào sô cô la. Cậu bé Phì Lũ ngồi ngay một bụi trái dại đánh chén. Gần đó ông Vỹ Liệt vừa buông cây dù nấm, nhấc một nụ hoa vàng nhắp mật hoa bằng si rô. Bà mẹ cậu bé Mai Cơ cúi trên một cây nấm lưỡi trâu khổng lồ.

Bà ăn bốc kem sữa mát lạnh, đốm mốc trên nấm sô cô la. Ông Gia rút một chiếc gậy tua tủa trên thân cây. San Lý bắt chước ông bẻ cái "rắc". Lại cũng kẹo. Ngoài ông Sâm nheo mắt hỏi nhỏ ông Vỹ Liệt: "Ông có rượu, hay kẹo rượu", chỉ có 2 kẻ không hài lòng. Cô bé Hoa Sim tìm kẹo cao su. Tám Phì Lũ đòi lãnh ngay lượng sô cô la phần thưởng.

Mọi người kéo đến bên dòng sông đục ngầu, cha cô bé Hoa Sim chê rằng:

- Ông Vỹ Liệt để dòng sông đầy bùn, dơ quá.

- Sô cô la mà trong sao được. Quí ông nhìn dòng thác kia. Cách trộn của tôi như vậy là tuyệt diệu nhất.

Cậu bé Tám Phì Lũ không bỏ lỡ cơ hội để gục đầu xuống uống, mặc mẹ cậu ngăn cản và ông Vỹ Liệt không thuận:

- Cậu làm ô uế dòng sông rồi. Thôi nghe...

Cậu bé Mai Cơ lượm không hết kẹo bị rơi từ những trái táo trên cây, Khi cậu bé chạy đến dòng sông gặp lúc Tám Phì Lũ vừa vùng vằng né bà mẹ đến rơi tỏm xuống sông chìm lỉm. Riêng mình San Lý định cứu. Nhưng cậu bé cầm đầu que, đầu kia viên kẹo to bằng bánh xe đạp trơn tuột. Ông Vỹ Liệt bất lực. Mọi người tròn xoe cặp mắt nhìn Tám Phì Lũ bị hút dần vào cái ống.

- Con tôi sẽ chết?

- Không sao cả. Nó chỉ bị bắn tung lên cao.

Cậu bé Mai Cơ xen lời:

- Có thể tan xác ra.

Nghe đến đó, bà mẹ cậu bé Tám Phì Lũ ngã ra bất tỉnh.

Ông Vỹ Liệt ngoắc 4 người lùn công nhân từ bên kia sông. Ông Gia trợn cặp mắt, vểnh hàm râu:

- Người da màu cam, họ làm gì ở đây?

- Họ làm tất cả, chẳng hạn khuấy đường hòa tan vào sông sô cô la. Hãy đỡ bà này vào một phòng để săn sóc. Vĩnh biệt bà.

Bốn người lùn mặc bộ áo trắng toát, cái quần có yếm choàng qua lưng bỏ cái xe cút kít chạy lon ton đến lôi bà mẹ cậu Tám Phì Lũ sềnh sệch. Một chiếc du thuyền lừng lững chui ra từ cái hang đen ngòm. Chiếc du thuyền nổi bật vẻ đẹp quí phái lộng lẫy trên dòng sông sô cô la tỷ trọng nặng nề. Một người lùn cầm lái, hai người khác quay bánh xe nước.

Mọi người lần lượt lên thuyền, riêng bà mẹ cậu Mai Cơ e chiếc thuyền có thể rã tan. Thuyền lướt êm quanh co, gần thác rồi chui trở vào cái hang tối om om. Ông Vỹ Liệt ra lệnh quay bánh xe nước nhanh hơn, ông dành thêm 1 sự bất ngờ khác trong tiếng la hét của đám trẻ. Chúng sợ bóng tối và ánh sáng xuất hiện vùn vụt đuổi bắt nhau muôn hình vạn trạng. Cô bé Vi Vu quen thói quát mắng:

- Ông có mau bảo chúng ngừng lại không?

Và thuyền đến bến "bình an". Lúc đó cô Vi Vu nằng nặc đòi ông Sâm phải mua cho mình ngay chiếc du thuyền giống y chiếc này. Ông Sâm chiều con và hẹn lát về. Bây giờ mọi người vào đến trung tâm xưởng kẹo. Có những nồi súp de ngút khói, những lò nấu sôi sùng sục. Để giữ bí quyết ông Vỹ Liệt giả bộ cho những chiếc giày há mõm, áo quần rách vào nồi đường, mật... quậy lên. Cô bé Hoa Sim há hốc mồm:

- Ông làm gì vậy?

- Để cho kẹo có mùi thơm. (?!)

Quanh quẩn bên máy làm kẹo, mà mật nhễu từ một tổ ong đang nuôi trực tiếp trong lồng kính, cô bé Hoa Sim lại hỏi kẹo cao su. Những nồi trái cây bị ép dẹp, những mật ong, đường, sữa, va-ni... trong phút chốc biến thành 1 viên kẹo vuông nhỏ bằng đồng tiền. Cô bé Hoa Sim không phải chờ đợi nữa. Ông Vỹ Liệt vừa cho biết đó là kẹo cao su như ý. Cô bé Hoa Sim cắn thử một miếng nhai chóc chách. Và cô tả hương vị đậm đà của kẹo:

- Ngon quá, có mùi rượu khai vị...

- Chớ dại, kẹo chưa được thí nghiệm và tung ra thị trường, nhả ra mau cô bé, đừng nuốt – Lời ông Vỹ Liệt.

Cô bé Hoa Sim nuốt và cắn thêm một miếng nữa, gương mặt cô bỗng xanh lè rồi trắng tái, xanh như chàm đổ.

- A, mùi bít tết, khoai chiên, thịt bò hầm, đậu petit pois...

Nhưng cô bé dại dột không kịp hối hận vì toàn thân cô bỗng phì lên, to như một quả sim tím. Một quả sim to như thùng chứa rượu và nặng kinh khủng. Quả sim thò ra cái đầu tóc cột đuôi gà. Hai tay vung vẩy. Tay mặt buông nửa viên kẹo cao su như ý, tay trái buông viên kẹo nhiệm mầu. Viên kẹo bẩy mầu mà ông Vỹ Liệt vừa cho mỗi đứa. Kẹo nhiệm mầu là một loại kẹo ngậm, liếm hoài không mòn, sẽ được đem tặng trẻ nghèo và cô nhi. Ông Sơn Bảo chưa biết công dụng của kẹo nhiệm mầu nhưng đã dò biết. Trẻ nào có vé vàng ông ta cũng lân la dụ ăn cắp 1 viên đưa ông để đổi một số tiền thật lớn. Cha cô bé Hoa Sim sợ hãi nhất:

- Nè ông già, phải cứu con tôi, tại sao ông chế chi thứ kẹo độc địa này?

Ông Vỹ Liệt nhắc lại điều cam kết: "Quý ông bà không đọc hàng chữ nhỏ cuối các điều lệ, trên tờ hợp đồng bằng vàng dán ở căn phòng thứ ba lúc mới vào hay sao? Xưởng kẹo không chịu trách nhiệm mọi tai nạn xảy ra"

- Nhưng ông phải trả con tôi, một đứa bé bình thường.

- Thôi được, bốn chú kia lăn quả banh này vào phòng ép nước cốt trái cây.

- Sao? Lăn à? Ép lấy nước?

Bốn chú lùn ca một điệu nhịp nhàng di chuyển cô bé Hoa Sim. Cảnh tượng trông hệt bốn chú chuột bạch đang hì hục lăn cắp quả dưa hấu. Ông Vỹ Liệt vẫy tay chào từ biệt cha con cô bé Hoa Sim. Lời nguyền rủa của cha cô bé còn văng vẳng:

- Tôi sẽ trả thù. Dám biến con tôi thành một quả sim.

Ông Sâm kết luận mỉa mai:

- Con bé chưa kịp thưởng thức món tráng miệng. Tội nghiệp.

Sáu người khách còn lại ngần ngại thêm khi vào căn phòng kế bên. Sáu con ngỗng khổng lồ "oang oác" trên ngăn ô chồng cao ráo. Chốc chốc, 1 con đẻ một trứng vàng. Quả trứng to như chum rượu chát rơi xuống một cái cân là một cái máy chọn trứng. Trứng tốt rơi lần xuống cần xé rơm để một chú bếp lùn nhặt đập.

Cô bé Vi Vu nổi máu tham, nhất quyết bắt ông Sâm mua ngỗng đẻ trứng vàng. Ông Sâm vẫn chiều con vô lý:

- Để ba tìm mua. Muốn ngay hả? Ông bán bao nhiêu...? Vừa nói ông vừa rút tập chi phiếu săn đón ông Vỹ Liệt – 1 thói quen của giới thương mại.

- Ồ, tôi không thể bán.

- Ba phải mua với bất cứ giá nào, con chọn con ngỗng mập đầu chuồng.

Vừa nói cô bé Vi Vu giận dữ đá tung mọi thứ trước chân. Những quả trứng vỡ tan, những hộp kẹo giấy hoa đổ tung tóe. Rồi cô bé trèo lên bục, dĩa cân. Trợt chân, Vi Vu rơi xuống cân. Cây kim chỉ vào chữ "Hư". Tức thì cô rơi thẳng xuống 1 lỗ vuông sâu thăm thẳm: Sọt Rác. Ông Sâm điên cuồng bắt đền ông Vỹ Liệt và nhảy vào lỗ Sọt Rác như con:

- Chờ ba theo với. Hừ! Phần thưởng của ông!

Dĩ nhiên ông Sâm thuộc vào loại "trứng Hư" như cây kim lựa chọn. Ông Gia buông một câu:

- Cái máy này chính xác ghê.

Ông Vỹ Liệt đồng ý:

- Hiện thời chỉ còn lại 2 đứa trẻ không ranh mãnh. Mời tất cả qua đây đi một vòng.

- Họ sẽ đi về đâu, thưa ông? – San Lý hỏi.

- Họ sẽ trở ra một cách tiếc nuối. Lơ xe đổ nhiên liệu vào bình chứa và quay ma-ni-quên.

- Ồ, một chiếc xe đẹp đẽ tuy kiểu cổ lỗ. Giá có ngựa để cưỡi – Mai Cơ hân hoan nói.

Bà mẹ cậu bé do dự:

- Có nguy hiểm không? Xe chạy bằng nước?

- Xe Vương Cang chạy bằng các nước giải khát: rượu, bia, rượu chát, limonate, soda v.v... thứ gì sủi bọt được.

Quả nhiên chỉ vài tích tắc, khắp xe phun ra bọt trắng xóa, sủi tăm xịt đầy tài xế lẫn hành khách. Ông Vỹ Liệt cười hát, bốn người kia lúng túng bởi sợi nịt an toàn ghịt quá chặt vào ghế dựa. Lăn bánh qua một khu vực yên tĩnh dị kỳ, chiếc xe và mọi người sạch sẽ hơn bao giờ. Mẹ con bà Mai Cơ nhất quyết xe có sạch cách mấy cũng không thèm đi tiếp. Ông Gia thích thú khen giồi:

- Lần đầu tiên trong đời ông cháu tôi tắm một cách hợp vệ sinh. Quần áo như vừa hấp tẩy trong tiệm ra.

Chính ở căn phòng thu hình kế cận cậu bé Mai Cơ bị loại. Biệt hiệu của cậu là Mai Cơ Ti Vi nên cậu bé rành mạch phạt biểu nguyên tắc của máy thu hình. Ông Vỹ Liệt cho sáu người lùn khiêng thanh sô cô la to bằng một cánh cửa lớn đặt trên bục gỗ. Chuyên viên đèn bấm nút. Thanh sô cô la hiện ra. Ông Vỹ Liệt thò tay lấy tặng cho San Lý. Cậu bé ăn thử, ngon tinh. Tinh hoa của một thanh lớn rút gọn còn một thỏi nhỏ kia mà. Cậu bé Mai Cơ sung sướng đứng vào mục tiêu, tự động sai khiến những chuyên viên lùn chậm hiểu:

- Chuyên viên chuẩn bị – Ánh sáng – Chụp.

Mai Cơ biến mất. Trên các góc phòng hàng vạn nguyên tử tế bào thân xác của Mai Cơ vỡ tung ra, bé li ti đùa giỡn. Bà mẹ Mai Cơ chới với:

- Con ơi! Con đâu rồi? Đã bảo đừng nghịch ngợm.

- Bà đừng lo, nó sẽ hiện ra trên màn ảnh.

- Mẹ coi nè. Con là người Ti Vi đầu tiên. Thế giới sẽ biết tiếng con.

Bà mẹ cậu nhón 2 ngón tay bắt cậu con bỏ vào cái ví tay. Cậu bé biếng học, không hiểu rằng cậu đã trở thành cậu bé tí hon vô tích sự. Ông Vỹ Liệt tặc lưỡi khuyên bà giáo sư Sử Địa theo đám chuyên viên lùn đến một phòng để uống thuốc cho lớn lại. Ông đuổi 2 người khách sau cùng:

- Xin mời và vĩnh biệt. Tôi sắp bận việc.

- Còn phần kẹo lĩnh thưởng?

- Kẹo gì?

- À, ông lừa gạt ông cháu tôi.

- Tất cả mọi người đều ký vào tờ hợp đồng vàng có hàng chữ sau cùng: "từ bỏ mọi quyền lợi". Ông đi về ngay. Hơn nữa ông đã lén uống "si rô bay".

Thì ra "nhân vô thập toàn". Ông Gia ngậm ngùi nhớ lại phút yếu lòng dẵ xui San Lý cùng thử một ngụm Si rô Vương Cang, lúc sắp vào phòng nuôi ngỗng. Hai ông cháu đã lơ lửng như mấy cái bong bóng ngũ sắc.


Nếu nghe lời dặn của ông Vỹ Liệt thì 2 ông cháu đâu có bay gần chóp phòng cánh quạt vù vù, 2 ông cháu "đáp" xuống mặt đất, lót tót trễ đằng sau mấy người kia.

- Chỉ tại Nội, San Lý mình về con ạ. Nhưng ông là một kẻ mưu mô.

San Lý rưng rưng nước mắt. Cậu bé trả ông Vỹ Liệt viên kẹo 7 màu nhiệm mầu. Quyền lợi mà San Lý có thể giấu.

Ông Vỹ Liệt đổi lại bộ mặt hòa nhã:

- Khoan em bé. Em đã thắng. Tôi biết thế nào em cũng trả kẹo.

Cùng lúc cửa hông phòng bật mở. Ông Sơn Bảo bước vào. Cặp kính cận trên mũi ông trông đạo mạo, chứ không lộ chút gì gian xảo. Ông là người cộng sự thân tín của ông Vỹ Liệt đã hóa trang đánh lừa và thử bụng dạ mấy đứa trẻ. Ông Vỹ Liệt đội cái mũ nồi, khoác cái bành tô, âu yếm dắt ông cháu San Lý đi... Đi du lịch lần cuối cùng trên thang máy có thể bay thẳng lên không trung như một phi thuyền. Ông khen:

- Cháu là một đứa trẻ ngoan, tốt và có lương tâm nhất. Cháu sẽ được ăn kẹo bất cứ lúc nào. Xem kìa quê hương ta.

- Đẹp quá, nhất là xưởng kẹo...

- Ta sẽ giao xưởng kẹo cho em trông coi, từ lâu ta đã có ý định ấy. Vả lại chỉ có trẻ em mới biết sở thích của trẻ em và điều hành hoàn hảo công việc.

- Nghĩa là cháu sẽ sống trong xứ mộng mơ, còn người thân của cháu?

- Cháu có quyền mang hết vào.

Ông Gia cảm động. Qua mấy tấm kính dày lắp suốt thang máy kim khí cầu, kim phi thuyền Vương Cang, ông Gia nhìn những mái ngói đỏ ửng của giáo đường, nhà máy, xưởng kẹo... mờ. Không vì đã lên quá cao hay vì màn lệ nhạt nhòa mà ông không thấy căn nhà xiêu vẹo của ông cháu ông cạnh bìa rừng (?)


PHAN KHƯƠNG THÁI  


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 120, ra ngày 1-2-1974)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com