Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

CHIẾC NỆM THẦN - Thanh Trúc

 Vào một thời xa xưa, lúc mà người ta chưa biết mang giầy là gì từ nhà vua cho chí tới dân đen hết thẩy đều đi chân không. Cũng vào thời ấy, có một vị đế vương rất trẻ tuổi và giàu có nhưng rất lấy làm phàn nàn vì những cành gai hay những hòn sỏi nhọn hoắt làm gót ngọc của người phải đau nhức.

Một hôm nhà vua chợt nghĩ ra cách giải nệm ra đường để đi, như vậy sẽ không sợ gai hay sỏi. Nghĩ sao làm vậy, nhà vua bèn ra lịnh cho quan thượng thư phải tìm cách trải nệm tất cả chỗ nào nhà vua đặt chân tới và hẹn cho một tháng phải xong. Khốn khổ thay cho vị thượng thư, phân vân không biết trải ra sao, vì làm sao biết được nhà vua đi tới đâu mà trải. Muốn hỏi lại thì sợ nhà vua nổi giận, như thế mất đầu như chơi. Mà trái lịnh thì càng dễ chết hơn nữa. Không biết làm sao, vị thượng thư đó nhắm mắt làm liều, ra lịnh cho tất cả thợ dệt đan nệm khắp trong nước phải cấp tốc làm gấp trong một tháng, ai chậm trễ sẽ bị hạ ngục. Như sét đánh ngang tai, các thợ dệt trong nước ai nấy đều lo lắng, nhưng rồi cũng lại phải nhắm mắt làm liều. Phần chia ra trồng cói, phần đi dệt làm việc cấp tốc suốt ngày đêm. Một tháng trôi qua nhanh chóng, đến khi thu thập tất cả nệm dệt được đem ra trải thì chỉ vừa đủ cho các đường trong vườn thượng uyển nơi vua hay ngự lãm nhất thôi. Vị thượng thư lo sợ vô cùng không biết làm sao bèn ra lịnh cho các thợ dệt phải cấp tốc làm nữa. Nhưng cói thì đã hết chưa trồng lại kịp, thợ dệt thì sau một tháng làm việc suốt ngày đêm ai nấy đều suy nhược, không còn sức làm nữa và đều nguyện xin vào tù ở còn hơn là phải ngồi dệt. Thật tiến thoái lưỡng nan, vị thượng thư như mất hồn lúc nào cũng chạy cuống cả lên vì chỉ còn mấy ngày nữa là hết hạn. Mấy lần ông toan tự vận nhưng lại thương vợ thương con đành phải bỏ ý định đó. Không những chỉ có vị thượng thư lo sợ mà ngay cả triều đình ai nấy cũng đều lo không kém, phần vì thương vị quan nọ phần sợ bị vạ lây. Sau vị thượng thư cho họp các quan lại bàn, ai nấy cũng đồng ý nên truyền lịnh khắp nơi xem ai có thể chế tạo được tấm nệm thần để đáp theo lời đòi hỏi của nhà vua. Lập tức lệnh được ban bố ngay, trong nháy mắt từ thành thị đến thôn quê ai cũng biết tin đó. Nhưng rồi một ngày, hai ngày... chẳng nghe động tĩnh gì cả. Vị thượng thư lại càng lo thêm vì đã sát ngày định lắm rồi. Nhưng may thay chiều hôm ấy có một vị đạo sĩ quần áo rách rưới xin vào yết kiến. Đạo sĩ đó được tiếp kiến ngay. Nhưng vị quan thấy đạo sĩ đó không mang gì cả ngoài cái gói nhỏ thì phân vân vô cùng. Sau ngài cũng đành hỏi:
 
- Này nhà ngươi chỉ cho ta xem tấm nệm thần đâu?

Đạo sĩ liền chỉ ngay vào cái gói nhỏ và trả lời:

- Thưa ngài đây.

Vị quan trố mắt nhìn ngạc nhiên và đập bàn quát mắng: 

- Nhà ngươi lại muốn xin xỏ chuyện gì rồi bày đặt ra vậy phải không? Quân bây đâu?...

Nhưng đạo sĩ đã vội thưa:

- Thưa ngài tôi đến đây không phải để xin điều chi mà chỉ xin yết kiến nhà vua rồi có việc gì thì đã có tôi, ngài không phải lo.

Trong lúc quẫn bách vị thượng thư cũng đành nguôi giận mà chấp thuận cho. Hôm sau, sau khi ăn mặc chỉnh tề đạo sĩ được quan thượng thư dẫn vào triều yết nhà vua. Sau khi nghe lời tâu của vị thượng thư nhà vua chấp thuận cho vào nhưng khi thấy đạo sĩ chỉ mang một gói nhỏ mà dám bảo trải khắp nơi nên tò mò muốn thử bèn ra lịnh mở ra xem.
 
Được lệnh đạo sĩ thong thả đặt gói nhỏ ấy xuống. Sau mấy lượt vải điều đạo sĩ lấy ra đôi hài nhỏ dâng lên và đi vào chân cho nhà vua.

- Muôn tâu thánh thượng đó là chiếc nệm thần của hạ thần đã thức bao đêm để làm ra...

Không cho nói hết lời nhà vua đã vội quát im và mắng:

- Nhà ngươi lừa ta đấy phải không? Vệ sĩ đâu, hãy bắt tên này ra trị tội.

Các quan ai nấy đều xanh mặt nhất là vị thượng thư mặt không còn hột máu tay chân run lẩy bẩy muốn ngã. Trong khi đó đạo sĩ vẫn điềm nhiên nói mặc dù bị vệ sĩ vây kín:

- Muôn tâu thánh thượng, trước khi chết kẻ hèn này chỉ xin thánh thượng ra xem cái chết của hạ thần và cũng vừa là để thử chiếc nệm thần.

- Được ta chiều ý ngươi xem ra sao.

Với đôi giày xinh xắn, vua từ từ đi xuống, đằng trước là lũ vệ sĩ đang lôi kéo vị đạo sĩ ra sân, theo sau lũ lượt các quan. 

Ra tới sân bỗng nhiên đạo sĩ quay lại hỏi nhà vua:

- Muôn tâu thánh thượng ngài cảm thấy ra sao khi đi trên chiếc nệm thần của hạ thần?

- Khá lắm - nhà vua tươi cười trả lời - thôi ta tha tội chết cho nhà ngươi đó.

Các quan ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm duy chỉ có đạo sĩ vẫn điềm nhiên không cười.

Khi vào tới bệ rồng, nhà vua liền ra lịnh đem vàng bạc châu báu ra ban cho đạo sĩ, nhưng đạo sĩ từ chối và xin đem phát cho các thợ dệt đang sống trong cảnh đói khổ vì thiếu ăn, thiếu tiền.

Nhà vua chấp thuận và đem số vàng bạc đó phát cho dân nghèo cùng các thợ dệt. Từ đó nhà vua cho chí tới các quan và dân gian ai nấy đều biết đi giày.


THANH TRÚC      

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa Xuân Giáp Thìn, 1964)



Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

CÔ BẠN MỚI- Bích Liên

 
Lớp học im như tờ, mấy nhỏ bạn em đang cắm cúi làm bài kiểm, em vừa làm bài xong đưa mắt lơ dãng nhìn ra ngoài lớp. Ngoài hành lang, bóng bà giám thị và một cô bé đang rụt rè bên cạnh. Ở cô bé, mới nhìn là em có cảm tình ngay, đôi mắt to tròn ngơ ngác nhìn quanh, gương mặt khả ái mang vẻ e dè sợ sệt, bái tóc cột bím làm tăng thêm vẻ dễ thương sẵn có ở cô bé.

Em khều nhỏ bạn thân, thông báo:

- Ê Lan! Nhìn nhỏ ấy đẹp ghê há!

Nhỏ Lan ngẩng đầu lên nhìn:

- Ừ! Cũng xinh đấy chứ!

- Xinh thật chứ cũng gì nữa.

Lan im lặng và có vẻ khó chịu. Chơi thân với nhỏ ấy từ lâu nên em biết, nhỏ chỉ muốn em là của nhỏ mà thôi, hễ em nói chuyện với đứa bạn nào khác hay đi đâu mà không rủ nhỏ, nhỏ giận em liền, tuy nhiên nếu em làm hòa thì nhỏ cũng hết hờn ngay. Giận đó rồi lại cười  đó nên suốt bốn năm trời có vô số cuộc giận hờn và làm hòa giữa em và nhỏ ấy. Ngoài cái tính hay hờn, nhỏ lúc nào cũng dễ thương đối với bạn bè hết.

Ơ kìa! Cô bé lúc nãy lại được bà giám thị đưa vào lớp em, bà nói nhỏ gì với cô, cô cười và nắm tay cô bé dễ thương nói:

- Đây là Băng Sương học trò tỉnh lỵ, năm nay Băng Sương sẽ học cùng lớp với mấy em. Cô hy vọng mấy em sẽ xem Băng Sương như là bạn thân nhé!

Rồi cô dẫn nhỏ Băng Sương xuống bàn em, trông cô bé luống cuống đến tội nghiệp - Cô bảo:

- Bích Liên cho Băng Sương ngồi chung với nha!

Em cười thật tươi và dạ. Suốt giờ học, em cứ liếc qua nhỏ bạn mới hoài. Chừng như nhỏ ấy muốn làm quen mí em lắm nhưng ngại ngùng nên chưa mở lời.

Đến giờ ra chơi nhỏ Lan rủ em ra ngoài ban công đứng chơi. Em với Lan đứng một chặp thì nghe một giọng nói nhỏ nhẹ sau lưng:

- Hai bồ cho "tui" chơi chung với nha!

Em nhìn nhỏ Lan và không đợi sự đồng ý của nhỏ, em vội gật đầu:

- Ừ!

Rồi em bắt chuyện ngay:

- Băng Sương lúc trước học ở đâu vậy?

Băng Sương cười. Chao ôi! Hai đồng tiền sâu hoắm tạo nên hai điểm tròn xoe trên đôi má cô bé:

- À! Sương học ở dưới Kiến Hòa lận.

Rồi Sương hỏi thăm nhà Lan và em, nhỏ ấy nói chuyện dễ thương kinh khủng. Băng Sương luôn luôn tìm cách gợi chuyện với Lan thế mà không hiểu sao nhỏ ấy lại lạnh lùng và thờ ơ với cô bé ghê lắm. Thình lình nhỏ Lan bỏ vào trong lớp, em giận nhỏ vô cùng trong khi Băng Sương bối rối không hiểu tại sao.

Thấm thoát Băng Sương vào học lớp em được hơn một tháng, nhỏ được lòng tất cả bạn bè trong lớp. Vừa xinh lại chăm ngoan thì làm sao mọi người không yêu mến. Duy chỉ có mình Lan là không thích Băng Sương. Em lại chơi với Băng Sương nên nhỏ Lan cũng giận em luôn nữa. Thấy tình hình chiến tranh lạnh xảy ra đến hồi gay cấn em mới làm hòa rủ nhỏ Lan đi ciné ngày chủ nhật, chẳng những không đi mà nhỏ còn mắng  em nữa:

- Xí... cái mặt có mới nới cũ.

Làm em giận vô cùng, tưởng chừng như không bao giờ em nói chuyện với Lan nữa. Dường như Băng Sương biết chuyện em và Lan giận nhau, nhỏ lo lắng vô cùng vì tự cho là lỗi tại nhỏ. Sau lần đó, Lan xin đổi xuống bàn dưới không ngồi cạnh em nữa. Tuy giận Lan, em cũng mong một ngày nào đó Lan sẽ hiểu và mến Băng Sương, lúc đó ba đứa em sẽ cùng nhau dung dăng, dung dẻ đến trường...

- Liên ơi! Có ai gửi đồ cho chị nè!

Em đứng lên cầm món quà trên tay Cu Tý, món quà được gói giấy hoa thật đẹp, em ngạc nhiên giở ngay ra xem. Thật không ngờ Lan đã làm hòa với em bằng một quyển sách. Tình thân đã được nối lại, em sung sướng vô cùng...

Chiều vô lớp, em dọn sẵn một nụ cười thật tươi. Lan cũng vậy, gặp em nhỏ ấy vội vàng nói:

- Thôi tui hổng giận bồ nữa đâu, cám ơn bồ đã tặng tui quyển sách.

Em chưng hửng như từ cung trăng rớt xuống:

- Không có chi, đáng lẽ tui phải cám ơn bồ trước vì bồ tặng tui sách trước mà.

Bây giờ đến lượt Lan ngạc nhiên cũng không kém gì em. Thế thì sách nào em tặng Lan và sách nào Lan tặng em? Hai đứa đang phân vân thì Băng Sương đi tới, cùng một lúc ba nụ cười nở trên môi.

Băng Sương vui vẻ:

- Làm sao mà hết giận nhau sớm thế?

Em và Lan đồng trả lời:

- Quyển sách.

Sương mỉm cười:

- Nhớ ơn sách chứ không nhớ ơn người gửi sao?

Trong một thoáng em và Lan cùng hiểu - hèn chi em vẫn thắc mắc mãi nét chữ nguệch ngoạc của Lan. Băng Sương bắc một nhịp cầu cho em và Lan tìm đến nhau. 3 bàn tay nắm chặt vào nhau, nhìn nhau và cười vang trong vui vẻ.


BÍCH LIÊN        
(des filles mignonne)  

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Giáp Dần, 1974)


Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

THĂM VƯỚN - Thơ Thơ

 

Buổi sáng đẫm sương 
Bé bước ra vườn 
Nghe lòng sảng khoái
Vườn ngát hương thơm

Trắng tinh Nguyệt Quế
Li ti Ngâu vàng
Hồng Tường Vi thẫm
Bông Điệp đỏ cam

Mười Giờ ngũ sắc
Chào đón nắng tươi
Cành cao hoa Lựu
Từng cánh rụng rơi

Rực rỡ bướm bay
Ong lượn từng bầy
Bên khóm Lài trắng
Hương nồng ngất ngây

Thoảng qua làn gió
Cành Liễu đung đưa
Bạch Trầm Hương nở
Loa Kèn ngây thơ 

Vườn hoa tươi thắm
Đẹp tựa mùa xuân 
Hoa cười trong  nắng
Như tiên giáng trần

Yêu đời bé hát
Thánh thót reo vui
Lũ chim nghe thấy
Vội góp tiếng cười...

                       Thơ Thơ 
           (Bút nhóm Hoa Nắng)


Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

XÔI XÉO - Đỗ Phương Khanh

 

Nhân dịp Tết, chị bầy món xôi xéo để các em có thể giúp má đỡ bận trong mấy ngày Xuân. Chị đã có nói, những món chị bầy đều là món thường, nhưng chỉ có khác chút kỹ thuật mà thôi. Món xôi bữa nay, phần kỹ thuật đặc biệt chính là ở chỗ không ngâm gạo. Vì không ngâm, gạo không bị chua, xôi có thể để qua ngày hôm sau vẫn thơm phức, rất tiện dùng trong mấy ngày tết bận rộn.

Vật liệu

Nếp ngon         1 ký
Đậu Xanh tốt   nửa ký
Hành                 1 củ
Mỡ nước          5 muỗng canh
Muối                1 muỗng café 
 
Cách làm
 
Đậu xanh ngâm chừng nào tróc vỏ (độ qua 1 đêm) thì đãi vỏ đi, nhặt cho sạch sẽ, bỏ vào trõ (xửng hấp) chín lấy ra giã nhuyễn. Gạo nếp không ngâm, chỉ đãi rửa sạch sẽ, bỏ hào trõ hấp sau khi sôi chừng 10 phút, thăm chừng thấy khi hạt gạo nứt làm 2,3 khía, trút ra rổ mắt nhỏ, đãi chừng nào hết chất nhớt là được. Nước đãi và chậu phải thật sạch vì gạo đang nóng sẽ hút chất nước đó vào làm cho hạt gạo mềm ra. Đãi chừng 2,3 lần rồi kê rổ gạo lên cho ráo nước, sẽ trộn chung với đậu nhuyễn và muối, rồi cho vào trõ lại.
 
Xôi chín em xới ra một nửa ăn với chè, sẽ thành món xôi vò chè đường. Nửa còn lại em rưới hành mỡ vô, ăn ngon lắm.
 
Phần xôi vò đó, em xới ra rổ (vì rổ nó thoáng, hơi nước bay mau, hạt gạo không bị bết lại) rồi dùng đũa nhỏ bới bới cho hạt gạo rời ra. Còn xôi xéo cũng phải rưới mỡ vô lúc xôi đang nóng, hạt xôi mới hút mỡ, và trở nên mềm mại vô cùng.
 
 
Các em sẽ thắc mắc ở điểm đem rửa gạo tới hết nhớt và cho rằng như vậy sẽ mất chất bổ. Em nào nghĩ như vậy chị cho 20 điểm vì điều đó chứng tỏ em biết nghĩ đến chất bổ dưỡng, là phần lớn sức khỏe của người thân yêu. 
 
Nhưng em cứ yên chí đi. Chẳng có mất chất bổ đâu, chất nhớt mất đi đó cũng chỉ bằng chất nước gạo sau khi ngâm gạo một đêm mà thôi. Đã thế, cách ngâm gạo làm cho hạt gạo chua, rất chóng thiu, ăn dễ bị đau bụng. Còn kiểu của tụi mình lại có thêm đặc điểm là làm gấp cũng được không cần phải ngâm gạo. Trong trường hợp làm gấp, các em ngâm đậu với nước âm ấm (đừng nóng quá hạt gạo sẽ sát lại, không dóc vỏ nữa) và nước ngâm em pha thêm chút vôi ăn trầu là chỉ 1 giờ sau đậu tróc ra liền.
 
Chúc các em được mẹ mi thưởng vào hai má bầu bĩnh ửng hồng nhân dịp đầu năm.
 
 
Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH   
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 25-26, Xuân Nhâm Tý 1972) 


Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

XUÂN VỀ THÁNG GIÊNG - Thơ Thơ

 

Trong vườn xuân chim hót
Báo tin xuân sắp về
Vọng trên đồi thánh thót
Gió xuân nồng hương quê

Tháng giêng tràn mật ngọt
Ong tíu tít bóng cây
Hoa bưởi đơm trắng xóa
Ngang trời mây trắng bay

Trên giàn hoa thiên lý
Bướm tung cánh la đà
Mục đồng vi vút sáo
Đồi cỏ xanh mượt mà

Tháng giêng mai nở vàng
Trên khắp chốn quan san
Ngõ xuân tràn nắng ấm
Chờ mùa xuân mới sang

Bỗng tiếng pháo đâu đây
Chiều qua hết một ngày
Chờ tháng giêng tết đến
Xúng xính áo mẹ may

Tháng giêng má hây hồng
Thôn nữ dõi mắt trông
Chiều chiều phương xa ấy
Bóng người về thương mong

Tháng giêng lòng rộn rã
Tháng giêng đời êm trôi
Lòng vui như trẩy hội
Tháng giêng một lần thôi

                               Thơ Thơ
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)


Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

CƠN SÓNG ĐỊNH MỆNH (V) - Pearl Buck (Trường Đức Minh Văn phóng tác)

 

Kiều Uy mở rộng miệng cười:

- Vậy là từ nay con có anh rồi nhé!

Vi Da chớp chớp mắt. Cậu cảm thấy bầu không khí thật đầm ấm và cuộc sống rất đáng sống. Từ nay, cậu có thể hạnh phúc trong vòng tay đùm bọc của gia đình này. Trưa ấy cậu bé thấy ngon miệng và ăn được nhiều cơm.

Thấm thoát đã bao năm qua. Đại dương vẫn hiền hòa, phẳng lặng. Hiểm họa sóng thần tựa hồ đã nhạt nhòa dấu tích trong trí óc con người. Giờ đây, Vi Da là một thanh niên lực lưỡng, Kiều Uy cũng vạm vỡ, cao lớn không kém bạn. Cô bé Sen Ái đã trổ mã, trút nhanh lớp vỏ ngây thơ, nhí nhảnh, dáng đi cô bé trở nên tha thướt, yểu điệu, giọng nói và khuôn mặt dịu hiền quyến rũ. Nhưng hình như trong khoảng thời gian dài đã qua ấy vẫn có một vết hằn sâu nào đó lắm lúc khiến mọi người bâng khuâng. Con người như vẫn chưa quên hình ảnh bi thương tựa như vết khắc tàn bạo phân đôi dòng trôi chảy bình lặng của thời gian - trước và sau sóng thần - Những xao động mãnh liệt trong dĩ vãng vẫn chưa lắng đọng hẳn xuống.

Đã nhiều năm qua, vẫn chưa thấy một ngư dân nào trở về lập nghiệp trên bãi biển hoang vắng. Cát như trắng hơn, mịn hơn và những gợn sóng nhỏ như hiền hòa hơn, nô đùa sủi bọt. Lòng người bắt đầu nhen nhúm hy vọng. Các ngư phủ sống sót nhờ kịp thời nghe theo tiếng chuông lánh nạn lên lâu đài đã di cư cùng vợ con đến bờ biển khác. Họ đã sắm sửa được những chiếc thuyền mới.

Nhưng dù ở đâu họ vẫn nhận rằng không có bờ biền nào tốt hơn bờ biển ngày xưa. Nước ở đó trong và rất sâu, từng đàn cá rủ nhau lội sát vào bờ. Ngư dân không cần phải ra xa. Họ chỉ cần buông lưới, nhất là ở eo biển giữa hai hải đảo, và kéo lên đầy ắp cá.

Từ dạo đó, Kiều Uy và Vi Da ít khi lai vãng đến bãi biển. Họa hoằn lắm chúng mới đi men theo chỗ hồi xưa có con đường trải sỏi trắng tinh, và Vi Da lục lọi xem còn dấu tích nào của nhà chàng may ra trôi giạt vào bờ không. Không còn gì cả. Sóng biển quá khủng khiếp đến nỗi xác người cũng không thấy nổi lên. Lâu dần, hai chàng trai như xa lạ với bãi biển quạnh hiu. Mỗi khi đi tắm biển, họ thường đi lối tắt qua một ngọn đồi khác.

Nhưng Kiều Uy vẫn thấy Vi Da mỗi sáng đứng ngẩn người nhìn ra biển. Hình như chàng muốn tìm kiếm một điều gì đó đã linh cảm sẽ gặp lại. Đến một hôm, chàng tìm thấy. Lúc đó Kiều Uy đang bận xỏ giày, Chàng nghe Vi Da gọi to:

- Kiều Uy ơi, đến xem này!

Kiều Uy vội chạy đến. Vi Da chỉ tay xuống đồi nói:

- Nhìn kìa, có người đang dựng nhà ở bãi biển phải không?

Kiều Uy trố mắt nhìn. Chàng thấy hai người đàn ông đang trồng cột, bên cạnh có một người đàn bà và một đứa bé. Chàng ngạc nhiên hỏi:

- Không lẽ người ta lại dựng nhà ở đó sao?

Cả hai đều nóng ruột, không thể đứng yên nhìn. Họ chạy phăng xuống đồi đến bãi biển. Vi Da hỏi người đàn ông:

- Hai bác dựng nhà phải không?

Cả hai dừng tay và người cao niên nhất gật đầu đáp:

- Vâng. Trước kia cha ông chúng tôi đã sống ở đây; bây giờ đến lượt chúng tôi. Cực chẳng đã, những năm qua chúng tôi phải tá túc trong lâu đài và đánh cá ở những nơi khác. Bây giờ chúng tôi đã chán lắm rồi, chúng tôi muốn có nhà riêng. Với lại, bãi biển ở đây nhiều cá nhất.

- Nhưng lỡ sóng thần trở lại thì sao?

Hai người đàn ông nhún vai:

- Thời ông tổ chúng tôi, sóng thần đã đến tàn phá tất cả, nhưng ông bà chúng tôi vẫn trở về đây sinh sống. Đến thời cha mẹ chúng tôi, sóng thần lại đến, và bây giờ đến thời chúng tôi, chúng tôi vẫn muốn trở về sinh sống trên quê cha đất tổ.

Kiều Uy lo ngại hỏi:

- Thế con cái bác thì sao?

- Biết đâu sóng thần sẽ không bao giờ đến nữa.

Nói rồi, họ lại tiếp tục làm việc. Vi Da đứng chăm chú nhìn họ, khuôn mặt lộ vẻ suy tư. Từ nãy đến giờ chàng không hề hé miệng. Tai ương sóng thần đã biến đổi chàng sâu xa. Chàng không còn cười nói dễ dàng hay bất cẩn như trước nữa, chàng đã học được cách sống hòa đồng với những người thân quá cố như có lần cha Kiều Uy nói. Chàng không còn khóc nữa, trí óc chàng tưởng nhớ họ từng giây từng phút và như thể họ đã đồng hóa làm một với chàng. Khuôn mặt, giọng nói, tiếng cười của cha, của mẹ, của anh như hòa tan trong máu huyết chàng. Kể từ khi có sóng thần, Vi Da hết còn bé bỏng, chàng thoát xác nhanh chóng. Ở trường chàng chăm chỉ học hành và về nhà chàng tận tâm giúp đỡ công việc đồng áng. Chàng quí trọng mọi điều tốt lành và vì đã chứng kiến sự tàn bạo của sóng thần, nên chàng không thể chấp nhận những điều độc ác. Càng ngày chàng càng trở nên lịch duyệt, từng trải. Chàng không hề cho ai biết nỗi cô đơn của mình vì ngại làm phiền đến người khác. Chỉ có mỗi khi Sen Ái cười nói hay chọc phá chàng, nụ cười của chàng mới tươi sáng, thoải mái.

Bây giờ đứng nhìn hai người đàn ông xây nhà trên bãi biển, Vi Da chợt cảm thấy lòng mình vui rộn rã. Trong đầu chàng xoay chuyển nhiều câu hỏi. Có thật người ta bắt đầu dựng lại nhà trên bãi biển không? Chàng có nên bắt chước họ không?

Từ trên đồi bỗng vọng lại tiếng chân người. Họ ngẩng đầu lên và thấy ông lão quí tộc đang chậm rãi đi xuống. Ông lão đã quá già yếu, bước đi nặng nhọc phải nhờ hai người đầy tớ nâng đỡ.

Người đàn ông cao niên nhất vất cái búa xuống đất nói:

- Ông lão đến rồi đó. Chắc ông lão giận lắm, bằng không đời nào lại chịu rời khỏi lâu đài.

Thân hình ông lão run lên, tay nắm chặt cái gậy. Khi đến gần họ, ông khẽ vuốt râu, dụi mắt. Dạo này trông ông mảnh khảnh như một cành trúc, râu tóc bạc phơ lất phất bay trong gió, giống hệt như một tiên ông ẩn cư trong một cổ tự trên đỉnh núi. Ông hắng giọng nói:

- Sao các người dại thế! Không chịu ở yên nơi nhà lão lại dẫn xác về đây sống với hiểm nguy. Các người bắt chước cha ông các người làm chi, rồi đây sóng thần sẽ tàn phá hết.

Người cao niên nhất ôn tồn đáp:

- Thưa Ngài, biết đâu sóng thần sẽ không đến nữa.

Ông lão run giọng quả quyết:

- Sóng thần sẽ đến lại. Suốt đời lão đã nhiều phen cứu vớt những người ngu dại thoát khỏi sóng thần. Nhưng đến lượt các người, đừng đến nhờ cậy lão nữa nhé!

Đột nhiên Vi Da xen lời vào:

- Thưa Ngài, đây là quê hương của chúng tôi, nơi chúng tôi chôn nhau cắt rún. Dù có hiểm nguy vì núi lửa hay biển cả, chúng tôi vẫn muốn trở về sinh sống ở đây.

Ông lão chăm chăm nhìn chàng hồi lâu rồi hỏi, giọng nhuốm vẻ ngạc nhiên:

- Hình như lão có gặp cậu ở đâu rồi.

Vi Da thẳng thắn đáp:

- Thưa Ngài, cháu đã hân hạnh đến lâu đài cùa Ngài một lần rồi.

Ông lão gật gù nói:

- À, lão nhớ ra rồi, lão muốn nuôi cậu làm con lão. Hà, những người trẻ tuổi mới ngờ nghệch làm sao. Đáng lẽ cậu đã được sống an nhàn nơi nhà lão, cả con cái của cậu nữa. Sóng thần không bao giờ làm hại được lão.

Vi Da lắc đầu đáp:

- Lâu đài của Ngài cũng không có gì bảo đảm. Chỉ cần động đất khá mạnh là sụp đổ như những căn nhà khác. Chúng ta không thể nào tìm được một nơi nào hoàn toàn yên ổn trên hải đảo cả. Chúng ta phải can đảm sống vì không thể làm khác được.

Mấy người thợ đều nói:

- Vâng, cậu nói có lý lắm.

Rồi họ lại tiếp tục làm việc. Ông lão giận dữ nhìn họ một lúc rồi nói:

- Các người nhớ nhé, đừng cầu cứu với lão khi gặp sóng thần.

Vi Da lễ phép thưa lại:

- Ngài giận mà nói thế, chứ cháu biết Ngài bao giờ cũng rộng lượng giúp kẻ hoạn nạn.

Ông lão lắc đầu rồi mỉm cười nói:

- Tiếc rằng cậu không chịu làm con lão.

Rồi ông quay vội về lâu đài và khép kín cổng lại.

Kiều Uy và Vi Da cũng trở về nông trại. Từ ngày ấy cả nhà nhận thấy Vi Da như luôn luôn bồn chồn, lo nghĩ về một điều gì. Họ vẫn nghĩ Vi Da sẽ trở thành một nông phu thành thạo vì chàng đã thấu suốt mọi việc đồng áng và được cha Kiều Uy tín cẩn quí mến. Nhưng Vi Da không thể quên được điều tâm niệm. Một hôm đang làm việc ngoài đồng, cha Kiều Uy bảo chàng:

- Chú biết cháu là một người con  hiếu thảo nên không thể từ bỏ truyền thống của gia đình cháu. Cháu cứ tự nhiên cho chú biết ý định của cháu.

Vi Da thành thật trả lời:

- Dạ cháu muốn sắm một chiếc thuyền để trở lại nghề đánh cá như cha cháu.

Cha Kiều Uy vừa đắp lại những luống cải vừa lẩm bẩm:

- Quả thực sự sống mạnh hơn sự chết.

Từ hôm đó, cả nhà biết là một ngày kia Vi Da sẽ trở lại với biển cả và sẽ dựng nhà trên bãi biển. Ở đấy bắt đầu đã có nhiều ngôi nhà dựng lên, thô sơ và rất mỏng manh như những hộp đồ chơi trẻ con, chỉ cần một đợt sóng thần cũng đủ kéo sập và cuốn trôi đi tất cả. Tuy vậy cũng tạm che được mưa nắng làm nơi trú ngụ cho gia đình ngư dân. Và cũng như ngày xưa, không có căn nhà nào có cửa sổ trông ra biển. Mỗi gia đình lại dựng nhà trên mảnh đất của tổ tiên họ. Phía cuối dãy còn chừa một khoảng đất thuộc quyền sở hữu của Vi Da, trước kia thuộc về cha chàng.

Một buổi tối nọ, Vi Da thố lộ cho cả gia đình Kiều Uy biết:

- Khi nào sắm được thuyền, cháu sẽ cất một ngôi nhà ở đó.

Cha Kiều Uy tiếp lời:

- Từ hôm nay, chú sẽ trả lương cho cháu vì cháu đã trưởng thành rồi.

Từ đó Vi Da dành dụm tiền để mua thuyền. Không bao lâu mộng ước của chàng thành sự thật. Chiếc thuyền rất tốt, dáng thon thon, gỗ chắc chắn và cột buồm mới tinh. Hôm mới mua thuyền, chàng rủ Kiều Uy chèo thuyền ra eo biển. Giữa biển cả mênh mông, chưa bao giờ Vi Da cảm thấy hạnh phúc đến thế. Riêng Kiều Uy không quên được giòng nước giá lạnh ở dưới sâu. Nhưng chàng không nói điều đó với bạn, ngại làm bạn mất vui.

Vi Da tâm sự với Kiều Uy:

- Tớ vẫn luôn tự nhủ một ngày kia sẽ trở về với biển cả, hôm nay tớ đã hoàn thành được mộng ước. Này Kiều Uy...

Vi Da bỏ lửng câu nói, mặt chàng bỗng đỏ gay lên. Kiều Uy ngạc nhiên nhìn bạn. Mãi một lát sau Vi Da mới ấp úng nói:

- Sen Ái có sợ sống gần biển không Kiều Uy nhỉ?

Kiều Uy ngac nhiên hỏi lại cho rõ:

- Tại sao Sen Ái phải sống gần biển?

Mặt Vi Da càng đỏ gay lên, nhưng chàng nghiêm trang nói:

- Tại vì tớ sẽ dựng nhà trên bãi biển và muốn xin phép cưới Sen Ái làm vợ.

Kiều Uy sửng sốt đến há hốc miệng ra. Chàng trố mắt nhìn bạn, Sen Ái là em gái chàng và chàng không thể nào tin nổi Sen Ái lại có thể làm vợ bất cứ ai. Chàng lại không thể tin nổi có người muốn cưới Sen Ái làm vợ. Con bé tính tình vô ý vô tứ, lại hay chọc phá trêu ghẹo, nhiều khi còn giấu đồ đạc của chàng khiến chàng phải tìm kiếm đến bở hơi tai.

Chàng thành thực ngăn bạn:

- Cậu có điên mới cưới Sen Ái.

Vi Da cười:

- Cậu khác, tớ khác.

Kiều Uy thắc mắc:

- Nhưng tại sao cậu lại muốn cưới Sen Ái?

- Bởi vì Sen Ái làm cho tớ vui vẻ và yêu đời. Chính Sen Ái đã giúp tớ quên được sóng thần. Sen Ái lả lẽ sống của tớ.

Kiều Uy chép miệng:

- Nhưng Sen Ái nấu ăn dở lắm, lại hay để cơm cháy vì ham nói chuyện không đâu.

- Tớ không quan tâm đến chuyện cơm cháy lắm. Tớ yêu Sen Ái.

Kiều Uy nhìn bạn lắc đầu. Chàng thấy thương hại cho Vi Da quá. Vi Da làm nhà, chuyện có thể tin được. Vi Da muốn cưới Sen Ái,,, thật hết nước nói.

Vừa về đến nhà, chàng đến gặp cha báo tin ngay:

- Này ba, Vi Da muốn cưới Sen Ái làm vợ đấy, con bé Sen Ái...

Cha chàng đang chọn lựa hạt giống vì đã đến tiết Xuân. Ông cười dí dỏm ngắt lời ngang:

- Ba biết hai đứa có tình ý với nhau từ lâu rồi!
 
- Sao Vi Da lại đối xử tốt với Sen Ái vậy ba?

- Thì Sen Ái xinh quá mà!
 
- Xinh gì? Con chả thấy xinh gì cả. Ba cứ trông cái mũi ngớ ngẩn của Sen Ái thì biết.

- Ấy, Vi Da yêu cái mũi ấy đấy!
 
Kiều Uy thở dài:

- Con không thể hiểu nổi. Con bé Sen Ái lại hay giấu đồ và chọc phá Vi Da. Nhiều khi con thấy tội nghiệp cho Vi Da quá.

- Ấy, Vi Da lại khoái được Sen Ái giấu đồ và chọc phá đấy!

Kiều Uy đưa hai tay lên trời lắc đầu:

- Con thật không hiểu ba muốn nói gì.

Cha Kiều Uy mỉm cười thích thú. Ông giải thích:

- Một ngày kia rồi con sẽ hiểu. Con còn nhớ lời ba nói không? Sự sống mạnh hơn sự chết, bây giờ là lúc Vi Da sẵn sàng làm lại cuộc đời đó.

Và rồi, vào một ngày mùa hạ, lễ cưới của Vi Da và Sen Ái được cử hành. Kiều Uy vẫn không hiểu gì cả. Ngay trong những ngày cuối trước hôn lễ, Sen Ái vẫn chứng nào tật ấy, nghịch ngợm, chọc phá. Và cả hôm lễ cưới, Sen Ái còn giấu mất lược của chàng. Kiều Uy bực mình nói:

- Anh không thể hiểu sao Vi Da lại có thể yêu em được, Nghịch ngợm, chọc phá, hay giấu đồ, nấu ăn dở... Rước em về đúng là rước của nợ.

Sen Ái nghiêng nghiêng đầu nhìn chàng, lưỡi lo le như lêu lêu chế nhạo. Đôi mắt bồ câu mở lớn rạng rỡ:

- Anh lầm to rồi. Em đối xử rất tử tế với anh Vi Da mà!

Rồi việc đâu cũng vào đó, lễ cưới hoàn tất và cả gia đình đưa tiễn đôi tân hôn về ngôi nhà mới cất trên bãi biển, Kiều Uy bỗng thấy buồn buồn. Vắng Sen Ái chắc nông trại trống trải lắm và chắc chàng sẽ nhớ em gái nhiều. Có lẽ mỗi ngày chàng sẽ phải xuống đây thăm em gái và Vi Da. Từ đây sẽ không còn bóng dáng reo vui của Sen Ái ở nhà bếp, buồng ngủ, vườn cây. Chắc chàng sẽ nhớ đến cả những lần bị em gái trêu chọc. Tự nhiên chàng thấy lo cho em gái. Nhỡ ra sóng thần lại đến thì sao?

Khi mọi người đến căn nhà mới cất, Kiều Uy hỏi Vi Da:

- Này Vi Da, nhỡ ra sóng thần lại đến thì sao?

- Anh đừng lo, em đã tiên liệu hết rồi.

Vi Da chỉ cho cả nhà xem căn phòng đối diện với biển cả. Căn phòng lớn nhất nhà, vừa là phòng ngủ ban đêm vừa là phòng ăn, và cũng là nơi làm việc ban ngày. Vi Da đẩy tấm chăn qua một bên. Trước mặt họ biển xanh đang dâng sóng mênh mông, nhấp nhô trắng xóa theo gió chiều. Mặt trời đỏ ối chìm dần xuống biển sâu. Ở chân trời những áng mây vàng lơ lửng thênh thang. Mọi người đăm đăm nhìn ra biển. Vi Da lên tiếng:

- Con đã cất nhà nhìn ra biển. Nếu sóng thần đến con sẽ kịp thời chuẩn bị. Con sẽ mạnh bạo đương đầu với sóng thần. Con không sợ.

Cha Kiều Uy vỗ vai Vi Da khen:

- Cha biết con là người tháo vát và rất can trường.

Cha con Kiều Uy ra vè. Gió buổi chiều mát rượi, những hạt cát nhỏ chạy lăn tăn trên bãi biển tạt vào chân hai người. Kiểu Uy vừa đi vừa lẩm bẩm: quả thật sự sống mạnh hơn sự chết.

Phía sau xa, Vi Da đang nắm tay Sen Ái nhìn theo. Căn nhà của họ lung linh trong nắng chiều...


TRƯỜNG ĐỨC MINH VĂN    

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 192, ra ngày 1-1-1973)



CƠN SÓNG ĐỊNH MỆNH (IV) - Pearl Buck (Trường Đức Minh Văn phóng tác)

 

- Con đừng ích kỷ thế, Kiều Uy. Chúng ta phải muốn điều tốt cho Vi Da.

Nói rồi cha Kiều Uy xoay qua ông lão quí tộc:

- Thưa ngài, chúng tôi thành thật cám ơn ngài đã đối xử tốt với Vi Da và không biết làm sao đền đáp. Trước kia chúng tôi cũng có ý định nhận cậu ấy làm con nhưng thật tình chúng tôi quá nghèo nên khó có thể nuôi nấng và cho Vi Da học đàng hoàng như Ngài được. Vì vậy, ngày mai khi Vi Da thức giấc, chúng tôi sẽ nói rõ lòng ưu ái của Ngài đã dành riêng cho cậu, và để cho cậu tự do quyết định.

- Tốt lắm. Ngày mai cứ bảo cậu ấy đến gặp lão và trả lời cho lão hay. Đích thân cậu ấy nói, lão sẽ biết được ý định của cậu ấy.

- Vâng. Ngày mai Vi Da sẽ đến hầu chuyện với Ngài.

Kiều Uy buồn thiu khi nghĩ đến ngày mai Vi Da sẽ bỏ cậu vào sống trong lâu đài. Cậu trách móc cha:

- Vi Da đi thì con hết có anh rồi!

- Kiều Uy, con không được ích kỷ thế. Con phải để cho Vi Da tự do quyết định. Cố gắng thuyết phục cậu ấy là sai lầm. Ngày mai, ba cấm con không được bàn với Vi Da về vấn đề này. Khi Vi Da tỉnh dậy, chính ba sẽ đích thân nói chuyện với cậu ấy.

Kiều Uy nín thinh. Cậu không dám hó hé mỗi khi thấy cha tỏ ra nghiêm nghị như thế. Cậu bỏ đi ngủ mà lòng buồn rười rượi. Cậu tự nghĩ đêm nay chắc sẽ thức trắng quá, nhưng rồi giấc ngủ đến với tuổi trẻ của cậu lúc nào không hay.

Buổi sáng, vừa thức dậy, cậu đã nhớ đến giây phút Vi Da sắp phải chọn lựa. Cậu bước xuống giường, rửa mặt, thay quần áo rồi xếp chăn vào tủ. Cậu ra đồng làm việc ngay, đến nơi đã thấy cha cậu đứng đó tự bao giờ. Buổi sáng hôm nay đẹp trời, gió nhẹ thoảng qua mát rượi, không khí trong vắt tựa như không có một hạt bụi. Xa xa, mặt biển lờ mờ dưới làn sương mỏng.

Sau khi trao đổi những lời chúc ban sáng, cậu bé hỏi thăm cha:

- Vi Da dậy chưa ba?

- Chưa, có lẽ cậu ấy cũng sắp dậy rồi.

Kiều Uy giúp cha dẫy cỏ ở những luống cải.

- Ba sẽ nói chuyện ngay với Vi Da khi cậu ấy thức dậy. Chúng ta không nên để cậu ấy quen dần rồi xem nhà mình như nhà cậu ấy. Điều đó không tốt chút nào. Cậu ấy phải quyết định ngay hôm nay trước khi có những ràng buộc mới.

- Thế con có được phép có mặt ở đó khi ba nói chuyện với Vi Da không?

- Không, con không được phép. Ba sẽ nói riêng với cậu ấy. Ba sẽ trình bày rõ ràng những điều thuận lợi mà ông lão quí tộc sẽ dành riêng cho cậu ấy và tất cả những thiếu thốn nếu cậu ấy chấp nhận ở đây.

Kiều Uy cảm thấy tức bực, cổ cậu nghẹn lại, cậu cho rằng cha cậu quá ngay thẳng, nhiều khi không đúng cách. Cơn tức bực dày vò khiến cậu bật khóc:

- Vậy là Vi Da sẽ rời khỏi nhà mình hả ba?

- Đành vậy con ạ.

Cả hai cha con  nín lặng trở về nhà ăn sáng. Kiều Uy không muốn ăn uống gì cả. Sau bữa cơm, cậu bé trở ra đồng ngay, hôm nay cậu không thích đùa giỡn chút nào. Cha cậu ngồi trầm ngâm nơi bực cửa. Trong phòng có tiếng Vi Da thức giấc.

Một mình Kiều Uy cắm cúi làm việc ngoài đồng. Những giọt lệ nóng hổi lăn tròn trên hai má, rơi xuống đất. Cậu vẫn để mặc, cố gắng hết sức làm việc và nhất quyết chỉ trở về nhà khi nào có tiếng cha gọi. Mãi đến gần trưa tiếng cha cậu mới vang lên. Lúc ấy ánh sáng đã chói chang và mặt trời đã lên đến đỉnh đầu. Cậu chạy vội trên đường để trở về nhà. Đến cổng đã thấy cha cậu và Vi Da đứng đợi. Khuôn mặt Vi Da vẫn còn xanh xao, đôi mắt hoe đỏ. Đã khá lâu rồi Vi da mới khóc lại.

Nhìn thấy Kiều Uy, Vi Da lại khóc, thấp thoáng sau làn nước mắt, Kiều Uy thấy đôi mắt Vi Da mở lớn nhìn cậu. Cha Kiều Uy ôn tồn  bảo:

- Vi Da, cháu cứ khóc đi. Khóc được là vơi đi nỗi khổ. Gặp chuyện buồn mà không khóc được là chưa trở lại bình thường đâu. Cháu cứ thoải mái khóc.

Rồi ông quay sang bảo Kiều Uy:

- Ba đã nói hết với Vi Da rồi và muốn cậu ấy quyết định sau khi nhìn thấy bên trong lâu đài. Ba muốn cậu ấy nhìn thấy tận mắt tất cả những tiện nghi mà ông lão quí tộc sẽ dành cho cậu - ông quay sang Vi Da - Còn như ở đây, chỉ có bốn phòng nhỏ, một cái bếp con con và cả gia đình chú phải làm lụng vất vả mới có cái ăn cái mặc. Cháu thấy đó, gia đình chú không có dư dả.

Ông chìa hai tay ra cho chú xem, lòng bàn tay thô kệch và chai đá vì làm việc nặng nhọc nhiều. Rồi ông nói tiếp:

- Kiều Uy, con hãy đi theo Vi Da đến lâu đài và nhớ khuyên Vi Da ở lại đó, điều ấy có ích cho Vi Da.

Nghe thế Kiều Uy Cảm thấy đau lòng, công việc ấy đối với cậu nặng nhọc quá. Cậu tìm cách nói lảng đi:

- Ba để con vào tắm rửa và thay quần áo mới nhé.

- Không, con cứ mặc nguyên như thế mà đi. Ba muốn thấy con là con một bác nông phu.

Hai đứa bé dắt tay nhau đi xuống đồi. Chúng cố tình lẩn tránh bãi biển hoang vu, tìm đường tắt đi lên lâu đài. Cánh cửa mở rộng để lộ một ngôi vườn đẹp và sang trọng. Gã làm vườn đang chăm chú quét sạch lớp rêu, chợt thấy hai đứa bé vội chận lại:

- Hai ranh con đi đâu vậy?

Kiều Uy ấp úng trả lời:

- Ba tôi sai tôi đến gặp ông lão quí tộc.

- Thế mày có phải là con Uyên Sĩ Đại Gia không?

- Vâng, còn đây là Vi Da muốn đến gặp ông lão quí tộc.

Gã làm vườn khom người chòa Vi Da và sửa giọng nói cho lịch sự:

- Xin mời hai cậu theo tôi.

Hai đứa bé theo gã đi trên con đường nhỏ trải sỏi trắng tinh, hai bên có hàng thông cao rợp bóng. Vườn bông trong lâu đài rung rinh trong ánh nắng, tỏa hương dịu dàng quyến rũ. Hồ nước trong veo đang yên lặng để những cánh hoa soi bóng.

Kiều Uy thì thầm vào tai bạn:

- Đẹp quá nhỉ?

Vi Da không trả lời, cậu bé bước đi nặng nhọc, đầu cúi gằm xuống. Đến đại sảnh, cả hai cởi hết giày dép ra và theo gã làm vướn bước vào cổng lớn. Vào tới trong, gã làm vườn dừng lại, một tên đầy tớ khác tiến ra. Gã làm vườn bước lại thì thầm vào tai y. Lập tức y cúi đầu niềm nở:

- Xin mời hai cậu theo tôi.

Cả ba đi dọc theo một hành lang dài, hai bên tường bằng gỗ quí chùi bóng như gương. Trên nền nhà trải một tấm thảm mượt nhiều màu sắc bước đi êm ái hơn cả lớp rêu ngoài vườn. Dọc hai bên hành lang có gắn những tấm cửa kính lớn, bên trong là những căn phòng lộng lẫy chưng bày những bình bông tươi, những bức tranh quí giá và những bộ bàn ghế cở bằng mun đen bóng. Cả hai cậu bé chưa hề thấy một căn nhà nào đẹp và sang trọng đến thế. Kiều Uy nuốt nước miếng, làm sao Vi Da có thể rời bỏ nơi này để về nhà cậu đây.

Từ xa, chúng thấy ông lão quí tộc đang ngồi trên một chiếc bàn nhỏ hí hoáy viết. Cửa sổ phía sau ông mở rộng và căn phòng ông như sáng rực lên với vườn hoa muôn sắc trông như cảnh thần tiên. Ông lão đang cẩn thận dùng bút lông vẽ những đường nét thanh tú trên bức lụa trắng ngần. Sống mũi ông trễ nải gọng kính vàng óng ánh.

Nghe tiếng chân, ông lão ngước lên, tháo kính ra và đặt bút xuống.

- Các cháu có biết lão đang viết gì đây không?

Cả Kiều Uy và Vi Da đều im lặng. Chúng không biết trả lời sao. Trong căn phòng mênh mông này, sự yên lặng và sự sang trọng làm ông lão nổi bật lên. Người ông cao và mảnh khảnh. Đầu tóc ông bạc phơ, khuôn mặt và hai tay gầy, thanh thoát với làn da mỏng manh và những chiếc xương nhỏ. Toàn thân ông toát ra sự oai nghiêm của bậc vương giả nhưng đôi mắt lại là đôi mắt của một nhà thông thái, sáng ngời vẻ thông minh.

Ông lão khoan thai giải thích:

- Đó không phải là một bài thơ của lão làm ra, mà là một danh ngôn xứ Ấn Độ. Lão rất thích câu này nên phải viết vào đây và treo trên đầu giường để nhìn thấy mỗi ngày.

Ông lão đưa cao bức hoành phi cho chúng xem rồi ngâm nga đọc:

- Con cái của Thượng Đế rất quí hóa nhưng cũng rất lạ kỳ, rất xinh đẹp nhưng cũng rất hẹp hòi.

Ông chăm chăm nhìn hai đứa bé rồi nói:

- Các cháu nghĩ thế nào?

Chúng nhìn nhau dò hỏi. Cuối cùng Vi Da cảm thấy lớn hơn Kiều Uy nên trả lời:

- Thưa Ngài, chúng cháu không hiểu gì cả.

Ông lão gật gù ra vẻ thích thú rồi bảo:

- Tất cả chúng ta đều là con cái của Thượng Đế cả ấy mà.

Nói rồi, ông lão mang kính vào để nhìn rõ Vi da hơn rồi hỏi:

- Tốt lắm, cháu có muốn làm con lão không?

Mặt Vi Da vụt đỏ như gấc. Cậu bé không ngờ ông lão lại hỏi cậu đột ngột và thẳng thắn như vậy.

Ông lão nhận thấy vẻ khó khăn của Vi Da nên bảo:

- Cháu chỉ việc trả lời có hay không. Cháu đừng ngại.

- Thưa ngài, cháu xin trả lời không.

Nói rồi Vi Da mới cảm thấy câu trả lời hơi tàn bạo, nên vội nói thêm:

- Cháu hết lòng cám ơn Ngài, nhưng thưa Ngài cháu đã có một mái nhà êm ấm ở nông trại rồi.

Nghe câu trả lời của bạn, Kiều Uy muốn hét to lên vì vui. Cậu quên bẵng đi sóng thần, tất cả mọi hiểm nguy và trong giây phút ấy, cậu muốn nhảy cỡn cho thỏa chí. Nhưng rồi cậu sực nghĩ đến gia đình, đến bốn căn buồng nhỏ và cái bếp con, cậu trịnh trọng nói với Vi Da:

- Này Vi Da, cậu đừng quên nhà tớ nghèo lắm đó.

Ông lão mỉm cười, thoảng có chút buồn bã phảng phất trên đôi môi già nua:

- Quả thật họ nghèo lắm đó Vi Da. Còn nếu cháu ở lại đây, cháu sẽ có đủ mọi thứ và cháu có thể mời bạn cháu thỉnh thoảng lại chơi. Riêng lão, lão sẵn lòng để cháu giúp đỡ gia đình họ ít tiền bạc. Với tư cách là con lão, việc cháu giúp người nghèo là rất hợp lý.

- Thưa Ngài, những kẻ đã may mắn thoát khỏi sóng thần hiện giờ ở đâu?

- Một số đã ra đi, một số vẫn còn tạm trú trong dãy nhà dành riêng của lão.

- Tại sao Ngài không mời họ vào đây và nhận họ làm con cái của Ngài?

- Bởi vì lão không muốn. Cháu tưởng ai muốn làm con của lão cũng được ư? Chỉ vì cháu thông minh tuấn tú nhất làng nên mới được chọn.

Vi Da nhìn ông lão rồi lắc đầu nói:

- Cháu cũng đâu có hơn gì kẻ khác. Cháu chỉ là con của một ngư phủ thôi.

Ông lão chậm chạp đeo kính vào và cầm bút lông lên, nói bâng quơ:

- Thế cũng được, lão đành không có con vậy.

Người đầy tớ ra dấu cho hai đứa bé theo gã ra ngoài. Gã xỉa xói:

- Tao chưa thấy ai ngốc hơn mày, ranh con ạ. Ông cụ là người rất tốt, ở đây mày sẽ có đủ mọi sự.

- Điều đó thì chưa chắc đâu.

Hai đứa bé ra khỏi cổng rồi băng đồi về trại. Sen Ái đang đứng đợi chúng trước nhà. Thấy hai cậu, cô bé hấp tấp chạy ra, hai tay áo Kimono rộng thùng thình phất phơ trong gió, tiếng guốc gỗ reo vui trên mặt đất. Cô bé reo to:

- A, anh Vi Da trở về, anh Vi Da trở về.

Vi Da đón cô bé trong vòng tay và hôn một cái thật kêu lên khuôn mặt rạng rỡ. Lần đầu tiên trong đời, cậu bé thấy xúc động và an ủi vô cùng. Từ đây Sen Ái sẽ là nguồn vui trong đời cậu.

Trong phòng, bữa cơm trưa đã dọn sẵn. Cha Kiều Uy từ đồng ruộng trở về, lau sơ mình rồi cùng gia đình dùng cơm. Ông âu yếm nói với Vi Da:

- Cháu làm cho gia đình sung sướng lắm.

Mẹ Kiều Uy cũng nói:

- Thím thấy sung sướng hơn bắt được vàng.

__________________________________
Xem tiếp PHẦN V  

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 191, ra ngày 15-12-1972)