Thứ Bảy, 11 tháng 3, 2023

BẨY NGÀY CỦA BÉ - Thập Cẩm

  

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thứ hai đi học lại
Vở cầm coi nặng tay
Em đi vào lớp trễ
Cô không nhìn thật may.

Giờ đầu học Việt ngữ
Yêu tiếng Việt làm sao
Giờ sau qua sử Việt
Cũng thấy lòng nao nao.

Thứ ba đi xe đạp
Bánh xe tròn rung rinh
Chân đạp đều nhí nhảnh
Áo dài bay nom xinh.

Cô giảng bài Lý Hóa
Mơ nước mình canh tân
Em muốn làm thợ giỏi
Khỏi nhờ người thi ân.

Thứ tư đi với bạn
Nhảy trên đường như chim
Gió mùa thu quấn quít
Mộng nở đầy trong tim.

Em trả bài vạn vật
Mong hòa bình chóng sang
Quê Việt đầy gia súc
Lúa trên đồng mênh mang.

Thứ năm đi học sớm
Chơi đánh chuyền trên sân
Chuông báo giờ vào lớp
Vẫn thấy hồn bâng khuâng.

Bài Công dân vừa giảng
Giọng của thầy ưu tư:
"Các em còn nhỏ bé,
Phải luyện hồn kẻo hư".

Thứ sáu đi về trễ
Vì bài toán chửa xong
Em mơ thành bác học
Trả quê nhà chút công.

Bài thêu thùa mới góp
Tay ngọc ngà mới may
Bây giờ quen kim chỉ
Sau thành nội trợ hay.

Thứ bảy lòng rạng rỡ
Như bản hát vừa ca
Như bức tranh vừa họa
Như sáu ngày đã qua.

Chủ nhật được ở nhà
Em chơi đùa thỏa thuê
Rồi rơi tờ lịch nhỏ
Ôi! Bẩy ngày như mê.

                        THẬP CẨM

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 100, ra ngày 27-7-1973)



Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2023

TIẾNG ĐỘNG ĐÊM KHUYA - Xuân Vũ

 

Tôi nhận được thư của chị tôi. Trong thư vắn tắt có mấy giòng:

- "Chị phải theo anh về quê nội, săn sóc má chị đang lâm trọng bệnh. Phiền cậu về ngay coi nhà hộ chị mấy hôm. Hai cháu Tâm và Tuyết, khi đi, chị gửi tạm chúng nó qua bên nhà cụ Lộc, một bà hàng xóm ở kế bên. Hễ đến nơi cậu nhớ đón các cháu về".

Thư viết vội vàng chỉ có thế.

Chị tôi lập gia đình cách Sàigòn chừng 200 cây số, thỉnh thoảng, để xa lánh không khí nhộn nhịp của đô thành, tôi thường về nhà chị an dưỡng ít ngày. Bây giờ, nhận được thư của chị, tuy đang bận việc, tôi cũng phải thu xếp về ngày.

Tôi ra bến xe đò, đáp chuyến xe hai giờ trưa. Ngồi trên xe, tôi nghĩ đến thằng Tâm, con Tuyết, hai đứa cháu của tôi.

Khi mẹ chúng vội đi, chắc đã dặn sẽ có tôi về và hẳn lúc này, chúng đang mong tôi lắm.

Sau một giờ rong ruổi, chiếc xe đỗ lại, thả tôi xuống giữa đường. Từ đây tới ấp của chị tôi, còn phải rẽ vào một quãng ngắn chừng dăm trăm thước. Đứng ngoài quan lộ, có thể nhìn thấy ấp của chị tôi và mấy nhà kế cận.

Tôi hối hả đi vào, hơi ngạc nhiên vì thấy vắng bóng hai đứa cháu. Mọi khi nếu biết tôi về, thế nào chúng cũng ngóng đợi từng chuyến xe và chạy ùa ra đón ngay từ lúc mới thấy bóng tôi ở trên xe bước xuống. Trời hôm nay nắng ráo mát mẻ, tôi thầm nghĩ: "Trời đẹp như thế này, tại sao các cháu tôi có thể ngồi bó cẳng một chỗ được?".

Tôi đến thẳng nhà cụ Lộc đón hai đứa, nhân tiện xin chìa khóa về mở cửa nhà chị tôi, vì khi vội đi, chị tôi gửi luôn chìa khóa cửa ở bên đó nữa. Quang cảnh ngôi nhà cụ Lọc khác hẳn với mọi nhà bên cạnh, nom hoang liêu như một ngôi nhà không người ở. Ngoài sân cỏ mọc đầy, lấn át cả lối đi và các cửa trông ra đường đều đóng kín.

Tôi bước lên thềm, gõ cửa. Bà cụ Lộc đích thân ra mở. Tôi chào cụ, ngỏ ý xin lại chìa khóa và đón các cháu tôi về. Cụ Lộc nhìn tôi gật đầu, đôi mắt hấp him sau cặp kính lão như ánh sáng bên ngoài làm cụ chói mắt. Cụ mời tôi vào trong nhà, chỉ ghế cho tôi ngồi rồi cất tiếng gọi:

- Miu miu!

Một con mèo xiêm từ trên mặt tủ nhảy đến ngồi chồm hổm trên chiếc ghế tràng kỷ. Cụ Lộc ôm lấy nó, đặt lên lòng, vừa vuốt ve nâng niu con vật, vừa hỏi truyện tôi bằng giọng khàn khàn yếu ớt.

Tôi cố nghe những lời cụ nói và không bỏ lỡ dịp hỏi cụ về hai đứa cháu tôi:

- Thưa cụ, cháu Tâm và cháu Tuyết đi đâu cả rồi?

Tôi băn khoăn hỏi thế, vì lúc ấy ngoài cụ Lộc và tôi với con mèo, không có gì chứng tỏ sự có mặt của hai đứa trẻ kia đâu cả. Tôi nóng lòng gặp chúng, và rất ngạc nhiên khi thấy cụ Lộc quay về một chiếc cửa, vỗ tay hai cái. Tức thì cánh cửa hé mở, hai đứa cháu tôi, ngoan ngoãn, y phục chỉnh tề, đôi mắt nhìn xuống, bước ra đến đứng trước mặt chúng tôi.

Tôi không lạ gì tính tình của hai đứa cháu. Thằng Tâm, với tuổi 13 ồn ào nghịch ngợm, lại thích vây vo. Còn con Tuyết 12 tuổi, luôn luôn cười nói và rất nhiều sáng kiến. Ở nhà có bao giờ chúng hiền từ lặng lẽ như thế này đâu? Thế mà bây giờ, trước mắt tôi, chúng chỉ cất tiếng chào nhỏ nhẹ.

Tôi nghe cụ Lộc nói về con mèo:

- Thế mới phải chứ miu nhỉ? Chúng mình chỉ ưa những đứa trẻ hiền lành ngoan ngoãn thôi!

Tôi kiếm lời cám ơn cụ Lộc, bảo thằng Tâm con Tuyết chào cụ, rồi chúng tôi kiếu từ trở về nhà. Ra khỏi cửa, tôi hỏi hai đứa có hỗn hào quấy phá gì bà cụ không. Chúng đều im lặng, cho mãi tới khi vượt khỏi hàng rào nhà cụ Lộc, thằng Tâm mới hậm hực nói:

- Cháu ghét bà già ấy lắm. Rồi bà ta sẽ biết tay cháu!

Con Tuyết cũng lạu bạu:

- Bà ấy đánh chúng cháu, nhốt vào trong phòng, bắt nhịn cơm ngay từ buổi đầu, vì chúng cháu đã chơi với con mèo của bả.

Tôi còn được biết thêm vài chi tiết phụ nữa và tưởng tượng các cháu tôi có thể dám dùng con mèo xiêm trắng của cụ vào những trò nghịch ngợm của chúng, chẳng hạn như coi nó là một trái banh!

Tội nghiệp cụ Lộc! Tôi biết rõ các cháu tôi. Đối với chúng chỉ cần giảng giải cho chúng nghe điều phải quấy là chúng phục thiện ngay, khỏi phải dùng tới một hình phạt nghiêm khắc. Tôi an ủi chúng, làm chúng cười khuây lãng đi. Về nhà, chúng tơi sửa soạn bữa cơm tối, ăn uống qua quít rồi đi ngủ.

*

Sáng hôm sau, một tiếng động lạ làm tôi chợt tỉnh. Giường tôi nằm kê ngay gần cửa sổ trông ra một hàng rào râm bụt. Phía ngoài hàng rào có một lạch nước. Tiếng động phát ra từ bụi cây râm bụt nghe sột soạt, rồi lại có tiếng như vật gì rơi tõm xuống nước. Tôi ngồi nhổm dậy, hốt hoảng gọi:

- Tâm, Tuyết, các cháu đâu cả rồi?

Như tôi đoán trước, hai đứa từ bụi râm bụt chui ra. Tôi hỏi:

- Mới sáng sớm các cháu ra đó làm gì? Có cái gì rơi xuống nước thế?

Thằng Tâm thản nhiên đáp:

- Dạ, cháu vừa ném hòn sỏi.

Tôi yên chí về lời nói của nó. Ngày hôm ấy qua đi cũng chẳng có chuyện gì xảy ra. Duy có buổi trưa, tôi nhác thấy bà cụ Lộc, vẻ mặt lo lắng lọm cọm đi tìm mèo. Rất lâu tôi nghe tiếng cụ khàn khàn gọi: "Miu, miu" vọng đi khắp chốn.

Qua sáng hôm sau nữa, tôi lại tỉnh giấc vì nghe tiếng động bên ngoài cửa sổ...

Tôi trở dậy, nhìn qua bụi cây thấy hai đứa cháu đang nghiêng mình trên lạch nước. Thằng Tâm đang cầm ngọn sào cố vớt một vật gì trăng trắng lập lờ dưới nước. Con Tuyết đứng nhìn lặng lẽ. Vẻ quan trọng của chúng khiến tôi ngạc nhiên nhưng không nghĩ ra được chúng đang làm trò gì, tôi lại yên lặng bỏ qua.

Trưa hôm ấy, chúng tôi dùng bữa hết sức vui vẻ. Còn đang cười đùa với nhau thò bỗng cụ Lộc bước vào. Mặt cụ nom bơ phờ đến thảm hại. Cụ ôm trên ngực con miu, không, xác nó thì đúng hơn. Bộ lộng trắng ướt hết nước, đầu ngã gục bất động trên ngực chủ. Cụ nức nở bảo:

- Tôi chỉ có mình nó làm bạn. Tôi thiếu nó như đời tôi chẳng còn ai nữa. Thế mà bây giờ nó chết rồi, có khổ thân tôi không!

Lúc ấy tôi mới chợt hiểu! Giọng cụ Lộc không tỏ vẻ gì giận dữ, cụ không hề ngờ một vụ trả thù mà con Miu bị làm vật hy sinh!

Trong cảnh cô đơn, già lão, cụ đặt hết tình thương vào con vật, nay mất nó cụ đau đớn tưởng phát điên lên được.

Tôi dìu cụ ngồi xuống ghế, cụ vẫn tiếp tục kể lể:

- Tôi tìm thấy xác nó ở bên bờ lạch nước. Không có nó tôi sống với ai? Hờ... sao mày không sống để bầu bạn với bà, hở Miu ơi!

Tôi liếc nhìn thằng Tâm và con Tuyết. Mặt chúng tái nhợt. Rõ ràng chúng không lượng được vụ trả thù của chúng đưa đến hậu quả bi đát đến thế này.

Nỗi đau buồn của cụ Lộc khiến cụ dễ cởi mở tâm tình. Cụ kể lể cho chúng tôi nghe là cụ sống buồn tẻ ở vùng này từ hồi còn thơ ấu. Cụ là con một, nên đã ở vậy để lo lắng phụng dưỡng cha mẹ già cho đến chết. Sau khi cha mẹ qua đời, cụ Lộc thấy đời thanh xuân của mình cũng đã tàn tạ nên đành kéo dài cuộc sống đơn độc trong nếp nhà hương hỏa, không họ hàng thân thích. Ông già của cụ ngày xưa là một người độc đoán, nghiêm khắc nên bây giờ người quanh vùng cũng chẳng ai ưa cụ Lộc. Cụ sống riêng biệt với con mèo, và không biết chia xẻ với ai, cụ đành đem hết tình thương dành cho con vật.

Tôi phải cố gắng an ủi cụ, mời cụ uống một tách nước trà, rồi đưa cụ về và hứa sẽ sang thăm cụ luôn.

Trở về tôi lườm các cháu:

- Đó, tụi bây đã thấy bậy chưa?

Cả hai đứa nhìn tôi rồi ôm mặt khóc nức nở!

*

Mấy ngày sau đó lặng lẽ trôi qua. Sau bữa cơm trưa, tôi khép cửa ngồi đọc sách, thả lỏng cho các cháu tôi muốn làm gì thì làm, nghĩ rằng sự đau buồn của cụ Lộc đã gây cảm xúc mạnh trong tâm hồn hai đứa, khiến chúng không còn dám làm điều gì dại dột nữa.

Tiếp đến tôi nhận được thư chị tôi báo cho biết bà cụ mẹ chồng đã qua khỏi và chị đang thu xếp ra về.

Hôm gặp chị tôi, trao trả trách nhiệm cho chị để trở lại Sài gòn, bởi một đồng tình im lặng giữa tôi và thằng Tâm con Tuyết tôi không đả động gì đến câu truyện đã xảy ra.

Sau đó một dạo tôi lại nhận được thư của chị tôi. Trong thư có đoạn viết:

- "Chị không hiểu đã có điều gì thay đổi hai cháu Tâm và Tuyết. Chị vừa khám phá ra rằng dạo này cứ sau bữa cơm trưa, thì hai đứa lại sang chơi bên nhà cụ Lộc, đọc sách cho cụ ấy nghe. Mới hôm qua, cụ ấy sang nhà chơi nói cho chị biết như thế và cụ bảo cụ mến chúng nó lắm vì chúng rất ngoan ngoãn dễ thương. Ngày nào chúng chậm sang chơi là cụ thấy nhớ chúng ghê gớm! Hình như bà cụ chết mất một con mèo quí và từ dạo ấy..."

Tôi hiểu tại sao thằng Tâm con Tuyết đã đối với cụ Lộc như vậy. Chúng muốn hàn gắn đền đáp lại hành động quái ác của chúng trước đây đối với cụ, và không ngờ rằng, sự hối lỗi của chúng đã đem lại nguồn vui tươi cho một tâm hồn đã cằn cỗi.


XUÂN VŨ       

(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa Con Búp Bê Đẹp Nhất) 


Thứ Tư, 8 tháng 3, 2023

VỀ TRONG LÒNG PHỐ - Trần thị Phương Lan

 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
Là thôi tàn một mùa xuân 
Nắng chưa rực rỡ phai dần mộng mơ
 
Người về phố cũ sang đò
Dưới giàn hoa giấy ai chờ hạ sang
 
Mùa xuân nắng vẫn chưa tan
Hồn ta sót chút mênh mang nỗi buồn
 
Đèn treo soi suốt quãng đường 
Bay tà áo mỏng tựa sương khói chiều
 
Ai về lối ấy cô liêu
Còn ta đứng ngó quạnh hiu một mình
 
Nghe chiều buông tiếng lặng thinh
Gió lay cánh lá rung rinh trên cành
 
Chim bay cao vút trời xanh
Chiều hoen mây tím trước mành lá rơi
 
Có người lặng ngắm mây trôi
Về trong lòng phố đâu rồi mùa xuân...

                                  Trần Thị Phương Lan 
                                  (Bút nhóm Hoa Nắng)

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2023

GIẢI DANH DỰ VĂN CHƯƠNG PHỤ NỮ V.N. - Vũ thị Lệ Dung

 

ĐỀ THI

Tìm hiểu việc làm, đức tính và ước vọng của người đàn bà Việt Nam qua câu ca dao sau đây:

Canh một dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi canh ba đi nằm
Canh tư bước sang canh năm,
Triềng anh dậy học chớ nằm làm chi
Nữa mai Chúa mở khoa thi
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.

BÀI LÀM

Từ ngàn xưa, ca dao Việt Nam vẫn là một kho tàng phong phú, phản ảnh nếp sống và tư tưởng của xã hội Việt Nam thời xưa, một xã hội chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền luân lý Khổng Mạnh.

Nền luân lý ấy đã chi phối mọi tầng lớp dân gian và ràng buộc người phụ nữ trong bổn phận "Gái thì giữ việc trong nhà".

Để đảm đang trách vụ đó, người đàn bà Việt Nam thời xưa, tất phải có nhiều đức tính để hoàn tất biết bao công việc phức tạp trong cuộc sống thường nhật với chức phận nội tướng, với địa vị khiêm tốn, người đàn bà Việt Nam đã có những ước mong gì trong cuộc sống?

Người phụ nữ trước kia với phạm vi hoạt động hạn hẹp trong gia đình đã thể hiện việc làm, đức tính và ước vọng của họ như thế nào qua những vần ca dao sau:

Canh một dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi canh ba đi nằm
Canh tư bước sang canh năm,
Triềng anh dậy học chớ nằm làm chi
Nữa mai Chúa mở khoa thi
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.
 
Trải qua bao thế kỷ, xã hội Việt Nam đã thấm nhuần tư tưởng sâu sắc của Khổng Giáo.

Ảnh hưởng của học thuyết này, địa vị của nam nhi và nữ giới đã được minh định rõ ràng.

Người con trai, với tư chất thông minh, với hình hài được hun đúc bởi khí thiêng sông núi sẽ giữ vai trò của kẻ sĩ, rèn luyện kinh văn để mai sau ra gánh vác việc xã hội, trị nước an dân:

Trai thời đọc sách ngâm thơ
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.

Trách vụ của nam giới được đề cao và trọng vọng như thế, còn bổn phận của nữ giới ở thời đại ấy ra sao?

Người đàn bà Việt Nam khi xưa chỉ có bổn phận trong gia đình. Bị ràng buộc trong khuôn khổ tứ đức tam tòng, họ cố gắng lo chu toàn phận sự:

Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa

Thực ra, trong đời sống hàng ngày, bổn phận của người nội tướng không phải chỉ đơn giản như thế. Họ phải đảm đang biết bao công việc phức tạp khác nữa.

Nên duyên với một người chồng theo đòi nghiên bút là một niềm hãnh diện của các cô gái vào thời Nho Giáo thịnh hành, nhưng bù lại, người đàn bà phải lo tròn một bổn phận khác nữa: nuôi chồng ăn học. Để có đủ điều kiện tài chánh, họ phải buôn bán tảo tần, ngược xuôi vất vả sáng chiều. Tối tối, khi trở về với gia đình, với thiên chức của người vợ hiền, người phụ nữ Việt Nam nhẫn nại và hy sinh muôn thuở lại tiếp tục hoàn tất bổn phận trong nhà.

Với đôi bàn tay khéo léo, với đức tính chịu thương chịu khó, người đàn bà đã không nề mệt nhọc sau những giờ phút vất vả vì sinh kế, họ kiên nhẫn thu vén nhà cửa, điểm tô hạnh phúc gia đình. Sự ấm cúng của mái nhà nhờ tài quán xuyến của nội tướng chắc chắn sẽ làm người chồng thoải mái, làm các con thêm tin yêu và thấy hạnh phúc ngập tràn.

Một tổ ấm ngăn nắp, một người chồng miệt mài trau giồi kinh sử cùng đàn con sạch sẽ thảo hiền, như thế đã đủ là một phần thưởng cho người phụ nữ. Thương yêu chồng con, người đàn bà không quản ngại khổ cực, sẵn sàng hy sinh chịu đựng thức khuya dậy sớm, vui với bổn phận của mình.

Sau đó, người hiền phụ siêng năng lại bắt đầu công việc dệt cửi để thêm thắt vào cho đời sống vật chất gia đình được phong phú hơn. Còn hình ảnh nào đẹp hơn hình ảnh một người vợ hiền ngồi bên khung cửi đưa thoi đều đều, cạnh người chồng đọc sách ngâm thơ.

Hạnh phúc ngập tràn trong mái gia đình. Người đàn bà Việt Nam dịu hiền đã được an ủi rất nhiều. Đời sống phức tạp và khó nhọc hàng ngày không làm họ nản lòng vì trong tâm hồn họ đã ôm ấp niềm mơ ước: nuôi chồng ăn học thành tài.

Từ khi còn ở nhà với cha mẹ, người thiếu nữ Việt Nam đã được dạy dỗ về công dung ngôn hạnh nên khi xuất giá, họ được coi như có đầy đủ đức tính và khả năng quán xuyến mọi việc trong gia đình nhà chồng. Do đó, chúng ta thấy người phụ nữ Việt xưa kia rất đảm đang, có công lớn trong việc tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng vẫn giữ được những nét thuần hậu, dịu dàng của người đàn bà Á Đông.

Suốt đời tận tụy lo lắng cho chồng con, người đàn bà quên cả chính mình. Hết canh hai, khi công việc dệt cửi đã xong, khi cả gia đình đã say sưa trong giấc ngủ, nàng mới tạm ngừng công việc để nghỉ ngơi.

Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm
Canh tư bước sang canh năm...

Sau một thời gian ngắn chừng vài trống canh an giấc, nàng lại trở về với công việc hàng ngày của mình. Nàng dịu dàng nhỏ nhẹ đánh thức chồng dậy để chăm lo đèn sách.

Triềng anh dậy học chớ nằm làm chi

Trong giấc ngủ say, nghe lời êm dịu của vợ hiền, người chồng chắc cũng sẽ vui vẻ trở dậy tiếp tục giồi mài kinh sử.

Hy sinh rất nhiều cho chồng con, nhưng người đàn bà Việt Nam khả ái không hề phàn nàn. Họ im lặng chịu đựng tất cả và đối với chồng luôn luôn giữ gìn lễ độ.

Người phụ nữ duyên không may, lấy phải ông chồng thiếu chung thủy, cũng chỉ nhẹ lời:

Thưa anh, anh giận em chi
Muốn lấy vợ lẽ em thì cưới cho

Gặp lúc chồng nóng giận đánh đập, nàng từ tốn khuyên can:

Dang tay đánh thiếp sao đành
Tấm rách ai vá tấm lành ai may
 
Chịu biết bao bất công, gò bó, họ cũng chỉ âm thầm than thở:

Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya

Không những thế, đức tính chịu thương chịu khó của người đàn bà vẫn được đời đời truyền tụng.

Nuôi con vất vả, người mẹ hiền đã phải hy sinh từ miếng ăn giấc ngủ:

Mong đêm rồi lại mong ngày
Vì con mẹ phải mình gầy xác xơ

Hình ảnh nhẫn nại của bà Trần Tế Xương cũng là một minh chứng cụ thể cho đức tính của phụ nữ Việt Nam:

Quanh năm buôn bán ở ven sông
Nuôi đủ năm con với một chồng

Nếu người đàn bà, trong bài ca dao trên biết thương yêu, lo lắng cho chồng và cho gia đình như thế, thì trong kho tàng ca dao, chúng ta cũng còn gặp rất nhiều hình ảnh nói lên tấm lòng ngập tràn tình thương của người vợ thảo lo lắng cho chồng ăn học nơi xa:

Mùa hè cho chí mùa đông
Mùa nào thức nấy cho chồng đi thi
Hết gạo em lại gánh đi
Hỏi thăm trường học ở thì nơi nao

Duyên dáng hơn nữa, người thiếu phụ lại chúng tỏ đức hạnh dịu dàng, ngôn ngữ lễ độ của mình qua câu:

Hỏi thăm đến chỗ thì vào
Vai đặt gánh xuống miệng chào "thưa anh"
 
Như thế, qua ca dao, kho tàng văn chương phong phú của dân tộc Việt, chúng ta đã thấy được phần nào các đức tính của người đàn bà Việt Nam thuở trước, điển hình là người thiếu phụ trong bài ca dao trên.
 
Sống trong phạm vi hạn hẹp của gia đình, hàng ngày phải đương đầu với bổn phận khó khăn và phức tạp, trong những lúc rỗi rảnh người đàn bà Việt Nam lấy chồng "kẻ sĩ" thường ôm ấp ước mơ: chàng đỗ đạt hiển vinh để "ngựa anh đi trước võng nàng theo sau"

Để khuyến khích người chồng đạt được giấc mộng khoa danh ấy, người vợ hiền đã khôn khéo phác họa tương lai huy hoàng của một thư sinh công thành danh toại, cho bõ công đèn sách:

Nữa mai Chúa mở khoa thi
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh

Vào thời Nho Giáo cực thịnh, kẻ sĩ trong xã hội được trọng vọng thì người đàn bà nào cũng mong muốn cho chồng vinh hiển. Đó là mối ước vọng lớn nhất của họ. Nhưng trên thực tế sống trong hoàn cảnh khó khăn một mình quán xuyến việc gia đình cùng nuôi chồng ăn học, nhiều khi người phụ nữ còn có những ước mơ giản dị như tâm hồn chất phác của họ: mong chồng chăm lo đèn sách và có đủ tiền nuôi chồng theo đòi nghiên bút.

Để đạt được hy vọng đó, người đàn bà đã ra công làm việc, một tay thu vén gia đình cả về tài chánh cũng như nội trợ, để chồng an tâm và đủ thì giờ lo việc sách đèn.

Người đàn bà Việt Nam hiền hòa và an phận, đã tìm thấy hạnh phúc trong bổn phận, trong thiên chức của mình.

Ngoài ước vọng chồng mình thành công trên đường khoa cử, họ không đòi hỏi đổi thay mà chấp nhận bổn phận nặng nề của mình trong cuộc sống gia đình thường nhật.

Một mái nhà ấm cúng, một hình ảnh êm đềm bên người chồng theo đòi kinh sách đã là nguồn hạnh phúc chan chứa trong tâm hồn người phụ nữ Việt Nam ngày trước, giúp họ quên đi những mệt nhọc hàng ngày vì gánh nặng gia đình.

Phụ nữ Việt Nam ngày xưa như thế, còn phụ nữ Việt Nam hiện tại thì việc làm, ước vọng cùng đức tính của họ có gì thay đổi?

Chúng ta nhận thấy, dù ở bất cứ thời đại nào, người đàn bà Việt Nam vẫn là linh hồn của gia đình. Một mái nhà hạnh phúc không thể thiếu hình bóng dịu dàng của người vợ, một tổ ấm yên vui không thể vắng bàn tay nhiệm mầu của người mẹ. Công việc tề gia nội trợ trong gia đình vẫn là trách nhiệm chính yếu của người phụ nữ Việt Nam. Dù cho người đàn bà ngày nay có góp mặt ngoài đời, nhưng sau những giờ phút căng thẳng làm việc trong cộng đồng xã hội, họ vẫn cần được sự an ủi của những người thân yêu. Đó là lúc họ trở về với thiên chức làm vợ và làm mẹ vậy.

Mặc dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Âu Mỹ, người đàn bà Việt Nam vẫn giữ được các đức tính đáng quý của người phụ nữ Á Đông: hiền hòa, dịu dàng, kiên nhẫn, yêu thương và hy sinh cho chồng con.

Tuy rằng trong hiện tại chúng ta nhận thấy khoa cử không còn là phương sách tiến thân duy nhất của nam giới, nhưng người đàn bà nào cũng mong mỏi cho chồng hiển đạt, góp danh với đời. Đó chính là niềm hãnh diện và ước vọng mà họ đã đặt vào chồng vậy.

Tóm lại, ở bất cứ thời đại nào, xưa hay nay, người đàn bà Việt Nam cũng giữ một vai trò quan trọng trong đời sống gia đình.

Bàn tay khéo léo của người phụ nữ làm êm ấm mái nhà, giọng nói dịu hiền của người vợ làm tươi mát tâm hồn người chồng, trái tim tràn ngập yêu thương của bà mẹ làm chan chứa tin yêu nơi con cái. không ai có thể thay thế thiên chức ấy của họ trong đời sống gia đình. Thêm vào đó, người phụ nữ Việt Nam còn được tạo hóa phú bẩm cho các đức tính đáng quý: hy sinh, chịu đựng và kiên nhẫn vô biên. Bản tính hiền hòa, niềm ước vọng của họ không gì hơn là mong chồng được công thành danh toại để được hãnh diện với làng xóm, bạn bè.

Với các yếu tố trên, người phụ nữ Việt Nam quả có đầy đủ đặc tính của người đàn bà Á Đông hiền dịu đảm đang.


VŨ THỊ LỆ DUNG      

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 175, ra ngày 15-4-1972)


Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2023

ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TRONG TƯƠNG LAI - Nguyễn Hùng Trương

 

Các em thân mến,
 
Mấy ngày đầu năm qua rất mau. Thấm thoát, nay đã hai mươi ta rồi.
 
Cách nay ba bốn mươi năm, đời sống dễ dàng, người ta có nhiều thì giờ để nghỉ ngơi, tiêu khiển:
 
 Tháng giêng là tháng ăn chơi.
 
Nhưng nay, mỗi ngày chúng ta cần phải làm việc gay go mới mong đủ sống.
 
Có lẽ một tương lai gần đây, chiến tranh sẽ chấm dứt trên đất nước này. Lúc đó, chúng ta không còn phải lo âu, sợ sệt tai vạ do bom đạn gây ra. Nhưng đến khi đó, chúng ta phải đương đầu với một tai họa mới là nạn thất nghiệp. Quân đội được giải ngũ, nhân viên các cơ sở ngoại quốc liên quan đến chiến tranh bị sa thải, sẽ đổ xô tranh nhau tìm việc làm. 
 
Bây giờ, những người không chuyên nghiệp còn sống dễ dàng, vì hầu hết các trai tráng đang trong quân ngũ.
 
Sau này, muốn xin làm thư ký, phải là người thư ký giỏi, biết rõ ngoại ngữ, kế toán, đánh máy thạo mới mong được thâu nhận. Làm bác sĩ có thân chủ phải là bác sĩ tài ba. Làm luật sư phải cần mẫn, thông suốt luật lệ, cãi cho thật giỏi. Làm thợ phải là tay thợ lành nghề, siêng năng.
 
Sau này không còn chỗ đứng cho người thiếu khả năng.
 
Vậy các em hãy chuẩn bị ngay từ bây giờ.
 
Các em hãy cố gắng học hành và nên chọn một ngành học thiết thực, hoặc một nghề chuyên môn. Hiện giờ, ở các nước tân tiến, các kỹ sư được đắc dụng hơn những bác sĩ, luật sư, cũng như ở nước ta đỗ bằng dược sĩ không chắc gì sống dễ dàng.
 
Các em hãy trau giồi thêm kiến thức bằng cách đọc thật nhiều sách báo chọn lọc, hữu ích.
 
Và cần nhất, các em nên tránh ba cái ngu dốt mà triết gia La Rochefoucauld đã nói: Không hiểu biết những gì mình đáng biết, hiểu biết không rành những gì mình biết, và hiểu biết những gì mình không cần biết.
 
 
Thân mến                      
  NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG         
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 29, ra ngày 12-3-1972) 



Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

KHI ĐÀN ÔNG LÀM VIỆC THAY VỢ - Minh Quân

 

Jim là một người đàn ông kỷ luật bậc nhất trong thế giới tự do này. Ông không ưa cái gì lộn xộn. Ông thích trật tự và không muốn ai cãi lại ông.

Dĩ nhiên "ai" đây ta phải hiểu là vợ con ông. Tất cả phải tuân lời ông răm rắp y như là cái máy chữ: hễ ông gõ vào chữ "a" thì ra chữ a ngay trên giấy trắng vậy.

Truyện này là truyện bên Tây, cho nên không giống truyện xứ ta: bên đó dù là giàu có đi nữa, cũng không ai thuê được người làm cả, mọi việc đều do tay người  nội trợ (tức là bà mẹ, bà vợ trong gia đình) đảm nhiệm, từ cơm nước, may vá, giặt giũ, quét lau cho đến chợ phố, may sắm v.v...

Vì lẽ đó, bà Jim bận túi bụi suốt ngày. Ông Jim biết thế. Thế nên một hôm ông vui vẻ bảo bà:

- Này, mợ! Anh trông mợ làm việc vất vả quá, đến ốm mất thôi. Hôm nay có phim hay, mợ đi xem đi. Để... anh trông chừng lũ chúng cho.

Bà vợ ngắm đàn con (bảy đứa), lưỡng lự giây lâu, rồi trả lời chồng:

- Cảm ơn anh, nhưng em phải ở nhà trông chúng, anh trông không xuể đâu.

- Sao lại không? Dễ thường mình tưởng tôi là tượng đất chắc? (giọng ông sốt sắng và cương quyết) Hôm nay có tuồng hay, mợ đi, đi! Đừng có cãi tôi.

- Còn lũ trẻ? Tôi...

Bà Jim e dè hỏi song ông sừng sộ cắt ngang:

- Đã bảo đi thì cứ biết đi, lo lắng nỗi gì? Tôi sẽ thay mợ một hôm, chết ai đâu? Đừng có làm bộ mẹ hiền mãi, chán lắm rồi!

A! Anh ấy có lý! Người đàn bà nghĩ bụng. Vậy là bà tuân lệnh chồng, sửa soạn rời nhà, đi giải trí một hôm xem sao.

Tuy nhiên, vốn cẫn thận, nên trước khi đi bà bắt các con lên gác, vào giường tất. Đoạn bà dặn chồng:

- Anh nhớ đừng cho đứa nào xuống khỏi cầu thang, trừ khi cần thiết. Em muốn chúng ngủ sớm như mọi ngày, như lúc em có nhà, không gì thay đổi cả, có thế em mới yên tâm.

- Được rồi! Mợ cứ yên chí. Tôi đây mà! Tôi đây chứ không phải ai đâu.

Trong lúc bà vợ vui vẻ ra đi, ông chồng dựa vào xa lông đọc sách, trong bụng thoáng nghĩ: "Cần thiết quái gì? Ăn rồi, uống rồi, rửa ráy, đánh răng rồi, đi tiêu, đi tiểu rồi... đàn bà cứ lo hão, đàn bà thật...

Yên lặng trở lại được vài phút, rồi người đàn ông lại nghe có bước chân ren rén từ góc cầu thang.

- Trở lên ngay! (giọng ông nghiêm trang hơn lúc vừa rồi) ta không muốn thấy ai cãi lại ta trong cái nhà này.

Gian phòng trở lại sự yên tĩnh lúc đầu: không một tiếng động nào ngoài tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo trên vách.

Bây giờ ta có thể yên tâm ngồi đọc sách rồi đó! Jim nghĩ thầm một cách hài lòng.

Không bao lâu, mi mắt nặng trĩu, không chống nổi với cơn buồn ngủ, Jim nghẹo đầu sang một bên, thiu thiu...

Cr... ẹt... cr... ẹt... tiếng động làm ông choàng dậy, lưng vẫn không rời ghế dựa, chăm chú lắng tai. Rõ ràng là lần này tiếng động cũng lại từ cầu thang vọng xuống!

Jim giận lắm, hét tướng lên:

- Thế là quá lắm rồi đấy nhá! Dễ ta phải phát vào đít chúng mày chăng? Làm cái trò gì vậy? Hở? Ta đã bảo là không được bén mảng xuống đây mà! Ha! Ta đã nói không được là không được, biết không? Lên giường ngay! Ta không muốn nghe một tiếng động nhỏ nào đêm nay cả. Hiểu không?

Trước cơn thịnh nộ của Jim, thạch súng không dám tặc lưỡi, chuột nhắt sợ chẳng dám thập thò, muỗi hết vo ve, nếu chúng lảng vảng đâu đó.

Ôi chao! Ai bảo rằng chúng không có lỗ tai? Chúng nghe tất, chúng nghe tất!

Jim rất vừa ý lần này, song ông ta không ngủ được nữa, lại đắm hồn vào trang sách.

Vài phút trôi qua.

- Tuyệt! Tuyệt thật! - ông Jim nghĩ - Yên tĩnh như thế này tuyệt thật!

Đột nhiên có tiếng chuông reo ngoài cửa.

Ủa! Lạ chưa? Mới giờ này mà đã về sao? Đâu có lý? Còn sớm mà... Ông vừa hỏi thầm vừa uể oải đứng lên mở cửa. Thì ra đó là bà Jane, láng giềng của ông chứ không phải vợ ông về.

- Chào chị, chị đến có việc gì? Xin lỗi, nhà tôi đi vắng...

Bà  Jane nói bằng giọng hốt hoảng, gần khóc:

- Anh Jim! Hãy giúp tôi tìm cháu bé, thằng Willie... không biết nó ở đâu, tôi lùng từ chập tối đến giờ mà không thấy... van anh!

Và bà òa ra khóc. Jim bối rối, chưa kịp nói gì thì từ cầu thang có tiếng nức nở vọng xuống:

- Mẹ! Con đây mẹ! Con ở trên này. Con không xuống được, con muốn về... nhưng mẹ ơi đâu xuống được! Ông Jim, ông ấy ra lệnh thế, con đâu dám cãi ông?


(thoát dịch ở truyện Jim want too far)    
 MINH QUÂN                 

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Xanh số 39, ra ngày 15-3-1967)

 

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2023

CON CÁ VÀNG - Lan Đài

  


Một ông già đánh cá sống với vợ hơn ba mươi năm dư trong một túp lều tranh ven biển.

Hôm nay quăng lưới, lúc kéo lên, ông già chỉ gỡ ở lưới ra một con cá nhỏ... nhưng là một con cá vàng, con cá vàng rực.

Ông vội vàng cho con cá vào cái thúng thì hay quá! Con cá nói được tiếng người. Nó van xin:

- Ông già ơi, tôi van ông, ông đừng bỏ tôi trong thúng, ông hãy trả tôi lại cho biển cả đi. Tôi chỉ sung sướng khi nào được tự do bơi lội trong biển cả mênh mông mà thôi.

Trong ba mươi năm làm nghề chài lưới, ông già chưa bao giờ nghe cá nói chuyện. Thế nên ông ngạc nhiên đến kinh sợ, trả lời:

- Cá vàng ơi, ta sẽ bỏ mi xuống biển. Ta không làm trái ý mi đâu.

- Ông trả lại tự do cho tôi, ông sẽ được tôi tạ ơn cho ông. Ông muốn gì, ông cứ nói đi, tôi sẵn lòng.

- Ta không muốn gì hết.

Rồi ông bỏ cá xuống biển rộng. Xong ông vội vàng kéo dây, cho thuyền lên bãi cát, chạy nhanh về nhà.

Bà vợ thấy ông về, vội hỏi:

- Hôm nay ông lưới có nhiều cá không?

- Chẳng có chi cho bà kho nấu cả. Tôi chỉ có được một con cá vàng biết nói. nó quá van xin tôi trả nó về với biển cả và nó cũng muốn biếu tôi một món quà. Tôi muốn gì nó cũng cho miễn là tôi tha cho nó.

- Ông xin nó thứ gì hở ông?

- Tôi chẳng xin gì hết bà ạ.

- Chèn ơi, ông già ngốc đế! Ít nhất ông cũng xin nó một cái nhà thiệt mới để thế cho túp lều của mình.

Ông già đánh cá chạy ra bờ biển. Sóng biển vui đùa trên cát trắng. Ông gọi to:

- Cá vàng ơi! Cá vàng ơi! 

Thình lình con cá vàng trồi lên mặt nước:

- Tôi đây này. Ông già ơi, ông muốn tôi giúp ông cái gì?

- Riêng ta, ta không cần gì cả. Nhưng bà vợ ta, bả rầy ta, bả muốn có một tòa nhà để vui sống.

- Ông già yên tâm. Được, ông sẽ có một tòa lâu đài, ông về đi.

Ông già đánh cá quay về nhà. Đến nơi ông không còn thấy túp lều đâu nữa. Ông thấy một tòa lâu đài tuyệt đẹp sơn son thiếp vàng. Trong nhà có những căn phòng lộng lẫy, bàn ghế toàn bằng gỗ quí giá. Ông già vui mừng nhảy nhót. Ở trên lầu còn có một lan can ngó ra biển cả. Sướng chưa? Bà già đang ngồi ở lan can ngắm trời xanh nước biếc.

Thấy ông già về tới, bà nổi giận đùng đùng:

- Ngu như lừa! Đồ điên! Đồ khùng! Đã có tòa lâu đài như vậy mà để ta như vầy sao? Chạy ra gọi con cá, chào mừng nó, nói với nó là ta muốn trở thành một bà hoàng cao quý hơn hết thảy mọi người. Ngươi ra ngoài biển nói như thế.

Ông run run quay ra bờ biển. Lúc này mặt biển xám xì. Trời tối mò, những áng mây to che lấp mặt trời. Đằng xa có tiếng gầm thét.

Ông già run sợ, ông gọi to:

- Cá vàng ơi! Cá vàng ơi!

- Có tôi đây! Ông cần gì đó?

- Cá oi, ta nói ra thiệt xấu hổ! Một lần nữa ngươi cố thương ta, vì bà già không để ta yên thân. Bà muốn trở thành Hoàng hậu!

- Không sao, ông già chớ lo. Bà già sẽ trở thành Hoàng hậu. Ông về đi!

Ông già về nhà. Tòa lâu đài đã trở thành đền vua. Ông vừa run vừa đi vào. Ông thấy bà già đang ngồi dùng cơm, bà đã trở thành bà Hoàng hậu. Quanh bà, năm mươi cung phi mỹ nữ rót rượu hầu trong những cái ly vàng. Giữa bàn bao nhiêu món ăn ngon. Ông già kinh ngạc nghĩ thầm "Kỳ diệu thay! Kỳ diệu thay!" Ông đến gần bà mà vái lạy:

- Tâu Hoàng hậu, lần này hẳn Hoàng hậu hài lòng?

Nhưng Hoàng hậu quát tháo và truyền:

- Ta không thích làm Hoàng hậu nữa. Ngươi ra ngoài biển nói với con cá nhỏ rằng ta muốn trở thành nữ chúa biển Đông, còn con cá sẽ là đầy tớ của ta.

Lần nầy, ông già không dám hó hé nói năng chi cả. Ông ra ngoài biển. Mặt biển nổi giận tưng bừng. Những cơn sóng thần đập ầm ầm vô ghềnh đá. Nền trời chớp xẹt sáng lòe. Gió bão nổi lên rung cây tung cát. Ông già gọi to hơn:

- Cá vàng ơi! Cá vàng ơi!

- Ông gọi tôi? Ông cần việc gì?

- Khốn khổ cho ta quá! Ta không biết làm gì trước mặt bà quái ác đó. Bả cứ nổi giận ầm ầm. Cá vàng ơi! Lần này bả muốn trở thành nữ chúa biển Đông, còn người thì là đầy tớ của bả!

Con cá vàng không trả lời. Nó không nói chi cả, nó quật đuôi chìm mất dưới làn nước xanh đen.

Ông già đứng đợi. Ông đợi thật lâu không thấy con cá trồi lên. Ông bèn trở về nhà. Ông không còn thấy cung điện, đầy tớ, ngựa xe, vàng bạc đâu nữa cả. Ông chỉ thấy bà vợ già yêu quý của ông ngồi ủ rũ trong túp lều tranh xiêu vẹo.


LAN ĐÀI      

(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa "Chiếc Áo Màu Thiên Thanh")