Hằng
ngày, chúng ta lần bóc những trang lịch treo tường ghi những chi tiết
thời gian cần thiết cho đời sống của chúng ta và trước thềm mỗi năm mới
chúng ta lại có dịp chọn trong muôn ngàn kiểu lịch để lấy một kiểu hợp
với sự cần dùng của chúng ta. Cử chỉ đó được lập đi lập lại nhiều lần
như một thói quen nhưng chắc chắn là không mấy ai đã nghĩ rằng những tấm
lịch quá quen thuộc với chúng ta này đã có một lịch sử lâu đời, là một
công trình của nhiều nhà thông thái, đã và đang gây ra nhiều cuộc bàn
cãi thú vị trên khắp năm châu.
Nhân dịp đang đón xuân năm mới, chúng tôi sưu tầm chút ít tài liệu về lịch để cống hiến bạn đọc thưởng xuân.
Căn
cứ vào sự tuần hoàn của những hiện tượng thiên nhiên, người ta định ra
năm, tháng, ngày để ghi nhớ những khoảng thời gian ấy, người ta dùng một
phương pháp gọi là lịch.
Trên
thế giới, có nhiều thứ lịch. Thứ nầy thứ kia, tùy theo cách tính năm,
có khác nhau. Nhưng hiện nay, thứ lịch được thông dụng nhất là dương
lịch. Ở nước ta cũng như ở vài nước Á châu, người ta thường dùng thêm
một thứ lịch nữa gọi là âm lịch.
Dưới
đây chúng tôi chỉ nói về dương lịch và âm lịch, thiết tưởng hai thứ đó
cũng đủ để bạn đọc có một ý niệm tổng quát về lịch nói chung.
DƯƠNG LỊCH
Dương
lịch dựa vào sự chuyển động của trái đất chung quanh mặt trời theo một
quỹ đạo hình bầu dục và mặt phẳng xích đạo của trái đất cũng không trùng
với mặt phẳng của quỹ đạo nên trái đất hấp thụ bức xạ nhiệt của mặt
trời mỗi lúc trong một năm khác nhau. Vì thế sinh ra thời tiết khác
nhau. Căn cứ vào sự tuần hoàn của những thời tiết nầy, người ta phân
biệt bốn mùa là Xuân, Hạ, Thu và Đông mà chúng tôi sẽ nói tới sau.
Theo
sự tính toán của các nhà thiên văn học thì cứ sau 365 ngày và non 1/4
ngày (tức 24,22 của một ngày hoặc 5 giờ 45 phút 46 giây) thì trái đất
quay quanh mặt trời được một vòng. Dương lịch lấy thời gian đó làm một
năm.
Nhưng
nếu mỗi năm người ta cứ lấy thời gian kể trên mà tính thì người ta sẽ
gặp nhiều sự phức tạp nên chỉ lấy con số 365 ngày để định một năm mà
thôi. Song người ta vẫn nhớ rằng từ lúc giao thừa (dương lịch) năm nầy
đến phút giao thừa (dương lịch) năm sau, quả đất chưa quay đủ một vòng
quanh mặt trời mà còn phải chạy hơn 5 tiếng đồng hồ nữa thì mới hết và
đến phút giao thừa năm sau nữa thì nó phải chạy thêm ngót 12 tiếng đồng
hồ nữa mới hết được vòng thứ hai và cứ thế sau bốn năm, trái đất chậm đi
gần 24 tiếng đồng hồ nghĩa là non một ngày. Bởi thế cứ bốn năm, người
ta đặt ra một năm nhuận, để cho ngày tháng phù hợp với sự di chuyển của
trái đất. Năm nhuận sẽ có 366 ngày và ngày thêm đó sẽ được đặt vào tháng
hai tức là tháng hai có 29 ngày. Để cho dễ nhớ, người ta lấy con số
danh hiệu của năm chia cho bốn, nếu số chẵn thì năm ấy là năm nhuận. Thí
dụ: năm 1960 chia cho bốn được 490 không còn số lẻ, vậy năm 1960 là năm
nhuận.
Chúng
ta nên nhớ rằng sau bốn năm như vậy, quả đất mới chỉ chậm có non một
ngày (24,22x4=96,88% của một ngày). Nếu ta đợi đúng một ngày để đón giao
thừa như sự tính toán ở trên thì quả đất đã quay hết vòng thứ tư trước
một khoảng thời gian: 100 - 96,88 : 3,22 của một vòng tức là 46 phút 22
giây. Và cứ bốn năm nào cũng có một năm nhuận thì sau 400 năm lúc ta đón
giao thừa thì không những quả đất đã quay hết vòng thứ 400 mà còn chạy
thêm hơn 3 ngày nữa (3 ngày và 22%). Để điều chỉnh tình trạng của dương
lịch cho đúng với sự chuyển động của trái đất thì sau 400 năm số năm
nhuận phải bớt đi 3 để còn 97 năm nhuận. Những năm được bớt đi nầy là
những năm mà tận cùng phải là hai số không nhưng số hàng trăm (năm trăm)
trở lên không chia được với 4. Ví dụ những năm 1700, 1800, 1900...
không nhuận khi có sự điều chỉnh vì những số 17, 18, 19 không thể chia
hết cho 4 được. Còn các năm 1600, 2000, 2400 thì vẫn nhuận.
Dương lịch được điều chỉnh như thế gọi là tân lịch (lịch mới).
Dương lịch không điều chỉnh gọi là cựu lịch (lịch cũ).
Sau
hết, người ta chia một năm dương lịch ra làm 12 tháng. Nếu mỗi tháng có
30 ngày thì 12 tháng mới chỉ có 360 ngày vậy phải có một số tháng 31
ngày. Riêng tháng hai có 28 ngày (năm nhuận tháng hai có 29 ngày). Theo
vài tài liệu thì con số 28 này được đặt ra cho tháng hai không phải vì
một lý do khoa học nào mà vì lý do tôn giáo và tín ngưỡng cho rằng tháng
hai là tháng ma quỷ và con số 8 là con số xấu.
Để
dễ nhớ những số ngày của những tháng trong một năm, người ta dùng nắm
tay theo hình vẽ dưới đây: tháng nào được vào chỗ lồi thì có 31 ngày và
tháng nào ở chỗ lõm thì có 30 ngày. Dĩ nhiên tháng hai vẫn chỉ có 28
hoặc 29 ngày.
ÂM LỊCH
Đúng
ra, người ta phải gọi là âm dương lịch vì một mặt lịch nầy dựa vào mặt
trăng để tính tháng nhưng mặt khác lại dựa vào mặt trời để định năm.
Âm
lịch lấy tuần trăng để định tháng. Tuần trăng là khoảng thời gian từ
lúc trăng tròn nầy đến lúc trăng tròn sau. Tuần trăng không phải là một
chu kỳ cố định: khi dài có thể quá 29 ngày 19 giờ ; khi ngắn có thể kém
29 ngày 8 giờ nhưng thường thường lại không hơn kém số trung bình 29
ngày 12 giờ 34 phút là mấy.
Nếu
chỉ lấy số 29 ngày làm một tháng thì so với tuần trăng còn thiếu hơn
nửa ngày nên thỉnh thoảng người ta phải đặt ra những tháng 30 ngày
(tháng đủ) để xen vào những tháng 29 ngày (tháng thiếu) cho phù hợp với
tuần trăng. Qua số trung bình vừa kể trên, người ta nhận thấy số tháng
đủ phải nhiều hơn số tháng thiếu trong một năm nhưng phải theo một thứ
tự nhất định như trong dương lịch và có khi ba tháng đủ đi liền nhau lại
có khi có luôn hai tháng thiếu.
Âm
lịch lấy ngày không trăng (tức là ngày chúng ta không thấy được mặt
trăng, vì trái đất, mặt trăng và mặt trời đứng cùng một hàng cho nên
trăng không phản chiếu được ánh sáng mặt trời) làm ngày mồng một của mỗi
tháng rồi căn cứ vào đó mà định tháng thiếu, tháng đủ. Thí dụ: hôm nay
là 29-2. Nếu ngày mai là ngày "không trăng" thì ngày mai là mồng một
tháng ba và như vậy tháng hai chỉ có 29 ngày và là tháng thiếu. Nhưng
nếu ngày hôm nay là 29 tháng hai mà ngày mốt mới là ngày "không trăng"
thì ngày mai sẽ là ngày 30 và như vậy tháng hai có 30 ngày và là tháng
đủ. Hiện nay, chúng tôi chưa được biết một quy luật nào ấn định một cách
dễ dàng tháng nào thiếu tháng nào đủ cho mỗi năm âm lịch. Những nhà làm
loại lịch nầy phải dựa vào nhiều tài liệu để tính toán tháng đủ hay
thiếu cho một năm.
Còn
về việc ấn định Năm thì âm lịch cũng phải dựa vào khoảng thời gian mà
quả đất quay hết một vòng chung quanh mặt trời. Song le, 12 tháng của
một năm âm lịch chỉ được có 354 hoặc 355 ngày. Nếu đem số nầy so sánh
với con số 365 ngày thì hụt mất 10 hoặc 11 ngày trong một năm và cứ 3
năm hụt đi hơn một tháng, 19 năm hụt đi đúng bảy tháng. Bởi vậy cứ ba
năm hoặc hai năm lại có một năm nhuận, và 19 năm có 235 tháng trong đó
có 111 tháng thiếu và 124 tháng đủ.
Để định năm nào nhuận, tháng nào nhuận, chúng tôi thấy có nhà làm lịch tính như sau:
Thí
dụ năm nay nhuận tháng 8. Người ta biết rằng tháng 8 âm lịch này trùng
với tháng 9 dương lịch. Người ta bắt đầu tính bằng cách so sánh từ đầu
hai tháng đó trở đi: mỗi tháng âm lịch kém mỗi tháng dương lịch một hai
ngày ; đến một khoảng thời gian nào đó, số tháng dương lịch sẽ nhiều hơn
số tháng âm lịch vừa đúng một tháng, chẳng hạn 27 tháng âm lịch có một
số ngày vừa bằng 26 tháng dương lịch thế thì tháng thứ 27 đó của âm lịch
sẽ là nhuận tức là 2 năm nữa sẽ lại có một năm nhuận trong âm lịch và
tháng đó là tháng mười.
Vài cải chánh về dương lịch và âm lịch
Âm
lịch được người Trung Hoa sử dụng từ lâu. Bởi thế ở nước ta nó mang một
cái tên rất nôm na là lịch Tàu. Thứ lịch nầy rất phức tạp vì cùng với
thời gian nó dựa vào những tài liệu thiên văn và toán số để làm mỗi ngày
một nhiều thêm. Người Tàu với nền học thuật riêng của họ, không tìm ra
được hết những tài liệu ấy một cách chính xác nên đến cuối đời nhà Minh
thì công lịch sai với thời tiết nhiều quá và phải nhờ đến những người
ngoại quốc đính chánh.
Năm
1629, vua Trang Liệt nhà Minh nhận thấy các nhà truyền giáo Tây phương
tính nhật thực và nguyệt thực rất giỏi bèn nhờ hai linh mục Terrene và
Rho sửa lại lịch. Khi linh mục Terrene mất, linh Shall tiếp tục công
việc và có đưa vào âm lịch nhiều tài liệu khoa học. Nhân đó, người Tàu
mới có bộ Khâm Định vạn niên thư, một bộ sách tính sẵn ngày tháng từ năm
1629 đến năm 2020 mà ngày nay người ta phần nhiều chỉ chép lại để làm
niên lịch. Đến đời vua Khang Hy, phép làm lịch thu thập vào bộ Lịch
Tượng Khảo Thành ra đời năm 1713 và đến năm 1738 thì được hai linh mục
I. Coegler và A. Pereyrn hiệu đính để áp dụng một ít phương pháp thiên
văn mới hơn. Trong đời vua Càn Long lại có một bộ Khâm Định Hiệp Lý Biện
Phương Thư nhưng phần thiên văn thì ít mà phần thuật số quá nhiều.
Đó
là ba bộ nguyên thư của các nhà làm lịch, nhất là bộ vạn niên thư đến
nay vẫn còn nguồn gốc của các lịch ra hàng năm ở Trung Quốc.
Âm
lịch có một đặc điểm là đếm ngày, tháng, năm và cả giờ nữa theo vòng
giáp Tý (lấy 10 can và 12 chi ghép thành). Do đó nhiều người tưởng rằng
khoảng thời gian 60 năm là một chu kỳ nhật nguyệt nhưng thật ra theo
thiên văn nó không biểu diễn một hiện tượng nào cả. Với lối tính nầy,
người ta chỉ cần làm lịch cho đủ 60 năm rồi lại bắt đầu tính theo thứ tự
cũ.
Dương
lịch được hoàng đế La mã Jules César khởi dụng năm 45 trước Kỷ nguyên
Thiên Chúa. Thoạt đầu, lịch có 10 tháng mỗi tháng 30 ngày. Sau đó, với
sự khám phá trái đất quay chung quanh mặt trời hết 365 ngày và 1/4 ngày,
người ta chấp nhận kịch có 12 tháng và cứ ba năm liên tiếp có 365 ngày
lại có một năm nhuận thêm một ngày vào tháng giêng. Nhưng với thời gian,
sự cách biệt giữa lúc giao thừa và lúc trái đất quay đủ vòng càng ngày
càng xa thêm mãi và tới năm 1582 thì đúng 10 ngày. Để xóa bỏ chỗ cách
biệt đó, đức Giáo Hoàng Grégoire 13 lấy ngày 5-10-1582 là ngày
15-10-1582 và đề nghị sau này nên sửa đổi theo cách thức đó nhưng sự sửa
đổi nầy cũng không giải quyết những sự phức tạp của việc xóa bỏ sai số
kể trên.
Năm
1793, đệ nhất Cộng Hòa Pháp chấp nhận một thứ lịch Cộng Hòa 12 tháng 30
ngày chia ra làm 3 tuần mỗi tuần 10 ngày. Còn thừa 5 ngày dành riêng
cho những ngày lễ Cộng Hòa.
Năm
1849, Auguste Comte đưa ra đề nghị một năm có 13 tháng mỗi tháng có 28
ngày với tổng số ngày là 364 còn ngày chót được coi là ngày nghỉ cuối
năm.
Để tiến tới một thứ lịch duy nhất cho toàn cầu
Chúng
ta đã biết dương lịch hiện nay là thứ lịch được thông dụng nhất trên
thế giới và càng ngày càng được nhiều người thích dùng hơn. Mặc dầu có
những cải cách kể trên, dương lịch ta thường vẫn có 365 ngày và hai phần
nửa năm không cân nhau, lục cá nguyệt đầu có 181 ngày và lục cá nguyệt
sau lại có 184 ngày.
Tam
cá nguyệt dài từ 90 đến 92 ngày và mỗi tháng gồm có từ 28 đến 31 ngày.
Số ngày làm việc trong mỗi tháng cũng thay đổi từ 24 đến 27 ngày (nếu kể
là 6 ngày làm việc trong mỗi tuần lễ).
Những điểm bất thường nầy gây ra những khó khăn khôn cùng trong thống kê kinh tế.
Cho
nên vấn để sửa đổi lịch lại được đặt ra hồi cuối thế kỷ thứ 19 khi một
vị linh mục người Ý tên là Marco Mostrofini nhận thấy con số 365 chỉ có
thể chia được với con số 5 và chia mỗi năm ra tuần lễ, tháng, tam cá
nguyệt, lục cá nguyệt thường vấp phải nhiều điều bất tiện vì tánh cách
không đồng đều của những khoảng thời gian cùng mang một danh hiệu. Linh
mục Mostrofini nghĩ mãi, bỏ cả học hành và sau cùng tìm ra một giải pháp
là không giữ con số 365 ngày thì được đúng 52 tuần. Ngày thừa sẽ dùng
làm ngày Tết.
Ý
kiến của linh mục Mostrofini được sự ủng hộ quan trọng đầu tiên 1910
tại Phòng Thương Mại Quốc Tế. Cơ quan này thuyết phục chánh phủ Thụy Sĩ
để chánh phủ này nghiên cứu một thứ lịch dùng cho các hội nghị quốc tế.
Nhưng đại chiến thứ nhứt bùng nổ năm 1914 làm cho người ta phải hoãn
việc đó lại.
Năm
1923, Hội Quốc Liên đứng ra nghiên cứu chừng 185 đề nghị sửa đổi lịch.
Có người đề nghị mỗi năm có 73 tuần lễ, mỗi tuần 5 ngày gọi theo thứ tự:
Ano, Beno, Ceno, Deno và Eno. Người khác để nghị 20 tháng với tuần lễ
có 6 và 7 ngày. Rốt cuộc, Hội Quốc Liên giữ lại 2 đề nghị: đề nghị thứ
nhất định mỗi năm có 12 tháng và bốn tam cá nguyệt đều nhau, đề nghị thứ
hai gồm 13 tháng, tháng phụ đó gọi là tháng "sol" đặt vào giữa tháng 6
và tháng 7.
Năm
1937, 14 nước trong Hội Quốc Liên mở cuộc đầu phiếu để chọn lịch Quốc
tế nhưng không nước nào bỏ cho loại lịch 13 tháng và cũng không có kết
quả dứt khoát cho loại lịch kia.
Vấn
đề nghiên cứu cải tổ lịch cũng không tiến hành được bao nhiêu. Cho mãi
đến năm 1949, chính phủ cộng hòa Panama yêu cầu Liên Hiệp Quốc ghi vào
trình đại hội đồng vấn đề cải tổ lịch nhưng đề nghị của Panama cũng
không mang lại tiếng vang nào vì lúc đó không có một cường quốc nào ủng
hộ cả.
Năm
1953, Ấn Độ với sự đồng tình của một số nước trong đó có Pháp, Ai Cập
và Uruguay, đề nghị Liên Hiệp Quốc nên chấp thuận một thứ lịch Quốc tế.
Trong cuộc đầu phiếu ghi vấn đề này vào nghị trình, Anh và Mỹ bị thiểu
số: 2 phiếu chống với 12 và sau đó Nga cũng đứng về phía những nước chấp
thuận việc sửa đổi lịch.
Năm
1955, 18 nước trong Ủy hội kinh tế và xã hội Liên Hiệp Quốc đã đồng
thanh chấp thuận một quyết định yêu cầu các nước trong tổ chức nghiên
cứu và cho biết ý kiến về việc này để Ủy hội sửa soạn một quy ước quốc
tế đưa ra Đại hội đồng và sau đó đệ trình quốc hội các nước chuẩn y.
Dự
án được người ta nói đến nhiều hiện nay của hội niên lịch thế giới
(World Calendar Association). Đó là một thứ lịch chung cho hoàn cầu gồm
có những điều sau đây:
1 - Bốn tam cá nguyệt trong năm đồng đều nhau.
2 - Mỗi tam cá nguyệt gồm có 91 ngày tức là đúng 13 tuần lễ.
3 - Ngày đầu tiên của mỗi tam cá nguyệt đều nhằm ngày chúa nhựt.
4
- Tháng đầu tiên trong mỗi tam cá nguyệt (tức tháng giêng, tháng tư,
tháng bảy và tháng mười) gồm 31 ngày, còn tất cả các tháng khác có đúng
30 ngày, như vậy mỗi năm có 365 ngày mà thôi.
5
- Ngày thứ 365 trong năm sẽ là một "ngày không số" (Jour sans Date hay
Day) nằm giữa ngày 30 tháng Chạp năm trước và mồng một tháng Giêng năm
sau. Ngày nầy được gọi là Ngày Quốc tế (World Day) của niên lịch và là
một ngày lễ nghỉ việc.
6
- Ngoài ra, cũng như trong lịch Grégoire, cứ 4 năm lại có thêm một ngày
nhuần (gọi là Leap year Day) không có số giống như Ngày Quốc tế và sẽ
là một ngày nghỉ việc giữa ngày 30 tháng 6 và mồng một tháng 7.
Điều
đáng chú ý là trong niên lịch Quốc tế ngày đầu năm bao giờ cũng đúng
vào ngày chủ nhật, như vậy năm nào cũng chấm dứt vào cuối ngày thứ bảy,
tiếp theo là ngày Quốc tế, Lễ Giáng Sinh sẽ luôn luôn nhằm ngày thứ hai
và Phục Sinh luôn luôn đúng vào ngày 8 tháng 4 (một ngày chủ nhật). Và
nếu lịch nầy được áp dụng, tất cả ngày sinh nhật và kỷ niệm chu niên của
các bạn luôn luôn đúng vào những ngày nhất định trong tuần không bao
giờ thay đổi từ năm này sang năm khác.
Tuy
nhiên đề nghị cải tổ lịch nầy cũng vẫn còn có những điều kiện và bất
tiện, ít nhất cũng cho một số người của thế hệ chúng ta. Với lịch mới
nầy chúng ta thấy rằng trên phương diện chánh phủ loại lịch nầy sẽ làm
cho việc hoạch định chương trình và thiết lập dự án, những ban thống kê
chính thức được dễ dàng, làm cho các trường học, những tòa án có thể trù
tính những khóa học, những phiên xử một cách đều đặn, giản dị hóa việc
lập ngân sách gia đình vì mỗi tháng sẽ có một số ngày làm việc nhất
định.
Trên
đây là những nhận xét chính mà nhiều người trên thế giới đã thấy. Và
bây giờ xin mời các bạn suy nghĩ và cho biết những nhận xét của các bạn.
THÁI BẰNG
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972)

Không có nhận xét nào:
Không cho phép có nhận xét mới.