Thứ Ba, 23 tháng 7, 2019

CŨNG MỘT THỜI ĐI THUÊ TRUYỆN - Phan Khương Thái


Bà chủ tiệm dò đi dò lại cuốn ghi ngày của những quyển truyện cho thuê. Cuối cùng tìm ra một ngày đích xác. Quyển truyện được trả cách đây 2 hôm, nay được trả lần nữa. Bà quăng quyển truyện vào góc cái xạch, hất hàm:

- Không có trả tiền thế chân gì ráo. Mày rút truyện của tao hồi nào.

Thằng bé cũng không vừa:

- Tôi mới mướn hôm qua, bà đừng ỷ lớn rồi nói ngược... Tôi về tôi nói với chị tôi thì bà biết...

- Ừ, kêu chị mày hay ba má, người lớn... lại đây nói chuyện. Bây lớn mà bày đặt gian hùng.

Độ 10 phút sau, thằng bé quay lại với một người đàn bà. Thế là khách mướn truyện được dịp ngẩn ra xem màn đấu khẩu gay go. Dĩ nhiên là thằng bé láu cá và chị nó chịu rút lui.

Bà chủ tiệm phân trần với khách hàng:

- Nó đã trả truyện, thừa lúc tôi lu bu nó ăn cắp để trả lần nữa. Nhưng ngày ghi trong sổ và trong truyện đã gạch bỏ rồi. Tôi bị cái vụ này là mấy lần rồi. Chắc phải đóng cái quày hàng cho ngăn cách để khỏi bị lộn xộn nữa.

Đa số các tiệm cho thuê truyện, tiểu thuyết, kiếm hiệp đủ loại hay gặp những vụ điển hình như trên. Đôi khi kẻ gian rất khôn ngoan, ngụy tạo một ngày mướn trên truyện rất đúng. Chủ tiệm cứ tưởng mình xóa lộn trong sổ và phải mất tiền đền.

Huy xem kỹ mục lục tiểu thuyết của Quỳnh Dao, sau cùng Huy chọn quyển "Đôi bạn chân tình". Những loại sách dịch này bây giờ xuất hiện nhan nhản, mà túi tiền eo hẹp không đủ để Huy mua. Thôi thì mướn mà xem đỡ ghiền. Nhất là sách Quỳnh Dao, có thể gọi là một hiện tượng. Ban đầu Huy có mua đôi ba cuốn. Về sau lại có nạn mạo hóa vàng thau lẫn lộn, giống như trước kia có Kim Dung giả và Kim Dung thiệt vậy. Cái gì rồi cũng một thời mà thôi. Huy không còn những cảm giác say mê thích thú như hồi còn bé. Có lẽ một khi bị cấm đoán, ta sẽ làm công việc bị cấm ấy một cách hồi hộp mà thỏa mãn.

Ngày xưa, Huy đã từng đọc lén truyện của bà dì mướn về. Dì Út dễ dãi để mượn Huy đem đổi quyển kế tiếp. Cho nên dì Út đọc loại nào là Huy ngốn loại đó. Cha mẹ Huy không cần biết sách truyện gì, nhảm nhí hay giáo dục đều ngăn cấm con em và không cho đọc, để dành thì giờ học bài, làm bài. Dạo ấy tiền thế chân theo thời giá còn rẻ rề, từ 50đ đến trên 100đ. Tiền mướn 1 quyển là 1đ. Có tiệm tính từng ngày, có tiệm tính từng tuần lễ. Tựu trung cách nào họ vẫn móc túi khách hàng từ từ và khéo léo. Nhiều cửa tiệm gia đình sống phong lưu dư dả chỉ nhờ vào nguồn lợi cho mướn sách. Có những bộ truyện kiếm hiệp, họ mua ngay lúc mới phát hành từ 20 bộ trở lên. Vậy mà vẫn không cung ứng nổi nhu cầu. Đại khái một cửa tiệm đầy đủ phải có tiểu thuyết xã hội, tình cảm, Tự Lực văn đoàn, tiền chiến, thời đại, đường rừng, gián điệp, trinh thám, kiếm hiệp, truyện Tàu, ma, quái đản... Nghĩa là phải thỏa mãn thị hiếu của độc giả tiết kiệm. Có tiệm cho mướn cả loại sưu khảo, sách có giá trị văn chương, thơ tiền chiến và cả loại sách về tình dục nam nữ v.v...

Sách dịch đã có từ lâu chẳng hạn như kiếm hiệp, chưởng pháp. Loại Âu Mỹ thì có Vô gia đình, Thần Jupiter v.v... Ngày nay lại thêm văn Quỳnh Dao, rồi Y Đạt, Từ Tốc... Dịch giả nhiều như nấm. Những sách dịch từ Âu Mỹ là loại sách có giá trị, đôi khi đoạt giải Nobel. Nhưng không ăn khách bằng văn Trung Hoa. Có lẽ chúng ta gần gũi những tâm hồn Á Đông hơn. Bây giờ loại sách Nhi Đồng cũng đem cho mướn. Huy thấy đầy dẫy tủ sách Tuổi Hoa, Mây Hồng v.v... Tiến sang Sách Vàng, Xì Trum, loại tranh vẽ của ngoại quốc chụp lại, phụ đề Việt Ngữ. Có những chú bé đứng mướn xem tại chỗ, coi một lần 2 hay 3 quyển rồi trả tiền. Làm vậy khỏi tốn tiền thế chân, lại khỏi bận giữ gìn. Hiện giờ rất nhiều nơi cho thuê truyện. Có nơi có bảng hiệu đàng hoàng, có nơi kẻ chữ sơ sài, có nơi không có gì cả. Chỉ cần nhìn vào nhà chúng ta thấy ngay nhiều kệ lớn sắp hàng lũ sách suốt đời phiêu lưu. Chúng được bao giấy dầu vàng, màu và giấy loại này người ta thường hay dùng vì lâu dơ và bền.

Tiệm khác thì dùng giấy bìa dày chemise. Có chỗ còn cẩn thận bọc nylon và bấm kim đàng hoàng. Mở ra trang đầu chúng ta thấy ngay bảng điều lệ giá biểu với lời yêu cần đừng xé hoặc phê bình vào truyện họ sẽ không nhận lại. Chẳng mấy khi họ kiểm soát hết được trừ trường hợp truyện rơi vào vũng nước dơ hay thấm mưa bèo nhèo. Hoặc là truyện mang tình trạng cháy loang với rách tả tơi.

Huy rất bực mình khi mướn lầm phải các quyển truyện tệ hại trên. Còn gì bực mình cho bằng đang đọc một đoạn tả trận đấu sinh tử giữa vai chánh với tên ma đầu lại đứt ngang. Một trang vô tội bị kẻ nghịch ngợm đang tay xé cái toẹt làm cụt hứng kẻ đọc sau. Có lẽ nạn nhân gián tiếp thứ nhì hậm hực phê bình: "(Tiếng chửi)... thằng nào mắc dịch". Trang truyện vẫn đón nhận thêm lời chửi nhau tuần tự: "Phải đó, uýnh chết thằng nào chơi xé truyện"... Thật khôi hài! Vì có bao giờ kẻ xé truyện lại mướn lại quyển đó để coi lần nữa, và để biết người ta chửi mình.

Lúc nào Huy cũng đọc được cả. Giờ ăn thì vừa nhai vừa xem báo (Bị la và cú đầu bởi anh chị là thường). Giờ ngủ thì khỏi nói. Chả bố mẹ Huy vẫn mắng là "con mọt sách". Giờ học, nếu làm biếng, Huy vẫn lén đọc truyện như thường. Bạ gì đọc nấy, tạp nhạp đủ thứ, khiến đầu óc Huy đầy kiến thức tổng quát, lẫn tinh ranh láu cá. Đừng tưởng trẻ con có thể đọc được hết sách báo đâu. Thuở ở nội trú, trong trường thày dòng, các frère có một thư viện bỏ túi, để cho học trò nội trú đọc giải trí. Lâu lâu mắc bệnh, Huy hay giả bộ nằm ở phòng bệnh thêm. Chỉ là để Frère cho mượn cả lô sách đọc giết thì giờ. Mấy ông rất quái ác. Đã cho đọc đủ thứ thì chớ, lại kiểm duyệt tất. Tức mình Huy nhờ bạn học ngoại trú mướn giùm cũng quyển truyện đó, xem đoạn bị xé hợp pháp viết gì. Đó cũng chỉ là 1 đoạn tả chân mà các tâm hồn đạo đức không muốn đầu độc đầu óc học sinh.

Ở ngoài, những trang truyện bị xé bất hợp pháp không làm sao kiểm soát hết được. Chủ tiệm chỉ xem xét qua loa cái vỏ bề ngoài.

Nhưng khách hàng không hơi nào biến hóa sách hay ra sách dở làm chi. Thêm một lẽ là sách truyện đóng kẽm hay chỉ rất chắc chắn. Trừ khi cố tình phá hoại, bằng không quyển truyện vẫn có thể luân lưu hằng mấy năm liền. Những quyển mới từ từ gia nhập vào đoàn thể. Mùi giấy láng thơm tho mực in với bìa plastic quyện vào cái mùi thuốc lá, xây xát, mùi đất cát phong trần. Truyện cũ qua tay từ tuổi biết đọc cho đến người già cả, đủ mọi hạng người, từ dân lao động cho chí người trí thức. Độc giả trong đó có Huy gây thiệt hại cho tác giả, dịch giả, nhà xuất bản rất nhiều. Biết làm sao hơn khi tình trạng nước ta còn quá nghèo, được đọc sách truyện với giá rẻ cũng là may. Chẳng trách những chỗ cho coi sách "cọp" cho mượn sách "chùa" rất đông độc giả như các Thư Viện, như nhà sách Khai Trí, như mini thư viện của tòa soạn Thiếu Nhi...

Chỉ cần một ít vốn là đã có thể thực hiện một tiệm cho thuê sách. Trung bình tiền mướn tính theo từng đơn vị nhỏ. Cứ một quyển truyện thế chân 100đ. Huy phải trả 10đ tiền thuê.

Cứ 10đ cho 1 ngày. Nhưng có tiệm chỉ phải bỏ ra 10đ, Huy có thể coi được suốt tuần, sang tuần thứ 2 mới phải tính 10đ khác. Một quyển truyện Quỳnh Dao dày hơn 300 trang, giá chừng 270đ (chắc tiệm họ mua sỉ và giá rẻ hơn) được chủ tiệm chia đôi ra. Mỗi quyển thế chân 150đ, tiền thuê 15đ. Nhưng Huy và 1 số độc giả lười chỉ thích thuê luôn 1 lần cho tiện, khỏi mất công đi đổi. Tiệm đưa nguyên cuốn, hoặc nếu hết họ đưa loại 2 cuốn lẻ. Thường thì ở tỉnh lỵ nhỏ, hay chia truyện ra để vừa với túi tiền của mọi giới. Dạo tiểu học, trưa nắng chang chang, Huy vẫn nghễu nghện đạp xe đi thuê truyện. Không một xó kẹt nào mà Huy không phăng ra để xem cho kỳ hết tiểu thuyết kiếm hiệp. Người chú họ của Huy cũng đồng bệnh "ghiền chưởng". Thôi thì không sót quyển nào. Từ thời "Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Quỷ Bảo, Lệnh xé xác... cho đến bây giờ có Tiếu Ngạo giang hồ, Lộc Đỉnh Ký, Lục Tiểu Phụng v.v...". Tiệm nhỏ hết truyện để xem, thì mò sang tiệm lớn ở xa nhà hơn. Nhiều lúc tiệm lớn vẫn thiếu thốn.

Đó là cảnh "đắt đồng ế chợ". Nếu coi tiếp, Huy chỉ việc đến một tiệm nhỏ khác để mướn quyển kế. Có một tiệm nhỏ, cho mướn rất rẻ, nhưng anh gù chủ tiệm rất ư ma giáo. Mãi về sau Huy mới khám phá ra. Lần nào anh cũng để mình coi xong quyển I, nhưng quyển II đã có người khác mướn. Kẹt quá mướn quyển I lựa truyện khác. Hai ba lần như vậy, hên lắm mới có quyển II. Thế là Huy mắc vào cái vòng cứ phải xem tiếp, xem tiếp hoài. Tuy anh ta rất nhã nhặn, nhưng mất khách dần dà. Bởi vì Huy và 1 số độc giả khác khám phá mưu mô giấu quyển 2 để câu độc giả của anh ta. Quyển II có khi trốn rất kỹ với lý do dễ hiểu: "bị kẹt", "bị mất". Dĩ nhiên mất luôn độc giả chỉ thích đọc liên tục một mạch. Giờ giấc đông khách của tiệm cho thuê rất bất thường. Có lẽ đông nhất vào sáng sớm trước giờ vào học của học sinh, và giờ tan học cho đến giờ học buổi chiều. Từ sau giờ tan học chiều đến tối, lúc đông đảo, lúc lai rai. Giờ làm việc của tiệm cũng tùy chỗ và tùy hứng.

Có tiệm mở cửa từ 7 giờ sáng đến 10 giờ tối. Có tiệm nghỉ trưa. Có tiệm nghỉ chiều chủ nhật. Lại bày đặt nghỉ lễ để xả hơi nữa chứ. Tiệm nhỏ chỉ cần một người đủ trông nom. Tiệm lớn phải nhiều người giúp việc, hoặc huy động con cái, hô số thứ tự, réo ỏm tỏi như phổ ky trong tiệm nước. Truyện loại nào cũng có độc giả, nhưng nhận xét của Huy loại kiếm hiệp vẫn chiếm ưu thế từ xưa đến giờ. Độc giả giành nhau từng cuốn tiếp vừa mới mua về (mới toanh) mặc dù chưa đủ bộ. Các bà, các cô vẫn thích loại tình cảm nhẹ nhàng hơn. Chỉ có trẻ em là thành phần phức tạp, đọc ngấu nghiến, đọc để rồi quên tuốt luốt mọi loại nhi đồng, trinh thám, kiếm hiệp... Nếu không vì các vị nhà binh mướn truyện vào đọc trong trại, truyện sẽ không mất và bị lẻ. Hoàn cảnh khiến họ làm mất truyện luôn luôn. Trường hợp đó tiền thế chân kể như đi đời, coi như ta mua quyển truyện với giá mắc vậy. Chủ tiệm không bao giờ lỗ, tiền thế chân luôn đúng giá ghi hoặc hơn cho chẵn mấy trăm. Số lượng người thuê không điều hòa. Tăng vào đầu tháng và giảm từ nửa tháng trở đi. Có gì lạ đâu, như Huy lúc hết tiền xài thì đành rút tiền thế chân lại. Nhiều vị cứ tưởng là mình giỏi lắm khi từ trong tiệm bước ra với chồng truyện hơn 10 cuốn. Giá đó là sách mua hay sách để học thì hay biết mấy. Huy hay cười thầm khi bắt gặp mấy nhóc tì như Huy lúc bé mướn nhầm phải truyện dịch triết lý cao siêu. Trình độ của chúng chỉ để coi truyện khoa học giả tưởng của Jules Verne thôi. Và Huy phục lăn thói quen của mấy đứa bé trong tiệm cho thuê. Chúng làu làu số thứ tự và tên truyện (ít khi lộn). Nếu độc giả quên, hoặc là người đi đổi giùm người nhà, chúng chỉ đợi mình nhắc vài chi tiết là đoán ra truyện đó ngay. Hẳn đây là những con mọt sách đầy đủ phương tiện nhất.

Trong đời đi thuê truyện Huy có vài kỷ niệm buồn vui khó quên được. Lần nào cũng bởi cái tật vừa đi vừa đọc (Vấp té là thường). Một hôm vừa từ trong tiệm bước ra, chân bước mắt đọc, Huy bị người đi chợ chen, va phải. Thế là Huy ngã vào thau "xương xa hột lựu". Thau đổ một ít và bể mấy cái ly. Cái bà đi chợ vô danh và không con ngươi trong mắt nào đó đã đi mất. Huy mếu máo lãnh đủ. Điều đình không được, Huy đành phải trở vào lấy tiền thế chân ra mà đền tức khắc. Vậy cho hết coi. Lần khác, ở một địa điểm khác, Huy "từng bước từng bước thầm" tiến đến chiếc xe đạp đang dựa bàn đạp vào lề đường. Gần đó mấy bàn "banh bàn" hoạt động ầm ĩ ; mà Huy thì mắt dán vào phần đầu của truyện. Lơ đãng Huy gấp truyện lại và lên yên đạp xe đi. Hẳn là Huy muốn vừa chạy vừa coi. Mải suy nghĩ về đến nhà lúc nào không hay. Dòm lại thì trời ơi! Xe đạp của ai mà tốt vậy kìa. Xe đạp của Huy còn dựng đẳng kia. Điệu này phải đem đổi lại. Nhưng làm vậy thì "tình ngay lý gian", vì xe đạp của Huy cũ hơn. Mấy đứa em bép xép và mẹ Huy bắt phải trả bất cứ giá nào, có ông chú họ theo hộ tống. Nhưng trở lại chỗ cũ thì xe Huy đã mất tăm dạng. Không rõ kẻ bất lương đã trộm hay chủ chiếc xe Huy vô tình cầm nhầm đã nén lòng cầm nhầm lại cho bõ ghét. Và Huy hằng sử dụng chiếc xe đạp đồi không bù tiền ấy một cách hồi hộp, chỉ sợ có hôm thày cảnh sát thổi cái "hoét" và chận lại bảo rằng Huy ăn cắp xe đạp thì xấu hổ vô cùng. Còn lần thứ ba thật đáng đánh đòn. Nhà gần mà Huy vẫn chịu khó thót lên xe để đi mướn truyện. Đi vào thì dựng đó, không khóa, không nhìn sau trước. Mướn xong, Huy vừa tà tà vừa lẩm nhẩm đọc, cho đến khi về nhà và lăn ra giường mà nằm đọc, đọc miết... Chừng thằng em hỏi đến xe đạp để cu cậu đi chợ. Ô hô! Huy chợt nhớ bỏ quên trước tiệm sách cho thuê. Ba chân bốn cẳng (ngưng đọc truyện) Huy chạy ra. Chiếc xe đạp đã tự động biến mất. "Điều tra" vẫn không một chút manh mối. Nào ai có biết xe ai? Cả nhà xúm lại mắng Huy một trận nên thân. Cái gì cũng quên, trừ ra truyện với ăn.

Nhà văn được coi là ăn khách khi được nhiều người biết đến. Nhưng qua phương tiện mướn truyện, cảnh đó buồn làm sao. Nghe xứ người mỗi lần xuất bản hằng mấy trăm ngàn cuốn. Rồi lại tái bản cả mấy chục lần. Bản quyền tính từng chữ, bắt ham.

Nhưng phải chăng dân họ có tinh thần công bằng, nghĩ tới quyền lợi mọi người trong cộng đồng hơn, cho nên không ai nghĩ tới chuyện khai thác cuốn sách một cách tàn nhẫn. Xứ mình thì khác. Cuốn sách càng được nhà cho mướn truyện o bế kỹ lưỡng, đóng bao chắc chắn bao nhiêu, thì cuộc đời càng gian truân luân lạc từ tay này qua tay khác bấy nhiêu. Và tác giả, người đã thức đêm thức hôm ốm đau bệnh tật để mà hoàn thành được tác phẩm sẽ càng mòn mỏi hy vọng tái bản, có khi cả chục năm mà đợt in đầu vẫn chưa bán hết, vì độc giả đi thuê đọc đủ rồi. Chỉ béo ông chủ tiệm cho thuê, bỏ ra mấy trăm đồng bạc mua cuốn sách, đọc lần đầu rồi tô chuốt bao bọc lại, tống vào kệ sách cho thuê, nguồn lợi về sự khái thác cuốn sách quá sức lao động sẽ có thể đem về ông gấp mười lần số vốn ông bỏ ra. Tóm lại, người thuê không thấy áy náy gì, vì nghĩ rằng mình thuê chứ đâu có đọc cọp, nhưng tác giả và nhà xuất bản đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt mới có đứa con tinh thần, để rồi ông cho thuê sách ngồi rung đùi thu tiền suốt năm này qua năm khác, hả hê trong nỗi mong đợi của cuốn sách, mong cho đời chóng tan nát, để còn đền ơn sinh thành cho người thai nghén, sinh ra nó, vì chỉ có chính nó tự nát đi, thì tác giả mới hy vọng tái bản, và nếu may mắn các ông chủ tiệm buông tha không xếp vào danh sách các thần tử phục vụ túi tiền của ông, thì cuốn sách mới hy vọng đem về cho các đấng sinh thành một đời sống tương đối đỡ khốn đốn hơn, nhờ ở tiền tác quyền đem lãi. Nhưng dù sao, cuốn sách bị cho thuê cũng nên an ủi rằng chúng còn trả nghĩa được hơn là tờ báo bị cho thuê. Vì chủ tiệm còn phải mua một cuốn trước khi đem khai thác. Chứ sạp báo chẳng mất đồng xu ten nào, chỉ việc "mượn đầu heo nấu cháo, mượn báo cho thuê", chừng hết thời không cho thuê được nữa thì đem báo cũ trả lại nhà báo, thế là xong. Chỉ việc dốc túi tiền ra đếm, rồi cười ngỏn ngoẻn: "Không có nước lã mà cũng vã nên hồ, thế mới hay!"

Những tháng năm dài trôi qua, Huy bây giờ đã có sự tự do trong việc đọc sách, mua hoặc mướn. Chính là lúc Huy ngăn cấm mấy đứa em đọc những gì nhảm nhí. Chúng biện hộ rằng "Tụi em đọc tủ sách Tuổi Hoa v.v..." Biết đâu chừng, có ai rình mò để bắt quả tang chúng lén mướn những truyện về tình yêu ướt át và lãng mạn.

Dòng đời vẫn lăn bánh xe cực nhọc hòa hợp với đời người vội vã muốn hà tiện không thèm mua truyện. Cho nên tủ sách riêng của Huy số lượng tăng rất chậm, nhưng bảo đảm về phẩm. Cũng còn lâu lắm để mấy đứa em Huy nếm kinh nghiệm và biết chọn sách mà đọc, biết phân biệt loại nào để giải trí, loại nào để học hỏi thêm. 

Huy cố gắng hướng dẫn chúng lựa chọn, để tương lai tuổi thơ non nớt không bị sa ngã bởi những con buôn văn nghệ. Văn nghệ mà lọt vấn đề thương mãi vô là phi văn nghệ ngay. Có những người cả đời chỉ toàn là thuê mướn, không cần có một quyển sách làm "gia bảo" trong nhà. Đến chơi nhà họ, Huy có quyền đọc báo, báo cũng mướn từng ngày. Tình trạng thảm não ấy cũng bởi nhiều yếu tố và hoàn cảnh xã hội. Chẳng lẽ cấm đoán và dẹp hết? Mà ai có quyền cấm đây. Rồi lại còn vấn đề của những người quá nghèo, không mua nổi cuốn sách, mà lại ở nơi không có thư viện công cộng. Biết làm sao khi còn có những ông giầu có sang trọng, chở xe đem cả nhà đi ăn tiệm, trong lúc chờ đợi, chạy vào nhà cho thuê sách để mướn truyện mà giá mua nào có là bao, chỉ bằng một hai chai la de mà thôi!


PHAN KHƯƠNG THÁI  

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 96, ra ngày 1-7-1973)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

TIẾNG HÁT TRẺ THƠ - Trang Vân


Sáng nay, Hạnh thức dậy sớm, lòng nôn nao khác thường. Chốc nữa đây, nó sẽ gặp lại ba nó. Người cha thương mến đã xa cách nó 3 tháng dài. Thấy mẹ thay đồ, Hạnh vội chạy đến, thỏ thẻ:

- Má ơi! Má lên nhà thương rước ba về hả má?

Má nó đáp:

- Ờ! Rước ổng về chớ còn tiền đâu nữa mà để ổng nằm nhà thương hoài chớ! Nè! Tao đi đến xế chiều mới về đa! Đui mù như ba mày làm sao đi mau được. Ở nhà coi chừng nhà đó! Bỏ đi đâu thì chết với tao à!

Nói xong, bà Mai – mẹ Hạnh – đội nón lên đầu, bước vội ra đường. Hạnh dựa cửa nhìn theo thở dài nhè nhẹ. Hạnh nhớ lại những ngày ba nó chưa bị tai nạn mà tiếc làm sao! Một cửa tiệm tạp hóa nho nhỏ, ba má Hạnh và nó sống hạnh phúc quá! Ngày ấy, ngày 2 bữa nó chỉ biết thảnh thơi ôm cặp đến trường, không biết lo buồn là gì! Nó được hưởng đầy đủ tình thương dịu dàng, trìu mến của bà Mai, được sự dạy dỗ, chăm sóc chu toàn của ông Mai. Tưởng không đứa trẻ nào sung sướng bằng nó. Nhưng, cách đây 3 tháng trước, ông Mai ra tỉnh mua hàng hóa về bán, chẳng may bị xe đò đụng làm ông bị thương nơi đầu. Vết thương không trầm trọng lắm, ông Mai được chở vào bệnh viện điều trị. Ít tuần sau, vết thương gần lành mà đau đớn làm sao! Đôi mắt ông từ lúc bị xe đụng đến nay không trông thấy gì nữa cả. Bà Mai bán hết đồ đạc trong nhà, lấy tiền chạy chữa cho chồng, mong tìm lại được ánh sáng cho ông Mai. Nhưng không làm sao trị nổi, đôi mắt ông Mai đã mù hẳn. Hạnh thì từ lúc ba nó bị nạn, nó nghỉ học ở nhà trông nom nhà cửa, má nó phải vào nhà thương nuôi ba nó. Mấy lúc gần đây, Hạnh rất buồn trong lòng khi thấy má nó tự nhiên đổi tánh, quạu quọ, gắt gỏng, đánh đập nó luôn. Những cử chỉ âu yếm, chiều chuộng đối với con không còn nữa. Ngày trước bà Mai là 1 người đàn bà dịu dàng, mềm mỏng bao nhiêu thì ngày nay bà trở thành 1 người khó tính, cau có bấy nhiêu. Với 10 tuổi đầu, nó nghĩ rằng sở dĩ bà Mai thay đổi như vậy là vì lo buồn cho bệnh hoạn của chồng. Hạnh nghĩ mà thương ba nó quá. Ôi! Con người hiền lành, tử tế như thế mà phải chịu hình phạt ghê gớm thế sao?

Mải lo nghĩ mà Hạnh không hay nắng đã lên cao. Nó vội dọn dẹp nhà cửa rồi lo nấu cơm cho ba má nó về ăn. Đến xế trưa bà Mai mới dẫn chổng về tới nhà. Hạnh nhìn thấy ba mà lòng đau như cắt. Cái thân hình mạnh khỏe, lực lưỡng của ông Mai ngày nay không còn nữa. Bây giờ chỉ còn 1 tấm thân gầy gò, vàng võ, một gương mặt lơ láo không hồn. Hạnh muốn chạy lại ôm chặt lấy ba mà khóc cho hả lòng thương mến nhưng vì quá xúc động nó vẫn đứng lặng mà nhìn ông Mai. Bà Mai đỡ chồng ngồi xuống ghế, lúc đó ông Mai mới cất tiếng run run hỏi:

- Thằng Hạnh đâu rồi mình? Nó không có ở nhà sao?

Bây giờ, Hạnh mới chạy vụt đến ôm chặt lấy ba mà khóc òa:

- Ba ơi! Con đây nè ba... ba...

Nó ôm chặt lấy ông Mai mà khóc mãi. Ba nó cũng siết nó vào lòng, nhưng ông cố gượng mỉm một nụ cười buồn:

- Kìa? Con! Hạnh? Con làm gì khóc dữ vậy hả con! Ba có sao đâu mà con khóc?

Hạnh nói qua tiếng nấc:

- Ba ơi! Con thương ba quá! Từ đây ba sẽ...

Ông Mai ngắt lời:

- Phải! Con ơi! Từ đây ba sẽ đui mù suốt đời, ba sẽ không còn làm gì được, Ba sẽ không bao giờ thấy mặt má con và con nữa...

Rồi không kềm chế nổi, ông Mai siết chặt con hơn, trong lúc đôi mắt mù lòa tuôn tràn nước mắt. Hạnh ôm chặt ba mà nghĩ rằng: từ đây nó sẽ nguyện đem tất cả tấm lòng mà yêu thương, săn sóc, an ủi ba nó để ba nó đỡ tủi lòng.

Khuya hôm ấy, bà Mai lấy số tiền nhỏ cuối cùng ra chợ tỉnh mua rau cải về chợ làng bán lấy lời. Bây giờ bà Mai phải một mình lo lắng cho gia đình. Ông Mai không làm gì được nữa. Hạnh thì phải nghỉ học luôn, ở nhà chăm sóc nhà cửa, săn sóc ông Mai.

Ngày tháng trôi qua, khuya nào bà Mai cũng lên tỉnh mua đồ hàng bông về bán. Số tiền lời vừa đủ gia đình sống qua ngày. Chắc có lẽ vì quá cực khổ hay buồn vì cảnh ông Mai tật nguyền, bà Mai càng ngày càng khó tính hơn. Thường ngày bà vẫn đánh đập Hạnh, đôi khi còn cau có, gắt gỏng với chồng nữa. Ông Mai buồn lắm nhưng không nói ra. Cách giải trí duy nhất của ông là ông lấy chiếc đàn cũ kỹ, chiếc đàn ông mua từ lúc chưa cưới bà Mai, đánh lên những bản buồn não nuột. Đôi khi rảnh rang, nghe cha đờn, Hạnh đến bên cha ngồi nghe, bản nào nó thuộc lời thì Hạnh cất tiếng hát theo nhịp đàn của ba nó.

Hôm nay bà Mai đi bán sao về sớm. Thấy cha con đàn hát với nhau, bà hứ một tiếng rồi nói:

- Cha! Cha con đờn hát nghe hay quá chớ! Cứ đàn hát rồi có tiền xài!

Ông Mai nghe vợ nói như thế tái mặt, lặng im còn Hạnh sợ mẹ lại gây gổ với cha nữa nên vội hỏi:

- Kìa má! Sao hôm nay má đi bán về sớm quá vậy?

- Ừ! Bữa nay tao về sớm rồi mai mốt tao nghỉ luôn không đi nữa!

Hạnh ngạc nhiên quá, vội hỏi:

- Thật sao má? Rồi lấy gì...

Bà Mai day qua nói với chồng, cố lấy vẻ êm dịu:

- Mình à! Bà Tư ở ngoài chợ bả có 1 đứa cháu ở Sàigòn bán tiệm hàng xén lớn lắm. Đứa cháu của bả về dưới này kiếm 1 người biết bán đồ rành rẽ bán phụ với y, tôi nhận lời đi lên trển bán đồ cho y rồi!

Ông Mai hấp tấp hỏi:

- Mình đã nhận lời rồi à? Mình đi rồi ai chăm sóc nhà cửa? Tôi thấy mình buôn bán rau cải trong nhà đủ xài rồi mà. Thằng Hạnh nó mới 10 tuổi đầu...

- Phải! Thằng Hạnh đã 10 tuổi rồi, nó ở nhà săn sóc cho mình được rồi, đâu có gì trở ngại...

Hạnh nghẹn ngào nhìn mẹ:

- Má! Má ở nhà buôn bán như mấy tháng nay cũng được mà. Má lên chi tới Sàigòn, xa xôi quá...

- Xa xôi cái gì? Long An với Sàigòn có bao xa! Đi bán hàng cho người ta, tiền lương sẽ nhiều hơn tiền bán rau cải, tui mỗi tháng sẽ gởi tiền về cho mình rồi vài tháng tôi có rảnh sẽ về thăm nhà một lần.

Cha con ông Mai thấy bà Mai cương quyết như vậy biết không thể nào ngăn cản được bèn nín lặng. Thế là sáng hôm sau, bà Mai rời bỏ người chồng tật nguyền và đứa con thơ dại để lên Sàigòn. Bà Mai hình như chẳng đau xót gì trong cuộc chia ly nầy. Hạnh thì chạy theo bà Mai một đổi, năn nỉ xin mẹ ở lại một lần nữa. Nhưng mẹ nó lạnh lùng lắc đầu, bảo nó hãy trở về đi. Hạnh đứng nhìn theo bóng mẹ vừa khuất sau hàng cây, gạt lệ lẩm bẩm:

- Mẹ ơi! Sao mẹ nỡ bỏ ba và con như vậy?

Hình bóng mẹ nó đã mất từ lúc nào nhưng nó vẫn còn nhìn theo mãi, linh tính nó hình như cho nó biết trước: mẹ nó ra đi và chẳng bao giờ trở lại nữa.

Hai tháng trời trôi qua, bà Mai vẫn gởi tiền về đều đặn cho cha con ông Mai. Gia đình ông Mai bây giờ thật không còn gì là hạnh phúc, một người đàn ông mù lòa, một đứa trẻ thiếu tình mẫu tử sống lạnh lùng dưới căn nhà lá xác xơ.

Ông Mai buồn cho thân phận tật nguyền nên thường ủ rũ đánh đàn suốt ngày. Hạnh là một đứa trẻ vô cùng hiếu thảo, nó thấy cha như vậy nên hết lòng săn sóc, an ủi, lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho cha. Suốt ngày nó không rời ông Mai, luôn luôn quanh quẩn bên cha, giúp ông từng công việc nhỏ nhặt nhất. Những buổi chiều về, hai cha con ngồi sát bên nhau, đàn hát cho khuây khỏa niềm đau khổ, nhớ thương.

Hạnh thường tựa cửa nhìn con đường mẹ nó đã ra đi thuở trước, nó ước mong sao thấy bóng dáng thân yêu của mẹ quay trở lại gia đình. Tâm hồn thơ dại của Hạnh lúc nào cũng vẫn nhớ nhung, thương mến mẹ mãnh liệt, dù lúc sau nầy bà Mai không còn thương yêu, âu yếm nó như hồi đó.

Qua tháng thứ ba, số tiền ba Mai gởi về ít dần, ít dần, đến tháng thứ năm thì dứt hẳn, bà Mai không gởi về một đồng nào nữa. Cha con ông Mai lo sợ chẳng biết bà Mai có bệnh hoạn gì không, sao lại "bặt vô âm tín" chẳng gởi tiền về mà cũng không về thăm nhà nữa! Họ sống trong sự lo sợ, trông đợi mỏi mòn, tiền bạc càng ngày càng túng thiếu thêm. Một bữa nọ, Hạnh thấy bà Tư ở ngoài chợ đi ngang qua cửa nó bèn mời vào để ông Mai hỏi thăm coi biết tin tức gì về má nó không. Bà Tư bảo rằng má nó lên bán đồ cho cháu bà ta độ vài tháng thì lấy chồng khác, rồi đi theo người đó bây giờ chẳng biết ở đâu.

Cha con Hạnh nghe qua như sét đánh bên tai! Hạnh òa khóc nức nở vì biết rằng má nó chẳng bao giờ trở về nữa. Ông Mai ngồi lặng im trên ván cho đến tối. Hạnh thấy cha ngồi như thế mãi, bèn đến ôm ba nó:

- Ba ơi... ba...

Ông Mai xiết chặt con. Hạnh tiếp:

- Ba ơi! Từ đây chúng ta lấy gì mà sống? Ba thì tật nguyền, còn con thì...

- Thôi! Con đừng nói nữa con ơi! Cha con mình sẽ...

Nói đến đây ông Mai vụt nín bặt, nước mắt trào ra. Ông hối con lo giăng mùng đi ngủ.

*

Độ nửa tháng sau, có ai về Lục Tỉnh đi ngang qua cầu Tân An đều thấy một người mù, dạo đàn cho đứa con trai hát. Họ sống nhờ lòng thương hại của khách đi đường. Thì ra cha con ông Mai nghèo đói đến đỗi phải đi làm nghề đó. Hành khách đi xe đều xúc động khi nghe giọng ca trong cao, buồn vời vợi của đứa bé hòa lẫn với tiếng đàn u trầm của cha nó. Người nhạc sĩ và cậu bé ca sĩ bất đắc dĩ kia mỗi lần đàn hát hình như để hồn hòa theo điệu nhạc lời ca. Giọng hát u buồn và tiếng đàn trầm lắng của họ chiếm một cảm tình sâu đậm của hành khách, vì thế họ không ngần ngại đưa tiền giúp đỡ cha con ông Mai. Cha con ông Mai sống với những số tiền đó không đến nỗi túng thiếu lắm. Từ đó, họ an phận sống trong cảnh nghèo đơn bạc, tình yêu thương của họ đối với nhau càng ngày càng mặn mà, tuyệt đối. Hàng ngày, sáng sớm Hạnh dẫn cha từ làng xa ra cầu Tân An để hát đàn, đến chiều tối họ mới lặn lội trở về nhà. Từ lúc cha con ông Mai bắt đầu đàn hát đến giờ, họ ít khi nào nhắc tới bà Mai. Không biết trong lòng ông Mai ra sao chớ riêng lòng Hạnh nó không bao giờ nguôi nhớ thương mẹ nó, dù có đôi khi Hạnh cũng thầm trách bà Mai sao nỡ bỏ cha con nó. Đời cha con ông Mai không có gì vui thú cả ngoài tình yêu thương bao la mà họ đối đãi với nhau.

Riêng bà Mai, người mẹ, người vợ nhẹ dạ kia, từ khi bỏ chồng con bà sống một cuộc đời sung sướng, đầy đủ hơn. Chẳng hiểu sao mà bà Mai lại có thể nhẫn tâm như thế, nhẫn tâm bỏ người chồng tật nguyền, đứa con nhỏ dại, trong lúc cha con ông Mai không ai nuôi nấng, săn sóc. Đôi lúc bà cũng nhớ đến cha con ông Mai  nhưng bà lại nghĩ rằng họ sẽ được gia đình bên ông Mai giúp đỡ. Bà thường lẩm bẩm một câu khi sự hối hận kéo đến: "Trời sanh voi, trời sanh cỏ". Chẳng lẽ cha con thằng Hạnh chết đói sao? Vì nghĩ vậy nên người đàn bà tội lỗi vẫn thản nhiên sống sung sướng trong cuộc đời mới thấm thoát gần 1 năm trường. Bà có biết đâu bao thay đổi xảy đến với cha con ông Mai.

Sáng nay, bà Mai theo ông Hưng về Vĩnh Long. Khi xe chạy gần đến Long An, lòng bà cũng thoáng bùi ngùi nhớ lại những ngày xưa cũ.

Bữa nay, cha con Hạnh vẫn đàn hát như thường lệ. Nhưng Hạnh hôm nay buồn lắm, hồi gần sáng nó ngủ nằm chiêm bao thấy má nó về đoàn tụ với gia đình, nó mừng lắm. Chừng thức giấc, biết mình nằm mơ Hạnh khóc thầm mãi, tiếc sao giấc mơ không là sự thật. Lạ làm sao càng xa mẹ nó lâu chừng nào, Hạnh càng tha thiết nhớ mẹ nó chừng nấy. 

Thấy chiếc xe đò to lớn chạy đến ngừng ở dốc cầu (chiếc xe có chở bà Mai mà nó không biết), Hạnh bèn dẫn cha đến để đàn hát. Bà Mai vì ngồi sát mé bên trái nên cũng không thấy cha con Hạnh. Quá nhớ thương mẹ, nên Hạnh cất tiếng hát bài "Lòng Mẹ":

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình... rạt rào
Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền... ngọt ngào..."

Càng hát, Hạnh càng để hồn mình hòa theo lời ca, ý nhạc. Lúc đầu hành khách trên xe không chú ý mấy nhưng về sau, giọng ca của Hạnh có sức truyền cảm lạ lùng. Âm thanh ngọt ngào, âu yếm của tiếng đàn, lời hát như len vào tâm hồn mọi người. Ai nấy đều im lặng để nghe. Bà Mai khi nghe tiếng ca đã ngờ ngợ. Bà cố nhìn ra dưới đường rồi bỗng suýt kêu lên 1 tiếng nhỏ. Bà trợn mắt nhìn cha con ông Mai. Ôi! Sao bà nhẫn tâm quá! Những người mà bà đành đoạn lìa xa đó sao mà tiều tụy, rách rưới, buồn thảm thế kia! Trong lúc bà sang trọng ngồi trên xe thì dưới đường kia, chồng bà đó, con bà đó, phải đàn hát để xin tiền. Bà Mai lắng tai nghe tiếng đàn u sầu của chồng, giọng ca nức nở của con rồi bà nhớ lại những ngày đầm ấm, hạnh phúc thuở trước, lúc ông Mai chưa bị tai nạn. Lương tâm dày vò bà dữ dội. Bà không ngờ chồng con bà phải khổ sở thế kia. Bà Mai nắm chặt thành ghế ngồi, nước mắt tuôn tràn. Hạnh hát dứt bài hát đó, hành khách trên xe khen nức nở, rất nhiều kẻ cho tiền rồi họ bảo Hạnh hãy hát nữa. Nhưng lần này bà Mai không dám nghe nữa. Bà bịt chặt 2 tai lại. Một lúc lâu sau, bà Mai sực nhớ ra làm như vậy ông chồng mới của bà chú ý nên bà vội buông tay ra. Bà chỉ nghe mấy câu sau của bài hát:

"... Đôi tay run run, ánh mắt mẹ hiền, 
                         biết tìm lại chốn nào?
Mẹ ơi! Biết chăng đêm về quạnh hiu, nghe
... tiếng mưa rơi mà nhớ thương nhiều
........................... 
Ai biết đêm đêm tôi vẫn mong chờ
Tìm đâu những phút vui ngày ấu thơ..."

Hạnh hát xong chữ cuối cùng của bài hát đó thì dòng lệ nóng cũng vừa tuôn chảy xuống má. Bà Mai như kẻ mất hồn, tâm thần rối loạn. Gương mặt sầu thảm cùng với tiếng đàn giọng hát ai oán của cha con Hạnh như ngàn mũi kim châm chích vào tim bà. Lời hát của Hạnh sao bà nghe như những lời trách móc, xót xa, thấm thía cả cõi lòng mình. Xe đã rồ máy chạy, qua khỏi cầu lúc nào bà cũng không hay. Suốt buổi hành trình về Vĩnh Long, bà Mai như ốm nặng, bà không ăn uống, chuyện trò với ai cả. Sau khi trở lại Sàigòn, bà Mai có lẽ vì quá hối hận nên ngã bịnh nặng. Trong cơn mê man, bà vẫn nghe như có tiếng đàn, giọng hát của chồng con văng vẳng đâu đây và gương mặt đầy lệ của thằng Hạnh hình như lúc nào cũng hiện ra trước mắt bà. Bà muốn quên những hình ảnh đó đi, mà không tài nào quên được. Cuối cùng bà đành thú thật với người chồng mới là những người đàn hát ở cầu Tân An hôm nọ chính là chồng con cũ của bà. Bà kể rõ những sự hối hận dày vò làm cho bà ngã bịnh. Sau hết, bà xin ông này cho bà trở lại gia đình cũ. 

Một bữa tối mưa dầm rả rích, Hạnh ra đóng cửa định ngủ thì bỗng nó thấy 1 bóng dáng quen thuộc từ ngoài đường đi vào. Nó tưởng nằm mơ, nhưng không, bà Mai, mẹ của nó, đã đến gần rồi kia. Bà Mai bước đến bên ông Mai, nức nở ôm chân chồng xin tha cho bà những tội lỗi vừa qua. 

Thế là từ đó trở đi, ai có đi ngang qua cầu Tân An đều không còn nghe được tiếng đàn hát của cha con người nhạc sĩ mù, đã làm cho lòng họ rung động suốt 1 năm qua nữa. Vì tiếng đàn ai oán của người cha và nhất là tiếng hát não nùng của đứa con thơ đã lôi kéo người mẹ, người vợ nhẹ dạ của họ trở lại mái gia đình.

                                                 Trang Vân     


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 73, ra ngày 15-7-1967)




Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2019

ÁO BÀ BA TRẮNG - Ngọc Thùy Giang


  
















Trường ca NGỌC THÙY GIANG

Hồn bỗng như ngàn cung phiến ngân
Chiều nao khi ghé lại thăm nàng
Dáng gầy trong áo bà ba trắng
Ta tưởng chừng tiên nữ xuống trần

Này tóc dài ôm nửa vai thon
Này tay ngà ngọc má xuân hồng
Em là sen nở mùa Nguyên Đán
Tinh khiết như dòng sông nước trong

Em tự ngàn xưa dáng nguyệt rằm
Của đời Trưng Nữ mấy trăm năm
Tim chan chứa cả tình sông núi
Máu ấm Huyền Trân đỏ một dòng

Em là hoa bưởi nở đêm trăng
Thơm ngát vườn mơ, ngát tuổi trần
Một sớm nào sương rơi ướt lá
Nõn nà hơn những búp non xanh

Em là chim mộng của không gian
Vỗ cánh về theo buổi nắng tàn
Ca tụng trời xanh ngàn tiếng hát
Ru đời mật ngọt giữa thanh xuân

Em là gạo trắng lúa phơi sân
Tắm nắng bình minh óng ả vàng
Buổi được mùa cha vui ấm cúng
Rạng ngời môi mắt mẹ nông dân

Em là cau thắm với vôi son
Cho gái trai nên nghĩa vợ chồng
Kết tóc se tơ làm đám cưới
Mặn mà thay sính lễ tân hôn

Em là câu hát mẹ ru con
Cao vút ngân theo nhịp võng buồn
Ru giấc thần tiên khi khép mắt
Đêm dài, trưa nắng ngã bên song

Em là sông chảy tự nguồn xa
Dâng nước nuôi cây cỏ mượt mà
Đem sức hồi sinh trong nắng hạ
Tưới mát ruộng cày quê đất ta

Em là núi cả tựa Trường Sơn
Chạy xuống phương Nam chắn bão cuồng
Để nắng đẹp mùa mưa thuận mãi
Yên lành cho lúa Mẹ đơm bông

Em là biển lớn Thái Bình Dương
Căng gió reo ca những cánh buồm
Theo mái chèo hân hoan sóng vỗ
Đưa thuyền về đậu bến yêu thương

Em là thành lũy giữ quê hương
Là trái tim son sắt lạ thường
Thơm mãi muôn đời trong Sử sách
Rạng ngời danh tiếng Triệu Trinh Nương

Em là tình nước với tình dân
Là nhịp quân đi giữ xóm làng
Khi cõi bờ can qua khói lửa
Là gươm là súng chống xâm lăng

Em là tim óc của thi nhân
Là bản trường ca đẹp tuyệt trần
Áo bà ba trắng hồn Dân Tộc
Em là tất cả của... Phương Đông.

                             NGỌC THÙY GIANG
                           (Trong trái tim Hòa Bình)

 (Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 204, ra ngày 1-7-1973)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2019

PHIÊN KHÚC NGÀY MƯA - Nguyễn thị Mỹ Thanh


MỘT 

Sáng nay mưa dầm, ướt hết cả sân trường. Mưa làm đám Cúc dại mà My yêu dấu nhất ngả nghiêng. My tưởng chúng đã bật hết gốc, mà thật thì chúng chỉ nép mình cho qua cơn mưa, rồi sau đó vẫn đứng dậy, vẫn nở những cánh vàng rũ sạch nước mưa. Thương quá! My tưởng chúng yếu đuối mà thật thì chúng dẻo dai vô cùng. Trong khi lũ hoa Móng Tay còn ngơ ngác và bàng hoàng vì mưa, thì Cúc dại đã vươn mình cười những nụ thật rạng rỡ.

My nghĩ đến Danh. Có phải là Danh không, những cây Cúc dại vàng óng kia? Có phải là Danh, đã gục ngã và đã đứng lên, đã tuyệt vọng và đã tin tưởng, đã buồn nản và đã yêu thương? Có phải là Danh, ở một nơi nào không giống ngôi trường My đang học? Ở một nơi nào hàng ngày chỉ thấy sự đau đớn, mất mát? Có phải là Danh, ở một hiện tại phẳng lặng hoài vọng một quá khứ sôi động? Có phải là Danh, một người lớn mang tâm tư của trẻ thơ, một trẻ thơ làm hành động của người lớn? Phải thế không Danh – nụ Cúc dại rạng rỡ kia là nụ cười của Danh, lá Cúc dại xanh non kia là ước mơ của Danh, và thân Cúc dại mềm mại nhưng dẻo dai kia là cuộc đời của Danh?

My yêu đám Cúc dại mọc nghiêng ngả trong sân trường của My. Sân trường của My có trồng thật nhiều hoa. Màu hoa càng sặc sỡ càng tăng thêm vẻ vui tươi cho sân trường mỗi buổi tan học đầy những tà áo mầu. Càng kiêu sa hơn, khi sân trường có những chiếc xe hơi bóng loáng. Nhưng My vẫn chỉ thích đứng ngắm đám Cúc dại của My, mọc không thành hàng và ít được chăm sóc. Đám Cúc dại của My mọc vây quanh bức tượng hai con người – một con người gục mặt buồn thiu và một con người đứng thẳng. Hai con người đứng giữa những vòng kẽm gai. Dưới chân tượng là đám Cúc dại của My. My ngắm chúng hàng giờ không chán. My nghĩ đến Danh. Danh nhé, đừng thèm làm hoa Hướng Dương quá vui vẻ và to lớn. Đừng thèm làm hoa Sứ chỉ thích đứng trên cao nhìn xuống bằng đôi mắt tự mãn. Đừng thèm làm hoa Hồng chỉ xứng đáng giam mình trong chậu kiểng. My cũng không thích lũ hoa Móng Tay chỉ chăm lo màu sắc tươi thắm, đến lúc bị mưa làm dập cánh hoa thì ngẩn ngơ than vãn, và My cũng ghét lũ hoa Phấn ích kỷ chỉ nở về buổi chiều. Hãy làm một cây Cúc dại, sống bất cứ ở đâu và nở bất cứ lúc nào, đứng ngang tàng bất phục nhưng vẫn chịu đựng được những dập vùi. Và đó, hoa Cúc dại, My nghĩ đó là Danh – Danh thân mến, đang ở một nơi không giống như trường học của My.


HAI 
 
Sáng nay mưa dầm. Lúc tan giờ thi, My ra nhìn luống hoa trong sân trường. Ở quanh bệ xi-măng, My thấy nước mưa cuồn cuộn chảy, như một dòng sông nhỏ. Dòng sông chảy thẳng men theo bờ thành thấp, đến chỗ trũng cuối sân trường dòng sông tẽ ra làm hai. Chưa có cảnh nào lặng lẽ như thế đối với My. Cái gì nao nao hiện đến trong lòng My, có phải là nỗi buồn, hay nỗi nhớ? Dòng sông nhỏ bé của My buồn chi lạ! Phải thế không Danh? Và đời người, đời người cũng lặng và buồn như một dòng sông. Dầu có những sinh hoạt đó, những đổi thay đó, nhưng rồi lúc hồi tưởng ta vẫn thấy lặng và buồn. Nhất là đời người khi phải ngưng mọi hoạt động – không phải là chết, mà là ngồi đó đếm những u sầu, tiếc nhớ. Là Danh phải không, dòng sông nhỏ lặng và buồn? Khi mọi người, trong đó có My, đang sống trong cảnh đời khá náo nhiệt, với những sinh hoạt bận rộn, với những âu lo hồi hộp, với bài vở, với bạn bè, thì Danh, ở một nơi không phải là trường của My, có phải đang đếm những khắc của thời gian đi qua lặng lẽ? giống như dòng sông khi đến khúc bằng phẳng. Chưa có lúc nào buồn như thế, phải không Danh? Và ở trong hiện tại bằng phẳng này, hẳn là Danh có nhớ và có nghĩ đến những ngày vùng vẫy. Dòng sông đời Danh ngày xưa đã có lần là ghềnh thác, có lần là trũng xoáy miệt mài. Có phải Danh đang nhớ? Có phải Danh đang bâng khuâng vì đã trải qua một đoạn đời gian nan? Đã có lúc Danh ra đi bỏ trường lớp bỏ bạn bè và gia đình thân mến để làm một cánh chim. Danh làm người lớn. Danh theo những người bạn từ mọi phương tụ về để cùng sống và cùng nếm mùi gian truân. Danh đã đi từ thành phố bình yên này ra tận những nơi mang những địa danh xa lạ. Danh đến một thành phố cổ kính u sầu. Danh đến một vùng quê hoang tàn. Danh sống trên một ngọn đồi. Có phải Danh đã nói với My là đồi mọc đầy sim? Chiều nào Danh cũng đi hái sim. Bạn của Danh cũng đi hái sim. Và hai người bạn cùng yêu màu sim đó, đã bỏ Danh mà đi. Có phải Danh đã nói với My rằng Danh lúc đó chai đá vô cùng. Danh đã không khóc. Thái độ ấy là của một người lớn chăng? My chưa bao giờ sống một đoạn đời giống như Danh, nên My không trách Danh đâu. Danh sống ở đó – đồi sim – và làm công việc cứu bạn bè của Danh. Và đó, trong công việc của Danh, ở vùng hiểm trở đó, trong khúc sông hùng vĩ của đời Danh, từ một định mệnh khắc nghiệt, Danh đã quỵ xuống. Dòng sông đến lúc đó là một ngọn thác. Nước chảy xô vào những mũi đá nhọn, gào thét thật to và rơi từ trên cao, rất cao, xuống một trũng xoáy và âm vang những tiếng hãi hùng.


Có phải là Danh không? Danh chạy trong mưa pháo, Danh dìu đỡ bạn bè. Danh chạy xuống hầm sâu. Pháo nổ dòn trên nắp. Hầm sụp, chôn vùi Danh. Bạn bè lấy xẻng đào hầm, mang Danh lên. Danh đã hôn mê, Danh nào biết có một sự mất mát từ nay sẽ đến nơi Danh. Và đó, đồi Con Trâu – có phải Danh đã nói với My là có một bộ xương trâu trên đồi? – là ngọn đồi nơi Danh đã quỵ té. Dòng sông đã đến khúc oanh liệt của nó. Danh có biết, Danh đã là người lớn – đúng hơn, Danh đã làm công việc của người lớn, một công việc rất lớn không Danh?

Dòng sông của Danh bây giờ đã đến khúc yên lặng. Bây giờ có phải là lúc hồi tưởng? Có gì lặng và buồn hơn khúc sông này chăng? Và My đã, sáng nay, đứng nhìn dòng nước nhỏ bé âm thầm chảy men bờ thành thấp, lẩm cẩm nghĩ đến quãng đời của Danh. Và nó – dòng nước nhỏ – khi đến cuối sân trường đã tẽ ra như những nhánh sông đời.


BA 

Sáng nay mưa dầm. My đứng trong hành lang đợi chờ qua cơn mưa. Nghe gió hơi hơi lạnh. Nước mưa tuôn rào rạt trên những lá cây, gợi buồn. My nghĩ đến những người bạn thân yêu ngày cũ, đến Danh, đến những người thầy xa xưa. Có phải Danh đã nói với My rằng Danh luôn luôn nghĩ đến thầy? Và My cũng thế. Có cái gì khó diễn tả xảy đến trong lòng, khi My nhìn thấy một người thầy lái chiếc xe hơi bóng loáng chạy qua. Thế thôi. My nhớ đến những người thầy khắc khổ của My ngày xưa. Có thầy đi chiếc xe mobylette cũ kỹ, có thầy đi chiếc xe đạp. Có lúc thầy ốm, thầy vừa dạy vừa ho. Có lúc thầy vui, thầy giảng bài thật tuỵêt diệu. Danh đã nói với My rằng ngày xưa Danh nghịch lắm. Ở lớp thầy nào cũng lắc đầu vì Danh. Có thầy đã hiểu tính Danh và thương Danh lắm. Thầy Thiều dạy Vạn vật của Danh đã mắng yêu Danh “Láu cá vừa vừa chứ!”. Danh nhắc hoài với My câu nói đó. Phải không Danh? Có những câu nói ghi đậm vào lòng người, mà mỗi khi nghĩ đến là một thân tình khó phai?

Ngày xưa ở những lớp học nhỏ, có đầy những kỷ niệm. My muốn nói cho Danh nghe về kỷ niệm của My ở ngôi trường mà cả My và Danh đều đã học. Lớp học của My rộng thoáng nhờ cửa sổ và gió trời. Bên trên đầu bảng đen là tượng Chúa Giê-su. My không theo đạo, nhưng ngày nào My cũng đứng dậy, thành khẩn đọc lời tâm niệm – Lạy Chúa, xin giúp chúng con chăm chỉ học hành, rèn luyện tư cách chúng con, trau dồi tâm hồn chúng con… – Danh có biết, ở đó có những người thầy thân mến. Thầy Long có đôi mắt hiền dịu vô cùng, thường đứng cạnh bên nhắc My chấm câu. Thầy Ái cũng hiền không kém, My nhớ ngày tất niên, thầy đàn và hát bản Mưa Hồng, và cuối năm học thầy đã viết lưu bút cho My với những lời chân thành làm My phải khóc. Thầy Xung, khi hai lớp dồn vào nhau, đã phải leo lên ghế giảng truyện Kiều khan cả cổ mà lũ học trò đông đảo vẫn rì rào nói chuyện. Và ngôi trường đó, lớp học đó, hai năm sau Danh đã đến ngồi. Danh cũng nhận những kỷ niệm đó giống như My. Danh nhé, chúng ta đã là bạn với nhau từ thuở nào, vì Danh và My, đều cùng học chung các thầy, đều đã đến ngồi một lớp.

Danh đã làm My xúc động biết bao, khi Danh nhắc đến Thầy bằng một giọng thương mến. My thấy Danh rưng rưng mắt, khi My kể chuyện lớp học, tả từng cái bảng, cái cửa sổ, kể từng người thầy. Danh đã làm My xúc động biết bao, khi Danh đòi đến thăm thầy. Nếu My là Thầy, chắc My sẽ khóc, khi biết rằng trong đám học trò mà thầy ra công dạy dỗ, có Danh, đang gánh chịu thật nhiều nỗi thiêt thòi.


BỐN 

Sáng nay mưa dầm. Không còn gì buồn hơn. Nhưng cũng không có gì thích hơn. Có phải là mâu thuẫn không? Thật thế, buồn – chứ không phải khổ – làm cho con người giống như cành hoa Cúc dại được tắm mình qua mưa. Ở nơi đó Danh có cảm thấy một nỗi gì vây quanh, giống như My lúc đứng ở sân trường nhìn ra mưa không?

Mùa mưa đến làm gợi nhớ. My ở đây, nhớ về một thứ kỷ niệm dầu đã khá xa nhưng vẫn hoài gần gũi. Có phải không Danh? Có những kỷ niệm mà con người phải dùng hết cả đời để hồi tưởng – một văn sĩ nào đã viết như thế. Và My vẫn luôn luôn hồi tưởng đây. Kỷ niệm đã hơn một năm qua rồi, bắt đầu từ một thời điểm khắc nghiệt của dân tộc. Không phải kỷ niệm của riêng My, mà của tất cả, trong đó có thầy My, bạn My, anh em My, và Danh. Nhưng kỷ niệm đó trói buộc vào cho My. Danh có biết, My đã khóc hoài trong lớp học. My đã lặng người trong giảng đường. My đã theo những chuyến xe không hứa hẹn bình yên để đến với những nỗi nhọc nhằn. My đã gội nắng để chia sớt từng hạt gạo cho người. My đã đến dạy hát cho những bé thơ của một lớp học chạy loạn để đến lúc ra về không nỡ dứt, My lại khóc. Và ở một nơi – một nơi mà Danh đang sống bây giờ, My đã đến, trong một quãng thời gian dài, một năm, để My thấy những cơn mưa tai nghiệt vẫn không ngớt đổ lên đầu người. Và như thế, My sẽ hồi tưởng kỷ niệm ấy, suốt cả cuộc đời My.

Danh có biết, My đã không đi “Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam” sau ngày ngưng bắn như một nhạc sĩ đã viết. Mà My trở lại nơi cũ. Nơi đó, My gặp Danh, đang mang một nỗi thiệt thòi vô cùng. Danh đã khiến My xúc động biết bao, khi Danh hỏi “Phải chị viết quyển này không?”, khi Danh hỏi “Phải chị học thầy C. không?”, và khi Danh cùng kể với My những kỷ niệm ở một mái trường. Phải không Danh, bốn bể rồi cũng là anh em. My đã xem Danh là một người bạn – một người bạn nhỏ, hai năm sau My, Danh đã đến ngồi ở cùng một lớp.

Danh có biết, Danh đã cho My những phút giây xúc động. My đã muốn khóc khi đem đến cho Danh một quyển Tuổi Hoa, một quyển Thằng Bờm, Danh đã giở mục đố vui ra say sưa làm. Một cử chỉ rất bé thơ, rất học trò. Không thể nào nhìn Danh là một người lớn. My biết Danh, khi qua khúc sông đời hùng dũng nhất, giờ đã trở về làm một trẻ thơ, phải thế không Danh?

Danh có biết, chiếc xe lăn để ở cạnh giường Danh, cũng đã làm My xúc động. My muốn viết nhiều về Danh và chiếc xe lăn đó. My nhớ đã có một thời người ta viết về những đứa trẻ tật nguyền, về những người lớn tật nguyền. Đã có một thời người ta viết về những chiếc xe lăn như một thời trang văn nghệ. Nhưng chưa có chiếc xe lăn nào là chiếc xe của Danh. My chưa thấy chiếc xe lăn của Danh trong văn của mọi người. Vì đó không phải là thời trang. Cũng không có quyền đem vào chuyện thời cuộc. Hơn thế nữa, Danh không phải là trẻ thơ, cũng không hẳn là người lớn. Chưa có ai viết về một người lớn mang tâm tư của trẻ thơ, một trẻ thơ làm công việc của người lớn cả. Và Danh, cũng như My, dầu đã qua thời thơ ấu, nhưng chưa bao giờ nghĩ mình là người lớn. Rồi My sẽ viết về Danh, về chiếc xe lăn của Danh, không phải thời trang văn nghệ, Danh nhé! Chỉ là chiếc xe lăn của Danh mà thôi. Nó chỉ hiện diện trong Danh, trong My. Nó là một cái gì khích động sâu xa vô vàn, trong khoảng thời gian My đã đến, My đã làm một Nightingale trong bài học Anh văn thuở nhỏ. Người ta thấy Nightingale mỗi đêm, với một chiếc đèn dầu trong tay, đi khắp nơi mang nước đến cho những người thương bệnh binh… Và My, muốn làm người ôm đàn đi khắp nơi, hát cho những người bệnh nghe. Danh có biết, đã có lần My ngồi đàn trên chiếc xe lăn của Danh, My đã muốn khóc, khi My cố gắng tưởng tượng một sự mất mát ở chân My, giống như Danh.

Thôi Danh nhé, mưa đã dứt. Cành Cúc dại đã cười rạng rỡ những nụ hoa vàng. My muốn nói với Danh rằng: ở trong khắp cùng của đời sống, niềm tin yêu và hy vọng vẫn là món thuốc qu‎ý giá nhất. My xin tặng Danh món thuốc đó. Muốn bảo Danh gìn giữ Tuổi Thơ quý‎ giá trong tim, muốn Danh cười hoài nụ cười của trẻ thơ. Ở những khúc đời mà người ta thấy nỗi tuyệt vọng tột cùng, là người ta đã thấy yêu thương đời sống vô vàn, phải thế không Danh?

Rồi Danh hãy thực hiện hoài bão của Danh: viết về một loài cỏ, về cuộc đời của Danh. Loài cây thân thảo đó, My muốn Danh viết về loài Cúc dại mọc trong sân trường My, qua cơn mưa vẫn đứng dậy nở những nụ tin yêu. Nhé Danh! Mưa đã dứt…


NGUYỄN THỊ MỸ THANH  


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 205, ra ngày 15-7-1973)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

ĐOẢN KHÚC THÁNG BẢY - Trần thị Phương Lan












1. Phiêu Lãng 

Mỏi vó, ngựa uống nước
Ven dòng suối mát này
Kiếp duổi rong phiêu lãng
Bềnh bồng mây trắng bay.....

2. Mây Ngàn Năm Bay Mãi 

Mây ơi sao bay mãi
Có dừng chân chốn nào
Tìm hoài hình bóng cũ
Mây có thấy nơi đâu?

3. Chiều Tàn Biển Vắng 

Ì ầm muôn sóng vỗ
Ghềnh đá khát thủy triều 
Chiều chiều mưa hiu hắt
Biển vắng buồn hoang liêu.....

4. Mưa Đêm Phố Cũ 

Vội vã bước gục đầu 
Phố vắng trời mưa mau
Đèn đường hiu hắt chiếu
Gót chân buồn về đâu.....

Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng)

 Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2019

VỀ NGUỒN - Trang Vân


Gió chiều thổi lồng lộng làm quần áo của thằng Bé tung bay phần phật. Bé vừa chạy vừa ngước nhìn lên bầu trời theo dõi con diều giấy của thằng Nhứt đang phất phới giữa bầu trời cao xanh. Bé mải nhìn say mê con diều và mải chạy theo thằng Nhứt không kể những gốc rạ vừa cắt còn đang chơm chởm dưới chân. Bỗng chân nó đau nhói lên không đi được nữa, một gốc rạ sắc bén vừa đâm vào chân nó.

Bé vừa hít hà vừa ráng lết ra con lộ đất, miệng lẩm bẩm:

- Đồ mắc toi! Khi không đâm vào chân người ta đau muốn chết!

Nó còn ráng ngoái về phía ruộng để nhìn bóng thằng Nhứt đã chạy khá xa và con diều bây giờ đã bay lên cao, chỉ còn một điểm xanh xanh, lấp lánh trong ánh nắng chiều. Bé cúi xuống châm chú nặn máu nơi bị rạ đâm, hít hà:

- Nhức quá xá!

Bỗng một giọng nói vang lên bên tai làm Bé giật mình:

- Em bé ơi! Làm gì đó? Cho qua hỏi thăm chút xíu nhen!

Bé giật mình ngẩng đầu lên, một người lạ đang đứng kề bên nó hồi nào. Bé chưa kịp đáp thì khách lại lại hỏi:

- Chân em sao chảy máu như vậy? Đạp gai hả?

- Gốc rạ đâm tui đó ông! Ờ! Mà ông tính hỏi thăm tui cái gì đó?

Hỏi xong nó vừa đứng dậy vừa quan sát người lạ. Ông ta mặc một bộ đồ tây đã cũ, một chiếc cặp da trên tay, đầu đội chiếc nón nỉ cũng đã bạc màu.

Người lạ nói:

- Em ơi! Phải ngõ này vào nhà bà Sáu Hiền hôn em? Mấy năm trước có đi một lần bây giờ quên mất!

Bé nhanh nhẩu:

- Ông vào nhà bà Sáu hả? Ngoại tui đó, để tui dẫn ông đi.

Bé lật đật bước đi trước. Người lạ vội chạy theo:

- Chân em đau đi chầm chậm vậy.

Người lạ thân mật nắm tay Bé:

- Ba má em có ở nhà hôn?

Bé cười, lắc đầu:

- Có đâu mà ở nhà!

- Vậy chớ đi đâu?

- Tui nói hỏng có ba má, ba tui chết hồi tui còn nhỏ, còn bú lận.

Người lạ hơ hải:

- Còn má em?

- Má tui cũng bị chìm ghe, chết lâu rồi.

Người lạ buột miệng:

- Trời!...

Một lúc sau, ông ta nói tiếp, giọng buồn bã:

- ... Té ra em mồ côi à? À! Mà ba em vì sao mà chết sớm vậy?

- Tui chỉ nghe ngoại tui nói như vậy chớ hỏng biết vì sao mà chết nữa.

Hai người đã bước vào cổng nhà bà Sáu Hiền. Con chó mực đánh hơi lạ, sủa vang. Bé lanh lẹ đẩy cổng hàng rào dâm bụt dẫn khách vào.

- Ông cứ vô đừng sợ. Nó sủa chớ không cắn đâu. Suỵt, mầy có im đi hôn mực, làm gì sủa nhảy chồm lên mình người ta vậy, chết giờ!

Bé bước vào nhà, bỏ khách đứng xớ rớ phía trước, chạy vụt ra nhà sau:

- Ngoại ơi! Ngoại! Có khách nào kiếm ngoại kìa. Ổng đứng ở nhà trên á! Ngoại lên mau đi!

Bà Sáu Hiền vừa ngoáy trầu vừa chậm rãi hỏi:

- Mầy đi đâu bây giờ mới về đó? Mà khách nào vậy?

- Con hổng biết ai nữa!

Bà Sáu nhìn thằng Bé, chợt bà la lên:

- Quỉ thần ơi! Mầy làm giống gì mà mặt mày quần áo mồ hôi, bùn đất bê bết vậy. Thôi lo tắm rửa sạch sẽ rồi ăn cơm con.

- Dạ! Ngoại không lên nhà trên sao? Ông khách đợi nãy giờ!

Bà Sáu cú vào đầu Bé một cái, âu yếm mắng:

- Thì tui lên đây nè! Cái gì mà hối quá hỏng biết nữa.

Bà Sáu đi lên nhà trên trong lúc Bé đi tìm quần áo để tắm. Bỗng mợ Ba, má thằng Nhứt, ẵm đứa con nhỏ trên tay chạy tới:

- Hồi trưa tới giờ mầy đi đâu mất biệt, không ở nhà phụ giữ em để tao rảnh mà làm công chuyện. Đi chơi là giỏi hà! Còn thằng Nhứt đâu?

- Ảnh còn thả diều ngoài ruộng á!

Thằng Nhứt thuộc vai em nhưng vì lớn hơn nên Bé quen gọi là anh.

Mợ Ba bảo Bé:

- Ẵm thằng Út rồi chạy ra ngoải kêu thằng Nhứt về lo tắm rửa coi!

Bé đưa tay ẵm thằng Út nhưng trả lời:

- Ngoại biểu con đi tắm!

Mợ Ba la lên:

- Mầy kêu nó rồi về tắm không được sao? Cơm nước tao lo chưa xong kia kìa. Ở đó trả lời. Cậu Ba mầy về đập thấy mồ bây giờ! 

Bé lủi thủi bế thằng Út lên nhà trên. Nó thấy ngoại nó và ông khách đang thì thầm nói chuyện. Bé ngạc nhiên xiết bao khi thấy mắt ông khách đỏ hoe như vừa khóc, còn ngoại nó cũng đang sụt sịt hỉ mũi vào chiếc khăn vằn. Ngoại nó hỏi:

- Con đi đâu vậy Bé? Sao không đi tắm đi?

- Mợ Ba biểu con ra kêu anh Nhứt về tắm.

- Thì đi tắm rồi kêu nó không được sao? Thôi, đưa thằng Út ngoại bồng cho. À! Bé à! Ông khách này là bà con với mình. Bác Hai đó, con lại thưa  đi.

Bé khoanh tay:

- Thưa bác Hai...

Rồi nó vụt chạy ra ngoài. Ngoại nó và bác Hai vội kêu lên:

- Bé! Bé! Chạy đâu vậy?

Bé vừa chạy vừa ngoái lại:

- Ra ngoải kêu anh Nhứt...

Ra khỏi cổng Bé đi chậm lại, lòng buồn buồn. Con đường chiều vắng vẻ. Bé cảm thấy thương ngoại quá. Nội nhà chỉ có mình ngoại là biết thương Bé mà thôi. Nhà ngoại nghèo, chỉ trông cậy vào miếng ruộng do cậu Ba làm, chỉ vừa đủ sống. Ngoại rất cưng chiều bé, bất cứ có quà bánh gì bà cũng để dành cho nó, bà bênh vực nó mỗi khi nó bị cậu mợ Ba rầy đánh, do đó Bé thường quấn quít, nũng nịu bên ngoại.

Tới ruộng, Bé thấy thằng Nhứt đang lo gỡ con diều bị mắc kẹt trên ngọn cây da. Hai đứa hì hục lo gỡ mãi mà không được. Sau cùng trời sập tối chúng nó mới đem được con diều xuống. Con diều lộng lẫy mà thằng Nhứt làm suốt một ngày trời dưới con mắt thèm thuồng của Bé bây giờ đã rách tả tơi và đứt mất một khúc đuôi.

Về đến nhà, mọi người đã ăn cơm xong đang quây quần ngồi nói chuyện ở nhà trên. Bé vì quá mệt mỏi chỉ ăn cơm qua loa rồi lo tắm rửa để đi ngủ sớm. Bé sắp đi ngủ thì bác Hai bước đến:

- Bé à! Chỗ đạp gai hồi chiều xức thuốc chưa con?

Bé ngạc nhiên quay lại rồi mỉm cười lắc đầu:

- Hỏng có sao đâu, chỗ đó hết đau rồi! Để tui đi ngủ!

Bác Hai kéo Bé lại đỡ lên ván:

- Đâu để bác xem lại, coi chừng nó làm độc.

Rồi bác Hai nhẹ nhàng lấy thuốc đỏ bôi vào chân Bé, lấy bông gòn và băng keo băng lại kỹ lưỡng. Bé nhìn bác Hai chăm chú săn sóc cho mình với một ánh mắt hớn hở lẫn chút xúc động. Bấy lâu nay, trừ bà ngoại, không có ai lo cho nó như thế. Làm xong, bác Hai lôi trong cặp ra một gói kẹo to đưa cho Bé:

- Con ăn đi...

Bé mở to mắt ngạc nhiên nhìn bác Hai rồi lắc đầu:

- Thôi, tui hỏng ăn đâu...

Bà ngoại đang ngồi ăn trầu bỗng nói:

- Bé à! Xưng con với bác Hai chớ sao lại xưng "tui"? Bác Hai cho thì lấy đi.

Bé bẽn lẽn đưa  tay lấy gói kẹo, nói lí nhí:

- Dạ, cám ơn... bác Hai...

Bác Hai trìu mến xoa đầu Bé. Bé chạy vụt vào buồng. Lên giường nằm Bé sờ soạng gói kẹo, lấy làm lạ không biết tại sao bác Hai nầy ở đâu mà hồi đó tới giờ mình không biết. Bác Hai lại thương yêu, săn sóc mình như vậy. Bé thò tay vào túi lấy ra một cục kẹo lột giấy bỏ vào miệng. Kẹo thơm phức mùi sô-cô-la và ngọt lịm. Hồi nào tới giờ Bé chưa thưởng thức được một viên kẹo ngon như thế. Trong hương vị ngọt ngào đó, Bé thiếp dần vào một giấc mộng đẹp.

Trời vừa hừng sáng, quay bên cạnh Bé thấy bà ngoại dậy từ bao giờ. Nó định ra ngoài chợt nghe tiếng thì thầm ngoài vách, tiếng mất, tiếng còn. Giọng bác Hai có vẻ buồn bã:

- Má nhứt định  vậy sao?

- Ờ! Tao nhứt định rồi Hai à! Nuôi nó hồi đó tới giờ tao thương lắm, tao không thể xa nó được...

Giọng bà ngoại trầm xuống như van lơn:

- Con hiểu dùm má, nó ở đây má cũng lo cho nó đầy đủ...

Giọng bác Hai như muốn khóc:

- Má nói như vậy con không biết tính sao!

- Thôi Hai à! Có thương nó lâu lâu mầy về thăm nó như vầy là tốt rồi. À! Hồi đó tới giờ tao đã giấu nó, con nhớ đừng cho nó biết. Con hiểu má mà đừng buồn nghe Hai!

Thằng Bé nghe tới đó không hiểu câu chuyện vừa nghe được có nói đến "nó" nhưng "nó" là ai? Bé định hỏi bà ngoại nhưng rồi lại quên mất.

Bé ngồi phía sau nhà đang cặm cụi xếp con diều giấy theo kiểu con diều của thằng Nhứt. Tiếng bước chân sột soạt phía sau làm Bé giật mình quay lại. Bác Hai đã đến bên nó, âu yếm hỏi:

- Con làm gì đó Bé? À! Xếp con diều hả...

Bé lúng túng:

- Dạ, tui... con định xếp thử coi được hôn.

Bác hai thấy hai tờ giấy báo vứt bừa bãi dưới đất ngạc nhiên hỏi:

- Ủa! Sao con không làm bằng giấy bóng cho đẹp và chắc, giấy nhựt trình làm xấu lắm! Làm giấy bóng như con diều thằng Nhứt mới đẹp chớ!

Bé bẽn lẽn:

- Bị con tính làm thử chớ chưa làm thiệt mà con cũng không có...

Bé bỏ lửng câu nói nửa chừng. Bác Hai nhìn gương mặt rám nắng buồn xo của Bé một lúc bỗng thở dài:

- À! Bác hiểu rồi...

Bác Hai đưa tay vào túi áo móc tờ giấy 5 đồng đưa cho Bé:

- Con lấy tiền mua giấy bóng đi, bác làm cho một con diều thật đẹp.

Thấy Bé vẫn chưa đi, bác Hai dưa tay nựng vào má nó:

- Chịu hôn mà ngồi đó, con?

Bé cầm tiền chạy vụt đi thật nhanh.

- Ý! Thủng thẳng đi con, chạy té chết!

Bóng của Bé đã khuất sau bụi chuối. Cầm cọng tre lên để vót nhỏ, bác Hai không ngăn được tiếng thở dài não nuột.

Ăn cơm xong, Bé ra phía sau nhà leo lên chiếc võng cột giữa hai thân su đũa to lớn, đưa kẽo kẹt. Bé muốn ngủ một giấc nhưng không được. Con diều bác Hai làm cho hồi sáng thật to lớn và lộng lẫy làm sao. Còn diều này mà so với diều của thằng Nhứt thì diều của Nhứt trông thảm hại quá. Bé nôn nao trông cho mau đến xế chiều để đem con diều ra ngoài đồng mà thả. Con diều bay lên cao chắc càng đẹp hơn nữa và trẻ con hàng xóm sẽ phục nó sát đất. Bé mỉm cười nhớ lại những con diều của thằng An, thằng Hùng, bé tí teo mà từ lâu nó hằng mơ ước. Bé đang nhìn những bóng nắng nhảy múa dưới đất thì nghe tiếng chân bước nhẹ phía sau, biết là bác Hai tới nó làm bộ nhắm mắt lại như đã ngủ từ lâu để thử xem bác Hai làm gì. Nhắm mắt một lúc lâu, Bé không nghe động tĩnh gì cả. Tưởng bác Hai đã trở vào nhà, Bé mở mắt ra nhìn. Gương mặt ưu tư, hiền hậu của bác Hai đang âu yếm nhìn nó với đôi mắt chan chứa tình thương. Bé vội vàng nhắm mắt lại, nhưng bác Hai đã chạy đến bên nó:

- Thức mà làm bộ ngủ hén!

Bé mắc cỡ cười khúc khích đưa tay che mặt:

- Đâu có, con vừa mới thức đó.

Bác Hai ngồi xuống võng, quàng tay ngang lưng Bé, đù đưa võng. Bé cũng níu lấy lưng bác, nhỏ nhẹ hỏi:

- Trưa bác không ngủ hả?

Bác Hai không trả lời, hỏi lại Bé:

- Con nằm làm gì đấy?

- Con nằm chơi đợi tới chiều.

- Chi vậy?

- Con đợi mau tới chiều để thả diều, chiều ngoài đồng gió lắm!

Nghe giọng nói ngây thơ của Bé, bác Hai véo nhẹ vào má của Bé, ngã lưng nằm xuống võng, để Bé nằm lên trên.

Bé bỗng hỏi bác Hai:

- Bác Hai ở đâu về vậy?

- Bác ở Sàigòn về.

- Sàigòn xa hôn bác? Lớn hôn bác?

- Sàigòn xa và lớn lắm, bác nói về Sàigòn con nghe nhen?

Bé mỉm cười gật đầu. Bác Hai lần lượt nói, nào xe hơi, xe bus, những vật mà ở quê này Bé chưa hề trông thấy. Giọng nói bác Hai trầm ấm, trìu mến vang lên bên tai Bé. Nằm trên mình bác, đu đưa trên chiếc võng, nghe lời nói âu yếm của bác Hai, Bé cảm thấy sung sướng kỳ lạ. Tâm hồn nó lâng lâng và nó ước ao sao bác Hai ở đây mãi mãi, đừng bao giờ trở về Sàigòn để Bé có được niềm vui như hôm nay hoài. Gió thổi hiu hiu, những trái su đũa khô trên cành đập vào nhau kêu xào xạc, giọng nói của bác Hai nhẹ nhàng bên tai, êm như một lời hát, đôi mắt Bé khép lại dần đưa Bé vào giấc ngủ thần tiên mà Bé không sao chống lại nổi. Bác Hai kể chuyện một lát không nghe Bé nói gì cả bèn gọi:

- Bé ơi! Bé, con ngủ rồi hả?

Không nghe Bé trả lời, bác Hai nhìn xuống dưới ngực, đôi mắt trong sáng của Bé khép kín, hơi thở nó vang lên đều đều. Bác Hai nhè nhẹ đặt những cái hôn tha thiết lên tóc Bé, trán Bé, đưa tay ôm siết Bé vào lòng. Bỗng Bé cựa mình, bác Hai nhẹ nhàng buông vòng tay lõng ra. Cũng như Bé lúc nãy, bác Hai ao ước được ôm Bé vào lòng mãi, bác không muốn rời xa nó một chút nào. Bác nghĩ đến lúc bác rời xa nó, chắc bác sẽ buồn và nhớ nó lắm. Bác Hai thấy nóng và cay ở mi mắt. Bác chống chân xuống đất đưa võng. Buổi trưa ở nhà quê êm vắng quá.

Trời đã xế chiều, Bé cựa mình thức giấc thấy mình vẫn còn nằm trên mình bác Hai và bác đang ngủ. Bé nhẹ nhẹ rút mình ra khỏi tay bác và bước xuống đất.

Nó im lặng đứng nhìn kỹ gương mặt hiền từ của bác Hai đang ngủ. Lòng Bé dâng lên một tình thương nhẹ nhàng. Nó muốn đến ôm bác nũng nịu như khi nhõng nhẽo với bà ngoại nhưng không dám. Chợt nó thấy một con muỗi đang chích trên trán bác Hai. Nó rón rén bước đến gần võng, se sẽ đặt ngón tay trỏ lên mình con muỗi nhưng khi ngón tay vừa chạm đến trán thì con muỗi vụt bay mất. Bác Hai giựt mình mở mắt, hỏi:

- Bé! Con làm gì đó?

Bé ngượng ngùng:

- Ủa! Bác thức rồi hả? Con muốn dập con muỗi đang chích bác nhưng đập hụt, nó bay rồi!

- Bé, lại đây với bác! Con ngoan quá!

Bé lắc đầu:

- Thôi trời chiều rồi, để con đi thả diều.

Một lúc sau, Bé ôm con diều chạy ra ruộng.

Chiều nay, con diều của Bé chiếm giải nhất, bay phần phật trên trời và bay cao nhất. Lũ trẻ không ngớt thán phục con diều đẹp đẽ đó. Bé thấy lòng vô cùng hãnh diện. Bỗng thấp thoáng đàng xa nó thấy bác Hai đang đứng nhìn nó thả diều.

Bé reo lên:

- Bác Hai ơi! Lại coi diều của mình nè! Nó lên cao lắm!

Bác Hai chạy đến thấy Bé vừa thả chỉ ra vừa hổn hển nói:

- Kìa, bác coi kìa, diều đẹp quá, nó còn lên cao nữa đó, bác làm hay quá!

Mắt Bé rực sáng, long lanh niềm vui vô tận.

Sau một buổi chiều thả diều thỏa thích, Bé về nhà ăn cơm thật ngon. Sau đó, bác Hai dẫn Bé đi xuống chợ chơi. Việc đầu tiên là bác Hai đi vào tiệm mua cho Bé hai bộ đồ mới thật tốt, một đôi giày, cái nón v.v... Bác lại còn mua kẹo, bánh, đồ chơi cho nó. Bé ngộp đi trong những đồ đạc ấy và trong sự lo lắng, săn sóc của bác Hai. Trời đã sập tối, bác Hai và Bé mới về nhà. Bé, một tay ôm gói đồ, một tay nắm chặt tay bác Hai. Hai người tíu tít chuyện trò. Ánh trăng rằm soi ánh sáng vằng vặc xuống đường làng.

Bé ngước đôi mắt lóng lánh lên nhìn bác Hai, khẽ hỏi:

- Bác Hai ơi! Bác ở chơi dưới này lâu hôn?

Bác Hai cố nén một tiếng thở dài:

- Ngày mai bác trở về Sàigòn.

Giọng Bé thảng thốt:

- Mai bác về thật sao? Vậy mà con tưởng...

Bé bỏ lửng câu nói, không thốt được nữa. Bác Hai xoa đầu nó:

- Bác phải về đi làm, con đừng buồn, bác sẽ về thăm con thường, con chịu hôn?

- Thật nghen bác, bác nhớ về thăm con nghen!

- Ờ! Mà con thương bác hôn?

Bé se sẽ gật đầu. Bác Hai nhè nhẹ cúi xuống hôn lên tóc Bé. Nó cũng ôm chặt bác Hai vô mình. Ánh trăng soi đôi bóng của hai người xuống đường làng vắng lạnh.

Sáng hôm sau, khi Bé trở dậy thì bác Hai đã đi tự bao giờ. Bé buồn bã như đánh mất một cái gì quí giá.

Bé đi tìm ngoại để hỏi sao bác Hai về sớm như vậy. Ngoại nói:

- Bác Hai về hồi sớm lắm, bác không kêu con dậy để con ngủ. Bác dặn đừng buồn, lâu lâu bác lại về chơi.

Bé chạy ra con đường phía trước như cố tìm lại bóng dáng tuy mới quen thuộc nhưng đã in vào lòng Bé nỗi mến thương vô vàn.

Bé hỏi ngoại:

- Ngoại ơi! Sao bác Hai kêu ngoại bằng má?

Bà Sáu lúng túng đáp:

- Ờ! Bác Hai là con... nuôi... của ngoại...

Bác Hai đi đã mấy ngày mà thằng Bé vẫn còn thấy nhớ. Nó thấy cậu Ba săn sóc cho thằng Nhứt, lần đầu tiên lòng Bé nổi lên một ước muốn. Ờ! Phải chi bác Hai là ba của mình. Nếu bác Hai là ba, Bé sẽ được cưng yêu còn hơn thằng Nhứt nữa. Lòng Bé chợt buồn buồn...

Một tháng sau, bà Sáu Hiền bỗng bệnh nặng. Bệnh tim của bà tái phát làm bà mệt từng cơn thở không được. Một hôm, bà kêu Bé lại ngồi kế bên:

- Bé ơi! Phải hôm trước ngoại biết bị bịnh như vầy, ngoại để con đi rồi!

- Đi đâu ngoại?

- Đi với bác Hai! Bác Hai là...

Bà Sáu ngập ngừng, rồi bà tiếp, giọng cương quyết:

- Ba của con đó Bé!

- Sao hồi đó tới giờ ngoại nói ba đã chết? - Bé ngạc nhiên hỏi.

Bà Sáu mệt nhọc:

- Để ngoại kể hết cho con nghe. Hồi đó ba má con ở Sàigòn buôn bán lớn lắm. Về sau ba con thua lỗ không có tiền trả nợ cho người ta nên bị ở tù. Má con đem con về dưới này rồi chẳng may bị chìm ghe chết. Ba con mãn tù bị bịnh phải vào nhà thương điều trị. Lâu quá ngoại không thấy ba con về, ngoại cũng tưởng ba con chết...

Bé ứa nước mắt, nắm tay ngoại:

- Ba thiệt  hả ngoại?

Bà Sáu cười héo hắt:

- Ba con đó. Hôm đó ba con về tìm, hay tin má con đã chết lâu rồi. Ba con khóc đòi rước con đi với ba. Nhưng vì nuôi con từ nhỏ đến giờ ngoại thương quá, nhất định không cho con đi. Hồi sáng ngoại có mượn người ta nhắn ba con về đem con đi để ngoại... chết... rồi con bơ vơ, không ai thương yêu, săn sóc.

Bà Sáu nói như rên rỉ:

- Bé ơi! Ba thương con lắm! Con nên đi...

Bé úp mặt vào mình ngoại, khóc:

- Không! Con không đi đâu hết! Con ở với ngoại hoài hà!

Bà Sáu nặng nhọc vuốt tóc Bé.

*

Bà sáu chết hơn một tháng rồi mà Bé vẫn không thấy ba nó trở lại.

Hôm đám ma bà ngoại tuy buồn, nhưng Bé vẫn để ý xem ba có về không, biết ba có hay tin ngoại chết hôn?

Bây giờ trong nhà không còn ai thương yêu Bé nữa. Ngoại chết rồi, tối nó ngủ một mình, trống trải quá! Bé thầm mong ba trở lại để rước nó đi. Bé nhớ hôm đó, ba hứa sẽ trở lại thăm Bé thường nhưng rồi sao không trở lại lần nào nữa?

Từ khi biết bác Hai là ba, lòng Bé chợt nảy nở một tình thương kỳ lạ. Nó cảm thấy nhớ bác Hai như khi nhớ bà ngoại đi đâu vắng lâu về, nhớ một người thân thiết nhất của nó.

Bốn, năm tháng nữa trôi qua, ba của Bé vẫn bặt tăm nhưng lòng nó lúc nào cũng mong mỏi: ba nó sẽ trở lại. Cậu, mợ Ba đôi khi cũng nhắc tới ba nó nhưng những sự nhắc nhở ấy làm cho hy vọng Bé càng mỏng manh hơn:

- Chắc ba mầy không về nữa đâu!

- Ba mầy ở trển có lẽ cưới vợ khác rồi, đâu còn nhớ tới mầy nữa!

Bé thấy tủi thân vô cùng. Không lẽ ba quên mình? Không! Ba thương mình lắm mà! Rồi Bé lại hy vọng trở lại.

Mấy tháng dài đằng đẵng lại qua.

Chiều nào Bé cũng thơ thẩn ngoài ruộng. Con diều xanh ba nó làm cho khi trước tuy đã cũ nhưng Bé cố sửa sang lại nên vẫn còn bay được. Bé chạy ra tới đầu làng. Bỗng một bóng dáng từ xa đi tới làm Bé sững sờ.

Ba nó trở về! Bé buông dây con diều chạy đến. Thấy nó, ba nó cũng hối hả chạy lại. Khi đến gần, Bé đứng lại kêu lên:

- Ba... Ba... ác... Hai về...

Nó định kêu ba và chạy đến ôm chầm nhưng nó tự nhiên ngượng ngùng kêu ra tiếng "bác" và đứng im. Ba nó bước đến ôm chặt nó vào lòng, thốt:

- Bé... con...

Bé úp mặt vào mình ba, ứa nước mắt:

- Ngoại chết rồi...

- Ba đã hay từ lâu, muốn về rước con liền nhưng cơn bịnh cũ tái phát, ba phải vào nhà thương mấy tháng nay. Bữa nay ba về rước con đi.

Ba nó cúi xuống hôn lên làn tóc hung đỏ khét nắng của nó để nghe được tiếng "ba ơi" thốt ra lần đầu tiên trên miệng Bé.

Ánh nắng chiều vẫn còn chiếu rực rỡ trên bờ ruộng.


Trang Vân     

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 49, ra ngày 15-7-1966)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com