Thứ Ba, 11 tháng 6, 2019

HÙNG KHÍ DIÊN HỒNG - Nhật Tiến



Dưới thời Trần Nhân Tôn (1279-1293), Vua Mông Cổ tự ý phong Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương rồi sai sứ giả Sài Thung thống lãnh 1000 quân đưa về nước. Nhưng khi đến cửa Nam Quan, Sài Thung bị bắn mù một mắt chạy về Tàu.

Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mông Cổ vì thế bùng nổ lần thứ hai. Vua Trần Nhân Tôn bèn triệu tập các bô lão tại điện Diên Hồng để bàn xem nên hòa hay nên chiến.

Kể từ đó, hùng khí Diên Hồng ngùn ngụt dâng trào, chiếu sáng rực rỡ suốt gần một ngàn năm lịch sử biểu dương ý chí sắt đá hào hùng của các bậc anh hùng tiên liệt...

Y PHỤC:

- CÁC VỊ LÃO ÔNG, THẦY KHÓA: Khăn đống, áo dài (đen hoặc gấm), quần trắng.

- 2 NGƯỜI KHIÊNG CÁNG: Quần áo bà ba đen hay nâu, quấn khăn đầu dìu.

- LÍNH GỌI LOA: Áo nẹp, nón lá, quần xà cạp.

DỤNG CỤ:

- GẬY: cho các lão ông.

- QUẠT GIẤY: cho Thầy khóa.

- LOA, GIẤY CÁO THỊ: cho lính gọi loa.

- ĐÒN, VÕNG (bằng chăn dạ): cho 2 người khiêng cáng.

- BĂNG, THUỐC ĐỎ: Cho Lão ông III bị thương tích.

- RÂU: Các em lấy loại dây cột đồ bằng nilon để trắng (nếu làm râu bạc), bôi mực đen (nếu làm râu đen), rồi tước ra thành nhiều sợi nhỏ gắn trên một gọng bằng dây thép, có thể đeo lên cằm.

(Mở màn, sân khấu không có người. Lính gọi loa vào trước. Một tay cắp xô hồ và chổi. Một tay cầm tờ cáo thị và cái loa. Đặt đồ lề xuống, phất hồ lên tờ cáo thị rồi dán lên bảng. Khán giả nhìn thấy một tấm giấy chữ Nho lớn, đóng triện đỏ).


LỚP I
Lính gọi loa

LÍNH (giơ loa lên gọi theo điệu bài hát HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG): Toàn dân nghe chăng, Sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên hòa hay chiến?

(Toàn thể khán giả): QUYẾT CHIẾN.

LÍNH: Toàn dân nghe chăng, Sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên hòa hay chiến?...
 

(Toàn thể khán giả): QUYẾT CHIẾN.

Giọng của lão ông I la lên: Trời... trời... Sao lại quyết chiến... Sao lại quyết chiến... Tôi chủ trương hòa. Có hòa mới sống được (Giọng nói kéo dài từ lúc nhân vật này đi từ hàng ngũ khán giả lên tới sân khấu).


LỚP II
Lính gọi loa. Lão ông.

LÃO ÔNG: (Phân bua với khán giả)

Thế giặc hùng mạnh như chẻ tre, đi đến đâu ào ào như phong ba bão táp, Toa Đô như hùm, Thoát Hoan như cọp, đường bộ thì Khả Ly thất thủ, Lộc Châu tan nát, Kinh Bắc đang sửa soạn quằn quại kêu thương, đường thủy thì Toa Đô như kình ngư quẫy nước, như thác đổ về nguồn, hạm đội Triều đình tan nát như lá tre trước gió, tình thế như vậy mà không cầu hòa là mang lấy họa diệt vong!

Lính gọi loa: Toàn dân nghe chăng, Sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên HÒA hay CHIẾN?...

LÃO ÔNG I: (Quay lại dậm chân):

Biết mình biết người, trăm trận đánh, trăm trận thắng... Các ông là người của Triều đình, các ông phải thấy cái thế của ta với giặc là cái thế châu chấu đá xe, cái thế trứng mỏng chọi với đá nghìn thu. Nay chủ trương chiến đấu là đem muôn dân vào vòng khói lửa, nhà sẽ tan, cửa sẽ nát, giang sơn cẩm tú này sẽ điêu tàn dưới sức mạnh giông bão của Thiên Triều. Tôi phản đối! Tôi phản đối!...

(Quay lại khán giả) Có ai đồng ý với lập trường của tôi không?

(Thầy khóa ở trong hàng ghế khán giả): Tôi! Tôi đồng ý!... (Chạy lên sân khấu).


LỚP III
Lính gọi loa. Lão ông I. Thầy khóa

LÃO ÔNG I: A! Thầy khóa!...

THẦY KHÓA: Dạ... Tiểu sinh xin kính chào lão ông!

LÃO ÔNG I: Ừ! Thầy là kẻ có học, đọc rộng hiểu nhiều, biết lẽ tới lui. Ngày xưa Hai Bà Trưng cũng chỉ vì không tự lượng sức mình mà phải trầm mình nơi sông HÁT. Thứ Sử LỤC DẬN sức mạnh là bao so với quân Thiên Triều hiện tại mà Triệu Nữ Vương cũng phải tự hủy BỒ ĐIỀN. Rồi từ thời thuộc Nam Triều, Bắc Triều, đến Nhà ĐINH, LÊ, LÝ có bao giờ dân tộc nhỏ bé chúng ta không chịu thần phục. Thần phục để mà hòa. Hòa để mà yên ổn, hòa để mà lấy an cư lạc nghiệp, hòa để mà thiên hạ thái bình, cái lý lẽ sống còn đó lẽ nào có kẻ lại u mê không thấy được.

THẦY KHÓA: Lão Ông dạy chí phải. Những lời Lão Ông vừa phát biểu thật là của một người từng trải, biết lo cái lo của dân, biết sợ cái sợ của dân, biết tránh những điều mà dân muốn tránh... Tiểu sinh xin bội phục... Bội phục...

(Thêm Lão Ông II, lom khom bước ra)


LỚP IV
Thêm Lão Ông II.

THẦY KHÓA: Xin kính chào Lão Ông...

LÃO ÔNG II: Ai như thầy khóa đấy phải không?

THẦY KHÓA: Dạ, thưa Lão Ông chính phải.

LÃO ÔNG II: Kìa, ai như có phải Lý đệ đó không?

LÃO ÔNG I: Xin kính chào Lão huynh.

LÃO ÔNG II: Các người làm gì ở đây mà bàn luận có vẻ tương đắc như vậy?

LÃO ÔNG I: Kìa! Có Lệnh Triều Đình truyền tất cả các Bô lão đi họp tại Điện DIÊN HỒNG để quyết định, Hòa hay Chiến. Lão huynh không biết sao?

LÃO ÔNG II: Có... Có... Tôi thấy mấy cháu ở làng trên mới về cũng đang xôn xao vì vụ đó...

LÃO ÔNG I: Làng trên gì. Chiếu chỉ của Thiên Tử đã về tới đây rồi. Lão huynh không thấy sao? (Chỉ lên bảng)

LÍNH GỌI LOA: Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên hòa hay chiến...

LÃO ÔNG II: Quyết chiến!... Quyết chiến!...

LÃO ÔNG I: Ý trời đất ơi!... Lão huynh đã suy nghĩ kỹ càng chưa mà tuyên bố như vậy?

LÃO ÔNG II: Lý Đệ! Lý đệ nói cái gì tôi không hiểu. Thế nào là suy nghĩ kỹ càng mới lại không kỹ càng?

LÃO ÔNG I: Phải! Tôi nói là phải suy nghĩ kỹ càng trước khi quyết định hòa hay chiến. Vận mệnh của cả một dân tộc nằm trong có hai chữ đó chớ không phải chuyện chơi.

LÃO ÔNG II: Đúng lắm! Cả vận mệnh dân tộc nằm có trong hai chữ đó, ai dám nghĩ là chuyện chơi. Nhưng Lý đệ có am hiểu tình hình nước nhà trong mấy thời gian gần đây không?

LÃO ÔNG I: Tôi rất quan tâm đến thời cuộc, nên vẫn nghe ngóng thường xuyên.

LÃO ÔNG II: Sài Thung bị bắn mù một mắt khi vừa qua cửa Nam Quan, Lý đệ biết chứ?

LÃO ÔNG I: Dạ, biết chứ. Đó là một sai lầm lớn về ngoại giao của Triều Đình ta.

LÃO ÔNG II: Hừ! Lý đệ thật nông cạn. Một vấn đề quan trọng đến như thế mà đưa ra lời nhận định thật là viển vông. Này Thầy Khóa, thầy có biết vì lý do gì ta bắn mù mắt của Sài Thung không?

THẦY KHÓA: Dạ, trình Lão Ông, theo thiển kiến của tiểu sinh thì bởi vì triều đình ta không chấp nhận Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương theo lệnh của triều đình nhà Nguyên.

LÃO ÔNG II: Hà... Hà... Bảo vệ danh dự của Quốc gia dân tộc mà gọi là lỗi lầm về ngoại giao sao Lý đệ?

LÃO ÔNG I: Bảo vệ lấy danh dự nhưng nhà chẳng còn, nước cũng mất, dân bị tiêu diệt. Cái danh dự đó há chẳng phải là phù phiếm, không thực tế sao?

LÃO ÔNG II: (Giận dữ) Bớ Lý Đệ! Lý Đệ muốn dân tộc này muôn đời trở thành nô lệ, cúi đầu thần phục ngoại bang như loài chim muông cầm thú. Sao mà Lý đệ mở miệng ăn nói càn rỡ như vậy?

LÃO ÔNG I: (phân trần) Không phải như vậy. Nhưng ở đời phải biết lẽ phải chăng. Giặc mạnh thì ta lùi, giặc suy thì ta tới. Nay thế giặc mạnh như chẻ tre, đi đến đâu cũng gieo tang thương, tàn phá đến đó. Chủ hòa là làm dịu xuống cái họa diệt vong, còn chủ chiến là đổ thêm dầu sôi vào lửa bỏng. Lão huynh muốn cái giang sơn cẩm tú này nát bấy dưới gót giầy tàn bạo của binh lính Thiên Triều sao?

LÃO ÔNG II: (Cười gằn) Này Thầy khóa. Thầy là người vẫn từng sôi kinh, nấu sử. Thầy thử cho tôi biết có một dân tộc nào đớn hèn, nhu nhược mà lại ngồi yên tọa hưởng được thái bình, an lạc hay không?

THẦY KHÓA: Dạ... Trình Lão Ông... Sách Thánh hiền đã dạy Dân hưng thì nước thịnh. Dân nhược thì nước suy. Bởi thế Quốc Gia hưng vong thất phu hữu trách...

LÃO ÔNG II: Ha... Ha... Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu trách. Thời kỳ nguy khốn này đã phải là lúc đem lại hưng vong cho đất nước hay chưa? vả lại, Lý đệ tưởng rằng cái thế cuộc hiện tại này cứ chủ hàng là có thái bình yên ổn đó sao? Ha... Ha... Tôi không ngờ Lý Đệ lại nông cạn, hẹp hòi đến thế. Lý Đệ phải hiểu rằng, nước  Nam của ta tuy nhỏ bé nhưng lại là một miếng mồi ngon của Phương Bắc. Dã tâm xâm lược của họ đã bộc lộ rõ ràng triền miên trong suốt dòng lịch sử của dân tộc, không những ngày xưa, bây giờ, và mãi mãi còn ở cả thế hệ mai sau. Cho nên đừng nói tới chuyện cầu hòa. Vậy chỉ còn một lối thoát cuối cùng là đánh, đánh đến cùng, đánh để tự vệ, đánh để thà chết vinh còn hơn là sống nhục nhã trong nô lệ, gông cùm...

(Trong khi ấy 2 người khiêng cáng Lão Ông III đi ra)


LỚP V
Thêm 2 người khiêng cáng và Lão Ông III

NGƯỜI KHIÊNG I: Chúng cháu xin kính chào các cụ. Xin các cụ chỉ cho chúng cháu lối nào lên Kinh Đô đây?

LÃO ÔNG II: Các Ông không phải người vùng này sao mà lại không biết đường tới Kinh Đô...

NGƯỜI KHIÊNG II: Trình Lão Ông, không phải. Chúng cháu ở rất xa, mãi ở vùng Lộc Châu mới xuôi về đây ạ.

LÃO ÔNG I: Ủa!... Mấy bác ở Lộc Châu về, có nghe tin tức gì không?

NGƯỜI KHIÊNG I: Ôi!... Đau thương, thê thảm kể làm sao cho xiết... Quân Nguyên đi đến đâu tàn phá đến đó. Chúng gặp người giết người, gặp của cướp của,. tiếng kêu than uất ức của dân lành kêu thấu đến tận trời xanh.

LÃO ÔNG I: Ha... Ha!... Lão huynh đã thấy chưa... thật chứng nhân rành rành trước mắt. Tôi đã bảo là sức mình chỉ là châu chấu đá xe, trứng để đầu đẳng. Còn đánh còn thua. Còn đánh còn chết chóc dân lành. Còn đánh muôn dân còn đồ thán. Thôi, cứ xin hòa quách là yên chuyện.

LÃO ÔNG III (Nằm trong cáng, mình mẩy băng bó khắp chỗ bỗng bật dậy hét lên). Ai thế? Đứa nào thế... đứa nào mà mở mồm ra toàn những  lời vong quốc, nhục mạ anh hùng tiên liệt như vậy...

LÃO ÔNG I: Ơ... Ơ... Lão này gì kỳ lạ không...

LÃO ÔNG III: Kỳ lạ cái gì? Cái miệng mi mới là thốt ra những lời kỳ lạ. Thời cuộc này, tình thế này, hoàn cảnh này, đầu hàng là chết mi hiểu chưa. Như lão đây mới ở vùng địch chiếm về, mắt lão thấy biết bao nhiêu cảnh dã man tàn ác, đàn bà, con trẻ bị chặt đầu phơi trên dáo mác, đàn ông, con trai phải xếp hàng trước hố sâu để bị chôn sống tập thể, nhà tan, cửa nát, máu chảy thành sông, oán hờn chất cao như núi, đến như lão đây cũng bị giặc hành hạ cho đến thương tích đầy mình. Tình cảnh thê lương, uất ức như vậy làm sao mà hòa? Làm sao mà hòa?

LÃO ÔNG I: Phải hòa vì không thể đánh. Đánh với giặc thì quân ở đâu? Hậu thuẫn ở đâu mà đánh được lâu dài?

LÃO ÔNG III: Cái nỗi hờn căm uất ức của kẻ tự vệ nó làm hậu thuẫn cho cuộc kháng chiến lâu dài. Đó là hồn nước kết tụ bởi bao truyền thống anh linh tiên liệt. Còn quân đâu? Ôi chao! Những hạng như thầy khóa này còn chờ gì mà không sửa soạn tòng quân. Ta đi qua một giải đồng bằng từ LỘC CHÂU về KINH BẮC, đâu đâu thanh niên cũng náo nức về chuyện bỏ sách vở tham gia chiến đấu, còn các cụ già thì xôn xao về hội nghị Diên Hồng. Thiên Tử đã có định kiến là chiến đấu đến cùng. Nhưng còn muôn nhân tâm, muôn người như một nên mới mở ra hội nghị tại điện Diên Hồng... Bình sinh cả triệu người mà ta gặp, chưa ai mở miệng nói là nên hàng như dân chúng ở đây cả.

LÃO ÔNG II: Xin lão huynh đừng nóng giận. Đó mới là ý kiến của mình Lý đệ và thầy khóa ở đây thôi. Chớ còn lòng dân sở tại thì bừng bừng sát khí, chúng tôi ai cũng đều chủ trương phải chiến đấu để bảo vệ đất nước cả.

THẦY KHÓA: Xin quý vị lão trượng vui lòng bớt giận. Tiểu sinh từ nãy nghe những lời vàng ngọc của quý vị nên đã sáng mắt ra rồi. Tiểu sinh quyết từ bỏ sách đèn để tòng quân giết giặc.

NGƯỜI KHIÊNG CÁNG I: Tôi cũng vậy. Tôi làm xong nhiệm vụ đưa lão trượng đây tới điện DIÊN HỒNG họp hội nghị rồi tôi cũng tòng quân.

NGƯỜI KHIÊNG CÁNG II: Dễ thường tôi thua các bác đó phải không. Tôi tuy ít học, không được tới cửa Khổng, sân Trình, nhưng cũng được gia nghiêm dạy cho mấy câu "Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách".

LÃO ÔNG III: Hay lắm! Hay lắm! Thôi ta liệu lên đường cho kịp. Chỉ còn hai ngày nữa hội nghị Diên Hồng khai mạc rồi... (trèo lên cáng).

LÃO ÔNG II: Cho đệ đi theo với...

LÃO ÔNG III: Đi!... Đi!...

(Tất cả mọi người đi 1 vòng sân khấu hay lửa trại. Lão ông I đứng tần ngần một lát cũng vùng lên chạy theo): Cho tôi đi với!... Cho tôi đi với...

LÍNH: Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng... nên hòa hay chiến...

CÁC NHÂN VẬT: QUYẾT CHIẾN!

Hậu trường đồng ca bài nhạc hùng HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG!


NHẬT TIẾN      




(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 9, ra ngày 10-10-1971)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2019

CON TÀU TRÊN BIỂN - Thiều Quang


Lão hói gục đầu suy nghĩ: Lão muốn chàng thanh niên nhà giàu ngồi trước mặt lão kia lên chiếc du thuyền của lão lắm.

Hàng lông mày rậm trên đôi mắt cú vọ gian hùng của lão hói cau lại. Lão đang tìm một mưu kế để dụ chàng thanh niên đang ngồi trước mặt lão xuống tàu.

Trong khi lão cố moi đầu óc thì chàng thanh niên kia bỗng nói:

- Tôi e chiếc "Rita" cũ kỹ này của ông sẽ không đủ sức chạy lâu trên mặt biển và rồi nó sẽ chết máy giữa biển để cho những ngọn sóng tử thần kia kéo nó chìm sâu xuống đáy biển!

Lão hói quay đầu nhìn ra biển, những ngọn sóng bạc đầu đang la hét, gầm thét chạy xô vào bờ. Chiếc "Rita" cũ kỹ đang chòng chành như muốn lật úp, lão đặt tay lên chiếc ca-nô cũ kỹ đó và nói ngay:

- Không đâu, chiếc này đủ sức mà! Anh cứ tin chắc đi, tôi bảo đảm đàng hoàng!

Chàng thanh niên cười:

- Bảo đảm hay đảm bảo gì, khi đó dù ông có bồi thường bao nhiêu tiền tôi cũng không sống dậy nữa để mà hưởng!

Lão giả bộ làm cao nói:

- Thì thôi! Anh cứ đi tìm chiếc khác mà thuê, ở đây tôi đã rút giá tiền xuống ít hơn những tàu khác còn gì nữa!

Nhưng chàng thanh niên nói:

- Thôi được! Với giá 500 cents đi tới Eđinburgh. Nhớ nhé!

Lão hói đáp:

- Tốt! Bây giờ khởi hành chứ?


Chàng thanh niên nói:

- Khoan! Còn em tôi nữa, nó sắp tới!

Lão hói hơi thất vọng, song lão tỏ ra bình tĩnh như không:

- Được tôi sẽ chờ em cậu!

Lão đổi chàng thanh niên từ "anh" xuống "cậu" để được thân mật hơn. Chàng thanh niên có lẽ cũng nhận ra điều đó nên khẽ mỉm cười.

Vài phút sau, một chiếc xe song mã lọc cọc xuống bến, nó chạy được một quãng thì dừng lại bởi bờ biển nhiều  cát quá, con ngựa già cúi đầu thở khìn khịt.

Người xà ích ở trong xe nhảy ra quất túi bụi vào lưng con vật khốn nạn, nó rít lên đau đớn rồi cào bốn vó cố kéo chiếc xe lết trên mặt cát.

Khi chiếc xe song mã lại gần, một thanh niên khác trông trẻ hơn thanh niên này từ trong xe nhảy xuống, anh ta kêu lên:

- John! Anh đã thuê được tàu đi Edinburgh chưa?

- Rồi Bob à. 500 cents từ đây tới đó!

- Rẻ nhỉ! Sao anh thuê cái tàu cũ kỹ thế này?

John, tên người anh, đáp:

- Hết tàu! Mấy chiếc kia đều có khách cả rồi!

Và trong khi cả hai lúi húi vác đồ đạc của họ lên tàu thì lão hói cho xăng vào bình. Sau khi khuân hành lý lên tàu xong xuôi, John trả tiền cho người xà ích rồi leo lên tàu.

Lão hói mở máy, một mình lão trong phòng hoa tiêu, chiếc "Rita" rùng mình rồi rè rè rẽ sóng lướt đi.

John và Bob ra ngoài trên sàn ca-nô. Nó tương đương với một con tàu nhỏ, cũng có boong, chỗ hóng gió đàng hoàng.

Bỗng tiếng John hỏi Bob làm lão hói giật mình:

- Em đã lãnh mandat của ba gởi ra chưa?

- Rồi! Em định lãnh tiền ngay nhưng anh bảo đến Edinburgh hãy lãnh nên em còn đem theo mình đây!

Lão hói mừng khôn xiết, lão toan làm tiền hai anh em này bằng cách khác, bây giờ nghe Bob nói, lão vừa nghĩ ra một kế thật tuyệt diệu. Lão vừa chăm chú lái, vừa theo dõi câu chuyện của hai anh em. John hỏi:

- Em định lãnh tiền ở đâu?

Bob đáp:

- Nhà băng Edinburgh chứ đâu!

John nói:

- Tốt lắm! Chúng ta sẽ có những cuộc vui chơi thỏa thích tại Edinburgh.

Bob nói:

- Ba thì ở London! Má thì ở Edinburgh. Thật là một phương trời xa cách, em cảm thấy hơi buồn!

Lão hói cười thầm:

- Buồn hay vui gì thì chúng mày cũng sắp chết đến nơi rồi, đừng hòng thoát tay lão già này!

Và lão gật gù cái đầu hói gần như trọc, cười thầm một mình.

Tàu chỉ chạy với tốc độ tối đa 50 hải lý một giờ nên anh em John có vẻ sốt ruột. Cả hai luôn luôn nhìn xuống đồng hồ xem giờ.

Gió mát rượi thổi tạt vào mặt John và Bob làm cả hai khoan khoái.

*

Khoảng 6 giờ chiều...

Chiếc "Rita" vẫn lướt sóng đều đều làm John và Bob sốt ruột. Bỗng Bob nói:

- Sao mọi lần đi, em thấy tới Edinburgh mau lắm mà bây giờ cả 3 giờ rồi sao chưa tới? Và phong cảnh trên bờ có vẻ khác lạ?

Lão hói nghe thế, nói:

- Không đâu cậu ơi! Chiếc "Rita" này chạy chậm lắm, nên tôi mới lấy 500 cents thôi! Chứ còn những chiếc tàu khác tối tân hơn họ lấy đến 1.000 hay 1.500 cents chứ chẳng chơi!

John chép miệng:

- Chán quá! Tiếc rằng không có tàu khác chứ nếu 2.000 cents tôi cũng chịu đi!

Lão hói cười:

- Thì cậu giầu mà! Chỉ có trường hợp bất đắc dĩ lắm các cậu mới đi tàu này chứ gì?

Nói xong lão hói bật cười to lên hô hố đầy vẻ bí mật và hăm dọa.

Bỗng Bob nhìn sang hai bên bờ chàng chỉ thấy toàn là màu nước biển xanh rờn chẳng thấy bờ biển đâu nữa, chàng ta hốt hoảng la:

- Chết lộn rồi ông già ơi! Bao giờ tàu cũng chạy ven biển và tôi đều thấy bờ biển, sao ông rẽ lối nào mà hai bên đều đều một màu nước xanh rờn thế này?

Lúc ấy, lão hói mới bật cười lên hô hố, lão la to:

- Hỡi hai cậu nhỏ ngu si kia ơi! Các cậu có biết các cậu đang bị lừa đưa vào hang hùm hay không?

Bob ngạc nhiên hỏi:

- Sao, ông nói gì?

Lão hói đáp to:

- Ta đang đưa các cậu ra đảo Hải-Điểu đấy! Nơi đó đã có đồng bọn ta chờ sẵn! Ha ha! Sở dĩ ta phải ăn bận rách rưới và sắm chiếc tàu cũ kỹ này để che mắt thế gian. Thỉnh thoảng, những nhà giàu lọt vào tay ta là được mang ngay tới đảo Hải-Điểu. Vài tháng sau dù nhà chức trách có điều tra, họ cũng ít nghi ngờ ta, vì ta ít rước khách lắm. Ngoài những vụ bắt cóc kể trên, ta còn làm nghề bắt người đem bán cho ngoại quốc nữa! Vì vậy hiện giờ ta có một số vốn kha khá để làm việc khác. Ha ha ha!

Thôi trước khi chết ta cho các cậu biết để mà hối tiếc, hối tiếc đã lên tàu ta. Chết xuống âm phủ đừng trách ta nhé!

Nói xong lão lại bật cười to hơn trước, tiếng cười ngạo mạn khinh thị.

Hiểu hết được sự thật, John tức muốn điên lên được, chàng lồng lộn nhưng không làm sao vào phòng máy của lão hói được vì lão khóa cửa cẩn thận, còn những tấm kính bao quanh phòng lão đều dày cộm và là thứ lính ngăn đạn.

John không vào được đành hậm hực đứng nhìn lão hói điều khiển tàu. Lão nói:

- Khi trở về đảo, các chú sẽ bị thủ tiêu tung tích bằng cách mang sang một đảo khác, giao cho bọn buôn người quyết định.

Bob thì bình tĩnh hơn John, chàng kéo John ra đằng trước boong tàu khẽ nói:

- Mình ngu quá! Mình đã nói chuyện với nhau, vô tình tiết lộ cho nó biết tấm mandat của ba gởi!

John khẽ gật đầu, nhưng chàng cũng nói thêm:

- Nhưng nếu ta không giàu nó cũng bán ta cho lũ buôn người, số mình khốn nạn thật.

Bob năm tay cương quyết:

- Dù thế nào mặc lòng! Em cũng phải chiến đấu tới cùng và nếu lọt vào tay địch thủ thì em thủ tiêu luôn tấm mandat cho nó tiếc!

Sực nghĩ tới tấm mandat John đau lòng khôn xiết. Chàng sực nghĩ tới mẹ ở Edinburgh, chàng tức giận chạy thẳng đến chỗ lão hói xỉ vả không tiếc lời.

* 

Khoảng 8 giờ...

Con tàu cũ kỹ rẽ sang một phía, trước mặt tàu là một hòn đảo lù lù, trên đảo cả hai thấy ánh đèn chớp.

Lão hói khôn lắm, lão không cho tàu rẽ vào đảo mà vòng ra ngoài bấm một hồi còi làm hiệu: Toe! Toe! Toe!

Từ sau đảo một chiếc tàu khác từ từ xáp tới, hàng chục tên cướp lực lưỡng nhảy sang, chúng hỏi lão hói:

- "Quà đây hả"? 

Lão hói gật đầu. Bọn cướp ào tới toan bắt trói anh em John, họ kháng cự mãnh liệt.

Bob xách cái cặp có tấm mandat toan liệng xuống biển liền bị hai tên to lớn tóm lấy. Chúng giật cái cặp của Bob và dùng dây quàng qua bụng chàng toan siết lại thì Bob dùng hết sức vùng mạnh, đá hậu một cái vào bụng tên toan trói, rồi Bob chạy thật nhanh nhảy ùm xuống nước, bơi thật mau.

Bọn cướp nã súng theo, có vài tên hung hăng nhảy xuống bơi rượt Bob, thành ra đồng bọn không dám bắn nữa sợ nhầm vào chúng.

Bob may mắn tìm được một hốc đá nhỏ chui lọt vào đó nằm gọn.

Bọn cướp tìm không ra, chúng leo lên ca-nô. Lão hói tức giận la hét ầm ĩ:

Ban nãy tao cố gắng không cho tàu cặp sát vào chỗ có nhiều mô đá thế này. Thế mà chúng mày để sổng mất. Đồ khốn nạn!!!

Mắng lũ tay chân một thôi một hồi, lão mới ra lệnh cho tàu vào bờ, mang theo John và tấm mandat.

John tức lắm, chàng nghĩ thầm "nếu em mình mà mang theo được cái cặp có tấm mandat thì đỡ quá!"

Đêm nằm, lão hói bắt đầu lo nghĩ: lão sợ Bob trốn về được  báo với nhà chức trách tới thì nguy! Song một điều làm lão hơi yên tâm: Ngày mai lão ra lệnh cho bọn đàn em thâu lượm tất cả những chiếc thuyền trong đảo để cho Bob không làm sao trốn khỏi đảo được. Và lâu dần, Bob sẽ phải ló đầu ra vì: "Đói thì đầu gối phải bò".

*

Sáng hôm sau, lão hói thơ thẩn ra bờ bể xem lũ đàn em thâu dọn những chiếc thuyền. Lão hỏi:

- Đủ không? Bữa nọ tao bỏ ta 50 chiếc!

Tên chuyên việc kiểm soát đáp:

Còn có 45 chiếc, 3 chiếc bị hỏng mang vào kho, còn một chiếc mất tích!

Lão thất vọng, thế là Bob đã thoát mất rồi và lão bắt đầu la hét, chửi rủa lũ đàn em om sòm.

Trong lúc lão đang la hét lũ đàn em thì một tên từ xa đi tới, nó giơ ra một mảnh vải dài ướt đẫm nước và máu, nói:

- Thưa ông! Tôi bắt được 2 mảnh vải này tấp vào bờ, có lẽ tên kia bị cá mập ăn thịt!

Lão hói cầm lấy xem xét, lão bảo:

- Mang thằng John ra đây hỏi xem có phải mảnh áo của em nó không?

Hai tên lực lưỡng kéo John ra. Lão hói hất hàm hỏi:

- Phải mảnh áo này của em cậu?

John nhìn kỹ, chàng giật mình hoảng hốt:

- Trời! Đúng áo của em tôi rồi! Hôm qua nó thay chiếc áo ca rô này!

Khi John nhìn xem mảnh quần thì chàng tin rằng em mình bị nguy hơn. Lão hói xoa hai tay vào nhau hả hê nói:

- Thôi! Đỡ rồi, em chú mày đã vĩnh viễn nằm trong bụng cá mập rồi.

Bỗng một đợt sóng xô tóe vào bờ mang theo một chiếc giày và một mảnh gỗ thuyền. Lão hói nhặt lên xem: Ở mảnh gỗ có khắc chữ Paull Harvey, lão càng mừng hơn, lão nói:

- Mảnh gỗ này dính ở thuyền thằng Paull Harvey đây mà! Phải chiếc thuyền thằng Paull mất không hả?

- Phải!

Còn chiếc giày nữa, John xem xét là đúng của Bob, chàng bỗng trở nên điên cuồng vùng thoát khỏi tay hai tên lực lưỡng rồi nhảy xổ lại tống cho lão hói một đấm nên thân vào cằm làm lão bật ngửa. Nhưng một tên to lớn khác đã xông vào và theo lịnh của lão hói nó nện những cái đấm nặng như núi vào cằm cho tới khi chàng bất tỉnh nhân sự. Lão hói ra lịnh đem giam John lại.

*

Sớm tinh sương hôm sau nữa, lão hói mới đem tấm chi phiếu 1000 dollars cướp được của John đến Edinburgh để lĩnh. Lão không dám cho đàn em đi nhận sợ nó cuỗm luôn tiền mà đi thì phiền. Bởi lẽ, những tên mà lão thu nhận đều là những tay lưu manh đầu trộm đuôi cướp cả.

Khi tới Edinburgh lão hói đi thẳng tới nhà băng, lão thản nhiên đi vào đến chỗ người giữ két bạc, lão đưa ngân phiếu ra và đồng thời... Bên ngoài một chiếc xe cảnh sát đỗ két tới và hơn năm nhân viên cầm súng bước tới tóm cổ lão hói...

Bàng hoàng khôn xiết, lão lắp bắp:

- Tại sao? Tại sao các ông lại biết tôi là ai? Mà... mà bắt?

Bob thản nhiên xuất hiện làm lão hói hết hồn, lão nói:

- Trời! Ta bị lừa! Có phải mày cố tình làm những mảnh áo quần, chiếc giày để lừa tao?

Bob mỉm cười đắc chí:

- Đúng! Bữa trước ông lừa tôi mang về đảo thì bây giờ tôi lừa ông có thế thôi! Giờ các ông mau mau đi giải thoát cho anh tôi, mang theo cả lão già quỷ quyệt này nữa!

Vẻ tức giận hiện ra trên nét mặt, lão hói nói:

- Khốn nạn! Đồ ranh con! Rồi mày sẽ biết tay tao!

Bob nói:

- Thôi đi lão già ơi! Ông đã lọt vào tay cảnh sát rồi thì đừng hòng thoát!

Nói xong chàng liền mượn chiếc còng và tự tay còng lão hói vào.

*

Chiều hôm đó, hơn 90 chiếc ca nô của cảnh sát rẽ sóng tiến về đảo của lão hói. Sau những cuộc tấn công, bọn cướp biết không cầm cự nổi nên đầu hàng. Bob nóng lòng cứu anh nên chàng xô lão hói đi trước, bắt lão chỉ chỗ giam Bob.

Lão hói chỉ tới một cánh cửa bằng sắt kín mít. Bob bèn dùng chia khóa lão đưa để mở cửa ; khi cửa mở, Bob xô lão vào trước đề phòng có cạm bẫy thì lão lãnh đủ.

Không có gì! Bob thong thả bước vào, chàng thấy John nằm mê man dưới nền đất.

Chàng tiến tới cõng John và đẩy lão hói ra. John được cứu tỉnh, chàng vui mừng vô kể và ôm chặt lấy em. Sau cùng chàng quay về phía lão hói, loi thẳng vô mũi lão một đấm để trả thù nhưng cú đánh của tụi đàn em lão.

Đoàn cảnh sát trở về. Hai anh em John, Bob trở lại Edinburgh gặp mẹ.

Bob viết thư cho cha biết tin này và chàng cho biết ba mẹ con vẫn mạnh như thường.

Ba mẹ con Bob, John sống những ngày sung sướng tại Edinburgh.

Cha của Bob, John cũng viết thư tỏ ý vui mừng về đứa con trai can đảm.


THIỀU QUANG   


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 46, ra ngày 1-6-1966)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2019

NGỌN GIÓ PHIÊU LƯU - Nhã Uyên














Khi mặt trời lên trong buổi sáng mai

Là lúc bắt đầu của một ngày dài

Gió muốn điểm tô cho một ngày mới

Sống động huy hoàng  rực rỡ tương lai


Khi đã thoát ra khỏi đám sương mù

Gió lại  bắt đầu một chuyến viễn du 

Qua biển mênh mông ̣qua vùng sa mạc

Qua núi đồi cao  qua chốn hồ thu


Khi nắng vừa lên  thì gió  lướt nhanh

 Mộng ước đầu ngày quá đỗi mong manh

Từ một góc trời  xa xôi  nào đó

Dừng lại khu vườn hoa lá  mướt xanh


Gió cất tiếng reo  lao xao nhẹ nhàng

Lay động cành hoa  tỉnh giấc mơ màng 

Lóng lánh sương đêm hoa khoe hương sắc

Xinh xắn cười duyên theo ánh nắng vàng


Gió tìm  bình yên  bên những nụ hoa

Tìm chút yêu thương tưởng đã nhạt nhòa

Tìm chút  nồng nàn  hương hoa trong gió 

Rồi  đêm lại về  cuốn gió  bay xa...


                                                                Nhã Uyên

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2019

TRỜI MƯA THÁNG SÁU - Đỗ thị Hồng Liên













Ngày đã nghe buồn về
Sáu tháng dài lê thê
Vừa đủ tàn niên học
Và, nghe rồi tiếng ve

Bé cặp vở trên tay
Che bóng nắng một ngày
Anh muốn thành bóng mát
Lối về đường không ngay

Bỗng ngập tràn trong hồn
Từng nỗi nhớ môi hôn
Lần cuối cùng chung bước
Đường có nghe gần hơn?

Bé thấy gì trên cành
Từng chiếc lá màu xanh
Rắc vào hồn bóng mát
Chân qua đó sao đành

Anh muốn đường mãi dài
Ngày cuối cùng chia hai
Bé không còn qua đó
Tóc buông dài ngang vai

Cho anh hoài ngẩn ngơ
Áo màu xanh bay mờ
Trong sân trường im nắng
Mắt nhìn nhau là thơ

Tháng sáu trời vội buồn
Anh về thương sao hôm
Tay ôm choàng nắng vỡ
Thương bé, trăm lần thương

Sẽ nhớ hoài bao lần
Thăm bé chiều bâng khuâng
Anh đi ngang phố chợ
Tháng mấy trời mưa giăng

Trên lối cỏ ngủ vùi
Anh và bé chung đôi
Trưa nay trời rất nắng
Chung cả nỗi ngậm ngùi

Đã qua rồi một năm
Trên lối về cách ngăn
Bé chẳng là chim sẻ
Ngủ trong lòng tay anh

Ôi mùa mưa ngang vai
Mắt bé sầu giọt dài
Anh nghe lòng nức nở
Còn thấy nhau ngày mai?

Bé ơi chiều một mình
Về với ngón chân xinh
Trong mùa xưa im tiếng
Nghe hương tình lênh đênh

                        ĐỖ THỊ HỒNG LIÊN (BMT)

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 27, ra ngày 5-6-1972)

Bìa của Vi Vi : Vườn đời


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2019

KHI EM VỀ - Trần thị Phương Lan













Chân em bước êm trong vườn mùa Hạ
Em chợt nghe hoa nắng chảy say mê
Nơi này xưa vẫn chờ chân em đó!
Nhớ không em? Rồi mai sẽ đi về!

Chim hót trong miền quê hương ngày đó
Khi đùa vui trong khúc hát giao mùa.
Chân em bước ngày nào hoa nắng vỡ
Áo em xinh còn nguyên nét thẹn thùa.

Em muốn khóc khi chiều nao hoa nắng
Quắt quay trong trí nhớ của ngày xa
Chim vẫn hót trong khu vườn thơ ấu
Dễ thương, và nghe vẫn cứ ngây ngô.

Quê hương ngày xưa ngút ngàn thương nhớ
Khi em về, khi mái tóc còn xanh.
Nghe trên cao, chim vẫn hót vô tình
Em lúc ấy đi tìm ngày thơ ấu.

                                   TRẦN THỊ PHƯƠNG LAN
                                        (Bút nhóm Hoa Nắng)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 177, ra ngày 15-5-1972)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

NGHỈ HÈ TRÊN NÚI - Minh Quân


Mỗi trưa, mỗi chiều hễ ngồi vào bàn ăn là cả gia đình tôi bàn tán xôn xao, sôi nổi về vụ nghỉ hè sắp đến.

Ba tôi bao giờ cũng chậm rãi tuyên bố sau hết, sau khi bọn tôi thay nhau góp ý cả mươi phút trước. Ông nói:

- Vẽ chuyện. Nghỉ hè, đổi gió là khi nào người ta ở chỗ chật chội, không đủ không khí và làm việc nhiều kia. Đằng này, học hành sơ sịa, qua loa, nhất là thằng Vũ: mỗi ngày lên học tận Thủ Đức, rộng rãi, mát mẻ thế đó, bày đặt làm chi...

Mẹ tôi ngừng nhai, sắp sửa phản đối thì ông đã tiếp:

- Còn con Thu: đi cắm trại cả tuần dưới Vũng Tàu mát mẻ chán ra rồi, đi đâu cho mệt?

Hai người lớn tiu nghỉu như vừa bị ăn trứng ngỗng ở lớp, chỉ mình tôi là can đảm lên tiếng:

- Còn con thì được đi phải không ba?

Ba tôi lập nghiêm tức thì:

- Ai nói con được đi?

Ấy! Ba tôi có tính hay quên bất ngờ những điều chính ông đã hứa. Nhưng lũ tôi không bao giờ để cho ba quên luôn. Chúng tôi nhắc lại cho ông nhớ và... đồng thời mẹ tôi cũng giúp chúng tôi làm cho ba giữ tròn chữ Tín. Tôi đĩnh đạc trả lời:

- Thưa ba, ba hứa cho con đi mà.

- Ba hứa hồi nào đâu?

- Ba hứa hôm con nạp đơn thi vô Đệ Thất, ba quên sao? Ba nói: "Con Hà coi cố học thi đậu vô Đệ Thất, ba sẽ cho đi nghỉ hè một tháng".

- Mà con đã đậu chưa? Đã thi chưa?

Lại ung dung, tôi trả lời:

- Thưa ba, chưa thi, chưa đậu, mà con sẽ thi và sẽ đậu.

- Chắc không?

- Thưa ba, chắc!

- Ồ, vậy thì tốt. Hãy cứ lo học thi đi, rồi sẽ hay.

Thằng Minh tiếp liền:

- Con không đi, con ở nhà với ba. Ở nhà coi ti-vi sướng hơn.

Bé cũng phát biểu thêm:

- Con đi! Con đi tắm biển sướng hơn.

Mẹ vẫn chưa lên tiếng. Ba tôi có ý chờ đợi, sau cùng ông quay sang mẹ tôi, hỏi:

- Còn mợ thế nào? Có đi không? Tôi thấy năm nào mợ cũng kêu: "mệt quá! mệt quá!" sau khi đi về, nên năm nay tôi có một sáng kiến cốt cho mợ khỏe...

- Nghĩa là?...

- Nghĩa là mợ đừng đi.

- Dễ nghe chưa? Tôi hầu hạ cha con anh quanh năm suốt tháng, mà đến mùa hè cũng không cho... người ta nghỉ ngơi sao? Anh đọc sách nào nói rằng nhà ở không chật chội thì khỏi cần nghỉ hè? Còn về chuyện làm việc: anh thấy tôi làm việc ít phải không? Đến như lũ trẻ thì hè là phải cho chúng nghỉ chứ, lại viện cớ này cớ nọ...

- Là người ta giúp ý kiến, còn muốn đi thì cứ đi. Nhưng tôi muốn mợ đi nghỉ một mình kia. Để lũ nhỏ ở nhà. Chỉ mình con Hà được đi sau khi đậu.

- Á... à... lại có luật mới... Tôi không đi một mình. Tôi đi với con kia.

- Theo tôi, học giỏi, đậu sau khi thi, có nhiều nết tốt, có điều đáng khen mới được đi... nghỉ hè. Mợ cứ tạo thói quen hư cho con...

- Như vậy, nghỉ hè theo ông là một... giải thưởng phải không? Nghỉ hè mà là tạo thói hư... Này, thôi thì ông cứ đặt luật lệ, nhưng mà mỗi năm tôi cứ đi chơi với con tôi. (Mẹ nhìn Minh nghiêm nghị) thằng bé kia! Còn toàn xương với da, phải đi chơi với mẹ, đừng theo cái ti-vi mà khổ. Nói không nghe, mẹ bán ti-vi đó!

Nhùng nhằng, nhũng nhẵng hoài như vậy cho đến khi tôi thi, cho đến khi tôi đậu. Ba tôi giục:

- Mẹ con coi sửa soạn đi cho rồi. Cuối tháng bảy rồi.

Mẹ tôi còn nán lại đ đôi ôi hôm vì một vài công việc nọ kia chi đó, chưa đi. Tôi sốt ruột quá, mà không dám giục, vì động có giục, mẹ tôi nói:

- Nếu con vội, thì sao không đi với thằng Vũ, con Thu?

Quên, xin thưa rõ với các bạn là mẹ tôi đã tranh đấu cho chị Thu với anh Vũ được đi chơi nửa tháng ngoài bà tôi ở Phan Rang. Hai người đã về từ ba hôm nay, cả hai đều tỏ ra vui vẻ, tươi tỉnh và nhớ ơn mẹ tôi. Vì nếu mẹ tôi không khi mềm dẻo, khi cứng rắn mà tranh đấu cho thì có là sang năm mới được đi.

Tôi tự tìm thú vui trong khi chờ đợi. Tôi nhủ thầm: "chờ đợi cũng có cái thú của sự chờ đợi. Càng kéo dài ngày đi càng vui thêm. Vội gì".

Tôi lo chuẩn bị cho chuyến đi: áo quần lạnh, (đi Đà lạt mà) vài cuốn sách mang theo. Lại còn được lệnh mẹ tôi: sửa soạn áo quần cho hai em. Bé thủ thỉ bên tai tôi suốt ngày về chuyến đi sắp tới, về những viên kẹo bọc trong giấy bóng mầu trên máy bay, về mấy cô chiêu đãi viên mặc áo xanh lơ, có thêu đầu rồng trên cổ áo. Minh thì vẫn nằng nằng:

- Con không đi, con ở nhà với ba.

Tôi dọa mãi nó không lay chuyển. Còn mẹ thì rằng không có nó, mẹ không yên tâm, thế nào cũng phải có nó. Mẹ biết dọa không xong nên mẹ đổi chiến lược, mẹ nói:

- Con không đi với mẹ, mẹ buồn lắm, con không thương mẹ sao? Không nhớ mẹ sao?

Minh chưa kịp trả lời, chị Thu đã đánh một đòn tâm lý rất ác:

- Ừ, được rồi! Minh không đi với mẹ, Minh ở nhà, hễ có đánh nhau lại lạc như hôm tết thì đừng khóc nghe không? Nói cho biết.

Các bạn có ngờ không? Câu dọa dẫm đó làm Minh xúc động, đổi ngay ý kiến, song cu ta còn lưỡng lự, nó hỏi mẹ tôi:

- Con đi với mẹ! Mà ở Đà Lạt có ti-vi không?

- Sao không có?

Anh Vũ trả lời bừa đi. Mẹ ôn tồn nói:

- Không. Nhà cô trên đó không có ti vi, đừng gạt em làm chi. Hãy để cho nó...

- Con đi! Không có ti vi con cũng đi, con thương mẹ!

Nét mặt mẹ rạng rỡ hẳn lên:

- Hay lắm! Mẹ biết con sẽ đi với mẹ, con đi là phải. Ở nhà không ai săn sóc, lỡ đau ốm, mẹ đi không yên.

*

Chiều đó, trong bàn ăn, chị Thu báo cho ba hay quyết định của Minh. Ông không tin, ông cười mà rằng:

- Tao thách mẹ con mày đó, nó không đời nào...

Nhưng cu ta đã xác nhận nguồn tin trên là đúng:

- Con chịu đi với mẹ rồi, ba.

Làm ông hơi... thất vọng, song ông cũng cố giấu sự thất vọng đi bằng một nụ cười gượng (tôi biết ông cưng Minh nhất nhà) mà hỏi nó:

- À, như vậy con không ngủ trên lầu với ba, hả?

- Con về, con ngủ chớ.

- Vậy con không coi ti vi hả?

- Con về, con coi chớ.

- Vậy ai nhổ tóc bạc cho ba?

- Con về, con nhổ chớ!

- Con không thương ba hả?

- Dạ, thương chớ. Mà con cũng thương mẹ. Mẹ nói con phải đi cho khỏe để nữa về học.

- Thôi được! (giọng ba ỉu xìu như bánh đa ngâm nước) tao không cần! Nhưng mà tao chỉ sợ mẹ mày mệt, đem theo làm chi nhiều, một đứa đủ rồi.

- Sao được! Ở nhà với ông hai đứa lớn rồi. Phần tôi ba đứa nhỏ. Đứa nhỏ ở nhà không tiện.

- Tao bao giờ mà thắng được mẹ mày!

Ông giơ hai tay lên trời, nói thêm:

- Mẹ nói! Lúc nào cũng mẹ nói, y như mẹ mày là ông Khổng tái sanh!

Tôi có thì giờ soạn thêm vài cuốn sách, xin của mẹ một lọ nước hoa tí teo, một ít bạc giấy mới (loại một đồng, loại năm đồng, mười đồng và hai chục đồng) khăn tay mới... cái gì cũng mới...

Suốt đêm tôi ngủ chập chờn, nôn nả chờ sáng lên tàu. Uống có cốc sữa mà cũng không cạn, khác hẳn ngày thường. Chả là cái vui nó chẹn ở cổ mình mà lại.

Mẹ tôi giao cho mỗi đứa một món nhỏ để xách, cho ra vẻ tụi này trách nhiệm. Không như năm ngoái, tôi tỉnh táo nhìn phong cảnh bên ngoài, năm nay tàu vừa cất cánh độ một nhoáng là tôi không chống được với cơn buồn ngủ, thế là nó thắng tôi: tôi ngủ thẳng cánh, ngủ thực sự cho đến khi mẹ lay nhè nhẹ mới choàng dậy.

Trời mưa lất phất, chưa ra khỏi bụng máy bay mà đã nghe cái rét gây gấy luồn vào hỏi thăm mình. Vừa may, mẹ tôi giở xách tay ra phát cho mỗi đứa một cái áo len.

Phi trường lác đác đôi chục người, rộng thênh. Mẹ tôi thò đầu ra cửa xe, vươn vai thở mạnh không khí khoáng đãng một cách thích thú. Cả bọn làm theo. Đợi một lát khá lâu, xe ca mới chạy. Phong  cảnh hai bên đường trông mát cả mắt: núi đồi thoai thoải, suối chảy ngoằn ngoèo, hiện rồi mất, mất rồi hiện ra hai bên đường. Vườn ngô, vườn bắp cải. Đồi thông. Nệm cỏ. Nước mưa từ trên cao tuôn xuống các con suối, bị đá chặn lại, sủi bọt trắng ngần. Tôi ao ước thầm: giá mình được đầm chân xuống đó thì... phải biết!

Minh và Bé thiu thỉu ngủ. Cái tụi gà mờ! Chả biết thưởng thức cảnh đẹp gì cả.

Tôi thấy mẹ tôi có lý khi bà cương quyết tranh đấu để chúng tôi được nghỉ hè ở một nơi xa, cách Saigon hàng dặm như thế này. Và tôi cũng tự khen tôi đã biết xin đi Đà lạt, dù Đà lạt không có biển – mẹ tôi thích ra biển, vì bà ưa bơi lội, nghĩa là mẹ tôi đã hy sinh sở thích vì tôi – Chừng về Sàigòn, tụi bạn hỏi:

- Năm nay mày đi nghỉ hè ở đâu?

Tôi sẽ ngẩng đầu cao lên, ỡm ờ nói:

- Tao lên núi!

Tao lên núi! Nghe có tuyệt không? Mê đi chứ lại. Ra bể mà làm gì? Xoàng quá! Vũng Tàu đó, bể gần gụi quá, muốn đi lúc nào mà chả được.

Nghĩ ngợi lan man thế cho nên xe ca vào ga lúc nào chẳng hay. Mẹ trông trước trông sau cố ý tìm cô chú.

Hành khách nhốn nháo chen nhau xuống, gọi nhau ơi ới.

- Kia rồi! Cô chú kìa!

Tôi còn ngơ ngác thì cô chú đã chạy lại. Cả lũ vòng tay ngay trên xe ca. Thật là lễ phép không nhằm chỗ: cản trở lưu thông!

Nhà cô chú ở dưới một thung lũng hơi xa thành phố, tận Chi Lăng. Mái nhà thấp hơn mặt đường. Mỗi bận xuống, chúng tôi cứ chúi mũi như bị xô, vui đáo để! Nền xi măng, cửa kính có dăm gốc thông già, vài đôi bồ câu, một chó, một ao cá (nhưng không có mống nào) một chuồng thỏ, một bầy gà, một giàn su, vài bụi hồng dại nở đỏ ối, thơm ngan ngát và đặc biệt nhất là trên một chục vồng lang.

Nắng ở Đà Lạt không nóng mà ấm.

Nhưng thật là xui xẻo cho tôi: chỉ được có ngày đầu. Cả năm ngày tiếp trời cứ mưa rả rách không ngừng. Mẹ cũng cố cho chúng tôi đi phố, nhưng cứ mỗi bận đi về là mẹ phải thay, giặt một lô quần áo, phơi cả ba hôm chưa chịu khô cho!

Mẹ lại đi chợ mua rất nhiều thức ăn ngon cho chúng tôi và các con cô chú. Trong những lúc mẹ và cô đi chợ, chúng tôi chơi đùa trong nhà chán quá nên kéo nhau ra, mãi chạy nhảy cười đùa không nghe, không thấy lạnh. Cu Minh thấm mưa, em Bé cũng thế, vì chúng cởi phăng áo len ra, cho đến lúc mẹ về, đứa nào môi cũng tím ngăn ngắt, da tái lại. Tôi bị rầy một trận nên thân.

Chú vẫn đều đặn đi làm. Mẹ hứa cho chúng tôi đi chơi Hồ Xuân Hương nhưng mãi vẫn chưa đi được. Cứ diện vào là trời đổ mưa.

Ngày thứ sáu, ông mặt trời he hé một tị, lại gặp ngày lễ, chú B ở nhà. Mẹ rủ:

- Đào khoai chơi, tụi bay!

Thế là cuốc xuổng được mang ra. Cu Minh, Bé và các con cô chú cũng được dự. Khoai vườn nhà cô chú củ nào cũng to cự đại, có củ bằng cả cái hoa chuối. Mẹ đào mải mê. Cu Minh lại thừa dịp cởi áo len ra, tuột luôn đôi dép, tất cả đều làm y như nó. Mưa loáng thoáng trong lúc mẹ ra giếng xách nước với cô. Mưa loáng thoáng trong lúc mẹ lo dóm bếp luộc khoai. Tôi cũng quên phắc hai đứa. Thì bạn tính, ở nhà, tôi có phận sự về chúng nó đâu mà bảo nhớ? Tôi có phải chị Thu đâu kia chứ? Khi mẹ sực nhớ, réo gọi hai con út của mẹ vào thì môi đứa nào cũng tái ngắt, vậy mà chúng đã vào ngay đâu: chúng còn chạy vòng quanh ngoài vườn, dưới mưa, sau con chó Li Li hai vòng liền nữa đã. Áo chúng ẩm cả nước.

Hôm sau, chúng hâm hấp sốt. Ấy là mẹ đã lo xa: xức dầu khắp người, mặc áo len, mang tất và bắt chúng lên giường đấy.

Cu Minh lại húng hắng ho. Mẹ dầm mưa đi mua thuốc. Không đi bác sĩ. "Mẹ biết chữa mà" Mẹ nói cứng nhưng vẫn không giấu được nỗi lo ngại. Uống một tí, thêm vài hườn tọa dược. Không xài trụ sinh. "Thuốc độc, không xài". Vẫn lời mẹ tôi tuyên bố.

Hai hôm sau, hai đứa hết sốt. Ho chỉ còn sơ sơ. Tôi dậy sớm, vừa mới ra bếp quay vô bỗng lên cơn đau bụng. Mẹ lại xoa dầu, đắp chăn, vẫn nói cứng:

- Không can gì.

Một chốc thấy đơ đỡ và nghe đói, mới uống cốc sữa, vừa nằm xuống thì nôn ra hết. Và cơn đau tăng lên. Lại sốt. Mẹ cuống lên, cô tỏ ý lo muốn đi bác sĩ, song mẹ tôi thấy trời mưa, nhà ở nhằm chỗ vắng kêu xe không được, nên lại cố chờ đến trưa. Ăn tí cháo vào buổi xế cũng nôn ra. Tôi run bây bẩy. Nhưng đau bụng thì hết rồi. Mẹ nói:

- Nếu đến chiều mà không bớt thì phải tính...

May sao, chiều đó tôi bớt. Ăn cháo không nôn nữa, không sốt và cũng không nghe đau bụng. Cả nhà yên tâm. Ra mẹ tôi cũng khá mát tay.

Đêm, chú B. phải trực ở sở. Tôi nằm trong chăn dày, không ngủ được, lắng tai nghe những tiếng động bên ngoài. Gió vi vút trên ngọn thông. Gió ù ù tuôn vào thung lũng. Gió o o o vào khe cửa hung bạo, dữ dội. Tôi hé mắt nhìn ra khung cửa kính, thấy những cành thông bị gió lay dặc ngả nghiêng, bóng cây quét lên mặt kính nom tựa bóng người qua lại trước nhà, tôi thêm hãi. Thỉnh thoảng, con Li Li sủa hóng lên vài tiếng, rồi ông trăng rằm cô độc buồn nản thế nào lại chui tọt trong tảng mây dày. Và mưa, mưa quật những ngọn roi nước vào mặt kính kêu lên răng rắc, mấy con bồ câu ngoài chuồng giở chứng lại gù gù lên một loạt, nghe mới não lòng làm sao!

Đã thôi đâu: mình đang trong tình trạng kinh hãi như thế, bỗng đâu tiếng súng lớn vang lên ỳ ầm, ỳ ầm dội vào lòng thung lũng và làm những mặt kính rung chuyển dữ dội. Rồi, trời ơi! Có tiếng đập cửa lớn thình thịch (tận bây giờ nhắc lại tôi còn nghe trống ngực đổ dồn) làm tôi rúm ró cả người. Tôi kêu thầm: "Trời ơi! Chú B! Chú đi trực làm chi ác vậy, chú ơi! Nhà toàn đàn bà con trẻ cả, biết làm sao đây, hả chú?"

Có tiếng mẹ tôi gọi cô T. bên cạnh:

- Cái gì vậy hở cô T.? Ai gọi cửa giờ này?

Tôi hồi hộp tợn, lắng nghe câu trả lời của cô T. từ phòng trong:

- Không sao đâu chị. con Li Li đó mà.

- Con Li Li? Nó đập cửa làm chi vậy, thưa cô?

Tôi cố trấn tĩnh hỏi. Cô T. cười khúc khích:

- Con quái đó có tật hễ nghe tiếng súng là sợ, đòi vô ngủ trong nhà. Hà sợ phải không?

- Ai không sợ? Chị đây còn hãi nữa là con nít. Này! Chỗ cô ở có yên không?

- Vững như bàn thạch. Mọi hôm đánh nhau kịch liệt mà cũng chỉ đánh ở cây số bốn. Chị cứ ngủ đi, đừng lo.

- Đừng lo! Này, tôi cho cô hay, nếu tiếng súng cứ tiếp tục thế này thì ngày mai mẹ con tôi chuồn gấp. Ở Sài Gòn đã nếm rồi, không ưa đâu. Lên đây chơi chứ không phải lên đây nghe súng đâu đấy, nhá?

- Em đã bảo chị đừng sợ, mình bắn đi đấy mà.

- Mình với đầu...

Mẹ tôi chưa dứt lời, tiếng súng lại vang dội lên, to hơn, rền lâu hơn và cửa kính gần như sắp vỡ tan, rồi xa xa có tiếng súng liên thanh giòn giã nổ.

*

Hai ngày nữa chậm chạp trôi qua. Vẫn mưa, vẫn có tiếng súng ngay từ buổi chiều. Con Li Li vẫn giữ cố tật, đập cửa bất cứ giờ nào mỗi lần nghe tiếng súng. Mẹ tôi vẫn lăng quăng: mang áo quần ra được hai phút là lại phải mang vào vì ông mặt trời tai ác cứ he hé hai phút lại trốn biến sau mây, như ý muốn chơi trò cút bắt.

Hình như đánh nhau ở một chỗ nào gần đó, không quá nhà ba cây số. Hình như một chỗ tu hành bị tấn công. Hình như...

Ba đứa chúng tôi đều đã mạnh. Mẹ con chúng tôi đều chán Đà Lạt đến tận cổ, cũng chỉ vì các con cô chú tôi quyến luyến quá, không nỡ rứt mà đi, chứ thật ra muốn lên tàu tức khắc.

Tôi hối hận vì đã chọn nhầm chỗ nghỉ mát. Mẹ đăm chiêu họp chúng tôi lại mà rằng:

- Các con muốn xuống Phan Rang không?

Phan Rang! Thoạt nghe, tôi đã nhớ đến biển Ninh Chữ, đến vườn mận chĩu quả của bà tôi, đến món chè đặc biệt của dì tôi và đến vô số món quà của các bạn mẹ tôi. À! Sao tôi ngu thế, không nghĩ ra từ trước? Phan Rang chắc không bao giờ có cái lối mưa dai dẳng kỳ quái như trời Đà Lạt. Thế là chúng tôi vui vẻ tán thành ý kiến của mẹ tôi.

Từ giờ phút đó, chúng tôi chỉ ngong ngóng đợi cậu tôi từ Đơn Dương mang xe lên đón về Phan Rang. Trong chờ đợi, chúng tôi cũng thấy náo nức niềm vui.

Ra đúng như người ta nói, con người chỉ sống vui trong hy vọng!

Chiều thứ bảy, cậu tôi về. Kể sao cho xiết nỗi mừng: nhờ có xe cậu, chúng tôi được dạo qua một vòng phố phường Đà Lạt, dù phố phường đó vẫn như giăng mắc trong màn nước chẳng có gì là thú vị.

Theo lời cậu dặn, chúng tôi sửa soạn sẵn, sáng hôm sau, cậu mang xe lại đón để xuống Đơn Dương.

Cơm chiều xong, chúng tôi tụm lại nô giỡn chán chê, chẳng bị người lớn la rầy chi cả vì là cuộc vui ngày chót. Mẹ thì hí hoáy cắt áo cho cô T.

*

Xe rộng lớn, nhưng vì có hơi đông người, vả lại là những người lạ nên chúng tôi phải giữ ý không dám đùa cười tự do như những bận đi cùng với cậu một mình. Tôi đã hơi chán phong cảnh: lại đồi thông, nệm cỏ, giòng suối v.v... Độ hơn một giờ thì đến Đơn Dương. Đồi trà ở Đơn Dương mới đẹp làm sao. Tôi thề là tôi chưa từng thấy vườn cây gì mà đẹp thế: xanh rờn, đều đặn, thoai thoải từ cao đến thấp trông mát mắt không thể tả!

Cậu cho ghé vào nhà khách của sở ở Đơn Dương nghỉ, rửa mặt và uống nước rồi lại lên xe. Trời bắt đầu bức. Chúng tôi tuột hết áo len ra. Đường xấu tệ: Chỗ lồi chỗ lõm, vô số ổ gà. Gặp một chiếc xe ngược chiều là bụi đỏ tuôn vào mù mịt, dù đã lên kính nó cũng chui tọt vào làm mọi người ho sặc lên.

Xe cứ chạy vòng quanh như đường trôn ốc, tôi sốt ruột ngó ra ngoài xe thấy mấy cái ống dẫn nước của đập Đa Nhim ngay trước mắt mà mãi vẫn không tới! Mồ hôi tuôn đẫm áo, nực quá thể! Tôi nhắm mắt lại cố ngủ cho quên nỗi nhọc đường dài.

Thế rồi nó cũng qua đi: 11 rưỡi chúng tôi đến Krong-pha. Mấy nhà khách của sở ở đây lại còn đẹp xinh hơn trên Đơn Dương nhiều. Có hồ bơi cho trẻ con, có hồ bơi cho người lớn. Có sân tơ nít. Nhà nào trước sân cũng có dăm cây trứng cá, trái đỏ ối làm chúng tôi thèm rỏ dãi ra.

Ăn uống xong phải đi ngủ một giấc. Dậy tắm rửa rồi được ra hồ bơi. Cậu cho xả hết nước cũ, chùi hồ sạch sẽ cho nước mới vào, chúng tôi tha hồ nghịch phá. Lại ước ao: giá nhà mình có một hồ bơi như thế này! Mấy ông bạn của cậu rủ chị em tôi:

- Nào các cháu có ưng đến nhà máy coi không?

Còn gì bằng? Thật là một dịp hãn hữu. Nhưng chúng tôi còn muốn được voi đòi tiên, nghĩa là nằng nằng kỳ kèo mẹ cũng đi nữa, thế mới vui. Mẹ cũng chiều chúng tôi.

Nhà máy điện Đa Nhim thật lớn, đặc biệt nhất là những phòng máy điều khiển ở tầng trên: sàn lát cao su êm, trang bị máy lạnh (lúc chúng tôi có mặt tại nơi thì máy hư nên không lạnh nhưng mà vào trong mát rợi) những cái máy điện, cái nào cũng như một chiếc tủ đứng lớn tướng, cắm chằng chịt dây điện và vô số ngọn đèn mầu xanh đỏ, trông y như mình lạc vào một cơ quan bí mật của một cơ sở khoa học gián điệp nguyên tử tây phương trên màn ảnh!

Tầng dưới chứa những máy móc to kinh khủng. Tôi ngạc nhiên không hiểu người Nhật họ mang những máy này sang xứ mình bằng cách nào. Đứng từ cao nhìn xuống thấy máy nào cũng to trên sức tưởng tượng của mình.

Bậc thang lên xuống rộng, phẳng, đá mài hoa bóng nhoáng. Bên ngoài nhà máy thì là một khoảng sân rộng lớn, trồng cơ man là cột điện, dây chằng chịt như những trạm biến điện ở Thủ Đức. Núi ngay sau lưng nhà máy. Nhìn lên đó, mình nom thấy rõ hai đường ống dẫn nước và thấy cả khúc ống bị vỡ. Cậu cắt nghĩa cho chúng tôi biết rằng ống ấy vỡ vào ban đêm, nước chảy băng lôi theo cát, đá và cát đá làm lấp hết một nửa nhà máy. Bây giờ đường ống vẫn chưa nối lại được, song người ta đã khóa đầu "van" phía trên... Tôi chưa bằng lòng lắm với lối giải thích đó, toan hỏi cậu cho rõ, nhưng ngay lúc đó có một người lính tiến vào, tay anh ta như có vẻ bị dập nát (không phải vì đánh nhau mà vì ngã cây thì phải) nên cậu phải lo cho xe chở anh ta đi cứu cấp. Thế là đành hiểu nửa chừng.

Trên đường trở về, tôi thấy từng tảng đá to bằng bằng cả một cái bàn nằm lăn giữa đường. Hỏi thì cậu bảo đó là đá bị nước cuốn hôm vỡ ống mà nhân viên nhà máy chưa thu dọn kịp. Ghê không?

Krong-pha nóng kinh khủng. Thật là kỳ diệu: cũng là đất nước Việt Nam cả cách nhau có mấy giờ đồng hồ xe chạy mà Đà Lạt thì rét căm căm còn đây thì nóng như không khí có lửa vậy.

Tối đó, chúng tôi ăn cơm xong là lo súc miệng, chải răng rồi đi ngủ sớm. Cậu và mấy người bạn tỏ vẻ ái ngại vì không có xe để đưa chúng tôi đi Phan Rang. Song mẹ vui vẻ cảm ơn tất cả và thêm rằng đoạn đường từ đây xuống Phan Rang mẹ có thể đi xe đò, vì đã hết dốc đèo nguy hiểm như trên kia.

Cậu cho người đi mua vé trước và dặn họ sáng sớm đến đón mẹ ra xe. Cậu lại cho mẹ mượn cái đồng hồ reo để phòng xa, kẻo ngủ quên thì... mệt!

Mẹ con chúng tôi được cả một cái nhà to, đêm vắng trông ghê quá. Được cái chỗ nhà máy điện có khác: điện sáng chói, trông thấy rõ cả từng trái trứng cá trên cây!

Tám giờ tối, trời vẫn bức như giữa trưa. Cái máy điều hòa không khí chạy nghe xào xào mà không mát. Đúng là nó hỏng rồi. Mẹ tôi sai Minh chạy qua nhà cậu mượn cái màn, nhưng cậu không cho nằm màn, cậu lại sang điều chỉnh cái máy và dặn mẹ cứ yên tâm, một chốc nữa máy sẽ lạnh. Mẹ cầu nhầu là không ưa nằm máy lạnh. Giọng mẹ cao lên:

- Lát nữa nếu không mát, chị sẽ mở cửa sổ ra...

- Chị nên nghe em, mở cửa sổ cũng không mát đâu, chỉ tổ cho muỗi rừng nó xơi ngon. Cứ nghe em, chốc nữa là mát ngay ấy mà. Thôi, chị và các cháu ngủ đi, ngày mai em sẽ đưa chị ra xe.

- Chớ, cậu cứ ngủ đi. Chị đi được rồi.

Cậu đi ra, đóng cửa lại, bỏ chúng tôi trong cái nhà rộng thênh, vắng ngắt. Mẹ tắt hết đèn các phòng. Chỉ còn đèn ngoài đường và trước hiên. Ánh sáng lại đung đưa các cành lá quét lên mặt kính, song lần này tôi khá vững tâm. Tôi thở mạnh, nghĩ thầm: "Mình phải ngủ để ngày mai ngắm cảnh". Song tôi thao thức khá lâu.

Chúng tôi thu dọn xong đồ đạc thì xe cũng vừa đến. Mẹ tôi biên lại vài giòng cho cậu, lấy cái đồng hồ chặn lên, đoạn se sẽ dắt chúng tôi ra xe. Năm rưỡi sáng. Sao thưa thớt, ánh trăng lờ mờ. Trời vẫn bức. Người tài xế đưa chúng tôi ra đến bến xe thì trời bắt đầu sáng. Chúng tôi lên xe ngay. Phải dậy sớm nên tôi vẫn còn ngái ngủ. Tôi dựa vào thành xe thiu thỉu. Đường thẳng tắp, nên không bị xóc mấy, dù xe chúng tôi đi là thứ xe hàng cũ kỹ, già nua. Mỗi bận bị xóc, tôi lại mở choàng mắt ra và y như là xe qua một cái cầu tạm. Khúc đường từ Krong-pha có bao nhiêu cái cầu là bấy nhiêu cái bị sập, bị phá hư tất. Xe chạy từ sáu rưỡi, nhưng ngừng lại từng chặng, hùng hằng, hục hặc, qua cầu, qua suối cho đến chín giờ rưỡi mới vào bến xe thành phố.

Chúng tôi xuống xe, gọi xích lô về nhà bà.

Xe xích lô vừa ngừng lại, cái thắng xe kêu lên một tiếng "cách" thì chú Tô xông ra. Nhưng nhận được chúng tôi, chú vẫy đuôi rối rít. Nhiều tiếng reo lên từ dưới bếp, trên nhà và chỉ một nhoáng là tin mẹ chúng tôi về đã đến tai bà tận trên lầu. Bà tôi xuống đến hai phần ba bậc thang thì mẹ tôi cũng vào đến nhà.

Mẹ tôi ào tới, nắm tay bà tôi và hôn vào cánh tay bà, liếc trộm một cái, tôi thấy mắt mẹ tôi ướt đẫm. Bà tôi nở một nụ cười hiền lành, xoa đầu đứa này, ôm hôn đứa kia, giọng bà trầm lại:

- Mẹ con chúng mày về được bao lâu? Hay là chỉ hai ba hôm lại đi như năm trước?

Giọng mẹ tôi giỏn giã:

- Bà đừng lo, kỳ này con ở những cả tháng kia.

Thế là câu chuyện nở bung ra. Bỗng mẹ tôi nhớ ra là từ sáng mẹ con chưa có gì dằn bụng, mẹ tôi nói:

- Các con muốn ăn gì này? Về bà tha hồ vòi.

Tức thì bà gọi gia nhân lên, lo cho chúng tôi ăn sáng. Mỗi đứa được quyền đòi thứ mình ưa.

Nhà bà rộng, mát, vô số cửa kính, cửa chớp, lầu cao, sân rộng, vườn to và chĩu quả, tha hồ cho chúng tôi chạy nhảy, nghịch phá và hái quả ăn. Bưởi mọng nước, ngọt lịm, trái sà xuống đất, mỗi lần nhìn cây bưởi nhỏ nhất tôi lại liên tưởng đến một con lợn mẹ sà sễnh bao nhiêu là chiếc vú sữa kéo lê dưới đất! Ổi giòn khứu, hái hoài không hết. Ớt đỏ tươi, cứ mỗi bữa ăn Minh và Bé lại chạy ra hái vài quả tặng mẹ và bà. Nhãn dầy cơm bốc mùi thơm điếc mũi. Mận thì, ôi thôi! Khỏi nói, bóng lưỡng, hồng như má lũ trẻ ở trên Đà Lạt. Cam thì trái lại xanh ngăn ngắt, bổ ra ruột vàng óng như mầu tơ sống.

Ngoài chợ, tôm cá tươi xanh như mới vớt ở biển lên. Tôm búng tành tạch, cá thở thoi thóp. Rau cải xanh rờn trông ngút mắt. Cái gì trông cũng ưa nhìn. Sữa, sữa đặc, sữa bột, kẹo, bánh, hàng nào cũng chất tận mái lều.

Mầu nắng ở đây trông cũng đặc biệt, trông óng ả vàng và trong như mật ong từ tổ mới vắt ra! Tôi thích mầu nắng ở Phan Rang lắm.

Chỉ hiềm một nỗi về cái gió: gió hốt bụi tạt vào mặt mình, không kiêng nể! Gió ào ào như mà lại không mát, có kỳ không?

Nhưng chúng tôi không than thở chi, chúng tôi tha hồ tận hưởng hoa quả, tôm cá, cải rau. Chúng tôi tha hồ vọc nước chứ không như Đà Lạt. Nóng thì mở toang cửa sổ ra, có khó khăn gì.

Ở Phan Rang được ba hôm, đêm thứ tư đang ngon giấc thì chợt nghe tiếng mẹ gọi khe khẽ dựng dậy đang lúc nửa đêm. Hồn bất phụ thể, tôi chưa hiểu ngô khoai gì thì nghe tiếng súng ăm ẳm thật lớn rung chuyển cả sàn lầu. Lập tức, tôi dò trong bóng tối, bước từ bước xuống cầu thang, chui vào hầm núp. Không có súng nhỏ, chỉ nghe súng lớn "Đoàng đoàng" "Ầm ầm" bốn phía. Mẹ se sẽ lên lầu bế hai đứa nhỏ xuống. Cỡ nửa giờ mới yên. Lại bế hai đứa nhỏ lên, tôi theo sau, bà đi sau rốt, y tựa một cuộc diễn hành trong bóng tối.

Nằm một chốc nghe đồng hồ đổ hai giờ sáng.

Đêm thứ hai lại tái diễn trò này. Bà cháu, mẹ con lại kéo nhau xuống hầm núp. Nhưng đêm thứ hai tiếng súng lớn dữ dội hơn, chen lẫn trong tiếng liên thanh nổ mau và gần quá thể. Lại có còi báo động. Dễ sợ không? Báo động nửa đêm! Mà lại những hai bận liên tiếp cơ. Tôi bắt đầu biết sợ. Hai đứa nhỏ vẫn ngáy đều bên chân mẹ, vì mẹ đã lo mang theo quạt, quạt cho chúng không ngừng. Trong nhà tối om, thỉnh thoảng ánh hỏa châu bùng lên, sáng lóe, cả nhà trông rõ mặt nhau.

Bà soi đèn bấm thì thấy hơn nửa giờ trôi qua. Thình lình, có tiếng máy bay ngay đâu trên đầu mình rồi tiếng đạn rốc kết nã ròn rã. Tôi sợ run.

Tiếng súng lơn và liên thanh thì im luôn. Bà tỉnh táo nói:

- Không sợ nữa, đem các cháu lên lầu cho chúng ngủ. Khi nào máy bay bắn như vậy là yên rồi.

Mẹ làm theo lời bà. Rồi tôi theo chân mẹ và bà lại gần bên cửa sổ nhìn ra. Ngoài trời đen thẫm, chiếc máy bay kéo dài một vệt sáng lướt nhanh ngay tầm mắt mình, đột nhiên nó như đứng lại và tức thì từ đâu trong cánh (hay đuôi nó?) lóe ra từng tia lửa đỏ rực, tiếng nổ phát ra ròn, khô, mau, liên tiếp. Cứ hết chiếc nọ đến chiếc kia, vẽ lên bầu trời những tia lửa. Ánh hỏa châu rực trời, soi rõ cả khuôn mặt bà và của cả mẹ tôi. Tôi thấy mắt mẹ và bà đều lóng lánh ướt: ra hai người cùng khóc. Tôi hơi ngạc nhiên, bà đã nói yên rồi mà? Sợ gì nữa? Song mẹ tôi quay lại vuốt tóc tôi, ra hiệu cho tôi vào giường và giọng nghẹn ngào, mẹ nói với bà:

- Con cứ nghĩ đến những tia lửa quái ác kia trúng nhằm nhà đồng bào vô tội...

- Cái đó là thường... Mọi hôm cứ...

- Bà có nhận ra họ đánh nhau ở chỗ nào không? Sao con trông có vẻ gần quá?

- Phải, gần lắm. Cách  ta đâu hơn cây số chứ không xa...

Máy bay vẫn rền trời, tiếng nổ vẫn ròn, mau. Bầu trời vẫn tiếp tục lóe sáng nhưng chúng tôi trở vào giường, sau khi còi chấm dứt báo động vang lên.

Mẹ tôi cầu nhầu:

- Nếu mai còn thế này thì về Saigon quách. Mẹ bực quá thôi.

Tôi tán đồng ý kiến mẹ tôi ngay.

Đêm thứ ba không có súng nhưng tôi lên cơn sốt. Nghĩ có phiền không? Mẹ tôi gần khóc lên. Tôi cũng gần khóc lên. Lại kiêng ăn, lại thuốc, lại tọa dược. Chỉ những nơm nớp lo gầy thì về ba không cho đi năm tới. Ông sẽ nói:

- Đi chơi mà đau ốm như vậy thì đi làm gì?

Trong ba ngày tôi nằm đó, mẹ phải giặt gịa, là liếc một mình, không ai giúp đỡ. Nhà có người đấy, nhưng mẹ không muốn sai. May sao, sang hôm thứ tư tôi hết hẳn. Thật là vui như Tết.

Lại tha hồ nghịch phá, hái quả, ăn uống bù vào.

Chúng tôi còn được đi ciné – Ở Sàigòn một năm ba mẹ cho đi cỡ hai lần là nhất rồi – Cậu B. cho chúng tôi cả tập vé, muốn đi lúc nào thì đi. Mẹ lôi dì P. đi nữa, có hôm mẹ bắt dì đi biển, làm dì phải nghỉ dọn hàng ngoài chợ. Dì không tắm, ngồi trên nhìn chúng tôi vùng vẫy dưới nước xanh.

Tắm xong, dì mỡ hộp bánh, gọt táo, bổ cam cho chúng tôi ăn.

Có hôm dì không đi thì cậu B. lại đem xe đến chở chúng tôi.

Những hôm ấy, chúng tôi không lo ngại gì cả, đầm nước cho đến tận 11 giờ trưa, khỏi đi xe lam sợ nắng và khỏi ngồi chung với cá! Mẹ tập cho tôi bơi (tiếc thay khi mình vừa mới nôi nổi thì đã đến hạn phải trở về Sàigòn nhập học). Tắm xong lên bờ đã có sẵn bánh mì, chả lụa, nước ngọt, chúng tôi chén no nê.

Có hôm, cậu chở chúng tôi đi Tri Thủy, Tháp Chàm, ngắm cảnh.

Càng gần đến ngày về Sàigòn, gió lại càng ít, trời lại càng đẹp, súng im hẳn và càng có nhiều chuyện thú vị. Than ôi! Thật là ngày vui ngắn chẳng tày gang!

Chẳng mấy chốc mà ngày về đến sát bên lưng. Đêm trời mát, mẹ tôi khỏi phải thao thức canh chừng để thay áo cho chúng tôi nữa.

Rời Phan Rang, tôi vẫn còn như thấy trước mắt ruộng mạ xanh rờn, ruộng muối trắng lốp, thấy con đường đi Ninh Chữ rộng, phẳng với động dương vi vút và bãi biển lấp lánh sáng lòa trong nắng ban mai! Tôi hẹn với bà, với dì P., cậu B. và mọi người cùng một câu chắc nịch:

- Sang năm con lại về chơi!

Trước khi lên máy bay, tôi nhìn vào kính chiếu hậu của cậu B. nom mình cũng ra vẻ người đi biển lắm chứ không đến nỗi nào: da tôi nâu bóng. Mẹ cũng nâu. Bé cũng nâu. Minh cũng nâu. Thế là tốt rồi. Còn đòi hỏi chi hơn. Tôi khá vững lòng. Tôi dặn lũ em giấu biến chuyện đau ốm. Thế là xong một mùa hè. Ngắn quá! Ngày mai đã phải đến trường. Nhưng không sao, hè đến lại được đi chơi, nghĩ đến đó tôi vui ngay. Con người ta vốn sống bằng chờ đợi và hy vọng mà, thưa bạn!


MINH QUÂN    


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 154, ra ngày 1-6-1971)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2019

TUẦN LỄ CỦA HUYỀN - Hoài Mỹ


THỨ HAI

Có như vậy mà Mẹ cũng gắt. Mình buồn quá. Dường như trong gia đình không ai hiểu mình. Riêng có Ba, mình còn thấy "tạm được", nhưng sao Ba không nói gì khi Mẹ la mình? Trong ánh mắt của Ba, mình đọc được những nét cảm thông, thế mà Ba không lên tiếng! Thôi đúng rồi, có lẽ cả nhà đã về hùa nhau "ghét" mình. Nghĩ vậy tủi thân, mình chạy lên phòng nằm khóc...

Tới giờ cơm, Ba cho chị Tư lên gọi, nhưng mình không xuống. Tiếng của Mẹ vọng lên: "Úi chao, quí hóa lắm đấy còn làm bộ!" – Cơn nghèn nghẹn dồn lên ngực, nước mắt lại ứa ra... Mẹ, sao Mẹ nỡ khắt khe với con gái của Mẹ? Thay vào những lời gay gắt đó, Mẹ mở cửa vào phòng nói với con một câu dịu dàng, như: "Thôi cưng cho Mẹ xin, xuống ăn cơm đi con – Khóc xấu lắm, lêu lêu" – thì chắc con sẽ ôm chầm lấy Mẹ mà khóc, như chưa bao giờ được khóc, khóc vì sung sướng! Nhưng... Mẹ đã ghét mình rồi. Mọi khi Mẹ vẫn dịu ngọt với mình cơ mà? Mình đâu có làm gì quá đáng để Mẹ phải thay đổi? Chỉ tại con Mimi làm vướng chân mình nên mình mới ngã làm vỡ chiếc bát chứ. Nghĩ lại mình càng thấy buồn thêm, không thích sống nữa...

Ngoài trời, gió chuyển mình. Những giọt mưa nhẹ bắt đầu rơi. Mình vẫn ngồi tựa đầu vào song cửa sổ, mơ ước một chuyến đi xa. Thỉnh thoảng một cơn gió mạnh thổi tạt những giọt nước vào mặt. Mát mát. Mình tìm được sự dễ chịu hơn.

Ở dưới nhà, Ba vừa mới nhắc đến anh Tân. Anh Tân tới thư viện học thi. Mình cũng thấy tội nghiệp cho anh Tân. Nếu anh về giờ này, chắc bị ướt hết. Ý nghĩ này vừa thoáng hiện trong đầu thì cũng vừa đúng lúc tiếng xe Honda của anh Tân dừng lại trước cổng. Vào nhà anh Tân hỏi con Huyền đi chơi rồi hả Mẹ? Mẹ trả lời là nó đang ăn vạ trên kia kìa ; rồi Mẹ kể câu chuyện hồi chiều. Mình những tưởng anh Tân thể nào cũng bênh mình, nhưng ngược lại với điều mình nghĩ, anh Tân nói lớn sao Mẹ không cho nó một trận!

Mình mím môi lại. Không hiểu sao mình không khóc. Sự "tội nghiệp" lúc nãy mình dành cho anh Tân tan đi. Trước mặt mình trải ra khoảng trống vô tận. Và trong bóng tối của căn phòng mình chỉ tìm thấy có một mình mình. Buồn!


THỨ BA

Giờ Việt văn, giáo sư không đến ; lớp ồn ào ; nhất là bọn con trai được dịp phá phách và ném giấy sang phía con gái. Những ngày cuối niên học thật nhạt nhẽo. Mình nói chuyện với Thanh về tương lai. Nhỏ Thanh nói sang năm nó chỉ đi học sinh ngữ thôi rồi đi làm. Mình "khuyên" nhỏ Thanh đừng bỏ học như vậy uổng lắm vì mình biết nó thuộc loại thông minh. Nhưng câu trả lời của Thanh làm mình thoáng nghĩ ngợi. Học nhiều cũng thế thôi ; lấy chồng là hết ; hơn nữa học cao quá ai mà thèm lấy. Nhỏ Thanh hỏi ngược lại mình là chừng nào mày tính lấy chồng – Mình cười nói là làm sao tao tính được – Thế còn chàng Cường của mày? Mình biết là Thanh cũng như các bạn trong lớp đã hiểu lầm. Cường là anh của Cúc mà Cúc là bạn thân mình thì làm gì có... "chuyện đó". Mình nói điều này với Thanh, nhưng nó có vẻ không tin. Mình giải thích thêm là anh Cường coi tao như em ruột, mày đừng nghĩ bậy. Nó cười: Em ruột... dư hả?

Tan học. Như những con ong vỡ tổ, các bàn đầu ùa ra một lượt. Mình với Thanh phải ngồi lại. Khi ra khỏi lớp hai đứa gặp Quang đứng ngấp ngó ngoài cửa. Mình hỏi chuyện gì đó anh Quang? Ấp úng mãi Quang mới nói nổi câu nhờ chị viết dùm cho mấy chữ – Viết về l'amour được không – Câu nói của Thanh làm Quang đỏ bừng mặt, luống cuống quay đi mất... Mình trách Thanh. Nó cười con trai mà cũng bầy đặt lưu bút, lưu biếc – Ê mày, lật ra xem có thư tình không – Nhiều lúc nhỏ Thanh lý lắc lắm, làm "điên đầu" nhiều người.

Trang đầu cuốn lưu bút, Quang viết những lời giã từ bạn bè. Trong mùa hè này, Quang sẽ nhập ngũ. Những dòng chữ thật cảm động. Của một người sắp sửa rời bỏ bóng mát học trò. Mình nghĩ làm con trai trong thời chiến thật thiệt thòi. Học hành dang dở. Tương lai không lối thoát...

Mình viết cho Quang những lời chân thật – Các anh đi, tụi này buồn lắm... Đáng lý mình còn viết dài, nhưng tiếng hát của anh Tân cứ oang oang ở phòng bên. Mình chấm hết vội.

Cứ hát đi anh Tân – Còn anh nữa đó – Rồi anh cũng sẽ lên đường và rồi Mẹ và em cũng sẽ buồn, sẽ khóc trong ngày anh đi...


THỨ TƯ

Một ngày dài lê thê. Buồn ôi là buồn!


THỨ NĂM

Anh Tân rủ mình đi ciné. Thật lạ! Thường anh vẫn chủ trương đi ciné một mình vì đi với người khác, phải nói chuyện không thưởng thức được trọn vẹn cuốn phim. Nhiều lần có phim hay mình năn nỉ thế nào anh cũng từ chối, nhất là trong thời gian này, anh viện lý do học thi để thoái thác. Tự nhiên anh trở nên rộng rãi. Tất cả phải có nguyên nhân. Để "trả đũa" mình giả vờ không chịu – Thôi mất thì giờ anh ; sắp thi rồi, anh ở nhà học bài đi. Anh Tân cười mỉm bảo thì lâu lâu mình cũng phải... giải trí một chút chứ. Mình vẫn không tin lời anh Tân. Gặng hỏi mãi, anh Tân mới chịu thú thật: Chiều nay, anh mời được một... cô bạn mới quen đi ciné – Thì dính dáng gì tới em – Không, tại anh... "lỡ" quảng cáo Huyền kỹ quá nên cô ta cứ đòi anh giới thiệu Huyền.

Thì ra vậy. "Người ta" dùng mình (mà không xin phép trước) để làm nhịp cầu tìm đến nhau. Bây giờ thì mình hiểu những lúc anh Tân rời cuốn sách học, ngồi nhìn mây bay, khung trời xanh, hiểu những chữ viết chằng chịt trên mặt bàn và hiểu sự thay đổi trong cách ăn diện của anh Tân. Thật rắc rối và kiểu cách! Mình nghĩ sau này nếu... chẳng may mình bước vào "con đường" đó, mình sẽ rất đơn giản, chân thật. Nhưng... biết đến bao giờ nhỉ?

Chị Ngọc của anh Tân coi cũng đẹp, dễ thương. Trong câu chuyện chị Ngọc cho biết cũng cùng tuổi với mình – 17 – Ở nhà anh Tân vẫn coi mình là trẻ con – trẻ con mà biết gì – Thế mà bây giờ anh Tân lại chọn một người-trẻ-con. Dĩ nhiên mình không dám nói ý nghĩ này cho anh Tân hay chị Ngọc nghe, chỉ cười một mình.

Vào trong rạp, mình chọn một ghế ngồi xa. Để "thiên hạ" được tự nhiên chứ!

Phim thật hay, nhưng buồn. Chủ đề về tình yêu và thân phận con người. Mình thương Juliet trong phim quá!

Sau khi xem ciné, anh Tân dẫn đi ăn kem. Nhìn anh Tân luống cuống kéo ghế mời chị Ngọc ngồi mà mình suýt bật cười. Giá ở nhà anh cũng cưng chiều em gái của anh như thế nhỉ!

Đưa chị Ngọc về xong, hai anh em còn đi vòng mấy con phố. Có lẽ vì mới "mắt vương tơ", anh Tân vui vẻ bảo anh tặng Huyền một món quà để đền ơn, tùy ý Huyền chọn. Được dịp, mình đòi mua những 5 cuốn sách thật dầy. Cho... bõ ghét! Ai bảo vẽ chuyện!


THỨ SÁU

Mình ở nhà Cúc ra về thì trời chợt mưa.

Sáng nay mình thấy vui vui. Không hiểu tại sao. Tự nhiên mình thích đi dưới mưa. Bên đường, hai dẫy me cao vút chụm đầu vào nhau, rắc xuống những chiếc lá vàng và những giọt nước lớn. Một vài chiếc lá đậu trên tóc và vai mình. Mình để yên vậy. Những bông hoa đó.

Nước ướt thấm qua làn áo làm lành lạnh. Nhưng mình thích. Mình nghĩ giá nhỏ Cúc biết mình "lang thang" thế này chắc nó thèm lắm. Lúc nãy con nhỏ làm mình "quê" quá, cứ thỉnh thoảng nói bóng gió mình với anh Cường. Cũng may anh Cường không để ý. Mình bước đi mà dường như vẫn nghe tiếng anh Cường văng vẳng trong tiếng rì rào của lá me. Anh Cường nói chuyện vui ghê. Anh nói chuyện nắng, mưa, sách vở mà như anh tâm sự. Tại giọng anh trầm, ấm...

Mình như vừa uống một ly rượu mạnh. Lâng lâng...


THỨ BẨY

Nhỏ Yến bị cô vạn vật bắt quả tang viết thư cho bồ trong lớp. Cô trừ có 3 điểm hạnh kiểm. Nhưng mình không đồng ý cô đã dùng những lời lẽ quá đáng để la nó và đọc lá thư cho cả lớp nghe. Mình nghĩ tuổi mới lớn như nụ hoa vừa chớm nở làm sao tránh được những giọt sương đậu long lanh trên cánh hoa? Nếu là cô giáo, mình sẽ không "nặng lời" với "tuổi-mới-nứt-mắt-mà-cũng-bày-đặt-yêu-với-iếc" (chữ dùng của cô đấy) nhưng mình sẽ lợi dụng việc này để ca tụng sự cao đẹp của tình yêu, đồng thời nêu ra những hướng dẫn thực tế cho những "con nai vàng còn ngơ ngác"... Ngồi trong lớp mà mình nghĩ thương anh Tân. Anh Tân dặn hoài là Huyền đừng nói chuyện của anh với ba mẹ nghe ; ba mẹ mà biết được thì chết anh – Người lớn và tuổi trẻ luôn luôn bị ngăn cách ; chỉ bởi người lớn không chịu cúi xuống, hòa đồng cảm thông với tuổi trẻ...

Nhìn mặt nhỏ Yến buồn rượi, mình chuyển sang cho nó một múi chanh với dòng chữ "Đừng thèm nghĩ ngợi – Mày ngậm múi chanh này là "buồn ơi, giã từ".

Mình thấy nhỏ Yến cười gượng với mình rồi đưa múi chanh vào miệng. Nó hơi nhăn mặt. Có lẽ múi chanh chua quá!


CHỦ NHẬT

SÁNG

Mẹ hứa nếu thằng Tân thi đậu ba mẹ sẽ cho cả hai anh em lên Đà Lạt nghỉ mát một tuần lễ. Mình mừng rú - "Sinh mạng" của em nằm trong tay anh Tân đấy nhé... Em mà không được đi thì em méc chị... Mình chưa nói hết câu anh Tân đã chạy lại ký một cái vào đầu. Mẹ chẳng hiểu gì cả, kêu ơ hay sao lại đánh nó – Tại con thương nó đấy mẹ ạ – Cả nhà cười làm mình cũng bật cười theo sau khi "tặng" cho anh Tân một cái nguýt thật dài.

Tính nhẩm, mình thấy còn những hai tuần lễ nữa anh Tân mới thi, sau đó còn chờ kết quả thi viết, rồi vấn đáp. Lâu quá nhỉ. Mình trông đợi một chuyến bỏ thành phố ồn ào và nắng cháy này. Mơ hồ mình có cảm giác như đang được hít khí lạnh cao nguyên, lắng nghe tiếng nỉ non của ngàn thông, được cho tay xuống vớt nước trong vắt của con suối, được ngắm các thung lũng mang những tên thật thơ mộng... Tuy nhiên điều mình mong ước hơn cả là được dịp thoát khỏi, dù trong thời gian ngắn, sự độc điệu của cuộc sống hiện hữu ; cái gì đều đều dễ làm cho con người chán ngán. Sự thay đổi, mình hy vọng, sẽ đem lại ít nhiều tươi mát cho ngày tháng con gái...

CHIỀU

Trong một tuần, chiều chủ nhật là chiều buồn nhất. Nghĩ tới thứ hai và chuỗi ngày tiếp theo, mình có cảm tưởng như phải khởi đầu lại một hành trình mà mình vừa hoàn tất, như một người cố gắng leo lên tới đỉnh núi rồi đi xuống rồi lại phải leo lên, như con chuột bạch đánh vòng tròn. Chán!

Lại một chu kỳ nữa chờ mi, Huyền ạ...


HOÀI MỸ     


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 4, ra ngày 20-6-1971)

Bìa của Vi Vi : Suy tư