Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019

XE CÁT - Nguyễn Trúc Phi


Chợt một làn gió huyền diệu nào đó tràn ngập buồng phổi, len lỏi trong từng mao quản như muốn bốc tôi lên như một quả bóng, nhẹ nhàng và êm ái. Tôi nhẩy cỡn lên giữa những đợt sóng ào ào xô bờ, tiếng sóng át hẳn tiếng reo hò mà tôi không tin chắc là của tôi, có thể đó là tiếng reo vui của con tim, của linh hồn, của phần thể xác thứ hai vui nhộn giấu giếm từ bao năm nay trong con người gần như chai cứng của tôi. Tôi tinh nghịch đấm dá vào những đầu sóng tóe bọt trắng, miệng khô rát nhưng vẫn muốn la hét cho đến khan cả cổ, tiếng la vừa thoát ra khỏi môi đã bị gió cuồn cuộn pha loãng vào bầu không khí mặn nồng của biển. Tôi cúi vục một bụm nước áp vào mặt đã bắt đầu rám nắng, những ngụm nước mặn chát đến đắng khé cả cổ làm tôi sặc liên hồi. Thế rồi những đợt sóng liên tiếp đưa tôi vào bờ, trải tôi nằm dài ra trên cát ấm, hai tay dang ra trong trạng thái thoải mái, mắt nhắm nghiền, nắng ve vuốt trên tóc, trên da ran rát. Tôi nằm mãi đó, hồn và thể xác dán cứng vào bãi cát mềm, sóng vỗ rì rào cuốn hút tôi lên cao...

"Mình ngủ hơn một giờ rồi" Tôi ngồi bật dậy nhìn quanh, nước biển rút xuống chừa một bãi cát vàng thẳng tắp ngổn ngang người tắm nắng. Những cô thiếu nữ với áo tắm màu rực rỡ, với đôi mắt kính to và những chiếc nón rơm làm bãi trở nên trẻ trung vui nhộn hơn bao giờ hết. Nhìn dáng điệu biết ngay các cô không tắm nắng thật sự. Tôi đưa tay ra sau và vói lấy cái khăn, rũ cát rồi lau những giọt nước đọng trên mặt và phủi những hạt cát dính trên vai, tôi lười biếng ngồi vốc những bụm cát ném ra chung quanh, một con dã tràng vừa ló ra khỏi hang đã vội vàng chạy xuống theo một lằn trơn nhẵn như con đường dẫn tới cửa hang, giống nhỏ bé vẫn vậy, sợ hãi tất cả những gì đúng ra không đáng để sợ.

Tôi đi lần xuống biển, những dấu chân để lại trên cát sũng nước, gió biển dán tóc vào mắt, tôi đưa tay tóm gọn tất cả vào một bên, nhủ thầm: "Tóc dài rồi đây". Nước liếm gót chân, một cái lạnh bất chợt rần rật chạy khắp mình rồi đột ngột biến mất, một bước nữa, nước đến bắp chân tôi, tôi vùng chạy giữa những cột nước bắn tung tóe bên chân cho đến khi không chạy được nữa, lại gục xuống nước rồi ngửa lên nhìn trời khoan khoái "Ôi một ngày vui"...

Một ngày vui, phải rồi, tôi chưa được nếm thú vui nào hoàn toàn như hôm nay, người ta gọi tôi là con người gỗ đá, "l'homme sans coeur" vì chưa từng thấy tôi cười, vì chưa từng thấy tôi bỏ quyển sách toán cầm trên tay, vì chưa thấy tôi có mặt ở chỗ vui nhộn, thế nhưng tôi vẫn sống với con người thật sự của tôi, tôi vẫn cười, vẫn giỡn, vẫn hồn nhiên, nhưng đối với người khác, tôi chỉ giả vờ để che giấu con người vô tình cảm của tôi, chỉ có trời mới biết... tôi nghĩ đến những con dã tràng núp dưới hang sâu.

Tôi bơi chầm chậm ra xa. Có một bóng áo đỏ gần đây, tri giác cho phép tôi nhận một người quen. Vân, phải rồi, Vân phải không? Vân mỉm cười, tôi bơi chầm chậm lại. Câu hỏi đầu tiên vẫn là "ra lúc nào", tôi sực cười khi nghĩ đến cái vô duyên của của con người khi hỏi nhau "đi đâu đây" lúc gặp nhau ở xi nê, ở bãi biển, thế nhưng lúc ấy không ai thấy được cái vô duyên của mình, một cái vô duyên đáng yêu. Tôi khen Vân hôm nay xinh quá, có vẻ như một con búp bê. Vân quạt hai tay giữ thăng bằng cho chiếc phao nói lảng qua chuyện khác. Vân nói về mùa hạ, về những con cá dưới biển, về bài học, về những người bạn trong lớp, Vân liến thoắng không cho tôi nói một lời, nhưng nhìn Vân nói, tôi tưởng như chính mình nói vậy. Tôi chỉ cây phượng trên sườn núi sau "Auberge des roches noires" có những bông hoa nổi bật trên cành khẳng khiu, tôi bảo phượng ở đây nở sớm hơn Sàigòn. "Thật sao?" Vân hỏi lại, đôi mắt Vân lúc hỏi hơi tròn lên làm Vân rõ nét một con búp bê xinh xắn. Tôi đưa tay vuốt tóc, nước biển chảy vào mắt ran rát: "Có lẽ hạ ở đây đến sớm hơn ở Sàigòn. Vân mỉm cười, tôi chết sững một phút trong cái cười đó. Vân nhìn tôi "Phúc mấy tuổi?" "Vân mấy tuổi?" "mười sáu" – "Tôi hơn Vân một" – "À". Tôi không hiểu ý nghĩa chữ "à" của Vân. Đột nhiên tôi thích trầm mình xuống thật sâu. Tôi hít một hơi dài rồi chúi xuống, dưới đáy cát vàng có những lon bia rỉ sét nằm ngổn ngang. Một con cá đen nhỏ, len lỏi giữa hàng lon. Tôi trườn mình tới đuổi theo. Chú cá liến thoắng lội ngược trở lại, rất nhanh, bất chợt đâm sầm vào mặt tôi, nhưng khi còn cách mặt chừng vài phân chàng ta lẹ làng đổi hướng rồi mất hút. Tôi thở hết không khí trong phổi ra, những hạt bong  bóng lon ton nổi lên. Nước biển trong xanh, tôi nhìn thấy màu bikini đỏ của Vân trên mặt nước cùng chiếc phao. Tôi đạp nhẹ chân xuống cát, người lao vút lên trên. Bất chợt không khí ùa vào buồng phổi, tôi thở phào ra sung sướng.

Vân nắm gọn trái bóng đỏ trong tay, ranh mãnh hỏi: "Điên hả, hay định tìm vàng?" Tôi lắc đầu bắn tung những giọt nước và bơi lại gần nàng hơn: "Có lẽ điên" – "Phúc có vẻ chán đời" – "Chán thật sự chứ còn có vẻ gì nữa" – "Tụi trong lớp kêu Phúc là Cinquième sec" Cinquième sec, tiếng này tôi đã được nghe nhiều lần trong lớp với những tia nhìn dí dỏm của bọn con gái học trước tôi một hai khóa. Cũng tiếng này chạy theo sau dằn vặt tôi suốt khóa học. "Cinquième sec" một loại "homme sans coeur". Tôi nói với Vân cho tôi xin tiếng đó đi, đừng nhắc nữa. Vân hỏi sao vậy. Tôi nói nó không chỉ đúng con người tôi. Vân ném chiếc bóng lên cao rồi bắt lấy. Chiếc phao tròng trành "... tụi trong lớp nói Phúc ỉ học giỏi rồi kiêu căng, có vẻ bất cần đời, không muốn làm quen với ai cả. Ngay Vân lúc đầu cũng ghét Phúc lắm, nhất là lúc Phúc vào lớp, tay thủ túi quần, tay cầm sách, miệng hút gió, không nhìn ai, không nói với ai một lời, trông Phúc kiêu ngạo lắm, nhưng bây giờ thì..." Tôi hỏi gặng: "Bây giờ thì sao?" Vân cười, thôi, tôi chết sững mấy lần trong cái cười và vẻ mặt búp bê của Vân rồi. Tôi thì thầm "Vân có vẻ búp bê ghê đi..."

Vân bơi ra xa, tôi đuổi theo, cả hai thở dốc. Tôi nói lội hồ tắm còn làm mưa làm gió được chứ ở đây thì khó mà trổ tài. Vân lắc lắc mái tóc cắt kiểu "garçon": Vân đi lội hồi mới chín tuổi – "Ở đâu?" – Trước ở Lido bây giờ ở Cercle, đi Lido xa quá – Tôi nói tôi lội ở Chi lăng. Vân lội ếch đẹp lắm nhá. Tôi hỏi Vân hè này có đi học đâu không? Vân nói học Anh văn. Tôi ngập ngừng: không học ở Institut nữa à? – Không, học Anh văn. Có con dã tràng nào đó ngơ ngẩn trước công trình vừa bị sóng biển đánh tan. Số tôi thì suốt đời làm dã tràng thôi, dường như Tạo hóa xem tôi như con chó đang nhẩy chồm chồm chụp mẩu xương ở đầu một sợi dây, khi sắp chụp được thì sợi dây lại giật phắt lên. Nước như lạnh thêm hơn, sóng bắt đầu vào bờ. "Nước lớn rồi đó", tôi vung vẩy đôi chân rã rời, đôi lúc muốn dừng lại cho cả thể xác đắm chìm xuống đáy nước xanh. Tôi muốn làm chú cá nhỏ len lỏi trốn trong một hang sâu, ăn phiêu sinh vật và sống như ẩn sĩ.

"Cười gì thế?"

Tôi lúng túng: Có bao giờ Vân thích sống cô đơn, xa tất cả bạn bè thân thích không, sống như ẩn sĩ chính thống?

Vân cười khanh khách. Da mặt Vân đã rám nắng. Tôi không thấy lúc đó má nàng đỏ hay bình thường, nhưng mắt Vân long lanh. Tôi tránh nhìn cặp mắt đó, nhưng cuối cùng vẫn chết sững trong sự thu hút dịu dàng ấy.

"Hôm nay là một ngày vui"

- Tại sao?

Tôi muốn nói nhờ có Vân, nhưng không hiểu sao nói tránh đi:

- Mùa hè rực rỡ.

- Ừ rực rỡ, nhất là có những cánh phượng xinh. Phúc nghĩ, mùa hè mà chẳng có ve kêu, chẳng có phượng đỏ thì mất thi vị hè rồi phải không...

Cả hai chúng tôi suýt soa khen ngợi mùa hè, về cái đẹp của biển bằng tên một quyển tiểu thuyết, vui thật. Tôi nói với Vân đứng mãi thế này cả tháng tôi cũng không chìm được nhưng thật thì tôi đã hớp hết mấy ngụm nước biển rồi. Vân bảo lấy phao của Vân đi. Tôi thấy hai bắp chân bắt đầu làm việc uể oải. Tôi nhớ đến những con dã tràng mà tôi đã viết thay lời mở đầu cho quyển nội san lớp về Bãi Dứa với những đam mê, những vui tươi. Tôi nhớ đến chiếc La Đalat xanh có bóng hình làm thằng Đàng không ngủ được, đến biệt thự số 3 làm thằng Tín đi kiếm đến rã rời đôi chân, thật không hiểu nổi bọn tôi...

"Thôi về..."

Về, về hả? Về thật sao? Thật rồi. Chiếc Daihatsu trắng từ trên dốc núi chạy xuống. Những bàn tay vẫy kêu. Con dã tràng đứng nhìn vô vọng vào những đợt sóng ào ạt tới. Tôi nhìn lên chiếc xe, nhìn lại Vân. Vân, khoảng thời gian ngắn ngủi này chưa đủ để tôi nếm hết niềm vui.

 Tôi về, Vân.

Tôi cắm đầu bơi một mạch vào bờ. Những đợt sóng ào ạt tới cuốn trôi công trình của con dã tràng, xóa hết những dấu chân tôi trên cát. Vân ngồi trên phao nhìn theo, màu bikini đỏ như những cánh hoa phượng rơi xuống. Tôi muốn nói lần cuối cùng: Vân xinh như con búp bê. Thôi đủ rồi, tôi gật gù theo những chuyển động của bánh xe, tay vẫn còn cầm đóa hoa phượng nhặt bên đường. Đám con ông cậu vui vẻ kể những chuyện vui trên biển. Tôi mân mê cánh phượng và muốn nói với chúng hè ở đây đều sớm hơn Sàigòn...


NGUYỄN TRÚC PHI   
2-5-71                 



(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 2, ra ngày 20-5-1971)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

TUỔI HỒNG HOANG - Diệu Phương


Tôi là đứa con gái không đẹp mà cũng không xấu. Ai bảo là Đẹp thì cái Đẹp trong quan niệm họ hơi bao dung. Nhưng ai cho là Xấu thì cái Xấu của họ cũng thật quá rộng rãi. Có người đã phê bình tôi rằng: nhìn xa thì coi cũng được, mà lại gần thì quả không xấu. Tôi bằng lòng với cặp mắt này nhất. Tuy vậy cũng có nhiều người gọi tôi là Người Đẹp và tôi đã nhận với cả tấm thịnh tình của họ. Với tôi, không mai mỉa gì lắm, và riêng họ cũng không tự dối lòng: phái yếu, đàn bà hay con gái đã là người Đẹp. Tôi không buồn lòng và họ cũng không nói ngoa chút nào.

Trong gia đình, từ bên Nội đến bên Ngoại, ai cũng bảo: "Con Duyên rồi sau sẽ sướng. Nó vô tâm. Cái gì cũng cười". Mà quả thật tôi hơi dễ cười. Cái gì cũng có nguyên nhân của nó chứ đâu phải tự nhiên tôi phá lên cười được. Phải là một câu nói diễu. Một khúc truyện vui. Một bản mặt hài hước... có trăm ngàn lý do để làm tôi cười và cuối cùng là không biết cũng cười. Người ta bảo là "cười trừ", còn tôi thì cho là "cười vô tội". Me tôi vẫn bảo cười lắm coi chừng vô duyên. Mặt có nhiều nếp nhăn và mau già. Ngày xưa, con gái chỉ cười ngậm kim. Tôi đã thắc mắc:

- Cười ngậm kim là gì Me? Vừa cười vừa ngậm kim, kim lọt vô bụng đâm lủng ruột còn gì?

Me tôi giải thích:

- Cười ngậm kim là ý nói con gái không có cười lớn. Mỉm miệng một tí thôi. Dù có ngậm cây kim ở môi, nó vẫn không rớt xuống.

Tôi chưa kịp thêm ý kiến thì em tôi đã chen vào:

- Me nói vậy chứ con chưa thấy ai cười trọn vẹn như chị Duyên cả.

Nghi, em tôi vẫn phàn nàn vì nó không có cái cười toàn vẹn như tôi. Theo nó thì cuộc đời tôi vẫn sẽ vui vẻ và sung sướng vì nụ cười trọn vẹn trời sinh và khuôn mặt vuông của tôi. Đây là kinh nghiệm của Me tôi truyền lại cho nó: đàn ông, đàn bà có cằm vuông sẽ sung sướng, có tiền có của. Theo ý Me tôi khuôn mặt thon đẹp hơn khuôn mặt vuông. Với dáng người mảnh dẻ, nước da trắng xanh, tóc nhiều và dài: đó là vẻ đẹp thanh bai và quý phái. Nhưng nó mỏng manh, không thực và sẽ khổ vì tình duyên hay không được thọ. Tôi và em tôi thì rất lấy làm tiếc không có được vẻ trang trọng, tiên cảnh đó. Tôi thuộc loại người "ăn được ngủ được", mạnh bạo và ồn ào. Con Nghi vẫn than phiền là nó vẫn bị mệt tim và nhức đầu chóng mặt mỗi khi nghe tôi nói chuyện. Dù rằng nó thường ca ngợi với đám bạn nó "Chị Duyên nói chuyện sống động y như thật. Tao không thích coi Tivi hay đọc truyện mà chỉ thích nghe và nhìn chị ấy kể lại thôi..."

Trong nhà, có tôi là ồn ào từ nhà dưới lên nhà trên. Tôi đi tới đâu là tiếng cười nói tới đó. Lũ em nhỏ vẫn thích tôi hơn Nghi vì tôi gần tụi nó quá. Tôi biết đủ chuyện, từ "Cây tre trăm đốt", đến "Astro Boy" con người Robo kỳ lạ. Từ "Công Chúa ngủ trong rừng" đến "Bam Bi" con nai vàng ngơ ngác... Có một lần, lên nhà thăm bà Dì. Dì tôi mới gặp đã vừa cười, vừa bảo:

- Hôm qua, mưa to quá.

Tôi đỡ lời:

- Dạ, dưới nhà cũng vậy, sấm sét nhiều lắm.

Dì tôi ngắt lời:

- Thằng Huy đang ngồi với Dì xem Tivi. Bỗng nó bỏ chạy vào buồng. Hồi lâu không ra, Dì đi kiếm thì thấy nó nằm ở góc giường trùm mền kín mít. Dì tưởng nó đau, nhưng không phải. Nó bảo hồi nãy có sét. Chị Duyên biểu, ai ăn ở ác thì sét đánh chết. "Ban sáng con mở cửa làm kẹt chết con thằn lằn".

Tôi bật cười ngất. Quả thật hôm nọ tôi có kể cho hai chị em nó chuyện Phạm Công Cúc Hoa, và người Dì ghẻ bị sét đánh chết vì đã ở ác với Nghi Xuân Tấn Lực, hai người con chồng.

Thằng Huy ở dưới nhà đi lên, nghe loáng thoáng chạy tới hỏi:

- Phải không chị Duyên? Ai ở ác bị sét đánh chết.

Tôi nghiêm mặt, hạ giọng:

- Mình ở trong nhà không sao. Đi ra đường mới bị chứ.

Nghi và lũ bạn của tôi vẫn cho tôi "ma giáo". Ăn nói lúc ngược lúc xuôi. Riêng nó thì ít khi cãi lại tôi, nó vẫn bảo tôi không bao giờ chịu nhận mình sai. Tôi đã thung dung:

- Lời chị nói là trúng. Đúng chị mới nói. Chị không bao giờ phát ngôn bừa bãi.

Một hôm, đang ngồi học bài tôi bỗng nói:

- Nghi này, chắc mai vô lớp chị phải u sầu một bữa.

Nghi cười:

- Chị sắp đóng màn gì đây?

Cả nhà đều ngó tôi chăm chú, vì tôi có hôm nào buồn bã đâu. Tôi im lặng một lát rồi cười:

- Sáng nay, chị xạo chọc tụi nó cười quá làm chị mỏi cả miệng.

Cả nhà cười rũ rượi. Thằng Quân, em trai nhỏ của tôi, lên tiếng:

- Sao chị không lấy dầu đấm bóp cho đỡ mỏi.

Tôi than phiền một cách thật thà:

- Cười nhiều cũng không tốt. Ê cả hàm không muốn nhai cơm chút nào cả. Mai chị phải làm bộ có chuyện buồn một hay hai hôm mới khá trở lại được.

*

Tôi vẫn ồn ào và phá phách suốt mấy niên học. Nhớ một năm tôi còn để tóc dài lê thê xuống nửa đầu gối. Học trong lớp có ông thầy Toán trẻ. Tụi trong lớp ngay đầu năm đã chia phe đảng và tôi yếu thế chỉ có một phần tư lớp. Ông thầy có cảm tình, thương tôi nhất lớp và tụi nó đã xì xào "ông Toán thương con Duyên. Con Duyên cũng điệu lắm, cứ đến giờ ông là nó xõa tóc ra". Hồi đầu tôi không để ý, nhưng cũng nhận thấy một màn dò xét và theo dõi của nhiều cặp mắt trong lớp. Con Chi, phe đối nghịch, có cảm tình cho tôi biết và khuyên tôi nên cặp tóc lại cho yên thân. Sau khi suy đi tính lại với bọn con Nga tôi quyết định: học bài ông Toán thật thuộc. Làm toán thật nhiều. Về nhà bao nhiêu giở rảnh, tôi đổ dồn vào môn này hết và cứ đến giờ toán là tôi thả tóc ra rất "yểu điệu" và "thướt tha", dù nóng nực hay lạnh lẽo. Lạnh từ khí thế trong lớp mỗi khi tôi lên bảng được 17, 18 điểm. Nóng từ khi trời bên ngoài càng gần hè càng oi bức, cho đến những cơn giận đổ ào của ông thầy khi lũ học trò phe kia quá tăm tối – ngòi lửa của phe địch mỗi khi ông Toán đem tôi ra làm gương trong lớp. Thế là tôi thả tóc "nghênh chiến" với "phe địch" cho tàn một niên học. Suốt năm, tôi đã cắn răng chịu nóng nực, giữ cho bộ mặt tươi cười, dễ yêu dù rằng nhiều lúc tôi muốn nổi cơn giận ào ào, mặt mày nhăn nhó như Bà Phù Thủy trong phim "Blanche Neige", vì mang trên lưng cả một trời miền xích đạo. Kết quả, để đền bù lại, cuối năm tôi "ca khúc khải hoàn" chiến thắng "phe địch" với lời ban khen của ông Toán và phần thưởng nhất toàn trường của ông giám đốc.

*

Qua mỗi năm, tôi mỗi biết nhường nhịn hơn và làm thân với mọi đứa trong lớp. Bây giờ nhắc lại chuyện cũ tôi chỉ cười xòa không gây hấn nhau, không ganh ghét nhau. Có lẽ đứa nào cũng thấy sắp qua tuổi học trò rồi. Tôi đang học lớp Mười Hai cuối năm thi Tú Tài II và rồi "bái bai" mái trường. Không biết tôi có đậu không. Và rồi tôi sẽ học gì. Tôi không có một ý niệm rõ ràng về tương lai và định đoạt cho đường mình đi sau này. Tôi chỉ vui cười cho hôm nay và ngày mai. Hết ngày lại đến tối. Bạn bè mỗi năm, mỗi thu hẹp lại. Tôi giờ chỉ chơi thân với con Quyên và con Linh. Con Quyên ở xa và con Linh ở cạnh nhà. Ba đứa tôi chơi với nhau đã sáu, bảy năm rồi. Hai đứa nó vẫn thích nhắc đến "đức tính thiện chí" của tôi mà rũ ra cười – Vào tuần thứ hai của một niên học. Ông thầy Việt văn không bắt ai trả bài mà chỉ hỏi, ai tình nguyện trả lời mấy câu hỏi của ông sẽ được điểm cao. Tuần trước, ông giảng bài tôi nghe câu được câu mất vì bận nói chuyện với con bạn ngồi cạnh. Nghe ông "khuyến dụ" tôi không dám lên, theo tôi nghĩ dù sao cũng hỏi trong bài, mà không học, trả lời không trôi thì mắc cỡ. Nhưng con Liên con Anh con Nguyệt lên... câu nào cũng dễ, tôi trả lời được hết, tụi nó được điểm thật cao 17, 18. Tôi thấy "dễ ăn" cũng giơ tay lên bảng.

- Số mình vẫn hên – Tôi vừa đi vừa nhủ. Với tất cả sự tự tin tôi để quyển vở ngay ngắn trước mặt ông Việt.

Thật chết rồi kỳ này không còn đất sống nữa. Ông Việt hỏi câu gì, tôi moi trí mãi không nhớ ra 5, 7, 15, 30... rồi 1 phút trôi qua, tôi nghe như cả một thế kỷ. Mồ hôi ra đầy cả trán. Lớp im phăng phắc. Ông Việt nghiêm trang và tôi nghe rõ nhịp tim tôi nhảy như tiếng chày giục giã bên tai. Người tôi nóng bừng chỉ ước ao sao như "Thổ Hành Tôn" chui xuống đất mà đi cho rảnh. Tôi  trả lời lung tung không biết ngừng ở đâu cho phải – "Biết vậy thì đừng có lên..." tôi lầm bầm trong đầu. Ông Việt xếp vở ghi gì trong sổ điểm rồi cất giọng "nhẹ nhàng":

- Thôi cho chị về chỗ.

Bước chân tôi nặng cả trăm cân, muốn đạp thủng đất để vùi mình xuống. Giờ ra chơi lũ bạn ùa lên xem sổ điểm.

- 12đ. Không thuộc bài nhưng có thiện chí! Ôi nhục này biết bao giờ mới rửa cho sạch. Tôi ôm mặc cảm với ông Việt cho đến mãi hôm nay.

*

Tôi bây giờ đã người lớn nhiều. Tôi đã biết làm thinh đúng lúc, người ta đã chẳng bảo "im lặng là vàng" đó sao! Tuy nhiên tôi phải thật tâm thú nhận là  chỉ trong ít phút tôi lại phải khua động, ồn ào. Me tôi bảo tôi con nít hơn con Nghi. Nó thua tôi một tuổi nhưng nó đằm thắm, trầm tĩnh, "biết ăn biết nói". Tôi thì cứ "bô bô", nghĩ gì nói nấy chẳng sợ mích lòng ai. Tôi và nó khắc tinh nhưng lại hạp nhau. Lúc tôi lên thì nó xuống. Lúc nó giận thì tôi làm hòa nên hai chị em ít cãi vã nhau. Thường thì hai đứa cùng chơi chung đám bạn. Con Nghi giống tính con Linh – Tôi, Nghi và Linh chơi với nhau từ hồi lên Trung học, năm đó tôi mới 11 tuổi, Linh bằng tuổi tôi và con Nghi nhỏ hơn.

Anh Tân, anh cả con Linh, hình như thương tôi hơn con Nghi, con Linh. Con Linh vẫn bảo vậy và tôi cũng tự nhận thấy. Riêng tôi, thì anh Tân giống tính hai đứa nó; không ồn ào, dễ cười dễ nói như tôi. Anh Tân là người lớn. Nhưng anh Tân như thích nghe tôi nói chuyện. Nhắc tới anh là tôi nghe cả một sự quí trọng và thương mến. Vạn sự tôi nhờ anh đều làm hết. Anh thân và chìu tôi nhất. Con Nghi, con Linh không ganh ghét gì. Ba đứa tôi thương nhau và cùng quí anh Tân. Hai nhà coi nhau như một nên sân không có rào ngang. Tôi ở nhà là nhà vang tiếng cười, tiếng nói. Sang nhà anh Tân là nhà anh ồn ào hẳn lên. Lũ em anh cũng thương tôi như các lũ nhỏ bên nhà. Anh Tân đã chẳng nói với Me tôi đó sao:

- Duyên đi tới đâu là linh động tới đó.

Tôi bản tính vốn không sợ ai. Tôi sợ chỉ có hai người: Ba Me tôi. Be Me tôi đã biểu là tôi nghe theo không lý luận, suy nghĩ gì cả. Ba Me tôi đã nói là đúng, không thể sai. Nhưng ngẫm nghĩ lại, tôi chợt thấy mình còn sợ Anh Tân nữa. Đã lâu rồi, Anh nói gì tôi nghe nấy, mà có suy nghĩ tôi cũng thấy Anh nói đúng. Nhắc đến anh Tân là phải nhớ đến sự chìu chuộng của Anh. Tôi thích được anh chìu, tôi hay làm nũng với Anh và đó là một điều rất hiếm thấy ở tôi. Tôi vẫn bướng bỉnh và không nũng nịu với bất cứ ai. Ba Me tôi vẫn bảo:

- Con Duyên như con trai. Phải hiền dịu một tí con ạ.

Với Anh Tân tôi vẫn là con gái đấy chứ. Tôi thỉnh thoảng lại tỏ ra ngang bướng để bắt Anh chìu theo, mà nghe vui vui trong lòng.

- Duyên hôm nay khó tính quá.

Anh Tân là một nguồn sông để tôi đổ về bao buồn giận phiền muộn – Tôi buồn – Tôi giận – Tôi bướng – đều đổ vào Anh Tân. Có những điều tôi không nói với Ba Me, con Nghi, con Linh, nhưng tôi nói với Anh Tân. Tôi nghe ở Anh Tân cả một sự che chở và bảo vệ, luôn luôn Anh về phe với tôi. Tôi nói với Anh Tân gần hết ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi.

Tôi ít khi mơ mộng. Trong một giây có muôn vàn ý chạy qua trong đầu. Tôi không ao ước cầu xin điều gì như lũ bạn tôi vẫn hằng khấn nguyện. Với tôi, như vậy là quá đủ: gia đình tôi. Ba Me, con Nghi, lũ em sau. Với con Linh, Anh Tân – Ngày này qua tháng khác, niềm thích của tôi là vậy. Tôi có nói với Anh Tân điều này và đến hôm nay tôi còn nhớ – Anh Tân mỉm miệng cười, nhìn tôi một giây như muốn nói điều gì. Rồi Anh chỉ bảo:

- Duyên ngoan lắm.

Tôi đón nhận ánh mắt của Anh và nghe một nụ hoa tim tím nở trong lòng. Anh Tân thương mình lắm, đừng bao giờ làm anh ấy buồn. Thương. Thương. Tôi chợt nhớ lời Me nói hôm nào: làm con gái đừng thương ai quá. Đến khi họ quên thì ôm mối khổ vào thân.

Con Nghi, con Linh cũng gật gù:

- Thương ai thì mình thương hoài, cho dù họ có quên mình đi chăng nữa.

Tụi nó làm như có kinh nghiệm lắm. Tôi tuy chưa nhận định rõ ràng nhưng cũng cãi:

- Còn con, đã thương ai, nếu họ làm lơ thì con nghỉ chơi liền, không thương nữa...

Cánh hoa vàng ngoài sân đã nở.

Tôi thoáng nghe niềm tinh nghịch.

- Phải nói cho Anh Tân nghe!

"Em thương ai. Nếu quên em, thì em stop liền"


DIỆU PHƯƠNG    




(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 2, ra ngày 20-5-1971)

Bìa của Vi Vi : Tô điểm cuộc đời
Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

TRƯỜNG LỚP CŨ - Đằng Linh












Cho những tiếng ê a bầy trẻ nhỏ
Lúc ta về thăm lại mái trường thôn
Niềm tiếc thương nghe rạo rực trong hồn
Ta bỗng nhớ những ngày xưa thân ái

Chín tuổi đầu, lòng ta còn ngây dại
Chẳng biết sầu trong lứa tuổi vàng son
Thích leo trèo trộm ổi, bắt chim non
Bỏ bài vở, tháng đầu ta "đội sổ"

Thầy khẽ trách và khuyên ta hãy cố:
"... Công cao dày cha mẹ tảo tần nuôi,
Tuổi thơ con sao nỡ để chôn vùi?...
Con hãy gắng, tháng sau đừng vậy nữa"

Trong lòng thầy, ta gục đầu nức nở
"Vâng! Ngày mai con sẽ gắng, thầy ơi"
Thầy nhìn ta, môi nở một nụ cười;
Ta chợt thấy bao la tình thắm thiết...

Lúc về nhà, báo tin cha mẹ biết
Mắt người trĩu buồn, chẳng nói năng chi
Ta nghe lòng vời vợi nỗi sầu bi
Ôi! Tất cả chỉ vì ham chạy nhảy

Và ta tự hứa gắng công từ đấy
Quyết ganh đua cùng bè bạn thân yêu
Cho thầy vui, cha mẹ cũng thương nhiều
Vì đã có đứa con đầy "hiếu thảo"
Chẳng phụ công lao của thầy dạy bảo,
Ơn cù lao cha mẹ lớn vô ngần...

Nhưng giờ đây lòng bỗng thấy bâng khuâng
Vì đã bảy năm dài – nay trở lại
Nhìn trường thôn, nhớ ngày xưa thân ái...
Ta gục đầu... trong tiếng trẻ ê a...

                                                       ĐẰNG LINH

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 89, ra ngày 13-5-1973)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

MÙA ƯỚC CHIM OANH - Nam Thiên














Đường trăng tuôn giòng sữa ngọt
Lòng say cây lá reo cười
Gót chân mơ hồ rộn rực
Tiếng thơ nồng ấm hương đời

Nghìn sao xuống trần giăng lối
Soi hồng má thắm môi trinh
Lời ca đêm hoa đăng hội
Chan hòa nhịp điệu câu kinh

Chân hồng thơm trên lối cỏ
Tay nâng ánh sáng diệu từ
Chân lý hồn thơ rạng rỡ
Niềm tin ngợi sắc vô tư

Đêm chờ tin người xuất thế
Đêm mong ánh hồng rắc gieo
Lâm Tì Ni xưa sống dậy
Chứa chan nguồn sống thương yêu

Khói hương nguyện toàn bảo điện
Đàn em về hội Cha lành
Tâm thành kính dâng cầu nguyện
Vô ưu cánh biếc hồi sinh

Mắt tròn đoàn Oanh ngây dại
Đêm trăng mười bốn cài mây
Thanh bình trên quê hương lại
Môi hồng thắm nụ đắm say.

                                NAM THIÊN

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 152, ra ngày 1-5-1971)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2019

NHÂN NGÀY PHẬT ĐẢN - Nguyễn Hùng Trương


Các em thân mến,

Cách nay 2517 năm, vào ngày 15 tháng 4 âm lịch, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakya-Muni) ra đời tại vườn Lam-bi-ni (Lumbini) ở miền Bắc xứ Ấn Độ.

Ngài tên thật là thái tử Si-đạt-ta, họ Gô-ta-ma, con vua Suddhodana trị vì một lãnh thổ dưới chân Hy-mã-lạp-sơn. Mẹ ngài là hoàng hậu Maya.

Ngài đẹp trai, rất thông minh, nhưng tính hay đa sầu, đa cảm, hay trầm ngâm một mình nơi vắng vẻ. Ngay khi còn nhỏ ngài đã có một đời sống nội tâm hết sức dồi dào.

Khi ngài lên được 16 tuổi, vua cha đã vội cưới vợ cho ngài và để ngài sống hết sức sang trọng trong cung điện và không cho ngài biết chi đến cuộc sống ngoài đời.

Càng sống trong sự giàu sang, với những thú vui tầm thường ngài càng coi thường sự giàu sang.

Một ngày nọ, nhân dịp dạo chơi ngoài thành, vừa ra khỏi cửa phía đông, ngài gặp một cụ già gầy ốm, mắt mờ, răng rụng, lưng đã còng, chân lại run, tay chống gậy bước đi từ bước trông thật não nề. Được người hầu cận cho ngài biết mọi người sanh ra, lớn lên, rồi bị tuổi già tàn phá sức khỏe, làm cho cuộc đời tàn tạ, ngài nghe nói, ngậm ngùi cho kiếp người.

Một lần khác, ngài dạo chơi ngoài cửa thành phía nam và gặp một người bịnh mặt mày xanh xao, đang nằm rên la rất thảm thiết. Người hầu  cận giải thích cho ngài rõ sống trên đời, mọi người có thể bị bệnh tật dày vò, làm cho đau đớn, khổ sở. Trở về cung, ngài buồn bã nghĩ đến nỗi khổ của con người khi mắc phải bệnh tật.

Lần thứ ba khi ngài dạo chơi ở cửa thành phía tây, ngài gặp một đám tang: bốn người khiêng thây người chết theo sau một số thân nhân, bạn bè quen thuộc khóc than bi ai. Người hầu cận lại cho ngài biết con người sanh ra, lớn lên, rồi già, bị bệnh tật và cuối cùng phải chết. Ngài vô cùng xúc động về bốn cái khổ của loài người: sinh, lão, bịnh, tử.

Rồi một hôm, ngài đi dạo ngoài cửa nam hoàng thành, ngài gặp một vị tu hành. Vị này chỉ khoác một chiếc áo vàng mộc mạc, đơn sơ, chân đi đất, mặt mày trông hiền lành, thanh thản, ăn nói điềm đạm, đi đứng ung dung. Ngài gạn hỏi và được biết nhà tu này đã bỏ hết lợi danh trên cõi đời vì hiểu được cái Nhân và cái Quả của mọi việc.

Bắt đầu từ đấy, từ khi nhìn thấy nỗi khổ của con người khi già cả, bịnh tật và chết chóc và nhất là sau khi gặp nhà tu, ngài quyết tâm rời bỏ gia đình để đi tìm phương cứu khổ cho bản thân và nhân loại.

Khi được tin vợ ngài vừa sinh được đứa con trai đầu lòng, ngài lo ngại nếu còn mãi ở trong gia đình thì càng ngày càng bị ràng buộc bởi tình thương vợ con, nên đang đêm ngài trốn đi để tìm học đạo.

Ngài chịu mọi khổ hạnh đi khắp đó đây để tu luyện hằng mong tìm giải thoát.

Rồi một đêm sau sáu năm trời vất vả lang thang mọi nơi cầu thầy học đạo, trong khi ngài đang ngồi suy tư dưới gốc cây bồ đề, ngài tìm được Chân lý của cuộc đời. Bấy giờ, ngài mới vừa 35 tuổi và từ đấy ngài được người ta gọi là Phật, chữ Phật chỉ có nghĩa giản dị và khiêm tốn là người giác ngộ tức là hiểu biết thông suốt, giác ngộ lẽ sống và cuộc sống. Ngài đã hiểu rõ nguồn gốc của mọi sự đau khổ và sinh tử trên đời.

Sau khi giác ngộ, Ngài đi khắp nơi thuyết pháp ròng rã 45 năm trong mọi từng lớp xã hội, gieo rắc tình thương, khuyến khích con người bỏ ác, làm lành, diệt bớt sự ham muốn, oán hờn, si mê. Ngài nhập Niết Bàn năm 80 tuổi. 


Các em thân mến,

Trên đây là lược sử Đức Phật Thích Ca để các em đọc nhân ngày Phật Đản. Nói đến Phật giáo, tức là nói đến Tình Thương, lòng Từ Bi, lượng Khoan Dung. Đạo Phật cho rằng chỉ có tình thương mới giải quyết được trọn vẹn tất cả mọi Oán Thù kết nối trên cõi đời này. Phật đã dạy: lấy oán trả oán, oán nọ chồng chất, lấy ơn trả oán, oán ắt tiêu tan.

Chúng tôi mong rằng nhân ngày Phật Đản, dù các em ở tôn giáo nào, các em nên theo gương ngài, gieo rắc Tình Thương cho nhau để trong lòng các em không còn những oán hờn, thù hận, để cho đời sống các em được thanh thản, an vui, các em sẽ thấy hạnh phúc hơn lên.


 Thân mến chào các em        
NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG   


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 89, ra ngày 13-5-1973)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

RẤT XA XĂM - Thụy Đăng













Lá mục quê hương ngát một trời
Mưa về thật nhẹ ở hồn tôi
Có con chim nhỏ mừng mưa sớm
Hái ngọn buồn vui giữa cuộc đời

Nhà cũ vườn xưa ngủ thật hiền
Trong chiều mưa hạt nhỏ triền miên
Có hay hương gió thơm mùi đất
Ngọt ấm tình thân nhốt muộn phiền

Một cánh hoa thơ nở giữa lòng
Một trời tươi mướt nhuộm tình trong
Ngọn mưa se lại bao hồn cũ
Xanh thật xanh màu như ước mong

Vừa vặn cung trầm một tiếng mưa 
Buông phím đàn lơi đọng âm thừa
Vô tình cây lá vừa nạm ngọc
Đằm thắm ngoan hiền vỗ giấc xưa

Tôi về qua đó chỉ một lần
Và nhớ mãi chiều mưa tháng năm
Dặt dìu sợi mỏng xanh màu lá
Nghe nhớ một thời rất xa xăm.

                                        THỤY ĐĂNG

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 138, ra ngày 1-10-1970)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019

CHƯƠNG 5, 6_VÒNG TAY MẸ

5


Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi cách nhau chẳng bao lâu mà Ngôn vuột mất hai người Ngôn thương mến: cô Tam với con Bông. Đi học Ngôn cứ buồn bã ủ dột suốt buổi. Bọn học trò nói là: thằng Ngôn nhớ con Bông, rồi tụi nó trộ Ngôn:
Hò... ơ... Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ.
Nhớ ai, ai nhớ... ờ...
Hò... ơ... Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ... ai...
Đành rằng Ngôn cũng có nhớ con Bông, nhưng Ngôn buồn vì vắng cô Tam hơn là buồn vì xa Bông. Bông chỉ là nhỏ bạn học cùng lớp, cùng trường, còn cô Tam, dường như có một sự liên hệ vô tình nào ràng buộc cô Tam vào với Ngôn. Ngay cái đêm ấy, sau khi bị mẹ và nội đuổi đi, cô Tam đã âm thầm khăn gói lên đường. Đêm khuya lắm, Ngôn nhớ rõ, Ngôn còn trằn trọc chưa ngủ được vì hình ảnh cô Tam ngất xỉu ban chiều cứ lởn vởn trong đầu óc Ngôn, thì Ngôn nghe có tiếng khóc thật gần, tiếng chân bước nhè nhẹ. Hồi nào tới giờ, Ngôn không biết ma là gì, nên không sợ ma, nhưng cái ngọn đèn hột vịt tù mù, lung linh chập chờn làm căn buồng nhỏ khi mờ khi sáng làm Ngôn ngán vô cùng. Ngôn mở mắt thao láo nhìn ra ngoài mùng. Ngôn thấy một bóng đen đứng ở cửa nhà bếp thật lâu, dường như có đưa tay quẹt mắt mấy lần. Ngôn định kêu mẹ dậy, vì Ngôn nghĩ đó là tên ăn trộm. Nhưng Ngôn chợt nhớ tới cô Tam. Phải rồi, cô Tam chớ không còn ai vô đây. Cô Tam sắp bỏ nhà mà đi. Thốt nhiên Ngôn thấy mắt mình cay cay muốn khóc. Bóng đen quay ra, rồi từ từ mất dạng. Ngôn ngồi bật dậy, rón rén bước xuống giường, leo lên ghế, nhắc chiếc đèn hột vịt cầm tay soi sáng. Ngôn đi vòng ngõ sau bếp để ra vườn, mẹ không hay, căn buồng tối om lại. Ngôn bước từng bước thật chậm. Ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn chỉ vừa đủ soi cho Ngôn thấy khoảng đất nhỏ, chứ không tài nào thấy rõ chung quanh. Ngôn lần ra tới bờ sông, vẫn không thấy cô Tam đâu, không lẽ bóng đen đó là ma. Ngôn đi thêm vài bước nữa, trên tay Ngôn chiếc đèn hột vịt run như muốn rớt xuống đất. Ngôn mừng quá, cô Tam còn ngồi ở đầu cầu bên cạnh là cái nón là và một bọc quần áo nho nhỏ. Ngôn kêu lên:
- Cô Tam!
Cô Tam quay lại, ánh đèn dầu cho Ngôn biết rằng cô Tam đang khóc, mắt cô long lanh sáng, trên má cô hai hàng nước ướt nhòe. Ngôn lại gần cô Tam, đặt đèn xuống mặt cầu Ngôn hôn lên má cô Tam rồi ôm chầm lấy cô mà khóc. Không ngờ Ngôn cũng mau xúc động đến vậy, hai cô cháu cứ ôm nhau thút thít, thút thít. Cô Tam nói với Ngôn giọng đầy nước mắt:
- Ngôn ở lại mạnh giỏi. Ráng học và ngoan ngoãn luôn.
Ngôn gật đầu, giờ phút này Ngôn muốn kêu cô bằng mẹ, tiếng mẹ giả bộ đã làm cho cô Tam bị đuổi, nhưng tiếng mẹ thật thà bây giờ chắc sẽ xoa dịu nỗi buồn cô Tam hơn. Cô Tam thương Ngôn như một người mẹ thương con. Tại sao Ngôn không thể kêu cô Tam bằng mẹ? Chắc tại vì cô Tam không sanh ra Ngôn. Ngôn lau nước mắt cho cô.
- Mẹ của Ngôn!
Cô Tam run run nắm bàn tay của Ngôn áp lên má:
- Ngôn, đừng gọi cô bằng mẹ nữa, dù mẹ... ơ... cô muốn nghe ghê lắm. Cô không phải là... mẹ Ngôn. Nhưng cô thương Ngôn nhiều. Xa Ngôn, cô nhớ Ngôn biết chừng nào nói. Ngôn...
Nước mắt tuôn xối xả, chảy vào miệng cô Tam nữa. Ngôn lấy vạt áo chậm mắt mình. Nó nói như không phải là nói với cô Tam:
- Mai mốt không còn ai để kể chuyện lục bình, không còn ai để Ngôn làm thầy bói nữa.
Cô Tam ôm Ngôn vào lòng:
- Cô đi nhưng không bao giờ quên Ngôn cả. Thôi Ngôn vô ngủ đi, kẻo mẹ hay. Mẹ đánh đòn.
Ngôn nhõng nhẽo với cô:
- Lâu lâu cô Tam ghé về thăm Ngôn, nghen cô.
- Nếu cô còn sống thì cô sẽ về thăm Ngôn. Cô ra đi lần này, cũng giống lần đầu ba má cô đuổi cô đi. Nhưng không biết phải đi đâu?
Giọng cô buồn quá, nghe như một lời trối trăn. Ngôn nằm vùi trong lòng cô, không muốn rời cô Tam nữa. Mà hình như cô Tam cũng muốn như vậy. Có tiếng súng nổ thật lớn, cô Tam giật mình, đẩy Ngôn đứng lên:
- Thôi Ngôn vô đi, khuya lắm rồi.
Ngôn chậm chạp bước từng bước lên cầu; cô Tam còn ngồi đó, Ngôn đứng yên, bóng cô Tam lung linh như sắp bể tan trong mắt Ngôn. Ngôn không nói gì hết, một giọt nước len nhẹ vào môi cho nó nghe mặn mặn đầu lưỡi. Cô Tam lại ôm vai nó:
- Cho cô hôn lên trán Ngôn lần cuối.
Ngôn quỳ xuống đón lấy từ môi cô mấy nụ hôn thân yêu làm dấu kỷ niệm để đời trên vầng trán nhỏ. Nước mắt của cô đậu lên mặt Ngôn ấm áp. Cô Tam buông Ngôn ra:
- Nữa lớn nhớ đến cô, Ngôn cho cô vài giọt nước mắt, nghe Ngôn. Ngôn ở lại mạnh giỏi. Cô đi.
Ngôn gật đầu, nó muốn chúc cô đi bình an mà cổ họng nghẹn lại, thốt không ra lời. Cô xuống xuồng, nhẹ nhàng chèo đi, tiếng dầm khua nước róc rách sao giống như tiếng khóc. Ngôn nhìn theo bóng cô Tam từ từ biến mất, Ngôn không dằn được nữa, nó khóc òa lên. Không có ai bên cạnh để dỗ dành Ngôn, nó khóc nức nở một mình, tưởng như vừa bỏ mất một vật gì quí giá lắm mà không đời nào lấy lại được. Tiếng súng nổ dồn, súng lớn có, súng nhỏ có chắc lại đụng trận nữa chớ gì. Ngôn thầm van vái trời phật phò hộ cho cô Tam yên lành. Ngước nhìn lên cao, Ngôn chấp tay xá ba xá, để vừa bắt gặp một ngôi sao vụt băng đi xa tuốt luốt nơi nào không biết.
Rồi hai ba bữa sau, con Bông vô lớp nói cho Ngôn biết nó sẽ đi Saigon. Bây giờ con Bông đã đi rồi, cô Tam cũng đi rồi, Ngôn ngồi nhớ và buồn bã vô hạn. Nắng mới lên trên dòng sông lấp lánh, nhìn ra ngoài xa Ngôn mường tượng xuồng của cô Tam đang trôi bềnh bồng, như một chiếc lá, như một đám lục bình. Không biết lúc này cô Tam ở đâu, có nhớ đến Ngôn chăng? Nước cứ trôi xuôi một dòng, biết khi nào mang trả lại cho Ngôn một cô Tam trìu mến? Ngôn muốn bày tỏ nỗi buồn nỗi nhớ cho người nào khác, để đỡ nặng lòng. Con Bông thì đã ở trên Saigon xa lắc xa lơ. Nội thì không bao giờ thèm nghe bất cứ câu nói nhắc đến tên cô Tam, tất nhiên mẹ cũng cùng tâm trạng. Bạn học thì không ai thân. Đâu phải bất cứ một chuyện vui, chuyện buồn nào người ta cũng dễ bộc lộ. Phải tùy người và tùy lúc nữa. Chẳng hạn ngay giây phút này Ngôn đang thèm tâm sự, thèm có một đứa bạn thân ngồi bên để chia sớt nỗi buồn với Ngôn. Nhưng ngoài dòng sông, ngoài hàng dừa nghiêng nghiêng bờ đất ra, Ngôn không có ai kề cận. Mà dòng sông với hàng dừa thì lúc nào lại chẳng chứng kiến những thân mật cũng như những buồn đau của cô Tam và Ngôn? Chắn chắn chúng hiểu Ngôn hơn ai hết, chúng cũng hiểu cô Tam hơn ai hết. Dòng sông như một nơi cất giữ những chuyện muốn nói mà không bao giờ nói của Ngôn. Buồn nhiều hơn vui. Đáng lẽ, nỗi buồn phải đi theo con nước mà đi biền biệt, đi thật xa, để lại cho Ngôn niềm vui độc nhất dù nhỏ bé, dù đơn sơ. Vậy mà không, Ngôn vẫn còn buồn. Ngôn tưởng dòng sông đục nước là vì hòa trộn niềm đau của Ngôn, dòng sông chảy lững lờ là muốn an ủi Ngôn. Ngôn thấy sông đẹp hơn bao giờ hết. Ngôn nhìn nó với ánh mắt thật thương. Và những chiếc lá dừa rộng rãi trên đầu, đong đưa xào xạc mỗi chiều có gió, Ngôn xin lấy làm bằng chứng yêu thương. Biết bao lần Ngôn nói thương cô Tam ở đây những chiếc lá dừa chắc đã đựng đầy hết, nhất là những lời nói đêm cuối cùng, Ngôn đau xót nhìn theo bóng cô Tam chèo xuồng bỏ Ngôn mà đi.
Rồi bỗng nhiên Ngôn nhớ đến thằng Thạnh, cái thằng bạn chuyên môn chê con gái, không thèm chơi với con gái và cũng rất sợ con gái. Hôm Ngôn tiễn con Bông ra bến xe đò chợ quận, bỏ một buổi học, Thạnh biết nên theo chọc Ngôn hoài, Ngôn không khi nào giận nó cả. Coi nó vậy mà hiền khô và chân thật. Ngôn thương mến Thạnh như là Ngôn mến thương Bông. Kể như đó là hai đứa bạn thân của Ngôn.
Từ dạo cuộc chiến trở nên sôi động, tình thế bất an, Ngôn chỉ còn gặp Thạnh ở sân trường trong giờ chơi với lần u mọi té xuống bể đầu, với lần rượt bắt cứu bồ muốn đứt hơi vì chạy. Hai đứa đã không còn cái thú vác cần câu vào tận rạch dừa um tùm bóng lá để thi câu, cũng không còn đua nhau làm diều đem ra đồng thả, rồi nằm chơ vơ trên gò mả của ai đó mà say sưa ngắm diều phất phới trên cao. Thạnh cũng là thằng bạn Ngôn hay kể chuyện nhất, phải chi lúc này có nó thì đỡ biết mấy...
- Ngôn ơi, Ngôn! Ngôn ơi, Ngôn!
Tiếng ai gọi Ngôn thất thanh bài hãi, Ngôn bỏ cầu ván, chạy vội lên bờ. Bao nhiêu ý nghĩ vẩn vơ bay tuốt hết. Ngôn nhìn quanh quất, kìa, thằng Khôi với chiếc xe đạp cũ rích cũ mèm, nó vừa đạp vừa la. Ngôn vẫy tay ra dấu cho nó thấy đồng thời cũng là dấu hiệu bắt nó dừng lại. Khôi thấy Ngôn, mừng húm nhảy phóc xuống đất, quành xe lại, vỗ vào yên sau, nói tía lia:
- Leo lên Ngôn, lên tui chở trò đi.
Ngôn ngạc nhiên:
- Sao khi không mà trò đòi chở tui đi, mà đi đâu?
Khôi hối thúc:
- Đi đâu leo lên rồi biết, lẹ đi trò!
Ngôn cù cưa, cù nhầy:
- Khoan đã, để tui vô xin phép nội, xin phép mẹ tui.
- Trời ơi, lẹ lên đi, không kịp bây giờ, tội nghiệp nó mà.
Nghe giọng Khôi lạ lạ, Ngôn nhìn kỹ mặt bạn hơn, hai con mắt Khôi còn hơi đỏ đỏ. Ngôn lại càng ngạc nhiên hơn, nhưng linh tính cho nó biết có chuyện quan trọng, Ngôn không cần suy nghĩ gì nữa, Ngôn leo lên ngồi cho Khôi chở đi. Khôi đạp hết sức mình, chiếc xe đạp tội nghiệp kêu "cà cót, cà két", lao nhanh trên bờ đất, vậy mà Khôi vẫn còn thấy chậm, nó ghì người sát tay lái như một cua rơ chạy nước rút cho mau đến mức ăn thua. Ngôn khều lưng thằng Khôi:
- Chạy đi đâu dữ vậy, cha nội?
Khôi đáp lẹ:
- Tới nhà trò Thạnh, nó đang hấp hối...
Giọng Khôi như bị ai bóp nghẹt, lại còn bị gió thổi tạt đi, nhưng Ngôn nghe thật rõ, mình mẩy nó nổi da gà, Ngôn hơi run:
- Sao?... trò Thạnh... hả?
- Ờ, trò Thạnh, nó đi mua thuốc cho má nó trên tỉnh, bận về đi xe lam qua ngõ bên kia bờ rẫy bị giựt mìn, nó gần chết.
Ngôn bủn rủn tay chân lọt xuống đường cái bịch. Thằng Thạnh gần chết. Trời ơi, có lẽ nào, Ngôn mới nhớ tới nó đây mà.
Ngôn vừa mới mong ước nó có bên cạnh Ngôn để kể lể chuyện buồn đây mà! Thạnh ơi. Thằng Khôi đang gò lưng chạy bỗng thấy nhẹ re phía sau, Khôi nhìn lại, thằng Ngôn vừa lồm cồm ngồi dậy, vừa kêu réo:
- Chờ tui Khôi ơi, chờ tui.
Ngôn chạy tới, leo lên và chiếc xe đạp lại tiếp tục nuốt hết con đường. Nhà thằng Thạnh sao mà xa ghê vậy. Khôi chạy nãy giờ gần hụt hơi mà vẫn chưa tới. Khôi hỏi Ngôn:
- Trò té có sao hôn?
- Không sao.
- Vịn cho chắc nghen, tui đạp cho lẹ, sao tui sợ...
Ngôn không nghe Khôi nói tiếp. Mà nghe Khôi hít mũi, chắc Khôi khóc. Ngôn cũng nghe mắt mình cay cay, nó bậm môi lại thật chắc, để khỏi khóc bất tử. Khôi hãm xe lại bằng thắng tay, lẫn... thắng chân, Ngôn cũng giúp bạn, cố chạm chân xuống đường. Bốn cái chân kéo lê trên đường kêu "sạt! sạt!" làm chiếc xe ngừng lại mau hơn. Khôi thở hắt:
- Tới rồi.
Ngôn thấy nhà thằng Thạnh đông người quá, nhốn nha, nhốn nháo. Khôi dựng xe vào bờ rào, rồi nắm tay Ngôn dí vô. Nhưng hai đứa bỗng khựng lại trước cửa, má thằng Thạnh chị em thằng Thạnh khóc um sùm, kêu Thạnh ơi! Thạnh hỡi, não nuột, còn tía thằng Thạnh, cặp mắt đỏ hoe, run run, kéo chiếc mền xám tro lên tận mặt con. Ngôn nói với mình:
- Thôi, trễ rồi.
Ngôn cặp kè Khôi đi ra ngoài. Tiếng khóc kể vẫn không ngớt vọng vào tai chúng. Lúc mà Ngôn nhớ nhiều về Thạnh, cảm thấy thương Thạnh và cần có Thạnh lại là lúc Thạnh nằm ngủ muôn đời. Làm sao trò thức dậy để đi học như mọi lần hả Thạnh? Thôi vậy là trò xa tụi tui rồi. Buồn ghê hả Thạnh. Mai mốt vào lớp học, tui còn có ai nữa đâu?
- Ngôn à, chừng chôn trò Thạnh trò đi hôn?
- Không.
Ngôn đáp bằng một giọng chắc nịch. Thạnh à, bây giờ trò nằm đó, buông xuôi tay chân vô cùng thanh thản, mà tui muốn khóc thật nhiều vì hiểu trò thật sự làm một cuộc đi chơi xa. Xa hơn cánh đồng vàng vàng ngọn lúa, lổm chổm vài cái mộ đá rêu phong, xa hơn con rạch cong queo chảy hun hút, len lỏi qua mấy vuông đất trồng chuối, trồng dừa. Lần đầu tiên và cũng là lần sau cùng trong cuộc đời, trò đi chơi mà không rủ tui, rủ thằng Khôi.
Đi một mình chắc là vui hơn nhiều há Thạnh? Như vậy tui cần gì phải đưa đám trò. Với lại tui không thể nào can đảm đứng nhìn người ta đưa trò vô trong lòng đất. Bây giờ cũng đã là xa. Bây giờ cũng đã là mất Thạnh ha.
*
Từ đó trở đi, ngày nào cũng có tin người ta bị thương, hay bị chết. Không vì lạc đạn ngoài đồng thì cũng vì bị giựt mìn, mới đây lại thêm nạn pháo kích. Dân làng sống trong lo sợ phập phồng. Người lìa bỏ quê cha đất tổ, bỏ biệt mồ mả ruộng nương, càng lúc càng nhiều, họ đi tìm một nơi an lành hơn, dễ sống hơn. Làng mạc tiêu điều vắng lặng.
Nhà Ngôn cũng thu xếp đồ đạc để lên Saigon sống với ba. Đến phút này Ngôn mới thấy thương quê nội hơn bao giờ hết. Quê nội có dòng sông êm ái, có hàng dừa xinh xinh, có bóng cô Tam và chiếc xuồng đêm chia biệt, có hình ảnh con Bông, thằng Thạnh, thằng Khôi với những chiều rong chơi sung sướng, Ngôn muốn đem hết những thứ đáng yêu đó theo bên mình. Ước gì Ngôn có phép như mấy nàng tiên trong truyện cổ tích của nội, Ngôn sẽ "ếm sì bùa" cho hết đánh giặc, cho hết đau thương. Phải rồi, ước gì...
- Ngôn à, con thu xếp mọi thứ của con chưa mà ngồi ngó mông đó?
Ngôn đứng dậy, thưa với ba:
- Con làm hết rồi ba.
Ba gật đầu, ba đi tới đi lui trong nhà, Ngôn biết ba lo lắng cho nội. Suốt mấy đêm liền, từ khi ba về đây với ý định đem cả gia đình lên Saigon sống thì nội cứ nhất định không chịu nghe theo ba, dù ba đã trình bày hết mọi lý lẽ, để cố mong lay lòng nội. Ba không muốn để nội sống một mình ở đây, giặc giã hiểm nguy. Còn nội, nội không thể xa đất tổ, xa mồ mả ông bà. Nội ở lại để trông coi, giữ gìn và thờ phượng. Nội già cả, sống từng tuổi này là đủ rồi. Nếu có chết nội cũng đành lòng. Bởi vì chết tại ngôi nhà nội đã sống, chết tại mảnh đất làng, có ông nội, có gia quyến tổ tiên. Nhớ lời nội nói mà Ngôn thương nội sao đâu.
Mẹ từ trong buồng xách ra hai va ly quần áo, vật dụng. Ba nói với mẹ:
- Mình ra dốc cầu trước, để thằng Ngôn lại đây. Chút nữa anh với con ra.
Mẹ nghe lời, lủi thủi bước đi. Mẹ cũng buồn bã, Ngôn thấy bước chân mẹ ngập ngừng, Ngôn thấy mắt mẹ ươn ướt. Mẹ đi rồi, Ngôn vào nhà: nội nằm trên bộ ván giấu mặt vào trong, vai của nội gầy còm run nhè nhẹ, còn ba đứng im lìm bên nội, mắt đỏ hoe. Ba vẫy tay gọi Ngôn:
- Lại thưa bà nội rồi đi, con!
Ngôn ríu chân đi không nổi nữa, sao mà nội tội nghiệp quá.
Đến lúc này Ngôn mới thấy nội già nhiều, tóc nội bạc phơ phơ. Nội ốm nhom, ốm nhách. Ngôn mếu máo:
- Nội ơi.
Nội vẫn không quay ra, Ngôn biết nội đang buồn, đang khóc. Ngôn lóng cóng leo lên bộ ván ôm nội:
- Thưa nội, con đi, nội ở lại mạnh giỏi.
Nội xô Ngôn ra nhè nhẹ, tiếng nói của nội đục ngầu:
- Ờ, con với ba con đi đi! Mai mốt nhớ về thăm nội.
Ba nắm tay Ngôn, tần ngần:
- Má à, con đi nghe má! Má ở lại bình an thỉnh thoảng con sẽ về thăm.
Ba dẫn Ngôn đi. Nội vẫn còn nằm ở đó. Nội không buồn đưa tiễn. Chắc nội không đành lòng nhìn Ngôn, ba mẹ dắt díu nhau đi. Nội khóc, nội buồn, chẳng có ai bên cạnh an ủi. Dù gì Ngôn cũng còn có ba, có mẹ, Ngôn quay nhìn ngôi nhà lần chót, hàng tre um tùm quanh ngõ như thì thầm lời từ giã. Ngôn cũng nhìn lại dòng sông, nắng làm sông lấp lánh, muôn ngàn cái lấp lánh, Ngôn không còn thấy chúng đẹp như những sợi kim tuyến mà Ngôn tưởng như những giọt nước mắt thật đau lòng. Ngôn nhớ tới những đôi mắt long lanh của cô Tam. Ngôn nhớ tới ngôi mả mới đắp của Thạnh. Ngôn nhớ tới thằng Khôi với chiếc xe đạp cũ rích "cà cót, cà két"... Tất cả đều đáng thương.
Ba cúi xuống hỏi Ngôn:
- Con có còn thương cô Tam không?
Ngôn nhìn ba gật đầu. Ba cười buồn:
- Cô Tam đi mà không nhắn gởi lại gì với ba hết sao? Biết cô Tam ở đâu bây giờ?
Ngôn lặng thinh không nói, nó nắm tay ba lững thững bước đi. Càng lúc càng xa nội. Ba nhìn chăm chăm đôi mắt của Ngôn sao mà giống đôi mắt cô Tam quá đỗi. Cũng một điệu buồn. Nhưng có lẽ chưa lần nào ba bắt gặp mắt cô Tam buồn, não nùng một cách ngây thơ, như lúc này, ba bắt gặp trong đôi mắt của Ngôn.

ĐOẠN CUỐI



Người lính trẻ, ôm ghì họng súng, mắt đăm chiêu mơ màng. Trên đồn gác thật cao, hắn nhìn thấy đồng lúa phì nhiêu chạy dài xa tít tắp, xanh rờn, xanh rờn, như nỗi hy vọng của hắn ngày còn bé, và ngay bây giờ.
Hắn theo ba lên sống nơi thành thị, nhưng hình ảnh làng quê với bà nội già nua thấp thỏm vào ra một mình quạnh quẽ, cứ làm hắn bồn chồn. Hắn mong một ngày thanh bình để trở về với nội. Hắn mường tượng mỗi sáng nội thức dậy lui cui quét sân, đốt lá, lui cui châm trà và miệng gọi ột! ột! cho đàn heo ăn cám, mỗi chiều nội ra trước cửa ngóng, đôi mắt già mong thấy được con cháu tận đâu đâu... Ôi, sao hắn thương nội vô cùng.
Cũng trên đồn gác này, hắn thấy những gãy nước mênh mông, sáng lấp lánh... có con sông nào êm đềm lờ lững và đẹp như con sông trước nhà của nội? Con sông đã hứng lấy nước mắt của cô Tam, người mẹ đau khổ bất hạnh của hắn, khi chèo xuồng xa đứa con còn nhỏ.
Mẹ hắn, người mẹ mà không có quyền nhìn nhận đứa con, người vợ không được lên xe hoa về nhà chồng. Con dâu mà không bao giờ nội thương tưởng. Bây giờ cô Tam còn sống hay đã chết? Nếu còn thì chắc cũng già như mẹ nuôi hắn hiện giờ. Ngày đó, hắn ngây ngô khờ dại, thương mẹ thật thương mà cứ tưởng đó chỉ là một người bà con, thân quyến! Cuộc đời không xuôi chảy như một dòng sông. Mẹ hắn nói đúng. Hắn cầu mong mẹ vẫn hiện diện trên đời, để lần nào, hai mẹ con ôm nhau hội ngộ. Hắn mang trên khuôn mặt dấu tích của mẹ: đôi mắt đen và sâu của người Chàm Châu Đốc. Bây giờ hắn mới biết tại sao mẹ nuôi và nội gọi mẹ hắn là "con mọi". Ba mẹ không được tác hợp thành hôn với nhau cũng vì vậy. Ba kể lại cho hắn nghe, khi hắn tròn hai mươi tuổi, vào một buổi chiều, hắn ngồi buồn đọc câu ca dao:
Chiều chiều ra đứng bờ sông
Muốn về quê nội mà không có đò.
Ba nó bảo rằng:
- Cô Tam chính là mẹ ruột của con đó Ngôn!
Hắn không mấy ngạc nhiên, vì sau này hắn dần dần đoán ra được điều đó. Hắn mong sao chóng về quê nội, để tìm lại những kỷ niệm thân yêu mà hắn đã làm rơi rớt ở đó suốt quãng đời thơ ấu. Ôi, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nay mẹ còn đâu cho hắn đền công sinh thành. Ba kể lại rằng: "Vì mẹ là người Chàm, hơn nữa nội cũng đã hứa kết sui gia với một người bạn thân thuở trước. Ba không cãi lời được, nên phải bỏ mẹ mà đi. Mẹ có thai, ba chẳng biết, sau này, mẹ sanh ra con, vì một thân một mình, mẹ đánh bạo đem con đến nhà nội bảo rằng cho.
Ba nói dối khi trước khi đi xem tuổi, thầy có dặn phải nuôi một đứa con nuôi thì gia đình mới êm ấm và hạnh phúc. Nội mới chịu nhận, mẹ xin ở bên cạnh con, nội vì thương tình nên bằng lòng với điều kiện không được nhận con là con. Ba thì cũng có ý săn sóc cho mẹ vì thấy mẹ buồn. Nhưng nội la rầy cấm cản, mẹ nuôi con lại ghen tương hành hạ. Ba buồn, nên bỏ lên Saigon làm ăn, lâu lâu mới về để thăm con, thăm nội..."
Ba còn kể nhiều nữa, nhưng hắn nhớ không hết, đúng ra hắn không thèm nhớ. Cuộc đời của mẹ sao gian truân và đầy buồn khổ. Cho đến bây giờ, hắn đã là một quân nhân, nếu ba không tỏ thật thì hắn cũng chỉ biết mập mờ. Lời hứa ngày xưa quan trọng quá và chữ tín của mẹ sao cao vời. Mẹ vẫn biền biệt không hay! Hắn cúi đầu thật thấp, hắn nghe tiếng hắn thở dài.
*
Chiều hôm ấy, hắn đang ngồi viết thư cho ba thì thằng bạn đồng ngũ chạy vào la to lên:
- Ê! Hiệp định ngưng bắn đã ký kết rồi Ngôn ơi! Hòa bình! Hòa bình!
Hắn tưởng mình ngủ mơ. Nhưng không, nhiều thằng bạn ôm nhau mừng rỡ kìa: "Hiệp định sẽ bắt đầu có hiệu lực từ tám giờ sáng ngày chủ nhật 28 tháng Giêng. Trời ơi, sung sướng quá". Hắn bâng khuâng cắn bút nghĩ ngợi, thằng bạn lúc nãy vỗ vai hắn:
- Lát nữa, tin tức, Đại Úy Trưởng đồn sẽ cho vặn ra-đi-ô thật lớn truyền vào máy phóng thanh lời Tổng Thống nói cho mọi người cùng nghe. Mày mừng không Ngôn?
- Mừng chớ! Mừng hết lớn.
Thằng bạn hút một điếu thuốc phà khói nói như mê:
- Tao sẽ về quê Ngôn ạ! Về quê thăm mẹ tao, mày biết mẹ tao ở đâu không? Xa lắm mày ơi, ở tuốt Thái Bình ngoài Bắc lận.
Hắn nhìn thằng bạn mà mắt cay cay. Lâu rồi hắn không còn thấy mắt mình cay cay thú vị như thế. Hắn tưởng mình đã chai sạn gan lì, hết còn biết khóc. Thế mà chiều nay, hắn muốn khóc quá, khóc thật to.
- Ủa, Ngôn! Mày khóc à?
Ngôn điềm tĩnh mỉm cười, nước mắt thành giọt lăn xuống đậu trên môi, hắn thè lưỡi liếm, giọt nước mắt mừng sao ngọt ngào. Hắn vái trời cho mẹ hắn còn sống, như lúc nhỏ, hắn làm thầy bói, bảo rằng: "Cô Tam có số trường thọ". Hắn cúi xuống, đặt bút viết thư cho ba, báo tin hắn vẫn bình yên và hắn bỗng trẻ con vô cùng khi đòi ba dẫn hắn về quê ăn Tết. Tay hắn mải mê viết, trong óc hắn, hình ảnh dòng sông hiền hòa, hình ảnh nội già lụm cụm ra cửa chờ con, xôn xao rạng rỡ; hắn lẩm bẩm: Ngưng bắn rồi! Hắn mỉm cười, một ngày nào không xa, trên chiếc xe đò xuôi về chợ quận, chắc chắn sẽ có hắn ngồi thật ngoan....

Phú - Nhuận, tháng 2 - 1973 
LÊ-NGUYỄN MAI-TRẮNG