Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

CHƯƠNG 13, 14_TRÊN ĐỒI CỎ

13
  
Chú Bảy mệt nhọc nhìn qua khung cửa. Chú không hiểu mình còn phải ngồi rình như thế này đến bao giờ. Tiếng đồng hồ tích tắc như kéo dài mãi mãi thời gian chờ đợi. Dù không biết mình chờ đợi ai, chú vẫn áy náy không dám bỏ đi ngủ. Chú hối hận đã để cho Minh, Danh ra đi. Một nỗi buồn nặng trĩu như đè xuống tâm hồn chú. Chú buông tiếng thở dài.
 
Chú giật mình vì có tiếng động ngoài sân. Nhìn ra bên ngoài chú không thấy có gì lạ. Đó chỉ là tiếng lá khô bị gió thổi xào xạc trên nền xi măng. Chú Bảy chợt hiểu khi mệt nhọc, người ta dễ bén nhậy với bất cứ chuyện gì xảy đến. Có tiếng chó sủa xa xa. Chú Bảy đứng bật dậy, hồi hộp, chờ đợi, không biết tiếng chó sủa từ đâu vọng lại. Chú Bảy nóng lòng chạy ra sân. Chú tưởng chừng như thấy Minh, danh đang bị kẻ thù đuổi theo bén gót. Lòng chú chợt se lại…
 
Tiếng chó sủa thưa dần, rồi im bặt. Chú đứng nhìn bóng đêm đang bao quanh trại đầy vẻ đe dọa. Chợt chú thấy một tia sáng lóe lên từ đầu nhà, tiếp theo là một tiếng kêu đau đớn, tiếng kêu của người bị thương bất ngờ. Chú Bảy mừng rỡ:
 
- Cai Bần không lầm!
 
Cẩn thận, chú vào nhà cầm theo cái đèn và cây gậy rồi chạy ra đầu nhà. Chú vừa kịp nhận ra cặp mắt van lơn của một gã thanh niên. Gã nằm bẹp trên cái bẫy, mái tóc bạc dài lòa xòa chảy dài xuống tận vai. Một chân gã bị kẹp cứng trong cái bẫy, không sao rút ra được. Gã rên rỉ:
 
- Trời ơi đau quá! Xin ông thương gỡ tôi ra.
 
Chú Bảy động lòng thương cúi xuống định gỡ, nhưng chú ngừng lại vì chợt nghĩ đến mấy cháu. Chú ra điều kiện:
 
- Tao sẽ gỡ cho mày khi nào mày chịu nói cho tao biết mày làm gì ở đây và các cháu tao bây giờ ở đâu?
 
- Vâng, tôi xin thề, xin thề sẽ nói hết. Nhưng xin ông gỡ chân tôi ra, tôi đau quá.
 
Chỉ kịp nói mấy câu, gã gục xuống bất tỉnh. Chú Bảy không biết làm cách nào, nén giận gỡ chân gã ra rồi đem vào nhà băng bó. Cô Bảy nghe tiếng động, xuống giúp chồng săn sóc gã thanh niên. Dưới ánh đèn, trông gã còn trẻ, dáng người khỏe mạnh. Không biết gã đến đây làm gì lúc này.
 
Chú Bảy lo lắng, đêm nay còn dành cho chú những bất ngờ nào nữa.
 
*
 
Ở mé rừng, Minh, Danh nôn nóng chờ đợi. Cai Bần với anh Mạnh như không để ý đến hai anh. Họ đang thì thầm bên nhau những gì nghe không rõ. Dầu vậy, hai anh vẫn tin vào hai người bạn tốt, tránh đặt những câu hỏi vô ích vì “giờ nào, việc ấy”.
 
Bỗng nhiên từ biệt thự Tùng Lâm vọng lại tiếng đóng cửa, rồi có tiếng người càu nhàu. Một tia sáng lóe lên đục thủng màn đêm dày đặc…
 
Mặt trăng đang từ từ mọc lên từ hướng tây, ánh trăng tuy yếu ớt nhưng cũng đủ để nhận ra bóng người từ biệt thự đi ra. Mạnh nhìn theo bóng người, vừa đếm:
 
- Một… hai… ba… Có ba tên thôi. Đến giờ hành động rồi đó… Minh, Danh theo tôi.
 
Hai anh ngạc nhiên thấy Mạnh đi vô rừng, ngược lại phía biệt thự. Mạnh chạy như bay, hai anh theo thật vất vả. Sau một hồi chạy không kể trời đất gì nữa, ba người đi đến một khu cây cối rậm rạp. Dưới ánh trăng mờ nhạt, một căn nhà nhỏ hiện ra. Mạnh cắt nghĩa qua hơi thở dồn dập:
 
- Đây là cái chòi của mấy người tiều phu đốn củi. Tôi chắc Tuấn và Mai bị nhốt trong này.
 
Bốn bề yên lặng, không có dấu hiệu của một sinh vật. Mạnh tiến lên đẩy cửa bước vào. Minh, Danh theo sau. Giọng Minh nghẹn ngào khẽ gọi:
 
- Tuấn ơi, Mai ơi! Hai em có ở đây không?
 
Chỉ có sự yên lặng với bóng tối rùng rợn trong căn nhà đáp lại tiếng gọi của Minh. Mạnh bật nhẹ một que diêm. Trong nhà không còn ai. Que diêm phụt tắt. Minh vừa nhận thấy cái gì, anh nói với Mạnh:
 
- Anh bật thêm que nữa, tôi vừa thấy mảnh giấy trên bàn.
 
Ánh lửa lóe lên, Minh kịp liếc qua mấy hàng chữ:
 
- Thư này giống hệt thư của con Mai viết hồi hôm. Chắc hai đứa đã ở đây.
 
Danh phàn nàn:
 
- Sao anh Mạnh không nói trước cho tụi tôi, anh biết từ lâu chuyện này rồi phải không?
 
- Lát nữa sẽ biết. Bây giờ phải theo tôi, không được chậm trễ một phút, nếu muốn cứu Mai Tuấn kịp thời. Trở lại Tùng Lâm ngay.
 
Minh, Danh không hiểu hành động của anh Mạnh, lúc đi cũng như lúc trở lại đều vội vàng hấp tấp. Minh hy vọng gặp lại cai Bần, nhưng Mạnh lại dẫn các anh đi lối khác, vòng ra phía sau biệt tự Tùng Lâm. Minh nghĩ thầm: “Đúng là lão Thanh Quí rồi, không còn sai nữa.” Ba người từ từ bò sát đến bên biệt thự.
 
- Anh chắc hai đứa nhỏ ở đây không?
 
- Có thể lắm.
 
Đến gần một cánh cửa sổ, cửa đóng kín mít. Nhưng may thay có một mảng kính bị bể được thay bằng giấy các tông. Mạnh lấy dao ra rạch một đường, rồi theo chỗ hở, anh luồn tay vào mở cửa. Cánh cửa vừa mở, Mạnh nhanh nhẹn chui vào. Không ai bảo ai, Minh Danh cùng theo vào. Mạnh khẽ nói:
 
- Đừng bật đèn, im lặng kẻo lỡ tụi nó còn ở đằng trước nghe được.
 
Lần mò trong bóng tối, ba người đi hết phòng này sang phòng khác, nhưng không thấy một bóng người, cả ông Thanh Quí cũng vậy. Mạnh đánh bạo lẻn vào phòng ngủ của ông, nhưng chỉ thấy giường trống trơn. Mạnh thì thầm:
 
- Không ở trên nhà thì chỉ còn ở dưới hầm thôi.
 
Mạnh dẫn hai người đến cửa nhà bếp. May quá cửa không khóa. Ba người đi qua dễ dàng.
 
- Tụi mình sẽ phải xuống cầu thang, coi chừng té. Tốt hơn, mình bật que diêm coi.
 
Ánh lửa yếu ớt lập lòe cháy. Cảnh lộn xộn bừa bãi bày ra trước mắt ba người. Lối xuống hầm đã bị bàn ghế lấp đầy, không tài nào xuống được.
 
- Muốn xuống chỉ có cách dọn hết mấy cái bàn ghế này ra. Nhẹ nhàng một chút; ồn ào ở ngoài người ta biết được thì hỏng việc.
 
Minh, Danh không hỏi nhưng cũng hiểu “người ta” ở đây ám chỉ ai rồi. Hành động của chủ biệt thự này thật bí mật. Ông Thanh Quí giờ này chắc đang theo đồng bọn đến một nơi nào rồi.
 
Ít phút sau, ba người đã nối đuôi nhau xuống hầm. Việc đầu tiên là Minh gọi tên hai em. Tuyệt nhiên không một tiếng trả lời. Trong một phút, mồ hôi toát ra ướt đẫm cả người, anh Mạnh đưa tay vuốt những giọt mồ hôi trên trán. Mọi hy vọng của Mạnh như vừa tan theo những giọt mồ hôi. Minh gọi to hơn:
 
- Mai, Tuấn ơi! Anh đây, Minh đây.
 
Có tiếng cựa quậy của ai nằm dưới đất. Ba người chạy lại. Manh bật que diêm thứ nhất. Mọi người vừa nhận ra một người bị trói nằm còng queo dưới đất, miệng bị bịt kín… nhìn kỹ, Danh nhận ra gương mặt của ông Thanh Quí.
 
- Chúng nó đây rồi!
 
Minh mừng rỡ reo lên vì vừa thấy hai em nằm trên một chiếc giường kê gần đó. Anh Mạnh với Danh lo cởi trói cho ông Thanh Quí. Vừa có thể mở miệng được, ông đã rủa:
 
- Quân khốn kiếp, quân chó. Chúng nó sẽ biết tay tôi.
 
Ông run rẩy vịn vai Danh đứng dậy. Bước đi được vài bước loạng choạng suýt ngã, ông đành ngồi xuống bên giường.
 
- Ông ngồi im đây để tôi kiếm nước ông uống cho tỉnh đã.
 
Nói xong, anh Mạnh chạy biến lên trên nhà.
 
Minh đã lay Mai, Tuấn dậy. Hai anh em ngạc nhiên không hiểu tại sao mọi người có thể tìm tới đây. Vừa lúc đó anh Mạnh trở xuống, trên tay cầm cây đèn cầy. Ánh sáng yếu ớt đủ soi rõ gương mặt mọi người. Ông Thanh Quí trố mắt nhìn người nọ sang người kia rồi tới hai đứa trẻ. Mai, Tuấn kinh ngạc không kém khi thấy ông.
 
Mạnh hỏi ông Thanh Quí:
 
- Ông đi được chứ?
 
- Bây giờ thì được rồi.
 
- Vậy mọi người lên đường, chúng ta còn vài việc phải làm.
 
Minh huých Danh một cái ra hiệu nhìn Mạnh. Minh vừa nhận ra vẻ oai vệ của anh ta, thật khác hẳn vẻ mặt lầm lì mọi ngày. Sáu người đến chỗ cai Bần chờ.
 
- Tôi sắp mọc rễ ở đây rồi. À, mọi sự xuôi chảy chứ? Nhưng này, ba tên hút thuốc đứng gần bãi cỏ đàng kia, tụi nó tính chuyện gì vậy?
 
Ông Thanh Quí hậm hực:
 
- Chắc bọn này đã đập tôi một gậy ngay đầu khi vừa xuống xe! Còn hai đứa nhỏ vô hầm nhà tôi làm chi vậy?
 
Cai Bần gạt ngang:
 
- Chưa phải lúc để hỏi. Này Mạnh, tới giờ rồi đó, đi coi đi… nhất là phải thận trọng kẻo hỏng hết.
 
Minh đề nghị:
 
- Cho tôi đi với anh Mạnh.
 
- Cả tôi nữa. Danh nóng lòng muốn đi theo.
 
- Thôi, hai người đủ rồi. Cháu Danh ở lại đây, bác cần cháu giúp bác một tay.
 
Anh Mạnh với Minh đi ngay về phía vách đá.
 
- Tụi mình chịu khó bò, kẻo bọn nó thấy.
 
Minh bắt chước bò theo sau Mạnh. Được chừng vài trăm thước, Mạnh ra dấu nằm im nghe ngóng. Có tiếng nói chuyện gần đâu đây. Một giọng nói có vẻ là tay đầu đảng.
 
- Bỏ đi thì thật thậm ngu. Nhất là vì mấy đứa nhỏ tò mò với lão mập.
 
- Tôi đã bảo cứ làm như mấy lần trước đi, nhưng Phách không nghe. Để xem ý kiến của hắn đưa mình tới đâu. Cứ cho lão mập uống vài viên là êm chuyện, đằng này…
 
- Thôi im đi, đừng phàn nàn chi hết… Nùng Ô hiện giờ bị đau, chắc sẽ theo lão Hách. Có lẽ đến lượt mày sử dụng đèn xì.
 
Minh hơi choáng váng, anh cố hiểu xem họ nói gì.
 
- Mày có lý, nhưng chắc không đến lượt tao đâu. Vài phút nữa bọn mình sẽ xa chốn này. Biết có trở lại nữa không. Tao bật đèn nghe.
 
- Chờ chừng nào nghe tiếng động cơ đã… Khi nào bấm đèn là tắt máy ngay… Ngày mai chủ trại Bích Câu lại điên đầu vì mấy con bò.
 
- Ăn thua gì. Tiếc là không phải chúng lên núi như lần trước. Lão Thanh Quí bất thần trở lại làm mình không có giờ thi hành đầy đủ kế hoạch.
 
Ngay lúc đó, có tiếng động cơ từ xa vọng lại, mới đầu nhỏ, sau to dần.
 
- Đúng rồi, bật đèn được chưa?
 
- Chờ tao ra lệnh đã. Mầy sợ hay sao? Vội vàng làm chi!
 
Tiếng động cơ tới gần. Minh nhận ra đó là một chiếc trực thăng. Hình như chiếc trực thăng muốn ngừng ngay trên phía bãi cỏ.
 
- Bật đèn lên. Năm lần nghe chưa.
 
Năm lần, ánh sáng chói lọi chiếu trên nền trời rồi lại tắt ngay.
 
- Xong rồi, vô khiêng mấy thùng gỗ ra… lẹ đi.
 
*
 
Trong chiếc trực thăng, viên phi công lo lắng vì mới chỉ thấy có một dấu hiệu. Gã thầm nghĩ: “Cũng may, đây là lần thứ ba mình đáp xuống chỗ này nên cũng quen rồi. Ánh đèn hiệu hình như ở gần biệt thự chiếu lên. Còn dưới trại không thấy gì hết. Hay tên Phách không xuống? Như vậy hơi nguy cho mình”.
 
Viên phi công quyết định bay một vòng để xem lại cho chắc vị trí để hạ cánh. Nhận ra bóng đen của biệt thự, gã định vị trí của bãi cỏ rồi tắt máy từ từ hạ xuống. Ánh đèn lại lóe lên, gã vừa thấy bóng ba người bạn đang đứng chờ.
 
Viên phi công bỏ mũ, mở cửa nhảy xuống, đi lại phía ba người bạn.
 
- Đúng 11 giờ như đã hẹn phải không? Tao lấy làm lạ sao không thấy Phách ra hiệu đấy, hay là nó quên…
 
Gã chưa nói hết câu, ba tên đồng bọn bất ngờ vây gã vào giữa, dáng điệu đầy vẻ đe dọa… Gã lắp bắp:
 
- Ơ hay! Cái gì thế này… Chúng mày giỡn sao chứ?
 
Vật gì cưng cứng đâm thẳng vào lưng gã thay cho câu trả lời… Một giọng nói lạ ra lệnh:
 
- Đừng ồn ào. Đi về phía hầm mỏ nhanh lên.
 
Gã chưa hiểu sự gì đã xảy ra, một sợi dây thừng đã siết chặt hai tay gã. Gã đành riu ríu tuân lệnh. Vào trong hang, gã tưởng mình đang mơ ngủ. Ba tên đồng bọn mà gã ngỡ là đang đi sau gã, lại đứng xây mặt vào vách. Một người đàn ông cầm súng đang chĩa về phía ba tên bạn. Bên cạnh là hai đứa nhỏ cầm đèn soi sáng cả hầm.
 
Họng súng đâm mạnh vào lưng gã, rồi tiếng ông Thanh Quí ra lệnh:
 
- Tới bên mấy tên kia, mau lên. Minh, Danh cột chân gã lại cho bác, kẻo nó “bay” mất thì toi công!
 
Mọi người mỉm cười vì câu nói khôi hài của ông. Cai Bần vừa đưa cây súng cho ông Thanh Quí vừa nói:
 
- Như là ciné vậy. Tất cả đều đóng đúng vai trò của mình, cả mấy ông bạn nầy nữa.
 
Ông Thanh Quí như muốn đóng một vai trò mới, ông chia phiên:
 
- Ai mệt có thể nghỉ được. Chỉ phiền có Mạnh chịu khó tìm cách báo cho cảnh sát tới đây càng sớm càng tốt. Còn Minh, Danh xuống biệt thự kiếm trong chạn có cái gì ăn được thì mang lên đây. Chắc còn phải canh chừng lâu lắm.
 
Minh chỉ bốn tên tù hỏi:
 
- Bác không sợ?...
 
- Khỏi lo. Ông Cai với con Quýt ở đây với bác được rồi.
 
Ba người biến mất ngay trong đường hầm. Ra tới đường mòn, Minh đề nghị với Danh:
 
- Để tớ về báo cho chú Bảy biết chứ, để chú khỏi lo lắng quá.
 
- Phải đó, cậu đi đi.
 
Chưa kịp chia tay, một luồng sáng từ đâu chiếu thẳng vào ba người, tiếp theo là giọng một người đàn ông:
 
- Đứng lại ngay. Chạy là tao bắn. Giơ tay lên.
 
Bất ngờ, ba người không kịp phản ứng, đành phải làm theo.
 
- Ông lầm rồi, đây là các cháu của tôi.
 
Chú Bảy và hai người cảnh sát đã chạy lại gần Minh, Danh. Chú Bảy mừng rỡ khi thấy các cháu, chưa ai kịp nói gì, Danh đã mời:
 
- Xin mời chú và hai bác xuống ngay dưới hầm kẻo nhiều người còn phải chờ lâu quá.
 
Mọi người cho là phải. Ba người trở lại đường cũ dẫn theo chú Bảy với hai người cảnh sát. Vào tới hang, chú Bảy kinh ngạc khi thấy ông Thanh Quí đang đứng canh chừng bốn tên tội phạm. Bên cạnh ông, Mai, Tuấn bối rối chưa biết phải nói gì với chú Bảy.
 
Sự ngạc nhiên lúc đầu tan dần. Sau khi đã nghe kể sơ qua hành động phi pháp, phá phách của mấy tên này, hai người cảnh sát móc túi lôi ra hai cặp còng tay. Và họ thi hành phận sự một cách nhanh chóng.
 
Ông Thanh Quí đề nghị:
 
- Bây giờ khuya quá rồi, hai ông nhốt tạm mấy tên nầy trong nhà tôi. Mai rồi sẽ tính.
 
- Không được. Hình như ông có xe hơi phải không? Cảm phiền ông cho tôi mượn. Còn anh Biên, anh trở về Bích Câu khiêng tên Phách ra xe của mình luôn.
 
Minh lo lắng hỏi:
 
- Còn chiếc trực thăng các bác để đó sao?
 
Người cảnh sát ngạc nhiên:
 
- Có chiếc trực thăng của bọn chúng nữa hả? Chúng tôi sẽ tính sau. Trong khi chờ đợi, xin ông Cai, cai quản giùm chúng tôi đêm nay được không?
 
- Được chớ. Lần đầu tiên được lên máy bay không sướng sao. Thôi chào mọi người.
 
Cai Bần đi rồi, viên cảnh sát ra lệnh cho bốn tên đi về phía biệt thự. Chú Bảy và các cháu từ giã ông Thanh Quí với viên cảnh sát về trại. Trên đường, Mai, Tuấn kể sơ cho chú Bảy nghe câu chuyện vừa qua. Viên cảnh sát mang tên Biên cũng lắng tai nghe. Chú Bảy còn thắc mắc:
 
- Chú không hiểu vai trò của ông Thanh Quí như thế nào? Đây đâu có phải lần đầu máy bay hạ cánh xuống bãi cỏ. Không hiểu tại sao ông ấy không nghe tiếng máy bay? Chắc ông ấy cũng có dính líu chút ít, mà mình chưa khám phá ra đó thôi. Vì nếu không đồng lõa với bọn này, tại sao ông ấy cứ đòi mua cho được bãi cỏ? Một khi mua được bãi cỏ, đồng bọn di chuyển khoáng chất khai thác được mà không sợ ai dòm ngó gì nữa. Chỉ có thể như vậy thôi.
 
 
ĐOẠN KẾT
  
Bữa điểm tâm sáng hôm sau kéo dài khác thường. Bát cháo gà đã nguội rồi mà Mai Tuấn chưa kể xong. Cả nhà đều lắng tai nghe từng chi tiết. Rồi đến lượt Minh, Danh kể lại cuộc mạo hiểm bất đắc dĩ của hai người.
 
Chú Bảy kết luận:
 
- Tóm lại, chỉ nhờ có Mạnh các cháu mới thoát khỏi tay bọn chúng. Này Mạnh, làm sao mầy biết được những chuyện mà cháu Minh vừa kể?
 
Mạnh đỏ mặt, đưa tay lên gãi tai:
 
- Dạ, nhờ mấy con bò hết. Ông chủ nghi tôi bê trễ, đãng trí, không đóng cọc, cài cửa, để bò bị thương. Tôi ức lắm. Tôi quyết tìm cho ra tên nào đã tới phá tôi…
 
Thế là Mạnh để tâm rình quanh bãi cỏ. Mấy ngày tiếp theo không có gì. Nhưng một hôm, anh gặp tên Phách, gã thanh niên có mái tóc dài, từ nhà ông Thanh Quí đi ra. Gã tưởng có một mình nên đi ngay đến đường hầm.
 
Nhờ cai Bần, Mạnh biết trong vùng có mỏ mica từ thời Pháp thuộc. Chỉ còn vài người già cả là nhớ vết tích của hầm mỏ. Mạnh chờ dịp lẻn vô hầm dò xét. Anh cũng khám phá ra căn nhà nhỏ của bọn Phách dùng làm nơi hội họp. Anh rình nghe biết câu chuyện máy bay đến tải những khoáng chất đào được, đem đi giữa đêm khuya. Thật không khác chi tiểu thuyết. Khi anh không thấy Mai, Tuấn về, anh nghi hai đứa nhỏ có thể vì tò mò đã đến hầm mỏ rồi đi lạc trong đó. Khi Mạnh thấy cái mũ của Mai rớt giữa đám gai góc, anh tin chắc điều mình nghĩ là đúng.
 
Anh nói tiếp:
 
- Tôi cũng nghe bọn chúng nói rằng ông Thanh Quí sẽ phải bỏ nhà vì mưu mô của tên Phách. Tôi nghi bọn chúng sẽ dùng biệt thự Tùng Lâm để làm chuyện gì đây. Vì thế, khi khi không thấy Mai Tuấn ở trong căn nhà giữa rừng nữa, tôi nghĩ ngay đến nhà ông Thanh Quí.
 
- Kỳ thật. Ông Thanh Quí lại vắng nhà ngày hôm qua. Tao nghi lắm! Mấy cháu nghĩ sao?
 
Mạnh nói thêm:
 
- Tôi biết tên Phách, tên đạp nhằm bẫy đó, hay đi lại ra vào biệt thự nhiều lần.
 
Ngay lúc đó, ông Thanh Quí xuất hiện ở khung cửa. Chú Bảy nói ngay:
 
- Chúng tôi vừa nói đến ông xong.
 
- Nói xấu hả?
 
- Nói xấu thì hơi quá. Chúng tôi thành thực nói chuyện thôi. Riêng tôi, tôi ngạc nhiên về chuyện ông không nghe tiếng máy bay lên xuống ngay bên nhà ông.
 
Mặt ông Thanh Quí thoáng đỏ khi nghe câu hỏi.
 
- Mọi khi tôi tỉnh lắm, lại hay dậy sớm… Trừ hôm ông tới đập cửa.
 
- Hôm ấy ông có lẽ mệt! Nhưng hôm qua chắc ông phải đi chơi đâu xa lắm.
 
- Tôi đâu có đi chơi. Thằng Phách đưa tôi xem bức điện tín của con tôi gởi cho… Tôi có thằng con trai đang đi học ở Nha Trang. Nó báo tin bị đau nặng. Nếu ở trong trường hợp tương tự chắc ông không làm gì khác hơn là lên xe đi thăm con ngay. Nhưng xui cho tôi, xe mới ra đến đầu tỉnh đã bị hư máy. Thế là lại hì hục đẩy xe tới tiệm sửa. Tôi tính chờ sửa xong là lại đi ngay. Cũng may, tôi ra gọi điện thoại xuống hỏi xem bệnh tình con tôi ra sao. Ông biết sao không? Thằng con tôi ở đầu dây trả lời cho tôi: Nó khỏe hơn bao giờ hết. Nó vừa đi tắm biển về nữa. Nó nói chưa bao giờ đánh cho tôi một bức điện tín nào. Thế có lạ không? Tôi bực mình hết chỗ nói. Chờ cho xe sửa xong là tôi dông ngay về dù cho trời đã tối lắm rồi. Vừa xuống xe, tôi bị đập một cái bất tỉnh chẳng còn biết gì nữa.
 
- Ông vừa nói tên Phách đã đưa ông coi bức điện tín?
 
- Đúng rồi, thằng đó tốt lắm. Nó thường giúp tôi chẻ củi, làm nhiều việc lặt vặt khác.
 
Chú Bảy bật cười vì sự cả tin của ông Thanh Quí.
 
- Gã tốt lắm, vì thế tôi mới nghi ông cũng thuộc bọn hắn. Ông có biết con mồi nào đã đạp trúng bẫy đêm qua ở đầu nhà tôi không?... Chính tên Phách, tên có mái tóc dài bạc trắng.
 
Chờ cho ông Thanh Quí bớt  ngạc nhiên, chú Bảy mới nói tiếp:
 
- Sau khi nghe các cháu tôi nói về ông và chính ông giải thích tôi đã hết nghi ngờ thái độ của ông. Từ nay tôi lại hân hạnh nối dây thân tình với ông.
 
- Cám ơn ông, tôi cũng đang tính bàn với ông một chuyện.
 
Ngay lúc đó, viên cảnh sát đêm qua cũng vừa đến.
 
- May quá, có cả ông Thanh Quí ở đây. Tôi khỏi phải qua bên đó nữa.
 
Ngồi xuống một cái ghế gần hai người, ông mở đầu bằng một câu hỏi đầy vẻ ngờ vực:
 
- Những đêm có máy bay xuống, hình như ông Thanh Quí ngủ say lắm phải không?
 
Ông Thanh Quí cười gượng. Mọi người tưởng câu chuyện sẽ đổi sang hướng khác. Nhưng viên cảnh sát đã mỉm cười hỏi thêm câu nữa:
 
- Mỗi buổi tối ông đều uống một ly nước chanh đường phải không?
 
- Phải… sao ông biết?
 
- Mấy lúc gần đây ông uống có thấy gì lạ không?
 
- Có, hình như nó chát hơn. Tôi còn giữ trong chai một phần nước tôi uống không hết.
 
- Tôi biết trong ly nước ấy có thuốc ngủ do tên Phách lén bỏ vào mỗi khi cần. Mấy hôm có máy bay đến, ông đã bị uống thuốc ngủ cho ngủ say li bì.
 
Chú Bảy quay sang hỏi viên cảnh sát:
 
- Tôi muốn biết tại sao có một tổ chức khai thác mỏ như vậy mà dân vùng này có lẽ cũng như tôi không hề biết một chút gì.
 
- Tôi đã vào hỏi mấy tên đầu sỏ ngay đêm qua. Tôi biết thêm được nhiều chuyện. Chuyện bắt đầu với ông già Hách, người chủ trại cô độc của trang trại Bích câu này. Một hôm ông đọc được một bài báo nói về những mỏ mica bị bỏ hoang vì mức sản xuất quá kém. Ngày nay người ta khai thác lại những mỏ ấy để tìm những chất khác vì họ nhận thấy rằng một mỏ mica thường kèm thori, một chất có phóng xạ rất quí. Ông Hách mừng rỡ, nghĩ rằng mỏ mica của ông cũng có những tính chất tương tự. Thế là ông định tâm khai thác mỏ. Một hôm, ông ra ngoài tỉnh rồi lỡ lời nói hở cho một người khách lạ biết dự định. Lập tức tên nầy nắm lấy cơ hội, xin khai thác chung với ông. Vì khôn ngoan, hắn để ông Hách trực tiếp khai thác, còn hắn chỉ cung cấp dụng cụ như bình hơi, máy xì. Hắn liên lạc bán cho một công ty ngoại quốc những quặng khai thác được. Phải sống dưới hầm gần chất phóng xạ nhiều giờ, ông Hách bị chứng lở loét rồi chết.
 
- À ra thế, Nùng Ô nói lửa cháy da là như vậy.
 
- Đúng thế. Nùng Ô được gọi tới săn sóc cho ông già Hách. Hắn cũng khám phá ra việc khai thác mỏ. sau khi ông Hách chết, Nùng Ô tiếp tục công việc. Hắn chữa bệnh cho ông Hách mà không hay biết gì về nguồn gốc của căn bệnh. Vì thế, có lẽ hắn cũng bị chứng bệnh ấy. Việc ông Thanh Quí về ở biệt thự Tùng Lâm cũng như việc gia đình ông Bảy dọn đến Bích Câu đã làm cản trở bọn khai thác. Bọn họ phải lén lút cho khỏi bị lộ. Vì thế, tên Phách mới tới làm quen và lừa cho ông Thanh Quí uống thuốc ngủ cho ông khỏi nghe tiếng máy bay đáp xuống. Nhưng bọn họ lại gặp khó khăn vì đàn bò ở trên sân cỏ. Vì thiếu khôn ngoan nên chúng đã gây tai nạn cho đàn bò.
 
Chú Bảy hỏi một hồi nữa, sau cùng đến chuyện tấm bản đồ giấu trên gác xép.
 
- Đúng rồi, tôi tìm thấy trong người tên Phách một tấm bản đồ vẽ bằng tay đã cũ. Hình như ông Hách đã vẽ lại sau khi khám phá ra hầm mỏ. Chúng ta không biết ông ấy có chủ đích gì khi vẽ tấm bản đồ đó. Ông nghĩ đến người thừa kế chăng? Chỉ có trời với ông ấy biết mà thôi. Nhưng chuyện đó không quan trọng lắm. Tôi biết thêm là hầm mỏ đã gần cạn. Đêm qua là chuyến cuối cùng của bọn họ thì bị phát giác. Tôi quên một điều, nếu Nùng Ô bị bệnh như ông Hách, vì nhân đạo chúng ta phải đưa lão vào nhà thương điều trị.
 
Sau khi ghi chép những điều cần thiết, viên cảnh sát ra về. Chú Bảy day lại hỏi ông Thanh Quí:
 
- Lúc nãy ông định nói gì vậy?
 
- Tôi bỏ ý định mua lô đất 26 của ông để xây khách sạn rồi.
 
- À, thì ra ông định mua lô đất của tôi để xây khách sạn? Vậy thì, ông Thanh Quí này, ông nên xây khách sạn trên đó đi. Tôi sẽ nhường lại lô 26 cho ông đó. Đàn bò nhốt ở chỗ nào chẳng được. Tôi hy vọng ông sẽ đổi ý.
 
- Như vậy tôi sẽ chiều ý ông. Chúng ta sẽ chung nhau xây khách sạn. Hầm mỏ sẽ là nơi thu hút du khách không ít. Họ sẽ đổ xô về đây cho coi. Nếu cần, khi xây xong, tôi về Saigon đăng báo quảng cáo là khỏi sợ thiếu khách… Tôi xin ông một điều này nữa: Khách sạn của chúng ta sẽ mang tên là Khách sạn Bích câu. Nghe hay hơn tên Tùng Lâm nhiều.
 
Chú Bảy chấp thuận, mỉm cười sung sướng.
 
Tiếng động cơ nổ rền làm mọi người tò mò chạy ra sân coi. Chiếc máy bay đang bay về phía trại, rồi nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân cỏ bên cạnh trại. Mọi người ngạc nhiên khi thấy cai Bần bước xuống, theo sau là con Quýt. Chiếc trực thăng lại bay về phía tỉnh. Cai Bần đứng giơ tay vẫy chào viên phi công.
 
- Tôi không ngờ có ngày hôm nay, lần đầu tiên được bay trên mây trên gió.
 
Vẻ mặt cai Bần rạng rỡ, có lẽ chưa bao giờ ông vui thích như vậy.
 
Đứng trong sân trại, Mai khẽ nói với Tuấn:
 
- Hồi nãy anh có nghe gì không? Không có chúng ta chắc sẽ không có khách sạn Bích câu. Đáng lẽ họ phải biết ơn mình mới đúng.
 
Tuấn hít một hơi dài không khí trong lành của núi rừng:
 
- Mai nói có lý.
 
Hai anh em cùng nhìn về phía bãi cỏ, tưởng tượng khách sạn Bích Câu xây giữa những lùm cây xanh rậm rạp. Cả hai mỉm cười sung sướng hy vọng một cuộc mạo hiểm khác đang chờ đón hai anh em
 
 
LINH VŨ