Thứ Ba, 18 tháng 6, 2019

CHƯƠNG I_CHƯA TẮT NỤ CƯỜI


CHƯƠNG I


Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thật xa lạ, chưa quen lắm với hai tiếng sinh viên mà tôi đã được khoác vào từ mấy tháng trời nay. Đặt chân vào ngưỡng cửa Đại Học, tôi bỡ ngỡ, vụng về như một người khách từ phương xa lạc đến. Tôi không tìm được một nét quen thuộc nào – ngay cả những vị Giáo Sư – mặc dù tôi đã trải qua bảy năm dài đăng đẳng ở bậc Trung học. Thật ngỡ ngàng, ngỡ ngàng như tâm trạng của ‘‘chú bé Nguyên’’thuở mới tập tễnh bước lên bậc Trung Học.

‘‘Tất cả rồi cũng sẽ quen đi’’. Tôi nghĩ như vậy. Nhưng dù sao ở những giây phút này nó vẫn mang một vẻ tươi vui, ngộ nghĩnh và quyến luyến vô cùng đối với tôi. Thế là vô tình tôi lại có một kỷ niệm nho nhỏ len nhẹ vào tâm tư. 
                                    
Quả thật chưa bao giờ tôi nghĩ đến những diễn tiến tốt đẹp hiện tại. Nếu có, chỉ là ý nghĩ về những kỷ niệm xa vời. Một khúc phim dĩ vãng được quay lại và luôn luôn để lại trong tôi những tiếc thương nhen nhúm, những thoáng nhớ vu vơ. 

 Ngay cả những dự định về tương lai tôi cũng chưa hề nghĩ đến, chưa hề đặt thành vấn đề để mà suy tính, chọn lựa. Tôi đã chìm đắm trong nếp sống lè phè, chỉ biết thụ hưởng của đa số sinh viên. Thật vậy! Quan niệm này không hiểu từ đâu mà có ? Và phát xuất tự bao giờ ? Chỉ biết nó được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và đến lớp của tôi, không biết nó đã trải qua bao nhiêu đời. Tâm trạng chung của bọn tôi là như vậy. Dường như ai cũng quan niệm rằng ngần ấy đã quá đủ. Quá đủ để bon chen với đời. Quá đủ để sống giữa xã hội xa hoa phù phiếm, trọng bằng cấp hơn danh dự con người. Mảnh bằng Tú Tài 2 ! 

Nỗi chán chường chợt đến với tôi. Tôi chẳng muốn đặt chân vào cổng trường một chút nào cả mặc dù môn học hôm nay là môn ‘‘Dân Luật’’ không đến nỗi khô khan. Tôi uể oải rời yên xe, thả bộ dọc theo con đường Duy Tân, hướng về Công Trường Chiến Sĩ. 

Tôi cũng chẳng buồn để ý đến những cô nữ sinh viên tươi mát đứng dọc hai bên lề đường. Tôi chán tất cả. Ngay cả những điều mà tôi hằng mơ ước. Tôi có cảm tưởng hình như con đường đã được nối dài thêm ra với những bước chân nặng nề, rời rạc của tôi. Chồng cours ôm trên tay có vẻ thừa thãi quá. Thừa thãi như thế đứng của tôi giữa khuôn viên trường Luật. 

Tôi dừng lại, thọc tay vào túi áo tìm gói thuốc, gài lên môi một điếu rồi châm lửa hút. Có phải tuổi trẻ của tôi đã tự hủy hoại qua những thú tiêu khiển này ? Ngụm thuốc đầu tiên được đẩy sâu vào cuống họng, lan ra trong buồng phổi, tôi thấy nghèn nghẹn ở ngực và chu môi phà thật mạnh. Khói thuốc lãng đãng, mơ hồ rồi tan theo những cơn gió thoảng như tương lai tôi vừa vụt mất. 

Lý tưởng !? Tại sao tôi lại không nghĩ đến lý tưởng ? Có phải quan niệm đi tìm lý tưởng là đuổi bắt một việc mơ hồ khiến tôi không còn can đảm để mà nghĩ đến nó chăng ? Tôi bật cười khan, nện mạnh gót giầy xuống mặt đường. 

Học để làm gì ? Thật khó mà tìm thấy trong bọn tôi một số người học vì lý tưởng ! Sinh viên! Đó chẳng qua chỉ là một cái vỏ để chúng tôi che đậy sự ích kỷ, hủy hoại của mình. Tôi đã tự kiểm thảo ? Vâng. Và tôi đã thấy những lỗi lầm không thể tha thứ được của tuổi trẻ chúng tôi. Bậc đàn anh của chúng tôi chỉ nghĩ đến những cuộc cách mạng tư tưởng đám đàn em. Vì thế mà chúng tôi sa lầy. Vì thế mà chúng tôi buông thả, vứt bỏ cả tương lai để thụ hưởng và phá phách. Tôi vẫn nghĩ, hành động hung hăng của chúng tôi là một hành động phá khách chứ không vì một lý tưởng cao đẹp nào cả ? Có phải vì thế mà tôi cô đơn, thừa thãi trong khuôn viên trường Luật này? 

Tôi băng qua đường, bước lên thềm cổng trường, tiến đến chiếc ghế đá còn trống. Chồng cours nằm hờ hững trên mặt ghế biểu lộ nỗi chán  chường hiện hữu trong tôi. Tôi búng đi mẩu thuốc còn sót lại không một chút hối tiếc như chính tôi đã vứt đi tuổi xanh ngà ngọc. 

Những tia nắng ấm đầu tiên của một ngày mùa đông vừa hiện diện Tôi nghịch ngợm dịch người sang một bên, hong mình trong sợi nắng vàng mong manh tìm hơi ấm. Một cảm giác khoan khoái len nhẹ vào hồn. Tôi hướng tầm mắt về nhà thờ Đức Bà, thật gần nhưng cũng thật xa, tương lai tôi đó. Phải trở lại từ khởi điểm. Tôi thầm nghĩ như vậy, Và không bi thảm hóa cuộc đời để một chút hy vọng còn nhen nhúm trong tôi có dịp bừng cháy. Tôi cười. Nụ cuời méo xệch. 

Một bàn tay đập mạnh trên vai tôi, tôi giật mình ngoảnh lại:

- A! Dương ! Tao tưởng hôm nay mày nghỉ ? 

- Ừ nghỉ ! Nhưng vẫn đến trường. 

- Thói quen? 

- Hẳn vậy ! 

- Thấy thằng Dũng, thằng Bằng đâu không ? 

- Không! Nhưng thế nào tụi nó cũng mò ra đây. Tao có cảm tưởng hình như chúng mình đi chơi chứ không phải đi học. 

- Tao cũng nghĩ vậy ! 

Dương dựng xe, ngồi xuống cạnh tôi : 

- Thế mà lúc trước mình cứ tưởng khung cảnh Đại Học đẹp và xôm trò lắm. Có đặt chân vào rồi mới biết ! Mình lầm ! 

- Tao nghĩ không phải mình lầm. Chẳng qua tại mình không đủ nghị lực để chống trả với căn bệnh di truyền hiểm nghèo ấy. 

- Bệnh di truyền ? 

- Ừ! 

- Có lẽ vậy ? 

- Hẳn là như vậy rồi chứ còn có lẽ gì nữa ! 

- Mày tìm được chỗ dạy chưa ? 

- Chưa ! Chỗ nào cũng chê. Họ đòi phải có chứng chỉ MPC. 

- MPC thì hơn gì mình ? 

- Ấy thế mà nó vẫn hơn. 

- Đời ! 

- Ừ đời! 

Cả hai cùng yên lặng. Không hiểu Dương nghĩ gì. Riêng tôi, tôi đang bận tâm không ít về công việc xin kèm tại tư gia mà tôi đã tìm long tóc gáy từ hơn tháng trời nay mà vẫn chưa nơi nào mượn. Phải gọi là mượn vì chúng tôi là những kẻ được mọi người bỏ tiền ra mướn. Có tiền là nhất ! Tiền làm đảo lộn giai cấp trong xã hội phức tạp này. 

Trong đám bốn thằng chúng tôi. Bằng là đứa may mắn nhất đã tìm được việc dạy dỗ con nít. Tuy vậy hắn cũng chưa hài lòng và thường than vãn với chúng tôi rằng ‘‘Dạy bực mình bỏ xừ ! Học trò hỗn không thể tưởng. Chúng ỷ cha mẹ chúng có tiền mướn mình, chúng coi mình chẳng có gờ ram nào cả. Đã vậy, lương như lương thí ! Mà nào có yên đâu. Mắng mỏ hoặc đập chúng một cái là mất chỗ ngay. Có lẽ tao chỉ dạy được một tháng là cùng. Kiếm chỗ khác xem sao.’’ 

Đó là kinh nghiệm của một thằng đi trước nói lại cho chúng tôi nghe. Nhiều lúc, tôi muốn bỏ ngay ý định đi dạy, kiếm thêm chút tiền để tiêu xài. Nhưng nghĩ lại, dù sao mình cũng đã lớn, chẳng nhẽ việc lớn nhỏ gì cũng ngửa tay xin bố mẹ hết sao. Giá gia đình tôi khá giả thì chẳng còn gì đáng để tôi bận tâm, chỉ việc ăn rồi học. Nhất nhất chuyện gì cũng có gia đình lo. Con nhà giàu sướng như thế đó, Bất giác tôi buông tiếng thở dài. 

Tôi nhìn Dương hỏi : 

- Còn mày ! Công việc ngã ngũ gì chưa ?

Dương chán nản lắc đầu:

- Cũng thế ! Bực nhất là buổi chiều hôm qua. Tao tìm đến địa chỉ căn nhà đường Trần Nhật Duật, họ tiếp mình như tiếp một kẻ đi xin tiền. Bất mãn. Tao cóc cần. Tao bảo tao học Khoa học, có MPC nhưng không muốn dạy, hỏi chơi thôi. 

- Phản ứng của họ ? 

- Cánh cửa đóng thật mạnh. Chấn động như tiếng phản lực cơ vượt bức tường âm thanh. 

Tôi nhìn hắn, cả hai cùng bật cười. Bi thảm thật ! Mảnh bằng!? Chứng chỉ !? Nghe thì oai lắm. Nhưng người đời đã đánh giá nó rẻ mạt. Tôi bật cười khan khi nghĩ tới hàng chữ ‘‘cử nhân năm thứ nhất’’ được đánh máy cẩn thận trong tấm thẻ sinh viên. Thuở còn ngồi ở Võ Trường Toản, nhìn những anh sinh viên sao mà chúng tôi thèm thuồng thế. Tôi nghĩ, phải khó nhọc lắm mới khoác được chiếc áo sinh viên vì thế thật hãnh diện. Nhất là đối với các cô. Ôm cái ‘‘mác’’ sinh viên Luật đi tán gái thì kết quả có thể bảo đảm đến 90% thành công. Thật là buồn cười. 

Dương phá tan bầu không khí yên lặng : 

- Mới năm đầu mà tao đã có cảm tưởng khó mà vớ được chứng chỉ một. 

Tôi gật đầu đồng ý. Dương tiếp : 

- Cái điệu này rồi cũng nửa thầy nửa thợ. 

Tôi thêm : 

- Ông chẳng ra ông ! Thằng chẳng ra thằng ! 

- Tao chẳng hiểu mình đang làm cái trò trống gì ? Hồi còn ở Trung Học thì lo trau dồi bài vở để giựt được cái bằng với người ta. Bây giờ toại nguyện, lên được Đại Học rồi, đôi khi tao nghĩ không phải mình đi học và tao cũng chẳng quan tâm gì lắm với ba cái chứng chỉ. Thật lạ ! 

- Chẳng có gì lạ cả nếu có một cuộc cách mạng toàn diện sinh hoạt sinh viên. 

- Biết đến bao giờ !? 

-  Thế mới bảo mình đang lâm vào con đường tự hủy diệt. 

- Có bao giờ mày nghĩ đến tương lai chưa ? 

- Chưa ! 

- Lạ nhỉ! Trăm thằng như một. 

- Mình học để làm gì ? 

- Chẳng hiểu ! Mà mình có học đâu ? 

- Tao vừa nghĩ ra một lối giải quyết ! 

- Làm sao ? 

- Mình cứ học. Đừng để ý đến vấn đề gì cả như vậy có lẽ học được. 

- Đã dọn đường chưa ? 

- Rồi, cứ thế mà tiếp tục cho đến ngày thành ‘‘thầy cãi’’ ! Ý nguyện của bọn mình ngày xưa, mày không nhớ sao ? 

-  Nhớ chứ ! Nhưng tao không tin tưởng và lối giải quyết của tao lại khác. 

- Thế nào ? 

- Đi lính. 

Tôi ngạc nhiên : 

-  Mày đã chọn ? 

 - Gần như vậy. 

Đi lính !? Quả thật chưa bao giờ tôi nghĩ đến giải pháp này. Vấn đề động viên đối với chúng tôi không quan trọng bởi vì chúng tôi dư điều kiện để tiếp tục lè phè và thụ hưởng. Nếu có, chỉ là một sự tình nguyện dấn thân nhập cuộc. Binh nghiệp không phải là con đường của chúng tôi đi. Nếu chọn làm lý tưởng thì tôi đã chấp nhận nó trong mùa hè vừa rồi. Câu nói của Dương phát ra thật đúng lúc để tôi lấy đó làm đề tài suy gẫm! 

Tôi đã từng được nghe nói nhiều về nếp sống nhà binh. Trong đầu óc tôi lúc nào cũng hiện lên hình ảnh của một cuộc sống đầy khổ cực và cam go. Tôi cảm phục những người đã và đang khoác chiếc áo Kaki trên người. Hình như trong ánh mắt họ lúc nào cũng phát ra những tia nhìn đầy tin tưởng vào tương lai, sẵn sàng khắc phục tất cả mọi khó khăn. Có lần tôi được nghe ông anh tôi kể lại nếp sống tại đơn vị. Thành thật mà nói, câu chuyện đã hấp dẫn tôi vô cùng. Chỉ được nghe thôi mà tôi cũng đã muốn chính thức tham dự vào cuộc sống hào hùng đó. Không hiểu động lực nào đã thúc đẩy anh tôi chọn nó làm lý tưởng cho đời mình. Tôi chỉ biết mang máng từ thuở bé anh tôi đã thích nghiệp võ và quả thật anh ấy rất oai trong bộ lễ phục sinh viên Sĩ Quan Đà Lạt. Mỗi lần anh ấy về phép là một lần ý nghĩ lên đường nhập cuộc sống dậy trong tôi mãnh liệt. 

Phải chăng tôi đã lầm khi chọn Luật Khoa làm con đường lý tưởng của mình ? Có lẽ vậy ! Bởi vì hồi đó trong tôi không có một chút đắn đo, suy nghĩ về việc nên theo khoa nào. Và khoa nào mới hợp với khả năng, con người của mình. Việc chọn Luật khoa gần như là một phong trào đã lôi cuốn chúng tôi qua những lời rỉ tai nào lè phè, tài tử v.v... Có nghĩa là chúng tôi chấp nhận nếp sống lè phè của sinh viên Luật, chấp nhận sự sa lầy của tuổi trẻ.  

Một chút hối hận chợt dâng lên trong tôi. Bây giờ có muốn quay trở lại cũng đã quá muộn. Dù sao chúng tôi cũng đã theo được một niên học và cũng chẳng còn bao lâu nữa chúng tôi thi. 

Sinh hoạt của những ngày cuối năm thật ồn ào. Nhìn nét mặt hân hoan của mọi người tôi thấy vui lây và muốn hòa mình trong không khí vui tươi bình lặng đó. Mấy hôm nay trường cũng đang tổ chức những buổi văn nghệ liên hoan. Tôi không chính thức tham dự vào ban nào của nhà trường nên tôi thật bình thản, không mấy quan tâm đến sự ồn ào của nó. 

Tôi nói với Dương : 

- Gần hè rồi mày nhỉ. 

Dương nhìn tôi trả lời : 

- Ừ ! Mày định làm gì không ? 

- Làm gì là làm gì ? 

     - Tổ chức họp mặt bạn bè hằng năm ấy. 

- Chưa biết ! 

Bổng có tiếng Dũng gọi tôi : 

- Ê, Nguyên ! 

Tôi ngoảnh lại, nhìn sang bên kia đường, Dũng và Bằng đã đứng đó tự bao giờ. Bằng đưa tay vẫy, tôi nói với Dương : 

- Qua với tụi nó mày. 

Dương uể oải đứng dậy, tôi ngồi lên xe hắn, phóng qua dường. Xe vừa ngừng, Bằng cất tiếng hỏi: 

- Về Trưng Vương không ? 

Tôi im lặng, Dương nói: 

- Về thì về. Đón tụi con Diễm hả ? 

Dũng cười : 

- Thằng thông minh thật. 

Dương tiếp : 

- Có chuyện gì không ? 

Dũng đùa : 

- Bây giờ lại ngu, đến xem tụi nó có tổ chức văn nghệ văn gừng gì không để tụi mình vui ké với chứ. 

Tôi hỏi lại câu hỏi của Dương ban nãy: 

- Mày có định tổ chức gì không ? 

Dũng đáp: 

- Để xem!... Thôi lên đường. Chín giờ hai mươi rồi.  

Tôi quay trở lại trường lấy xe rồi cả bốn cùng nhắm hướng Trưng Vương trực chỉ. Khoảng năm phút sau, chúng tôi đến ‘‘khung trời dấu ái’’. Chúng tôi vẫn thường gọi ngôi trường Võ Trường Toản thân yêu và con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm là khung trời dấu ái. Dù sao chúng tôi cũng đã sống ở đây ròng rã suốt bảy năm trời. Bảy năm trời, một khoảng thời gian dài thườn thượt để lại trong tôi nhiều kỷ niệm mà có lẽ suốt đời tôi cũng không bao giờ quên. Tôi vẫn nhớ dáng dấp hiền hòa của ngôi trường mặc dù tôi đã đặt chân vào khung trời khác. Tôi thật sự thấm thía nỗi buồn khi tôi rời bỏ tất cả những gì quen thuộc nơi đây. Kỷ niệm thật đẹp dẫu cho nó là một kỷ niệm buồn. 

Bởi một chút mơ mộng tôi bảo Dương cứ việc đi và tôi dừng lại ngang cửa trường. Tất cả vẫn thế, không có gì thay đổi, ngay cả tấm bảng hiệu ‘‘Trường Trung Học Võ Trường Toản’’ đã phai màu. Tôi nhìn thật sâu vào trong đó và tôi thấy hình bóng mình đang nhảy múa rộn ràng. Ôi! Đẹp vô vàn ! Không còn ngôn ngữ nào để diễn tả tâm trạng tôi lúc này. Tôi muốn ngủ vùi trong không khí bình lặng thân yêu đó. Một ước mơ thật tầm thường. 

Tiếng còi xe inh ỏi và liên tục ở cuối đường khiến tôi giật mình trở về với hiện tại. Đó là hiệu lệnh của bọn Dương gọi tôi. Tôi phóng xe thật nhanh về cuối đường như một kẻ điên cuồng. Tiếng bánh xe rít đều trên mặt đường như nỗi hằn học phi lý của tôi vừa được trút bỏ. Diễm xinh hơn năm ngoái – ( Tôi nghĩ vậy) Vy, Hồng, Ngọc đứng trên lề giương mắt nhìn tôi. Tôi mỉm cười : 

- Chào quí vị. 

Diễm hỏi : 

- Anh còn luyến tiếc lắm sao ? 

Tôi đáp : 

- Ừ ! Kỷ niệm mà. 

Dũng vỗ vai tôi : 

- Năm nay các cô không tổ chức gì cả. Ngọc nói chờ tụi mình. 

Tôi nhìn Dũng : 

- Tùy mày. 

Dũng yên lặng. Diễm đến gần bên tôi : 

- Anh cho Diễm mượn quyển này. 

Tôi giữ tay Diễm : 

- Có gì đâu mà xem ? 

Diễm đanh đá : 

- ‘‘Kiểm soát’’ không được hả ? Diễm để ý thấy từ ngày anh chuyển sang ‘‘con đường Duy Tân’’ anh thay đổi nhiều đó nghe. 

- Anh thay đổi gì ? 

     - Tự hỏi anh á ! 

- Ừ, mà có lẽ anh thay đổi thật. 

Diễm phụng phịu : 

- Thấy chưa ! 

Tôi nhìn xa vời : 

- Một thay đổi quan trọng !... Có lẽ tụi anh bỏ cuộc, chấp nhận đời ‘‘nhà binh’’. 

Diễm ngạc nhiên đến độ hoảng hốt : 

- Anh nói đùa hay nói thật ? 

- Thật.  

- Cả bốn anh ? 

- Có lẽ ! 

- Uổng quá ! Sao anh không cố gắng học tiếp ? 

- Chán quá rồi Diễm ạ. 

- Chán mà anh lại chọn ? 

- Lỡ rồi. 

- Anh khó hiểu quá ! 

Con người tôi khó hiểu ? Có lẽ vậy ! Bởi vì chính tôi còn chưa hiểu được tôi nữa là. Đôi lúc tôi có cảm tưởng hình như mình đang bị vây hãm trong một căn phòng âm u, ẩm mốc. Thân xác tôi sẽ mục rã trong môi trường đó. Tôi không còn một chút sinh lực đả phá hoặc làm bất cứ một cái gì khả dĩ có thể lay chuyển được con người tôi. Căn phòng không có ánh sáng, tối mò như tương lai bi thảm của tôi. Biết thế nhưng tôi vẫn bất lực nhìn lý tưởng đời mình đang xa dần tầm tay với. 

Tại sao tôi lại nói với Diễm rằng ‘‘tôi sẽ bỏ cuộc chấp nhận đời nhà binh”, trong khi tôi chưa hề nghĩ đến nó bao giờ !? Ngay cả lúc này, khoảng thời gian ngắn ngủi tôi nghĩ về hình ảnh của một người lính. Lạ thật! Con người tôi phức tạp và khó hiểu thật. Có phải đó là triệu chứng của những đổi thay dồn dập sắp đến trong tôi !? 

Tiếng cười đùa hồn nhiên của các cô khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh xa xưa, ngày mà tôi còn run sợ mỗi khi đặt chân đến khu vực này. Tôi nhìn Diễm : 

- Sao lại buồn !? 

Vẫn cái nhìn sâu hun hút, Diễm đáp: 

- Tại anh !
Dũng tình cờ nghe lóm được, xen vào: 

- Bắt đền nó đi. 

Vy phụ họa: 

- Bữa nay anh Nguyên cả gan thật. Dám chọc giận người ta hả? 

Bằng tiếp: 

- Thế thì phải phạt nặng nề mới được. 

Tôi đánh trống lảng, nói lớn cho cả đám nghe: 

- Vụ tổ chức tiệc tùng tính sao? Dứt khoát đi chứ. 

Dũng: 

- Xong rồi! Bây giờ nhất định như thế này. Chiều hai mươi tám, nhà tao. 

Vy, Hồng, Ngọc vỗ tay hoan nghênh. Diễm vẫn buồn. Tôi phải nói vuốt: 

- Anh mới định như vậy thôi mà. Đã thực hành đâu? Vả lại cả bọn có đồng ý thì mới đi chứ đâu phải mình anh ? 

Diễm quay sang nói với Dũng: 

- Đừng đi nghe anh Dũng. 

Dũng ngạc nhiên: 

- Đi đâu? 

- Đi lính đó! 

- Ai bảo thế? 

- Anh Nguyên ! 

- Tầm bậy ! Nó bảo bao giờ ? 

- Vừa lúc nãy. 

Dũng phá lên cười : 

- Nó dọa cô đấy ! Làm gì có chuyện đi lính ? (Quay sang tôi) Mày định nhát người ta đó hả ? Bản mặt mày mà lính với tráng cái gì! 

Tôi cười, im lặng. Nét mặt Diễm tươi lên thấy rõ. Tự dưng tôi thấy thương hại Diễm mà không hiểu thương hại vì lý do gì.  

Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt Diễm, đôi mắt tròn đen láy, những cái chớp mắt nhẹ nhàng, mộng mơ khiến tôi bồi hồi và có một cái gì êm ái lắm vừa len nhẹ vào hồn, chuyển động theo từng thớ thịt, thần kinh. Tôi muốn ôm Diễm thật gọn trong vòng tay để tôi khỏi mất Diễm như chính tôi đã đánh lạc tương lai đời mình. Diễm sẽ nghĩ gì qua tia nhìn đầm ấm, thiết tha vừa rồi của tôi !? Tôi yêu Diễm ? Có lẽ vậy ! Và hình như Diễm đã yêu tôi thật nhiều qua những cử chỉ, lời nói thật chân thành, dễ thương của một cô bé mười bảy tuổi.  

Tôi hoàn toàn mù tịt không hiểu Diễm đã yêu tôi từ bao giờ ! Và tôi, tôi có yêu Diễm không ? Tôi và Diễm quen biết nhau từ hơn ba năm trời nay, cái thuở tôi còn là một thằng con trai mới lớn, một học sinh lớp đệ Tam. Tình bạn, tôi nghĩ thế, đã được dưỡng nuôi từ đó cho đến bây giờ. 

Kiểm điểm lại tôi thấy trong suốt thời gian qua tôi chưa hề buột miệng nói yêu Diễm. Phải công nhận rằng hình ảnh của Diễm luôn quấn quít bên tôi. Đó có phải một dữ kiện để tôi đoán chắc rằng tôi yêu Diễm !? Dù muốn dù không đối với mọi người, trước mắt bạn bè, tôi và Diễm đã được công nhận là đang chìm đắm trong bể tình yêu. Tôi mỉm cười, nụ cười chứa đựng nguồn hạnh phúc đã đến với tôi tự lúc nào tôi cũng chẳng hay. 

Diễm hỏi : 

- Anh nhìn gì Diễm ? 

Tôi đáp : 

- Anh tìm hình bóng mình trong đôi mắt Diễm. 

Diễm cười thật xinh : 

- Anh thấy không ? 

Tôi gật đầu : 

- Thấy ! Anh thấy anh trong cửa sổ linh hồn Diễm, đừng khép kín để anh còn hoan hỉ trao Diễm ngọn gió tình yêu. 

Diễm sung sướng : 

- Anh nói thật !? 

Tôi trả lời Diễm bằng cái nắm tay xiết mạnh, cái nắm tay của lịch sử tình yêu. Diễm chớp mắt liên hồi. Có lẽ Diễm đang đón nhận những xúc cảm ngào ngạt dâng lên, vũ bão như cơn lốc trở mình cho một ngày thay đổi. 

Tiếng chuông reo. Mười lăm phút ra chơi thật ngắn ngủi. Tiếng chuông đập vào thính giác tôi, gợi lại trong tôi nỗi xót xa, nuối tiếc… Tôi muốn được cái hân hạnh trở lại tháng ngày thần tiên vừa qua khỏi. Đàn ‘‘thỏ bạch’’, biệt hiệu chúng tôi dùng để gọi các cô nữ sinh áo trắng, lần lượt nối đuôi nhau mất hút sau cổng trường. Diễm gỡ tay ra, nói với tôi: 

- Thôi Diễm vào. 

Tôi gật đầu. 

- Chiều anh đến Diễm nghe!... Diễm... yêu anh. 

Vừa dứt câu, Diễm vụt chạy. Có lẽ cô nàng xấu hổ. Tôi lại gật đầu và không hiểu sao Diễm nói gì tôi cũng gật đầu như tuân theo một mệnh lệnh. Đó có phải là những cử chỉ ngoan ngoãn thường có ở những kẻ yêu nhau ? Tôi mỉm cười, không phải nụ cười méo xệch ban sáng mà là một nụ cười thật tươi, thật hạnh phúc. 

Cánh cửa sắt nặng nề khép lại. Diễm của tôi đã bị nhốt kín trong đó, thế giới hồn nhiên và mộng mơ của những tâm hồn mới lớn. Tôi quay nhìn Dương, Dũng, Bằng... Chúng cũng như tôi đôi mắt ngừng thật lâu ở cánh cửa và trên môi chưa tắt nụ cười.

___________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG II

CHƯA TẮT NỤ CƯỜI - Nguyễn Sỹ Nguyên


Truyện : NGUYỄN SỸ NGUYÊN
Loại Hoa Tím
Tủ sách Tuổi Hoa - 1972


Thứ Hai, 17 tháng 6, 2019

Ở MỘT NƠI NÀO ĐỂ NHỚ - N.T. Nguyễn


1. ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ

Tôi trở lại thị xã với một chút bụi mưa đầu mùa vương trên mái tóc, trên đôi mắt bơ vơ trông tìm. Thị xã đó, quê hương tuổi nhỏ ngu ngơ ngày nào, xứ sở của những kỷ niệm êm ái, ngọt ngào, yêu dấu lẫn cay đắng, sầu muộn xót xa, đã tượng hình thành tưởng nhớ trong hồn – vòng kỷ niệm theo thời gian đi xa ngút ngàn.

Buổi chiều, chiếc xe hơi nhỏ của cậu Hồng Ngự lướt êm trên đường vào thị xã. Hôm đó, cậu Hồng Ngự mặc một chiếc áo nửa màu xám nhạt trẻ trung khoác ngoài chiếc chemise trắng hiền lành cổ kéo cao, mái tóc mỏng bối rối vờn quanh trán, dáng cậu đứng như một cậu học trò trung học đang bâng khuâng trước một cổng trường con gái bồi hồi chờ tiếng trống tan trường. Hình ảnh của một thời thanh bình xa xưa nào, có lẽ là năm cậu mười bẩy tuổi. Bây giờ thì cậu già rồi, tôi nhận thấy những nếp nhăn hao gầy hằn đậm trên trán, quanh vành môi mím chặt cương nghị và trên đôi mắt vui tươi thủa nào, chỉ còn lại những quầng thâm mệt mỏi và dấu nhẫn nhục ẩn dưới mi. Bốn, năm năm qua rồi, đời sống, thời gian như dòng nước lũ ào ạt xói mòn phiến đá tâm hồn người thành nhẵn thín, trơ tráo, lạnh lùng. Cậu Hồng Ngự bây giờ bình lặng quá, thờ ơ quá, an nhiên quá đâu còn thủa say sưa, sôi nổi, bồng bột của tuổi thanh niên. Ra đi một lần, trở lại tôi thấy cậu già không ngờ.

Cậu Hồng Ngự đón tôi ở sân phi trường. Tôi nhỏ nhoi trong đám hành khách già nua, câm nín, thưa thớt của chuyến bay muộn buổi chiều. Xuống hết nấc thang cuối cùng, đặt chân lên đất cũ, tôi bỗng thấy hồn mình chùng lại muốn khóc, như thể những bồi hồi, nhung nhớ, náo nức, đợi chờ hai tuần liền năn nỉ ba mẹ bỗng vỡ òa thành nỗi ngậm ngùi, lai láng, mừng vui của một đứa trẻ bị bắt cóc được tha về. Ôi! Những Luân, Hạc, Triều bây giờ ra sao? Thánh địa chôn vùi thời tươi đẹp nhất của đời ta, xơ xác, tiêu điều đến mức nào?

Cậu Hồng Ngự vỗ vai tôi:

– Mừng chú chim nhỏ trở lại. Đất này vẫn hoài chờ đợi những con chim nhí nhảnh ngày xưa đây…

Tôi cắn môi nhìn nắng úa đổ xuống phi trường, chả biết mình buồn hay vui?

– Đạm Thủy không về à?

– Thưa cậu, không. Chị ấy còn phải thi cuối niên.

– Còn Cu Linh?

– Thưa cậu, hắn ốm, ba me cháu không cho đi.

– Ba me cháu, các chú, bác, ông bà mạnh cả chứ?

– Cám ơn cậu, tất cả vẫn mạnh như thường và vẫn nhắc đến cậu luôn.

Cậu Hồng Ngự vừa hỏi những câu xã giao nhàm chán đó ư? Ngày xưa cậu hay ho thế nào, vui vẻ thế nào; cậu đã từng chủ trương bỏ hết những quy tắc xã giao bôi bác – “giữa cậu cháu với nhau, mà còn xã giao thì còn cái thống chế gì nữa Chinh nhỉ? – Ồ! Nhất cậu Ngự, chịu cậu Ngự nhất nhà”. Mà bây giờ… tôi nhìn cậu và hiểu là cậu đã già rồi, tôi nhủ thầm “mi ngớ ngẩn quá Chinh ơi!”

Bây giờ xe đang chạy trên đường. Đồng cỏ quạnh hiu hai bên đường chạy lùi về phía sau lưng cùng lúc với bóng chiều là đà xuống thấp, không dưng tạo cho tôi cảm giác ngược thời gian về quá khứ. Cậu Hồng Ngự đang tỉ mỉ tả ngôi nhà mới hai tầng, ngói đỏ, có hàng rào hoa giấy của cậu mợ, về mấy đứa nhỏ đã đi học và đứng hạng cao, về đứa cháu gái xinh đẹp vừa ra đời mấy tháng trước mà cậu mợ âu yếm đặt tên là Hòa Bình – Mộng Hòa Bình.

Tôi mân mê chiếc sắc nhỏ trong tay, im lặng nhìn những trại lính lạnh lẽo với tầng gác vọng canh xếp đầy bao cát và dây kẽm gai giăng buồn hai bên đường đang ngủ yên trong bóng tối xa vời, không biết phải nói gì với một người cha đang khoe con gái mình. Giọng cậu Hồng Ngự trầm trầm ru êm cùng với vận tốc chiếc xe chầm chậm chạy về hướng thị xã. Cậu chép miệng vu vơ:

– Mới ngày nào cháu mới đứng đến vai cậu, mà bây giờ trông người lớn hẳn ra. Thời gian qua nhanh thật…

Cậu nháy mắt:

– Chừng nào cho cậu uống rượu đây hở, người lớn?

Tôi nguýt dài:

– Có… tết Congo cậu ạ! – Tôi vội vàng lảng chuyện – cháu lớn thật hả cậu? Biết bạn bè cháu có ai còn nhớ đến cháu không? Cứ tưởng tượng bọn cháu phải nhìn mặt nhau xa lạ mà cháu buồn. Mấy hôm trước có lần đi chợ Sàigòn gặp cô bạn cũ, chào ba bận mà cô ấy vẫn làm ngơ. Ôi chao, bây giờ cháu mới tự hỏi tại sao cháu trở về làm gì? Tại sao cháu cứ thích dẫm chân lại những lối mòn quá khứ mà không chừng rêu rong đã xóa mất dấu chân xưa rồi.

– Chú chim nhỏ lãng mạn…

– Cháu cứ sợ con chim nhí nhảnh ngày xưa của cậu sẽ thành chim nhỏ lẻ loi mất thôi cậu ạ!

Cậu Hồng Ngự quay lại nhìn sâu vào mắt tôi và tôi tìm thấy trong mắt cậu nụ cười ngày xưa, thời tôi bé bỏng và cậu là người bạn thân thiết cảm thông, người anh trìu mến, bảo bọc, đã nắm tay tôi cùng đi qua những đoạn đời yêu dấu.

– Đừng bi quan chứ Chinh. Đừng đòi hỏi ở đời sống một cái gì tuyệt đối bởi mình cũng không hoàn toàn mà. Chinh đang lớn nghĩa là Chinh cũng đang thay đổi đừng trách người ta một khi người ta thay đổi chứ, phải không?

Tôi đan những ngón tay chéo lại nhau, nhìn xuống ngón chân mình:

– Vâng, thưa cậu.

Gió đem hương đồng nội lồng vào tóc, thoảng mùi thiên lý tôi nhớ vẫn ươm trong tóc luôn ngày nào quen thuộc quá, nhớ đôi mắt của Hạc ướt nỗi buồn hôm tiễn tôi đi Saigon, cái siết tay thân ái của Triều, nụ cười nhắn nhủ của cô nhỏ khi nâng cao ly nước trong tay:

– Mi đi học trường khác, mi nhớ kiếm trường nào có xe đậu xanh đậu đỏ, để mỗi khi mi uống vào nhớ đến tụi ta hôm nay.

Tôi ngậm chiếc thìa trong môi nhìn những hạt đá nhỏ tan trong ly nước, bọn chúng mình cũng thế phải không Luân? Rồi mai mốt mỗi đứa mỗi tan biến đời mênh mông hun hút, biết chừng nào hội ngộ? Hôm đó là cuối hạ, phượng hồng rơi đầy trên lối vào trường. Có tiếng hát chia tay từ một lớp học nào trên cao văng vẳng xuống làm tôi suýt bật khóc. Chỉ thiếu có Luân…

Sao tôi hay nhớ lẩn thẩn thế không biết! Minh Nguyệt có nói một lần xa lắm là văn Chinh sao chỉ toàn nhớ nhớ với thương thương, thiết tha hoài niệm với hồn nhiên tưởng nhớ thôi. Có chán lắm không Nguyệt? Nhưng đôi khi đời sống chỉ còn kỷ niệm là đẹp thôi thì sao, và suốt đời tôi chỉ là con bé hay nhớ thương. Tôi không thực tế lắm, ba tôi bảo sau này có lẽ tôi sẽ nghèo xơ xác cho mà coi.

Bây giờ lại nhớ đến nhiều tên người…


2. CHÚNG MÌNH

Chúng tôi có bốn đứa: Luân, Chinh, Hạc, và Triều theo thứ tự chiếm bốn hạng đầu lớp. Ngôi thứ đó cứ như thế mãi từ khi học tiểu học đến năm đệ tứ và không biết sẽ đến bao giờ nếu tôi không bị bắt buộc rời thị xã và cơn đau không làm Luân bỏ lớp học vĩnh viễn. Nhưng sự ganh đua trong việc học không phải là nguyên nhân để bốn đứa xa lạ với nhau. Hình như giữa chúng tôi đã có một sợi dây vô hình nào âm thầm buộc bốn cô học trò đầu lớp lại với nhau – ít nhất là suốt thời gian ở thị xã.
Làm sao để nói cho hết kỷ niệm của tháng năm ngày ấy ngọt ngào đó Luân nhỉ?


3. ĐÃ CÓ MỘT LẦN LUÂN VỚI TA…

Luân ngồi trên bậc thềm đá hoa của thư viện, cằm tựa trên đầu gối, bâng quơ nhổ những cọng cỏ non xanh mạ mọc dưới chân. Buổi sáng mùa đông hắt hiu lạnh để tôi nghe thèm một chút hương khói tình cảm len nhẹ vào mắt, vào môi cười se sắt của Luân. Luân mặc áo len màu tím mơ ngoài áo dài vải trắng, tóc phủ ngang vai, cặp sách màu đen và mang dép tím, trông cô bé đơn sơ như một tình khúc nhỏ trong ca dao. Tôi cầm một cành lá úa ướt dầm sương mai trong tay nhìn hàng lớp học mờ sương xa xa, thời khắc đẹp đẽ quá để nói một cái gì… chúng tôi thường có những lúc nhìn nhau không nói năng đó Luân biết không? Chinh biết mắt Luân màu nâu sậm, à! Như tách cà phê đen bố hay uống, cà phê mà Chinh chỉ biết ngửi chứ không dám uống bao giờ – có rất nhiều đốm sáng nhỏ như tiếng vỗ tay tan trong lớp học hôm tất niên và cũng có rất nhiều nước mắt, có rất nhiều nỗi buồn. Chinh biết má Luân hồng khi cô giáo bắt được Luân đang viết thư cho Chinh trong giờ học, biết môi Luân đỏ lúc Luân giận hờn cắn môi làm dáng, biết Luân có hai chiếc răng khểnh “tỉ phú” (Hạc bảo có hai răng khểnh là số giàu sang – Mai mốt Chinh nghèo đến mượn tiền Luân cho mượn nhé – Luân sẽ lập một cái nhà băng và cho Chinh làm giám đốc – Nhỡ Chinh không thèm tham nhũng thì sao? Thì…) khi Luân bối rối mỉm cười – khi Luân đứng cấu lá thiên lý nói chuyện qua rào gỗ với Chinh. Biết hai tay Luân có những móng hồng hồng chăm chỉ thêu từng mũi chỉ lam trên chiếc khăn tay trắng, khi Luân chăm chú tô đậm nét Lan mềm mại trong giờ khảo họa. Biết hai bàn chân Luân xinh xắn – hôm mùng ba Tết, Luân mang hài nhung đỏ đứng trên bực thềm hái trộm một quả quất chín mọng rồi che miệng cười tươi – lúc Luân đi bộ trong sân trường bỗng nhiên quai guốc đứt và hai đứa loay hoay sửa mãi, “con gái chi mà đoảng vị dễ sợ, chả coi chừng guốc dép chi hết” Luân nhăn nhó gượng cười – bây giờ và mãi về sau, Chinh vẫn còn nhớ rất rõ từng nụ cười của Luân – Năm mười lăm tuổi, biết Luân rất thông minh nên luôn luôn đứng đầu lớp, nên đa mang nhiều nỗi buồn trước tuổi và Chinh cứ phải van xin Luân đừng buồn – đừng mỉm cười một cách khó khăn – và đừng bước vội bởi sân trường ấu thời, đồng cỏ niên thiếu quá hẹp để đi nhanh. Biết Luân hay ốm đau khi Luân co ro trong áo len sụt sùi nhẩy mũi sáng mùa đông “Mỗi lần Luân đau, Luân biết Chinh nhớ Luân nhiều lắm, Luân nhẩy mũi hoài à!” và khi bắt gặp trong ngăn kéo Luân những toa thuốc xa lạ nào.

Luân rất dễ thương, bởi có Luân nên Chinh hiểu thêm ý vị của đời học trò. Sau này, tôi yêu những chuyện tình dễ thương ẩn dưới bóng lá trường trung học bởi ở một xó xỉnh khiêm nhường cũ kỹ nào đó trong lịch sử những ngôi trường đã có dáng tôi và Luân tay trong tay, lọt giữa hai hàng cây lá đan nhau đi vào tình ca ngàn đời.

– Luân ơi! Luân biết mầu tím là chi không?

– Không!

– Tình yêu chung thủy, nhớ thương tha thiết, màu sương phụ…

– Ơ! Luân biết màu tím là màu “cóc chết”, chắc Chinh chưa nghe màu này phải không?

– Ơ… màu gì mà “cóc chết” nghe dễ sợ…

Luân tinh nghịch:

– Thì con cóc khi chết chẳng màu tím thì màu chi?

Tôi trả đũa:

– Vậy bây giờ Luân chắc trông giống cóc chết lắm không há?

– Ừ, sợ không?

Tôi quàng tay qua vai Luân:

– Không!

– Chứ Chinh sợ cái gì?

– Chinh… sợ nhất là con gián, nhì là thuốc bắc, eo ơi! Đắng dễ sợ, ba là… sợ Luân khóc.

– Ghê, làm như Luân là ma nhè không bằng.

Luân lắc lắc đầu, mái tóc hồn nhiên tung tăng trên vai rủ rê nỗi buồn nhẹ nhàng len vào đâu đó trong trí nhớ của tôi. Có một lần Luân nói – một lần mà bây giờ tưởng như đã thiên thu:

– Luân giả bộ chết trước để thấy Chinh khóc nhé!

– Chết mà giả bộ được!

– Ơ… thì chết thực đi.

– Chinh cũng xin chết trước để thấy Luân khóc.

– Chinh sống lâu lắm.

– Ai nói vậy bạn?

– Thì Luân nói, được không?

Mười lăm tuổi ít ai nghĩ đến sự chết. Tôi cũng thế, hai đứa triền miên trong mùa Xuân của tuổi, như lúc này: ngồi nhỏ nhoi bên nhau – Sân trường mênh mông gió lùa, hàng cây lá xanh trên cao bao dung nhìn xuống. Luân ngắt một cọng cỏ may, nhìn trời hát nhỏ: Đồng cỏ như bàn tay trời như mắt say ta ngó nhau ôi còn biết nói gì, hai đứa ngồi ngồi đó như hai hòn bi. Có cành hoa đẹp anh hái cho em, em không thèm nhận anh chết cho xem rồi anh sẽ khóc liên miên suốt ngày…”

Hai đứa ngồi đó như hai hòn bi.

Bây giờ, tôi vẫn hình dung được hai hòn bi xinh xắn ngồi sát bên nhau trên thềm thư viện – nhưng ở nhiều nấc cao thần thánh hơn và lấp lánh trong suốt như pha lê –

Tất cả chỉ còn là kỷ niệm…

Tôi và Luân thường đi nhà nguyện chiều thứ bảy – Luân có đạo còn tôi thì không – con đường thầm kín qua tu viện có các Sơ áo đen, da trắng đẹp như thiên thần. Tôi nhớ một cây liễu nhỏ rũ lá trước cửa nhà nguyện, Luân đứng sau bức màn lá mỏng cười, nụ cười bị cắt thành nhiều mảnh thấp thoáng. Bây giờ cây liễu chết lâu rồi – khi thuốc khai quang tạt qua thị xã – thân gầy làm phân bón cho con đường cỏ mục. Luân yên lặng chắp tay nguyện cầu, tôi len lén nhìn sang cô bạn nhỏ, tưởng tượng đến một thiên thần với chiếc vương miện bạc và đôi cánh trắng rực rỡ – như hôm Luân được làm thiên thần mặc áo xanh ngồi trên kiệu hoa ngày Giáng sinh –

– Luân ơi!

– Gì cơ?

– Cái ông thánh cầm chiếc chìa khóa bạc là ông gì vậy?

– Ông Phê-Rô giữ cửa thiên đàng đó.

– Luân quen ông ấy không?

Luân quay lại, mắt mở tròn ngây thơ:

– Chinh nói chuyện lẩn thẩn lạ, làm sao Luân quen với các thánh được hở?

– Tại Luân là một thiên thần.

– Eo ơi! Bạn cũng ghê quá hở?

– Ghê sao?

– Bạn tán giỏi lắm, Chinh ạ.

– Ghê!

Tôi le lưỡi, Luân cũng le lưỡi rồi cô bé làm mặt nghiêm ngay:

– Suỵt! Đừng nói chuyện trong nhà nguyện, Chúa phạt.

Hai đứa bắt chước nhau im lặng – ánh đèn rọi xuống linh hồn ngây thơ – tay chắp mũm mĩm lặng lẽ nguyện cầu.

Tôi nguyện nhiều mà Chúa chẳng cho được bao nhiêu.

Sau khi rời thị xã về Saigon tôi ít đi nhà thờ dần. Saigon không có nhà nguyện nhỏ như thị xã và bây giờ tôi không còn nhớ được hết những trang kinh thánh nữa.


4. ÔI YÊU THƯƠNG NGHE ĐÃ BUỒN

Tên cô bé ở hàng số 27 trong sổ điểm danh – cách tôi 20 tên người – Mỗi sáng đọc sổ điểm danh, từng tiếng “có” đều đều luôn luôn làm lòng tôi ấm lại.

Vũ Minh Luân (tên Luân giống hệt một cậu con trai nào nên giờ học đầu tiên, luôn luôn cô nhỏ bị gọi lên trước nhất)

– Vắng!

Tôi ngẩng đầu lên, chỗ ngồi đó – bàn thứ hai, đầu bàn dãy bên phải – thân thuộc quá của Luân, tưởng đã không thể thiếu vắng trong đời sách vở này của tôi. Cơn đau đã làm Luân bỏ lớp học, bạn bè để làm quen với thuốc men và bệnh viện. Từ cô học sinh đầu lớp vắng mặt, kỳ thi trở thành một mục đích hấp dẫn hào hứng giữa tôi, Hạc và Triều. Tôi bù đầu trong sách vở – Luân ạ! Học giỏi cũng khổ ghê hở? Như bây giờ đôi lúc Chinh tưởng mình thầm mong Luân bệnh nặng để chiếm chiếc ghế đầu lớp đã tranh đua bao năm.

(Thời đó thứ hạng còn là một điều quan trọng giữa chúng tôi – bây giờ tôi không xem lúc trình ba chiếc bảng danh dự là hãnh diện nữa – tất cả theo thời gian đã thay đổi).

Tôi xuống chỗ ngồi. Hai đứa, tôi và Luân ngồi hai đầu bàn đối diện. Từ đầu bàn bên này, cảm nhận sự thiếu vắng của khoảng ghế bên kia, cái khoảng trống của một nỗi chết nào dễ sợ quá Luân ơi!

Tôi nhìn sang:

– Phương, sao bồ không ngồi xích ra ngoài này nè, dễ thấy bảng hơn.

Đông Phương trợn mắt:

– Thôi đi bồ ơi, chỗ ni có ma bịnh. Luân ngồi Luân bịnh, tui ngồi có một bữa mà nhức đầu sổ mũi luôn hà. Tui không dám ngồi đâu, bồ thích ngồi thì ngồi đi.

– Ừ! Bồ xích vô tui ngồi, sợ gì!

Tôi vác cặp sang chỗ Luân và ngồi luôn cho đến hết niên học, thầm mong chú ma bệnh nào đó bắt tôi theo Luân, bỏ hết những tranh đua, ghen tỵ, lạnh lùng âm thầm trong lớp – Tôi có rất ít bạn – Luân bảo tại Chinh “ít nói nghiêm nghị” quá chừng – đến bây giờ tôi cũng không có nhiều bạn hơn, phần lớn là người quen vụt đến, vụt đi qua đời mình hời hợt không nhớ thương, không để lại chút gì kỷ niệm – tôi không bịnh ngày nào cả làm Đông Phương ngạc nhiên, cô nhỏ thầm thì:

– Tại Chinh có vía lớn! Ma nó sợ.

Tôi cười, tôi không tin dị đoan lắm.

Tôi giở sổ điểm danh, ghi một chữ vắng vào chỗ số 27 – công việc đều đặn mà tôi đã làm gần một tháng nay và bao giờ sẽ chấm dứt, hở Luân? – dòng bút đỏ của cô giám thị gạch ngang chỗ tên Luân đã kéo dài gần hết trang giấy, tôi cứ sợ lằn bút định mệnh ấy sẽ vạch ngang qua tên Luân, qua nỗi hy vọng của tôi. Tôi cắn môi, mi lẩn thẩn chưa Chinh ơi!

– Ê! Chinh, sao Chinh cứ buồn hoài vậy?

Đông Phương tha thiết nhìn tôi, hôm đó cô nhỏ thắt bím cột hai chiếc nơ xanh dễ thương lạ. Tôi di di đầu bút chì trên giấy không trả lời, không biết trả lời ra sao.

– Rồi Luân sẽ khỏi sẽ đi học lại chứ có gì mà Chinh buồn, Chinh chăm học để đứng nhất kỳ này chứ!

Tự nhiên tôi cáu kỉnh:

– Phương làm sao biết được Chinh hối hận thế nào? Nhất! Nhất! Ôi chao, không ai để yên cho Chinh bao giờ hết.

Phương dịu dàng:

– Có, Phương hiểu chuyện đó. Nếu Chinh muốn Phương sẽ làm lành hộ Chinh.

Làm lành! Đã bao nhiêu lần tiếng đó vang vang trong óc tôi, chỉ vì hai đứa giận nhau, giận nhau không biết bởi vì đâu, chỉ nhớ hai cô bé ngồi hai đầu bàn, môi mím chặt, mặt bí xị nhìn lên bảng nhưng thỉnh thoảng lại không quên liếc xem “hắn” đang làm cái gì và có hồi tâm đến xin lỗi mình không? Hai đứa, hai tự ái cao bằng nhau. Từ đó sân trường thiếu một đôi chim khăng khít, thiếu hai cái bóng nhỏ nhắn in trên lối sỏi xám ven con đường cỏ may qua trường, thiếu những cánh thư qua lại trong giờ học và thiếu một đôi xe đạp xuôi về dưới hai hàng cây lá đợi chờ giờ học. Tôi ngồi khoanh tay, mắt cay vì tủi lén nhìn Luân thủ thỉ với Đông Phương, cô bé sao mà vô tâm thế. Tôi xuống nước:

– “Giờ chơi xuống thư viện với Chinh”.

Luân lạnh lùng:

– “Luân bận, rất tiếc”

Lần này, tôi giận Luân thật, cơn sóng ngầm nhỏ đã khuấy động biển thanh tịnh, chiếc gương tình bạn tưởng đã nứt rạn không ngờ. Tôi chờ đợi con chim trắng bay về đậu trên tay cô bạn nhỏ, trên tay tôi ngày này sang ngày khác – chuyện tình nào chẳng giận hờn Luân nhỉ – Luân vẫn xa lạ hững hờ, nỗi hờn giận như một cái gai nhỏ đâm vào tay, tuy bé nhưng nhói buốt xa xót vô cùng. Luân ạ! Tình yêu cũng như viên kẹo ngọt có một giọt rượu ở trong cùng, giọt rượu chỉ làm tê môi ta khi mình đã nếm hết mật ngọt ở bên ngoài có phải?

Buổi học có hai giờ trống, tôi rủ Ngọc Bảo xuống thư viện xem sách. Đôi mắt cô bé hơi cúi xuống khi tôi đi ngang qua bàn Luân, và lúc ra khỏi cửa, tôi còn bắt gặp cái nhìn buồn bã của cô bé vương theo.

Ngày cuối năm êm như ru, tôi ngồi đọc “Bóng Mát” mà thấy lòng mình không còn bóng mát. Tưởng tượng, Luân áo trắng hiện ra giữa nền cửa trắng, len lén đến bịt mắt tôi, cho tôi hỏi “ai đó” – Luân cười nhỏ – tôi nắm tay cô bé và tìm trong mắt Luân một bóng mát an nhiên mát lạnh. Bây giờ, tôi ngồi trong thư viện nhìn trang sách mà không đọc được một chữ nhỏ nào. Luân không xuống thư viện cho nỗi giận hờn của tôi trải dài bằng con đường từ lớp xuống thư viện, có xa lắm không Luân?

Bỗng một bước chân vang nhẹ ngoài thềm làm tim tôi đập mạnh, đập mạnh hơn khi cô bé đến gần hơn – nhưng tự ái giữ tôi không quay đầu lại:

– Trần Chinh!

Tôi nhắm mắt, tưởng không thất vọng nào hơn:

– Hạc đó hở? Có chuyện gì không?

– Chính lên lớp đi, tụi nó ồn như cái chợ vỡ trên ấy đó.

– Còn Luân đâu? Cô trưởng lớp đâu?

– Luân… không có ở lớp. Hạc năn nỉ mà, lên đi.

Tôi muốn hỏi “Luân đi đâu, tại sao?” nhưng vội giữ lại. Hai đứa ra hành lang thư viện, nắng làm tôi chói lòa, tôi che mắt, bóng mát còn xa lắm, phải không Luân?

Triều từ trên cầu thang chạy xuống, nhỏ hồn nhiên hét lên:

– Trời! Ta kiếm tụi mi muốn chết luôn. Chinh, mi với Luân giận chi mà dữ hở? Nhỏ Luân nó bịnh, ta vừa đưa nó về xong nè trời ơi! Trán nó nóng như lò lửa mà hai tay nó lạnh ngắt hơn nước đá, chút xíu nữa là hắn xỉu rồi nè. Ta chỉ tiếc không có mi để đưa hắn về.

Tôi nhíu mày:

– Triều… hở?

Hạc khổ sở:

– Nhỏ ni ác, mi báo tin kiểu đó hở? Luân về chưa?

– Chưa, hắn đuổi ta vô lớp mà…

Triều còn nói loáng thoáng gì đó, nhưng tôi không nghe, tôi lảo đảo nhìn Hạc, nhìn Triều, nhìn ra cổng trường hút gió. Hạc níu tay tôi ngập ngừng:

– Hắn gởi cho mi lá thư này!

Tôi dằng tay Hạc ra, bước vội về phía cổng trường, băng nhanh qua phòng tổng giám thị – tránh con mắt nghiêm khắc của các cô – vội vàng. Con đường hai hàng lá nhỏ vẫn ngủ yên bình thường trong nắng dịu. Luân không còn ở đó, bây giờ chắc Luân đang gục đầu trong một chiếc xích lô nào đó về nhà. Nước mắt Luân có còn vương trên má như khi cô bé ngồi viết thư cho tôi xin lỗi? Bóng mát an nhiên mà Chinh mong mỏi đâu phải là cơn mây xám bão nổi này đâu Luân, không có gì để chúng mình phải nói “xin lỗi, rất tiếc” với nhau vì viên kẹo đẹp có cả mật ngọt làm thơm môi lẫn vị đắng làm xót lưỡi – và vì chúng mình cùng ngậm một viên kẹo trong môi – Tôi vò nát lá thư trong tay lúc nào trên đường về lớp không biết…

Vắng Luân, lớp học buồn như mùa mưa dầm đến muộn. Còn gì buồn hơn cứ phải nắn nót hoài hoài mỗi sáng, mỗi ngày một điệp khúc “học sinh vắng mặt: Vũ… “ trong sổ điểm danh. Tôi co ro trong nỗi hối hận, cay đắng lẫn khổ sở của mình không ai biết, chút giận hờn vu vơ đã loang rộng thành mặc cảm giữa hai đứa. Tôi vẫn thường tự nhủ “chúng mình sẽ giúp nhau qua cơn mê này, phải không Luân?”


5. ĐÔI KHI HẠNH PHÚC BUỒN

Những ngày Luân đau tôi thường đi học sớm – tưởng như một thói quen – tôi thích đứng yên trong bóng tối xa lạ của lớp học lắng nghe kỷ niệm rủ nhau về đùa giỡn lao xao, như một kẻ sắp đi vào nghìn trùng xa cách. Tôi sắp sửa bỏ thị xã mà đi – bỏ trường mà đi – bỏ tất cả, bạn bè, kỷ niệm, láng giềng, thầy cô, người quen… Tôi không hiểu mình đã nghĩ gì khi ba tôi hoan hỉ cho cả nhà biết rằng ông vừa được thăng chức và thuyên chuyển về Sàigòn, me tôi cười, chị Thủy nhỏ nhẹ hoan hô ba, cu Linh khoái chí hét ầm nhà và nhẩy tưng tưng trên divan. Các anh lớn của tôi đều học ở Sàigòn, Sàigòn xa lắc lơ có họ hàng đông đúc, có bà ngoại trưởng giả, có tộc thuộc giàu sang và nếu ba tôi không nặng tình yêu cái xứ sở nhỏ nhoi heo hút này của miền Trung thì gia đình tôi đã ở Sàigòn từ lâu. Từ khi các con lớn lên, ba tôi hiểu rằng tỉnh nhỏ không đủ phương tiện để chúng tôi vươn lên bằng người.

– Các con phải được lớn lên trong một môi trường rộng rãi hơn, khoáng đạt hơn mà cái thị xã heo hút này không thể đáp ứng được. Vì vậy ba mới xin đổi về thành phố, ở đó, các con có đủ phương tiện để học hỏi, phát triển, theo kịp bạn bè. Ba không muốn sau này các con buồn vì mình là dân “tỉnh nhỏ”.

Tôi có bao giờ buồn vì mình là “dân tỉnh nhỏ” đâu!

Tôi yêu thị xã bởi thị xã có bốn mùa cho phố phường thay áo mới. Những sáng mùa đông sương giăng mờ trên cao, lối đến trường hun hút xa dưới hai hàng cây khép mắt ngủ ngoan chờ đợi. Có hôm đi học sớm trời còn trăng. Mặt trăng vàng nhạt mỏng manh trôi bên kia rừng cây đen chẳng chịu rụng lá, thấp thoáng như e thẹn, hẹn hò, như sắp tan vào sương khói. Tôi đạp xe giữa lòng phố thênh thang, tóc bay, áo bay, ngước mặt lên trời tưởng mình có đôi cánh nhỏ bay bổng vào không cùng, thế nhân ở dưới mắt nhìn, bụi mưa và mây trắng. Cơn mưa đến nhẹ lắm ngoài trời, tôi loay hoay với cái hyberpol của mình, ngửng lên, đã thấy sân trường trắng xóa mưa, êm như ru, tôi thấy lòng mình lạnh đi, ngày hè sắp đến, tôi sắp xa Luân, xa bạn bè, thầy cô, bàn ghế!

Cậu Hồng Ngự bảo tôi:

– “Thư viết đừng xong thuyền xuôi chớ đỗ cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa!”

Chinh đừng sợ thay đổi, đi xa, tuổi trẻ không bao giờ sợ đi xa. Hãy đi, để thấy sau này mình còn chỗ trong mộng để trí nhớ đi về tưởng tượng, để ru êm cuộc đời mỗi lúc muộn phiền. Chinh hãy tự hào là mình còn có một quê hương thơ ấu để mà nhớ, mà thương, tuổi trẻ phải vui vẻ, sống hùng, phải thèm đôi chân biển lớn. Kỷ niệm để dành cho lúc thảnh thơi, ngơi nghỉ, mỏi mệt, kỷ niệm không phải để trói cánh chim non!

Con gái thường lãng mạn, yếu đuối thế đó. Tôi là một con bé nhút nhát trước cuộc đời, tôi sợ những thay đổi làm rộn ràng đời sống, những sự thật nhiều khi tàn nhẫn vô cùng. Tôi đến thăm Luân trước khi đi, Luân còn đau, hai đứa cầm tay nhau, tôi nhớ trên cửa sổ nhà Luân có trồng một bình hoa lạ, lá tím ngắt, khô héo, nhưng nở những nụ tím mong manh, xinh đẹp dễ thương vô cùng. Luân không nói hoa tên gì khi tôi hỏi – tôi nghĩ chắc là một cái tên bơ vơ lắm –

Chúng tôi chia tay nhau, trời mưa nhỏ, chiếc đồng hồ nhà Luân ngân bảy tiếng trầm trầm, như vọng lên từ một cõi xa vắng nào trong quá khứ. Con đường ướt lạnh, tôi đi chậm với hai bàn tay thu trong túi áo mưa, Luân đứng trên thềm cửa che chiếc nón lá cũ nhìn theo. Mưa nhỏ nhưng dày và mù trời, chắc Luân thấy tôi đi vào mù khơi và tan vào sương khói…

Lúc đó, tôi nghĩ nếu mình là thi sĩ…


6. TRÊN CAO

Tôi ngắt một cành hoa giấy đỏ, cánh hoa khô màu lá úa. Tôi thương hoa giấy mang sắc tươi mà như ẩn giấu một nỗi buồn đâu đó trong hương nhụy. Chiếc va-li nằm trên thềm cửa – vô duyên và chướng phè – tôi cài chiếc khuy trên cùng của áo len vò vò nụ hoa giấy bối rối im lặng. Tôi đi Huế. Mợ Hồng Ngự mở lời:

– Thật mợ không thể nào hiểu được tuổi trẻ. Mới hôm trước nằng nặc đòi đi thăm thị xã cho bằng được, hôm sau đã khăng khăng đòi về Sàigòn. Mà mới tới mấy bữa có chịu đi đâu chơi đâu! Thật! Mợ chịu không hiểu cháu thích cái gì bây giờ?!

Tôi che miệng cười nhỏ. Bố bảo tôi lãng mạn và bốc đồng lắm. Tôi đòi về vì không thích ở lại kỷ niệm cũng như một quãng đời đã qua làm sao tôi có thể gầy dựng trở lại những cảm xúc ngây thơ, những rung động chân thành ngày xưa ấy. Tiếng chuông ngân nga từ tháp vọng thời gian rủ rê tôi chạy về ngày cũ, chốn xưa, leo lên tận tháp chuông để ù tai vì tiếng vỡ rộng của quả chuông đồng, tại sao người kéo chuông hay điếc? Tôi dại khờ nghe tiếng chuông xa mà ngỡ nỗi hoan hỉ ở ngoài tầm tay với.

Một lúc nào đó, không rõ, bỗng dưng tôi đứng lại. Cậu Hồng Ngự nói đúng, người ta cần một chỗ để đi về tưởng nhớ, để ước mơ, đừng dại dột đến cầu mơ để thất vọng vì chiếc cầu cũ kỹ, rêu xanh, tầm thường quá đỗi.

Và tôi xin phép rời thị xã, mợ Hồng Ngự trơn mắt hỏi: chán rồi hả cháu? Cậu cười, đã đi đâu đâu, về nhà bố hỏi chuyện thị xã cười xí xóa hở cháu? Lan nhăn, em chưa dẫn chị đi ăn mấy cửa hàng ngon lắm, đặc biệt mà!

Khi tôi xếp lại những cánh áo vào va-li, tôi hiểu việc mình làm lắm.

Cậu Hồng Ngự bảo:

– Không thích ở đây thì mai cậu chở ra Huế thăm bác Phương Tần và thăm thành phố Huế luôn thể, đi không chẳng lẽ lại về không. Phải không cháu?

Tôi gật đầu cười:

– Cám ơn cậu!

Lan xách hộ tôi chiếc vali ra xe. Tôi chào mợ, hôn các em, giàn hoa giấy đỏ có những chỗ tối u buồn. Tôi nhớ bình hoa tím trên cửa sổ nhà Luân, con đường qua trường chắc vẫn còn hai hàng lá nhỏ, ngậm những giọt sương tan. Dáng Luân gầy trong áo trắng, nụ cười của Hạc, ánh mắt của Triều, tuổi thơ, chia xa, nỗi buồn, niềm vui – những tiếng chuông nhỏ vỡ ran ran trong tai tôi, những cái chuông nhỏ như hoa Muguet thánh thót trong trẻo – chào thành phố mộng mơ!

Chiếc xe chạy ngược đường gió. Tôi cài hết khuy áo len, tóc quấn quanh cổ nghe buồn.

Ba vẫn bảo tôi lãng mạn lắm mà!


N.T. Nguyễn   
(Hoa Nắng)    


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 203 và 204, ra ngày 15-6 và 1-7-1973)



Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2019

MONG HÈ ĐỪNG TRÔI - Trần thị Phương Lan














 A ha hè đến
Phượng thắm khắp trời
Nghe lòng náo nức
Mong hè đừng trôi

Chẳng màng sách vở
Không phải đến trường
Chia tay  bạn hữu
Giã biệt học đường

Hàng dừa xanh thắm
Rặng tre rì rào
Lúa đồng thơm ngát
Sáo diều vươn cao

Khoai lùi, bắp nướng
Ổi, mít, bần, me
Bình bát, xoài tượng
Vườn rộn tiếng ve

Đá banh, câu cá
Bắt dế, thả diều
Tắm mưa, lội ruộng
Hái trái, chăn trâu...

Bao trò giải trí
Là bấy niềm vui
Cơm thơm ngoại nấu
Đêm xuống ngủ vùi

Em ra biển vắng
Nô giỡn thét gào
Hay lên vùng núi
Xanh thẳm non cao

Vũng Tàu sóng vỗ
Cát trắng Nha Trang 
Biển xanh Mũi Né
Đà Lạt hôn hoàng,.....

Ngày buồn vội đến :
Trở lại trường thôi! 
Phụng phịu em khóc
Hè ơi, đừng trôi!

                  Trần Thị Phương Lan
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2019

GỌI NẮNG - Đào Tâm


Mưa lê thê kéo dài suốt mấy ngày nay, những hạt mưa nhỏ, nhẹ, dày đặc bao kín khung trời, em không còn nhìn thấy nóc giáo đường cao chót vót và rừng cây trầm lặng bên kia. Qua khung cửa nhỏ hẹp em chỉ nhìn thấy cành hoa leo vươn mình trong mưa, thân ngọc lan cao vút, mưa dã dội sạch những bụi bàm trên kẽ lá, đọng lại những hạt nước trong vắt, chúng theo nhau rơi xuống đất mềm ướt. Em chăm chỉ nhìn những cánh ngọc lan trắng tinh ngào ngạt hương thơm, núp dưới tàng lá trông ấm cúng làm sao. Có tiếng chim ríu rít, em đưa mắt nhìn sang nóc căn nhà đối diện. Ở đó cũng là chỗ trú ngụ của những con chim, chúng đang ủ mình cho nhau, đang trò chuyện với nhau, thân mật quá, ấm cúng quá. Em chỉ ao ước mình được như nó, được như những con chim, những cánh hoa bé nhỏ kia thôi. Gió thổi mạnh hơn, trời tối sầm lại đột ngột, em kéo chiếc mền lên tận cổ, co ro ngồi nép mình bên khung cửa. Ba vẫn chưa về, em nóng ruột quá chỉ mong nghe được tiếng còi xe quen thuộc, trông thấy bốn bánh xe lăn từ cổng vào nhà, em sẽ tung mạnh tấm chăn chạy mau ra cửa, đón nghe giọng nói ấm áp và trìu mến của ba. Ba đi công chuyện làm ăn quan trọng từ mấy hôm nay, chỉ nhìn đôi mắt thâm quầng của ba là em đủ biết rồi. Cửa nhà sa sút thấy rõ từ khi má mất đi. Thiếu bàn tay khéo léo của má, thiếu ánh mắt dịu hiền che chở, khoan dung của má, em mang mặc cảm thua sút bạn bè. Túng quẩn theo gia đình em mãi. Rồi em từ bỏ thế giới học đường. Ba hối hận lắm vì không làm sao kiếm ra tiền lo cho sự học của em nữa. Phần em cũng tiếc nhớ nhiều, em hay ngồi hình dung lại con đường ngập lá dẫn đến trường, những tà áo trắng, giọng cười hồn nhiên của tụi bạn, tiếng nói thanh cao của Cẩm Tú, cái cặp đầy ổi của con Hoa, quen thuộc quá. Em không muốn nhắc đến nữa nhưng chúng hiển hiện trong em từng giờ.

Trời đã tối hẳn. Tiếng mưa rơi nhẹ trên nóc tôn như một điệu nhạc đều đều ru em vào giấc ngủ.

Em choàng thức dậy khi ánh đèn pha rọi vào làm rực sáng căn phòng. Tiếng bánh xe nghiến trên những hạt sỏi trong vườn. Em ngồi bật dậy tay dụi mắt loạng choạng phóng xuống giường:

- A! Ba về.

Em chợt sửng sốt giương mắt nhìn. Không phải chiếc xe hàng quen thuộc mà là chiếc xe Jeep, với màu đen rợn người. Chú Bảy, tài xế của ba, nhảy ngay xuống. Em có linh cảm một bất hạnh xảy tới cho mình:

- Chú! Ba cháu...

Chú Bảy hấp tấp:

- Ổng gặp tai nạn, cháu mặc áo lạnh rồi theo chú.

Trời đất như tối sầm lại. Em run lên đón nhận nỗi kinh hoàng. Rất mau trong óc em hiện ra hình ảnh ba, với máu me, với vết thương. Người em rủ xuống...

Hai bên đường chạy dài những hàng cột trắng, dây kẽm gai. Sắp đến nhà thương rồi, em phập phồng lo sợ, không biết ba thế nào. Ba ơi!

Xe rẽ vào con đường nhỏ. Chiếc cổng sắt cao im lìm. Màu trắng của bệnh viện làm em rợn người. Ánh đèn vàng vọt chiếu xuống loang lổ. Em ngửi thấy mùi tanh của máu, mùi hăng hắc của alcol, không khí ủ trùm sự chết chóc.

- Đây rồi, cháu vào đi.

Em bàng hoàng, ngơ ngẩn bước vào. Không hình dáng nào em quen thuộc cả. Em bước về phía bên kia, ở đó toát ra hơi hướng của ba. Em nhìn thấy ba với cánh mũi phập phồng, mắt ba bị băng kín. Em cầm cánh tay bó bột của ba. Chú Bảy nói nhỏ:

- Ổng chưa tỉnh đâu cháu.

Những miếng vải trắng gói trọn vết thương của ba làm em rùng mình, cảm giác lành lạnh chạy dài trên lưng.

- Ba cháu không sao đâu, chỉ ngại đôi mắt.

Em run giọng:

- Ngại sao hả chú?

- Bác sĩ ổng nói...

- Nói sao chú...?

- Có lẽ hơi nặng... sợ...

Chỉ vậy thôi, chỗ đất em đứng như sụp hẳn xuống. Em trông thấy hố đen thăm thẳm dưới chân mình. Chới với, em vịn lấy thành giường. Bất giác em đưa tay sờ đôi mắt. Có gì đâu. Hai cái tròng nằm giữa những cái xương. Chúng đảo qua, đảo lại. Em trông thấy hình ảnh ba, thấy khung trời xám giăng mắc trong tương lai mình. Ba ơi...!

*

Kể từ ngày miếng vải băng mắt được kéo xuống và tấm màn đen che tối cuộc đời ba được kéo lên, ba trở nên biếng cười. Em chỉ còn nghe tiếng thở dài của ba. Ba hay ngồi bên cửa sổ đón hơi gió lạnh từ ngoài đưa vào làm lay động mái tóc điểm sương của ba. Ba lắng tai nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn, hồi tưởng lại thời thơ ấu. Ngày xưa, cũng vào những ngày mưa to, ba nghỉ học, ở nhà nằm trong chăn ấm, cạnh bên phần bắp bà nội rang cho. Những hạt bắp nóng hổi, bùi thơm. Gió lay nhẹ liếp cửa. Ba co mình trong chăn, im lặng hưởng cảm giác thích thú, tuyệt diệu. Tuổi thơ của con phải êm đềm hơn thế Hạ ơi!

Tương lai con mù mịt như ánh mắt ba nhìn, đời con đen tối như chuỗi ngày ba sống. Ba phải xây dựng cho con một tương lai. Con sẽ vươn dậy như một cái cây với những cái rễ chắc chắn, với cành lá xanh tươi. Con vươn cao lên mãi đón nhận không khí trong lành trên cao. Ba muốn tuổi thơ của con phải vô tư, muốn thấy nụ cười hồn nhiên của con. Không một ngoại cảnh nào làm cho con gái ba buồn, không một hình ảnh khủng khiếp, ma quái nào đe dọa giấc ngủ của con.

Em giật mình khi nghe tiếng ba gọi:

- Hôm nay bao nhiêu rồi Hạ?

- Dạ... hăm hai.

- Mau quá... gần hết tháng rồi.

- Vâng!

Im lặng lại bao trùm. Em nhìn ra khu cửa, vẫn mây xám dày đặc, vẫn những hạt mưa mong manh, vẫn những cơn gió vừa đủ làm se da thịt.

- Hạ à! Tháng tới này ba cho con đi học nhé!

- Dạ...

- Ba cho con đi học lại nhé!

Em im lặng đi một lát.

- Dạ... nhưng...

Ba ngắt lời:

- Đừng... ba suy nghĩ kỹ rồi, con về ở với nội, nội có bảo với ba rồi!

Cảm động làm em nghẹn cả lời:

- Còn ba...

- Con đừng lo cho ba, ba đã có một nghề thích hợp. Ba sẽ lo cho tương lai của con, cho đời con tươi sáng hơn. Con cố gắng học hành, ngoan ngoãn là ba vui lòng. Có vé máy bay rồi, mốt con đi. Thỉnh thoảng nội sẽ cho con về thăm ba...

Em thấy cả khung trời nhạt nhòa, cảnh vật như hiện ra sau làn nước lung linh tan vỡ. Đôi môi em run run gọi nắng về. "Nắng ơi! Nắng đâu, hãy tô sáng cho cuộc đời tôi, hãy cho ba tôi ánh sáng, hãy cho ba tôi ban ngày, nắng ơi!..." Tiếng kêu thoát ra khỏi bờ môi nhỏ bé, hòa vào trong khung trời giăng mưa: "Nắng ơi! Nắng ơi!".


ĐÀO TÂM      


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 119, ra ngày 1-12-1969)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2019

NHỮNG NGÀY RONG RUỔI CHIM ĐỒNG - Nguyễn Thụy Điền


Năm tôi 10 tuổi, lần đầu tiên tôi theo cha tôi chơi suốt một ngày thật xa. Từ tờ mờ sáng, cha tôi dắt trâu và vác cày ra đồng, tôi theo cha tôi xách mo cơm nếp và cánh diều. Cánh diều làm bằng giấy học trò, nhăng nhít chữ viết, do tôi bỏ ra ba ngày để làm. Một ngày xem lũ bạn trong xóm cách làm, một ngày vót tre cắt giấy tìm keo, và một ngày cặm cụi ngồi làm thành chiếc diều. Tôi sung sướng bước đi thật nhanh vui mừng bỏ khoảng cách giữa cha tôi và tôi khá xa, cha tôi gọi, làm gì mà con đi nhanh thế? Tôi cười. Cha tôi vác cày và dắt trâu đến chỗ chị tôi, bảo chị tôi cày cho xong thửa ruộng. Rồi hai cha con rủ nhau đi nhanh vào rừng. Tôi vui chơi rong ruổi một ngày thả hồn như cánh chim bay. Buổi sáng cha tôi đi bứt dây rừng về đánh thành dây cột trâu. Còn tôi ngồi nghịch cát và mấy hòn sỏi nhỏ bên dòng suối mát. Cha tôi dặn, con ngồi đây chơi, đừng đi đâu xa con nhé! Đi xa coi chừng lạc suối lạc rừng, cha không tìm được ra đâu. Rồi cha bỏ con lại trong rừng cho ông cọp ổng tha đi mất cho rồi. Tôi nghe nói đến cọp, tôi sợ lắm. Chả là câu chuyện mà ông tôi kể cho tôi nghe hôm nào cứ ám ảnh tôi hoài. Con cọp ba tay và người thợ săn đó. Đến trưa hai cha con xuống suối, ngồi ăn cơm dưới bóng một cây cổ thụ, rồi hai cha con cùng tắm. Buổi chiều cha tôi đi tìm bắt cho tôi những tổ chim non. Tôi thích thú được những cái trứng nho nhỏ và những con chim đồng đó. Khi mặt trời còn chừng hai cây sào hai cha con tôi trở về nhà.

Và những lần sau đó, tôi thường theo lũ trẻ trong xóm rủ nhau đi bắt dế, đào chuột và nhất là đi bắt chim đồng. Tôi đam mê những con chim đồng vô cùng. Đến nỗi tôi quên buổi trưa, nên suốt một ngày đi chơi trong suối trong rừng, chiều tôi mới về. Cha tôi hay được, kêu vô bắt nằm dài trên phản. Cha tôi sai lấy roi. Hôm đó tôi bị một trận đòn đau vì tội ham chơi. Cha tôi dạy, này con, con nên nhớ rằng tại sao con bị đánh. Chỉ vì con không vâng lời cha mẹ nghe con. Con đi chơi như thế, mà không nói cho cha mẹ hay, lỡ có chuyện gì không may xảy đến cho con, cha mới biết tính sao. Cha cho con đi học, cốt là cho con phân biệt phải trái ở đời, những điều nào nên nghe và những điều nào nên tránh. Con không nên chơi bời lêu lổng như thế nữa nghe con. Hãy nghe lời cha đi con. Tôi cúi đầu vòng tay, dạ khẽ. Từ đó tôi không còn đi theo lũ trẻ trong xóm nữa. Tôi đã nhớ mấy làn roi cha tôi đánh tôi. Tôi đã nhớ những lần cha tôi đã dạy bảo. Mặc dù tôi còn đam mê những con chim đồng vô cùng. Đôi khi tôi thấy nhớ tiếc những ngày rong ruổi lêu lổng. Những ngày ấu thơ, tuyệt vời sung sướng.

Bây giờ thì tôi không còn nghe cha tôi dạy bảo nữa, cha tôi mất rồi. Tôi cũng không còn những ngày xưa lêu lổng nữa. Tôi lớn khôn rồi. Nhưng tôi cảm thấy xót xa luyến tiếc một thuở ấu thời, dòng sông bình yên ngày tháng, những ngày rong ruổi chim đồng, những con chim non tôi yêu mến vô cùng. Tôi yêu những tiếng kêu chừng như đau thương. Tiếng kêu xa lìa tổ ấm. Cũng như tôi bây giờ, tiếng kêu đau từ nỗi nhớ, thương hoài nhớ hoài cha tôi. Người mà tôi kính mến suốt đời.


NGUYỄN THỤY ĐIỀN   
(Diên Khánh)            
GĐTN - Nha Trang       


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 116, ra ngày 7-12-1973)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com