Thứ Ba, 28 tháng 2, 2017

CÂY ĐINH RỈ - Nguyễn Tịnh


Biếc thò tay xuống ao để móc những củ súng đem lên bờ. Nó lôi theo cả đám lá lòng thòng chất thành một đống và lớn tiếng gọi:

- Mẹ ơi như vậy đã đủ chưa?

Mẹ nó gật đầu và quệt hai tay vào quần. Bà vừa cất một cái vó ở ao nhà và đem những con tôm trắng đục bỏ vào rổ.

- Con đi chơi được chưa, má?

Bà Tư nhìn Biếc và lắc đầu:

- Không, mày không thể đi chơi được.

- Nhưng trời đẹp quá…

- Ra ngoài ruộng mà bắt ít nòng nọc về cho bố mày cắm câu.

Biếc im lặng. Một cảm giác nặng nề làm nó khó chịu. Mặt nó nhăn lại, trông nó giống bà lắm, nhất là vừng trán và đôi mắt to có vẻ ranh mãnh.

Nó chỉ mong một cái gật đầu của bà để chạy đi xem con khỉ nhà ông Năm Giò, hoặc ra ngoài sông bơi lội. Thế mà bà lại lắc đầu. Nó cảm thấy chán nản, và ném mạnh một cục bùn dính ở chân xuống ao. Nó đi vào nhà vớ lấy cái rổ, cái lon, rồi trở ra đồng. Biếc cũng không quên liếc trộm mẹ nó một cái xem bà có chú ý đến nó không. Nhưng không, bà Tư vẫn chăm chú nhặt gạo và thỉnh thoảng lại quay đầu trông chừng con em nó. Đứa bé này đang lững thững đi lại trước thềm.

Thế là hết! Nó thất thểu ra đồng và thấy mình thật là bất hạnh. Đang buổi ban mai đẹp trời lại phải đi làm những công việc nản lòng. Trời đã sang tháng hai. Buổi sớm mai ở đồng quê có cái vẻ dịu dàng của những đám mây nõn như tơ. Trời thì xanh ngát, không khí đầy hương cỏ và mạ non. Những ao ngòi gặp gió thổi, lăn tăn từng gợn nước. Đám cỏ lau xa xa phất phơ những cái đầu mềm mại.

Tiếng cá quẫy nước vang lên trong cái im lặng của đồng ruộng. Ở đây cá lóc, cá rô nhiều lắm. Thỉnh thoảng Biếc vẫn trông thấy một đàn cá lóc con đỏ ngầu như kiến lửa. Chúng lừ đừ, nổi lên mặt nước, nhưng bao giờ cũng có cá mẹ ở gần đó. Nó khôn ngoan ẩn mình sau lau lách ngập sâu bùn.

Những cái ao đầm ở đồng quê thì đầy vẻ huyền bí đối với đứa trẻ con. Nơi ấy có những con lươn quằn quại trong vũng nước tối tăm, những con cua, con rắn nước và cả những cây súng. Bông súng màu hồng phơn phớt nở ra làm tăng thêm vẻ đẹp điền dã.

Thỉnh thoảng Biếc vẫn lượm được một miếng da rắn trong một khe đất nứt nẻ. Nó hin hít và thấy có mùi tanh khó chịu.

Những ý nghĩ bâng quơ nào đó thoáng hiện qua đầu óc đứa trẻ rồi lại trôi đi mất. Nó lững thững đi trên con đường đất thẳng tắp, một bên là ruộng, cỏ xanh rì, một bên là những khóm nhà lá màu nâu dợt. Chân bước thật chậm, nó muốn kéo dài những giây phút nhưng không trước khi phải bắt tay vào việc đi bắt nòng nọc.

Một người đàn ông tiến về phía nó. Ông ta vừa đi vừa nghển cao cái cổ lên để nhìn ngang dọc. Người ông xác xơ như thằng bù nhìn ngoài ruộng. Đây là một người bắt chim – Biếc nghĩ thầm thế. Nó tò mò đứng lại dòm. Người đánh bẫy chim cũng ngừng xe. Ở yên sau Biếc thấy một cái bẫy lớn xem ra như một cái chuồng gỗ.

Nó rất ngạc nhiên không hiểu những con chim, vốn rất sợ sống trong lồng, lại đâm đầu vào cái chuồng này. Trong cái bẫy lúc nhúc những con chim sẻ đuôi nâu, những con bìm bịp kêu từng hồi rền rĩ. Biếc nghĩ cái lồng trông hao hao một cái cũi giải tù. Nó ghé mắt gần quá đến nỗi trông rõ cả những đôi mắt ngơ ngác của bầy chim.

- Ông bắt cả chim sẻ nữa à?

- Để bán ấy mà.

- Có người mua không ông?

Có chứ, các ngày rằm, hay là người ta mua làm thịt.

Biếc hiểu ra. Nó vẫn thường thấy những bà đi mua cá hay chim chóc để phóng sinh vào các ngày rằm lớn.

Vừa lúc đó một lũ trẻ tiến về phía người đánh bẫy chim. Biếc hỏi:

- Tụi mày đi đâu vậy?

- Ra sông lội. Ai đó, mày?

- Một người đánh bẫy chim.

- Lại xem đi.

Lũ trẻ bắt đầu bu lại. Thằng Liêm bám hẳn vào xe đạp. Thằng Ốm thì thò một ngón tay vào lồng xem có bị chim mổ không. Em nó lại táy máy hơn nữa, reo lên ầm ĩ và nó rờ rẫm chiếc lồng một cách khoái trá.

Bỗng nắp lồng mở ra, lũ chim chừng dăm con bay đi như tên bắn. Người đánh bẫy chim cốc vào đầu đứa trẻ và đóng bẫy lại.

- Thôi các ông mãnh này, đi hết đi cho ta làm ăn chớ…

Nhưng những đứa trẻ vẫn không chịu rời.

Chúng vẫn bám sát nhìn cái lồng chim lom lom. Cuối cùng ông ta phải dẫn xe trở ra đường cái.

- Biếc! Mày chưa đi hở?

Tiếng mẹ nó gọi vang lên the thé. Biếc giật thót mình vớ lấy cái rổ và cái lon lăn lóc dưới chân. Nó ngoái đầu lại nhìn bà Tư một cái rồi ù té chạy.

Thoắt một cái nó đã ra đến vũng nước gần ngôi mả. Vũng này có cỏ mọc khá rộng, khi Biếc đến nơi thì có một con nhái lao vụt vào bụi cỏ mất tăm.

Biếc thất vọng ghê gớm. Bao nhiêu trò chơi hứa hẹn nó. Thế mà bây giờ phải ra bắt nòng nọc. Một công việc chẳng có gì hứng thú.

Nó ngâm rổ xuống nước và lấy tay quấy lên cho đàn nòng nọc chạy tán loạn. Nhưng tuyệt nhiên không có đến một con. Chỉ có một chú cá rô còn bé bằng đầu ngón tay út giẫy giụa. Nó thả lại vào nước và tức giận dậm chân cho nước đục lên. Chân nó mát lạnh. Biếc thơ thẩn lội về phía bên kia vũng nước.

Những cơn gió thổi về mát rười rượi báo một ngày đẹp đẽ làm biếc thêm chán nản. Nó nhớ đến những công việc mỗi ngày mẹ nó sai làm, khi thì phải giúp ông Tư nhổ cỏ, khi thì ra ao vớt bèo hay tìm đàn vịt đi lạc… Có những việc làm chẳng lấy gì làm nặng nhọc, nhưng Biếc nản lòng vì nó không còn được rong chơi thơ thẩn như lúc trước. Độ này nó bắt đầu phải làm lụng nhiều và mẹ nó có vẻ gắt gỏng khó khăn hơn. Nó nghĩ đến một lũ em ngớ ngẩn vô tích sự để đến nỗi chỉ toàn nó chịu sai bảo.

Biếc bắt đầu đi một cách chầm chậm. Một tay để rổ nghiêng nghiêng trong vũng nước, một tay lùa đi làm thành một đường rẽ sóng. Hai con! Biếc nhấc rổ lên và đổ nòng nọc vào lon.

Nó tiếp tục dò dẫm từng bước trong vũng nước. Thỉnh thoảng nó lại ngắt một ít củ năng và nhấm nháp rất ngon lành.

Đến lúc cái lon đã lúc nhúc nòng nọc thì Biếc ngưng tay. Nó nhìn trời và thất vọng ghê gớm. Nắng đã gắt, trời thì đứng gió và giờ ăn cơm có lẽ cũng sắp đến.

Nó lội trở lại bờ nhưng được một đoạn thì cảm thấy chân mình đau nhói. Biếc nhắc hẳn lên để dòm vào lòng bàn chân. Một vệt máu loang ra làm nó hốt hoảng. Nó mò tay xuống nước và vớt lên được một cái mảnh sành. Ít ra cũng không phải một cái đinh. Vết thương do mảnh sành gây ra không nặng lắm. Biếc thở phào nhẹ nhõm và leo lên một mô đất. Nhưng nhìn đến đám nòng nọc chen chúc Biếc nghĩ đến mẹ nó và bỗng cảm thấy giận dỗi vô cùng. Cổ họng nó chợt nghẹn lại và mắt thì đỏ hoe, cay cay.

Nó nghĩ đến lúc về nhà thể nào cũng phải cho mẹ nó xem cái chân chẩy máu. Lúc ấy chắc bà sẽ hối hận vì đã sai nó quá nhiều công việc. Các nếp nhăn trên mặt bà chắc sẽ trùng hẳn xuống. Nó có lý do để mà hờn dỗi, để mà trách móc mẹ đã “đày đọa” nó khốn khổ.

Nó quẹt nước mắt, vươn vai một cái và lững thững đi. Được một quãng nó trông thấy một cái đinh rỉ. Biếc cầm lên ngắm nghía và đút vào túi. Cái đinh gây nên một vết thương chảy máu sẽ làm mẹ nó mủi lòng hơn…

*

Biếc trở về nhà, chân tập tễnh như một người tàn tật. Thật ra Biếc cũng chẳng còn đau gì nữa nhưng nó cứ muốn kéo dài cái vẻ đau đớn cho bõ tức. Nghĩ đến một buổi sớm êm đẹp sau những ngày mưa chán nản đã trôi qua vô vị, nó cố bước đi một cách khó khăn hơn.

Khi về đến nhà, Biếc thấy mẹ nó đang hì hục nâng cái vó nặng nề lên khỏi mặt nước. Mặt bà trông thật mệt nhọc, tóc thì lòa xòa xuống trán và phải khó khăn lắm mới đứng vững được bên bờ ao. Bà đã có mang nên những bước đi thêm phần nặng nề. Lại mấy lúc này bà hay đau yếu luôn, mặt trông xanh lắm.

Tự nhiên Biếc vứt cái đinh xuống đất và chậm rãi tiến về phía mẹ. Nó đã ráo nước mắt và bước đi ngay ngắn lại.

Bà ngửng nhìn nó, hỏi:

- Sao, con về đó hả?

- Dạ, con bắt được nhiều nòng nọc lắm. Nhưng mà…

- Sao vậy?... Thôi, cho con đi chơi, không sao cả.

- Nhưng con còn phải làm gì không má?

- Không! Như vậy đủ rồi con ạ.


NGUYỄN TỊNH  

 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 195, ra ngày 15-2-1969)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

CÔ "CÒ" - Thúy


- Reng… reng… reng…

- Chị Thúy ơi! Có thư.

Tôi phóng từ nhà bếp ra, vội chụp lá thư trên tay đứa em vừa gọi. Chắc thư của nhỏ Hoa hay Xuân là cùng chứ gì! Nhưng, kìa, ở góc bì thư lại có hàng chữ “Tòa soạn báo Vì Dân”. Tôi ngạc nhiên ghê! Tòa báo nào lại gửi thư cho mình vậy ta? Chẳng cần nghĩ ngợi, tôi xé thư ra đọc.

“Nhân thấy cô đăng báo tìm việc, chúng tôi xin mời cô tới tòa soạn báo Vì Dân, số… đường… để thảo luận hầu giúp cô một việc làm”.

À thì ra là thư kêu làm việc. Cách đây khoảng mười ngày, ngồi buồn tình buồn ý, tôi bỗng thấy mình vô dụng quá. Ăn rồi ngủ, dạy các em học, quanh quẩn nấu nướng, mấy tháng hè đối với tôi vô vị lạ lùng. Tôi chợt có ý nghĩ hay là mình đăng báo tìm việc gì làm để giết bớt thì giờ và để… có chút ít tiền còm cho các em mua quyển sách, cây viết, hoặc cho chính mình ăn ô mai, xí muội mỗi khi thèm, khỏi xin tiền má. Thế là tôi đăng vài dòng tự giới thiệu mình lên vài tờ báo nhà thường đọc. Tôi viết rằng tôi xin dạy trẻ em. Tôi quảng cáo mình rất yêu trẻ, có “khiếu” dạy trẻ em, rất hiền, rất ngoan v.v… Nghĩ cũng vui lắm vì thật ra ở nhà tôi “chằng” một cây, mỗi lúc tôi hét hay trợn mắt là các em tôi dù đang phá nghịch, vui đùa, cũng vội tìm mỗi đứa một góc ngồi, mặt mày tái ngắt. Và tôi chẳng yêu trẻ tí nào, lũ em quá đông của tôi làm tôi chán ghét con nít tợn.

Cái ông nhà báo này muốn giúp tôi việc gì đây? Chốc nữa Mỵ đi học về tôi phải khoe nó và rủ cô nàng chiều đi với mình mới được.

Con bé “linh” thật, mới nghĩ đến nó, nó đã lù lù về rồi.

- Này, Mỵ ạ, ta có thư kêu làm việc nè!

- Ở đâu kêu đó

- Tòa báo.

- Tòa báo?

Mỵ hỏi lại bằng một giọng rất ngạc nhiên khiến tôi vênh mặt lên.

- Ừ, hách không?

Có thế mà câu chuyện tòa báo “mời” tôi đi làm được các “nhóc con” em tôi bàn tán ghê lắm. Mỗi đứa một câu, thôi thì chúng cãi nhau chí chóe.

- Ti ạ, chị Thúy làm ở báo, tụi mình có báo coi, đỡ phải mua.

- Sao kỳ vậy?

- Thì mỗi ngày “chỉ” “lấy” một tờ.

Tôi tức cười quá, bèn cười “khì” một cái.

- Còn em, em sẽ nói “chỉ” xin cho em mấy cái mẫu chữ để sắp tên em đóng dấu chơi.

- Ngon quá há, tao nữa chi?

- Còn lâu!

Nếu cứ để thế, có lẽ chúng nó làm ầm nhà lên luôn. Tôi phải thị oai:

- Im đi không?

Bọn em tôi nín thin thít, ngồi im lặng. Nhưng chẳng được lâu đâu, chúng lại ào ào lên tiếng – chừng như sợ đứa khác nói mất – khi nghe tiếng xe anh tôi về.

- Anh Tâm ơi!

- Im, tao nói, anh Tâm!...

- Chị Thúy đi làm ở tòa báo đấy anh Tâm!

- Hử?

Anh tôi vừa dựng xe, vừa ngả ngả người như sắp “xỉu” tới nơi. Tính “ông í” vẫn thế. Mỗi lần có chuyện gì là lạ, tức cười hay kỳ cục quá, anh tôi làm điệu bộ ấy để tỏ ra rằng “ta đây” ngạc nhiên hay thán phục. Một ngày nọ, nhằm ngày rằm, tôi nhức đầu ngồi ì ở nhà trên, má tôi ăn chay nên nấu canh mặn xong – phe ăn mặn gồm cả nhà, phe ăn chay chỉ có má và bà ngoại – má tôi gọi Mỵ xuống nêm canh. Tôi còn nhớ hoài bữa ấy, cô bé đã trả lời rằng:

- Thôi má kêu ai nêm đi!

- Sao vậy?

Mỵ làm thinh. Nó đợi má tôi hỏi đến lần thứ hai mới ngập ngừng:

- Con… con…

- Con sao?

Mỵ vẫn chưa chịu nói. Anh tôi, tôi và lũ em thấy lạ kéo nhau hết xuống bếp, chờ đợi câu trả lời.

Má tôi tính vốn nóng nảy, bà đã sẵn sàng la nếu Mỵ còn chần chờ.

- Nhà chỉ có con Thúy và mi là nêm được thức ăn, sao má sai không làm?

Hình như quýnh quá, cô nàng Mỵ đáp mau:

- Tại bữa nay con ăn… chay.

- Hử?

- Ồ!

Cả nhà đồng loạt tròn mắt nhìn Mỵ. Cô bé có tâm nguyện gì mà bắt đầu ăn chay đây? Một giọng cười nổi lên. Anh tôi đấy! Tức cười quá, tôi cười theo, rồi cả lũ em nối đuôi tôi cười tiếp. Cả mấy anh em cười quá chừng, cười sặc sụa. Má tôi bực bội hét bảo im, còn Mỵ đứng yên, thộn mặt ra đấy. Cười chán, anh tôi đến trước mặt Mỵ, làm bộ “xỉu” vì… thán phục:

- Kính chào nhà… tu hành.

Rồi anh chạy đến giường, ngồi đánh “rầm” một cái, và tiếp tục cười nữa.

Kể từ hôm ấy Mỵ cứ mỗi mồng một và ngày rằm là theo phe ăn chay, ngồi mâm riêng với má và bà ngoại. Chẳng biết nó nguyện gì, tôi theo hỏi hoài nó không nói, lần nào cũng chỉ một câu trả lời:

- Nói ra hết hay.

Tôi đành ôm mối thắc mắc và phục Mỵ ghê lắm. Bởi vì tôi cũng muốn ăn chay lắm mà ăn không nổi. Mấy lần thi đậu, tôi nguyện ăn chay chỉ có nửa tháng mà rồi mới có một ngày tôi lại bỏ cuộc. Má tôi la hoài:

- Tụi bay làm vậy, bị tội lút đầu.

Và từ hôm ấy, bà vui mừng vì đã có thêm một đứa con “gia nhập” phe ăn chay.

- Thế họ có bảo em làm việc gì không?

- Không anh ạ, họ nói tới gặp họ thôi. Anh Tâm thử đoán xem em sẽ làm gì?

Thế là bọn nhãi thêm một dịp bàn tán. Mỗi đứa chọn cho tôi một nghề. Phi nói:

- Chắc là chị ngồi tiếp người đăng quảng cáo.

Cu Ti “thực tế” hơn:

- Chị sẽ nhận thư, bóc ra xem rồi phân loại.

Ý kiến này được tụi tôi tán thưởng lắm. Mỵ thì “cay” hơn, nó “xỏ” tôi:

- Họ bắt chị nhận thư, rồi…

- Rồi sao? Tôi chận lời.

- Rồi gỡ tem cho con ông chủ nhiệm chơi, hì hì.

Cả bọn cười ầm, tụi nó còn vỗ tay hoan hô Mỵ nữa mới tức cho tôi chứ.

Anh tôi nãy giờ ngồi im, đợi tụi tôi ngưng tiếng mới nói:

- Thúy sẽ được làm… Thầy Cò.

- Thầy Cò?

Mấy chị em tôi nhìn nhau, không hiểu.

- Thầy Cò là gì hở anh Tâm?

Anh tôi được “dịp” lên giọng “giáo sư” giảng bài:

- À thầy Cò là người chuyên sửa lỗi chính tả nơi mấy tờ báo in thử ấy mà! Thợ sắp chữ họ sắp hay sai lắm nên báo nào cũng phải có thầy Cò. Họ thấy Thúy có bằng Tú tài nên cho làm Thầy Cò đó!

- Mà tại sao lại kêu là Thầy Cò hở anh Tâm?

- Đó là họ kêu theo tiếng Pháp. Tiếng correcteur có nghĩa là người sửa bài, họ kêu tắt là “cò”. Còn Thúy thì sẽ là correctrice tức là…Cô Cò.

- Ngộ quá há!

- Hí hí!

Lũ nhỏ lại nổi lên cười. Bọn ranh thật, bất cứ chuyện gì cũng cười được hết.

- Tiếng “Cô Cò” hay chứ Mỵ? Chị thích làm Cô Cò hơn.

Rồi tôi lôi tuốt Mỵ lên gác, vẽ vời đủ thứ chuyện với nó, cứ làm như mình là Thầy Cò đến nơi, để rủ nó chiều đi với tôi tới tòa soạn. Tính tôi nhát quá, đi đâu cũng phải kéo… “nhà tu hành” đi theo mới yên dạ.

* 

Hai chị em đón xe lam từ cầu Kiệu đi thẳng ra chợ Bến Thành và vất vả lắm mới tìm ra con đường báo Vì Dân tọa lạc. Tòa soạn này rộng và đẹp ghê, hai chị em tôi tần ngần mãi mới dám vào.

Một cô, có lẽ là thư ký, bận áo xanh đẹp lắm, hếch mặt lên khinh khỉnh:

- Cô hỏi gì?

Tự dưng tôi nổi sùng, chắc cô ta đánh giá tôi qua chiếc áo dài trắng đây. Mỵ nói vào tai tôi:

= Cô ả này có bằng cấp gì mà sao hách quá chị nhỉ!

Tôi đáp vừa to cho cô ta nghe:

- Chắc Tiểu học.

Mỵ cười hì hì. Con bé thật lạ, lúc nào cũng cười. Cô thư ký nghe tôi nói, chẳng hiểu gì, cau mày:

- Cô nói gì?

Tôi vội cố lấy giọng lễ phép đáp:

- Dạ không ạ, thưa cô, em muốn gặp ông chủ nhiệm.

- Có việc gì?

- Dạ em mới nhận được bức thư…

Không đợi tôi nói hết câu, cô thư ký xô ghế đứng dậy, có vẻ cau có lắm:

- Thôi được rồi!

Cô ta vào trong một chốc thì trở ra.

- Ông chủ nhiệm mời cô vào bàn giấy ông ấy.

Tôi bỗng run run, nắm lấy tay Mỵ:

- Đợi chút nghen!

Rồi thu hết can đảm, tôi đi vào. Tới bàn ông chủ nhiệm ngồi tôi mới hết run vì ông có vẻ hiền và phúc hậu ghê lắm. Ông bảo tôi ngồi và hỏi:

- Cháu đã đi làm đâu chưa?

- Dạ, cháu chỉ có đi dạy kèm ạ!

- Cháu làm hai buổi được chứ?

- Dạ, cháu còn đi học, cháu muốn làm việc một buổi thôi.

- Thế thì hơi phiền. Nếu muốn làm một buổi, cháu phải đánh máy.

- Dạ cháu không biết đánh máy ạ!

Ông chủ nhiệm chống tay suy nghĩ vài giây rồi nhìn tôi… ái ngại. Hy vọng của tôi cơ hồ tiêu tan, tôi biết trước ông sẽ nói gì rồi.

- Để tôi suy nghĩ lại và viết thư gọi cháu sau.

Vậy là không được rồi chứ còn nghĩ gì nữa. Tôi chào ông và đem bộ mặt “đưa đám” ra “trình” với Mỵ. Tôi lôi tay nó đi tuốt, quên cả chào cô thư ký “dễ thương” kia.

- Thôi về Mỵ a, chị chả thích làm thầy Cò nữa đâu! Muốn làm việc ở tòa báo sao thấy khó quá!

Mỵ không dám nói gì, lảng qua chuyện khác:

- Chị Thúy có để ý cái cô thư ký đó nói câu gì cũng chỉ có ba tiếng không?

- Chị chả để ý.

Hai chị em đi một vòng chợ Sài Gòn, thôi thì ai cũng chào, cũng mời mua hàng. Hai đứa nhìn nhau cười trừ.

- Tìm việc làm khó thật, chị Thúy hỉ!

- Ừ, thôi đừng nhắc nữa, qua bên kia mua đồ chơi cho cu Tiến đi!

Việc gì tôi cũng tưởng tượng là dễ dàng lắm, hóa ra khó khăn quá mức. Xin được một chân gì trong tòa báo chắc là “gay go” lắm, huống hồ chi là nghề Thầy Cò như hồi sáng tôi mong ước.

* 

- A, chị Thúy về!

- Chị Thúy, chị Mỵ về!

Lũ em vây quanh hai đứa, giật những gói màu hồng, màu trắng trên tay tôi. Chẳng có gì đâu, những chiếc súng cao su, ống nhòm, và vài gói kẹo cũng làm cho chúng reo cười vui vẻ lắm.

- Chị Thúy giàu quá ta!

- Thầy Cò đó tụi bay ơi!

- Thầy Cò chưa có lương đã giàu rồi!

Tôi vui lây với niềm vui thơ dại của các em, quên bẵng đi rằng mình vừa bị từ chối khi mong muốn tập sự vào đời và có cảm tưởng như mình là… Thầy Cò thật.


Thúy     


(Trích ttạp chí Tuổi Hoa, số 100, Xuân Kỷ Dậu, ra ngày 1 và 15-2-1969)



Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


NỮ CHÚA - Nguyễn thị Mỹ Thanh


Con Chúc nhìn thẳng phía trước khi đi ngang qua mặt tôi. Hôm nay nó mặc một chiếc áo dài màu xanh nhạt, tay còn xách một cái ví nho nhỏ nữa chứ! Với tôi thì nó chả đẹp tí nào. Trông cái mặt nó nghênh nghênh thấy ghét. Tôi chống nạnh đứng xìa hai chân ra nhìn nó. Nó vẫn làm như không biết – nó làm bộ. Tôi tiến đến chận ngang lối đi. Nó lại tránh sang bên kia, mà mắt vẫn không nhìn tôi. Nhỏ này hôm nay găng nhỉ! Tôi không thích chờ đợi lâu. Tôi xông đến nắm chặt cánh tay nó, dòm nó trừng trừng. Mặt nó tái mét. Bây giờ nó mới nhìn thẳng vào mặt tôi. Nó nói giọng hoảng sợ:
 

- Làm gì vậy?
 

- Làm gì hả? Muốn chận bồ lại chơi vậy hà. Được hông?
 

- Bỏ tôi ra, tôi méc má “ấy” bây giờ.
 

Tôi bật cười lớn, thách thức nó:
 

- Méc thì méc, ai sợ!
 

Con Chúc mếu máo như muốn khóc. Nó nhìn quanh. Chỉ có mấy đứa con nít chơi bắn bi đàng xa. Buổi trưa trong ngõ vắng ngắt. Nó nhìn tôi căm hận. Tôi càng làm cái dáng dữ tợn cho nó sợ. Nó sắp khóc thật rồi! Tôi lại càng hả hê. Tôi giả vờ cho tay vịn lưng quần, dáng như tên cao bồi sắp sửa móc dao. Con Chúc hãi hùng há to miệng…
 

Bất chợt nó giật tay tôi thật mạnh. Chiếc ví của nó mắc lại trên những ngón tay tôi. Và nó cắm đầu chạy. Chân nó vướng vít trông thật buồn cười. Nó vừa chạy vừa khóc nức nở, tiếng nó tắc nghẹn:
 

- Đồ mất dạy! Hu hu…Con gái gì mà… cao bồi! Con gái gì mà… du côn! Hu hu… Má ơi!...
 

Tôi nhìn nó, rồi nhìn lại chiếc ví nhỏ. Tôi phì cười đắc thắng. Tự nhiên không định trước mà tôi lại được cái này. Sướng quá! Tôi mở ví ra, nhìn vào. Có hai trăm mới tinh trong đó, cùng những kẹo, xí muội, và gương lược nữa. Tôi cười tít mắt lại. Trước hết phải xơi trọn xí muội và kẹo đã. Còn tiền này, để đó chiều nay bao bọn thằng Nha một chầu bò viên.

Tôi đi vòng đường luồn để vào cửa nhà bếp. Trên nhà, mẹ tôi đang nằm ngủ, ngáy thật đều. Nhà vắng tanh, chỉ còn nghe tiếng đồng hồ kêu tích tắc. Tôi mở rương áo ra, nhét chiếc ví của con Chúc xuống dưới đáy. Xong, tôi xoa tay cười thích thú. Tôi tưởng tượng giờ này con Chúc đang run rẩy kể cho má nó nghe. Rồi má nó sẽ sang đây, méc me tôi. Nhưng tôi “cóc” sợ. Me tôi chả làm được gì đâu. Tôi lại tưởng tượng đến nét mặt thằng Nha, thằng Quan, thằng Chuộc… hẳn sẽ vui vẻ lắm khi được tôi bao đi ăn.

Tôi toan ngả mình nằm xuống giường nghỉ một chút thì bỗng có tiếng ồn ào trước nhà. Tiếng má con Chúc nói vọng vào:
 

- Bà Tư ơi! Cho tôi gặp bà một tí.
 

Rồi có tiếng gõ cửa nữa. Tôi đứng sau ngạch cửa nhìn ra. Me tôi đang ngủ phải choàng dậy. Bà ngạc nhiên, nhưng rồi cũng đứng dậy đi ra mở cửa. Má con Chúc xuất hiện trước tiên, theo sau là con Chúc mắt còn đỏ hoe và mấy người hàng xóm đứng nhìn. Me tôi hỏi, giọng ngái ngủ:
 

- Việc gì thế, bác?
 

- Bà Tư nè, con của bà… nó quá lắm.
 

- Đứa nào hở bác? Mời bác vào trong này.
 

Má con Chúc nói, sau khi ngồi xuống chiếc đi-văng:
 

- Con Tiếp, con gái của bà đó.
 

- Nó thế nào, hở bác?
 

- Con Chúc tôi đi chơi về, con Tiếp nó chận đường, giật chiếc ví, còn dọa nạt làm nó sợ hết cả hồn. Nhờ bà gọi nó ra, bảo trả cái ví cho con tôi.
 

Me tôi trợn mắt:
 

- Ối giời ơi! Đến thế cơ à? Con Tiếp đâu? Tiếp ơi!...
 

Tiếng gọi sau của me tôi dài ra, the thé. Tôi chẳng nói chẳng rằng, nghênh ngang đi lên. Tôi nhìn quanh me tôi, má con Chúc và nó. Con Chúc hơi lùi lại, mặt nó còn in nét sợ sệt và giận tức.
 

- Me gọi gì?
 

- Mày có lấy cái ví của con Chúc không? Trả cho người ta.
 

Tôi chầm chậm lắc đầu, khiêu khích:
 

- Đâu có! Tui ở trong nhà nãy giờ
 

Con Chúc nghẹn tức, nắm chặt cánh tay má nó:
 

- Nó nói dối. Cháu đi ngang đây, nó chận đường, lấy chiếc ví của cháu mà.
 

Má con Chúc nhìn me tôi. Me tôi đứng dậy, chỉ vào mặt tôi, hăm he:
 

- Mày lấy trả cho người ta ngay. Tao còn lạ gì mày. Con quái! Tao đánh tan tành mày ra bây giờ!
 

Tôi đáp ngay:
 

- Đánh coi nào!
 

Me tôi kêu trời. Tôi càng nghênh mặt lên, trêu tức. Me tôi hết dằn nổi. Bà vớ lấy cây chổi lông gà, quất vào người tôi lia lịa. Tôi “cóc” sợ. Tôi lì người ra cho bà đánh. Con Chúc lè lưỡi, nép vào má nó. Ngọn roi vút lên da thịt nghe “chát, chát” chẳng làm tôi sợ sệt. Tôi tỉnh ráo như không. Bất ngờ cây roi trúng sống lưng tôi một cái nghe đau điếng. Tôi kêu “oái” lên rồi chợt xoay người lại nắm chặt cây chổi. Me tôi trợn to mắt tưởng chừng tròng mắt muốn bật ra ngoài, nhìn tôi giận dữ. Tôi giật mạnh cây chổi, ném vào trong góc rồi điềm nhiên đưa tay ra xoa sau lưng. Me tôi đứng sựng, không biết làm gì. Mi mắt bà long lanh như sắp khóc. Bà ngượng với mẹ con con Chúc. Mặc kệ bà. Tôi từ từ tiến đến trước mặt má con Chúc, trỏ tay chỉ mặt bà:
 

- Bà này về đi! Cút ngay! Ai thèm giật ví con bà. Láng quáng… bẻ răng à.
 

Má con Chúc đứng phắt dậy, nói:
 

- Con này hỗn quá đi. Mày lấy quyền gì đuổi tao?
 

- Quyền chủ nhà. Tôi là chủ nhà. Đi mau đi!
 

Me tôi kêu lên:
 

- Tiếp!
 

Tôi thản nhiên chống sườn, đứng lườm. Má con Chúc tức đến nghẹn. Bà nói:
 

- Tôi thật không ngờ. Qua đây mách bà, bà chẳng giúp gì hết, còn lôi con ra đánh trước mặt tôi. Con bà nữa, con… trời đánh thiệt, gian manh hơn thằng du côn. Thiệt không ngờ, nhà này… chẳng biết điều gì hết.
 

Bà quay sang con Chúc:
 

- Chúc, về con! Kệ nó, bố thí cho họ đi. Má sắm cho con cái khác. Về!
 

Hai mẹ con bước ra cửa. Me tôi ngồi phịch xuống đi-văng, thở ra. Bà chẳng buồn nhìn tôi. Vầng trán bà nhăn lại. Tôi cười khẩy. Kệ bả! Những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán , lăn trên thái dương me tôi. Bà đưa tay áo lên lau. Tôi bỏ đi vào buồng.

Chị Hai tôi ngồi trên giường, đang chải gỡ mái tóc. Vừa thấy mặt tôi, chị đặt mạnh cây lược xuống chiếu, mắng:
 

- Mầy là con báo hại, làm khổ mẹ không hà. Tao cũng đến ngán mầy rồi. Mầy hết dạy nổi rồi hở?
 

Tôi chẳng thèm đáp, tiến đến trước gương, soi mình trong ấy. Tôi ngắm thân hình tôi. Tôi đã cao lớn ra phết đấy chứ! Mái tóc tôi được uốn hồi Tết, dài chưa đến vai – hầu như nó không dài nổi, quăn queo không ra hình thù gì, phủ lờm xờm trước trán. Mặt mày tôi trông “yêng hùng” lắm, xứng đáng làm “nữ thủ lãnh” bọn thằng Nha; chúng cứ gọi tắt là “nữ chúa” cho tiện, và tôi rất hài lòng về cái tên đó. Áo tôi ngắn cũn cỡn, hai chéo áo được cột lại thành một cái gút. Quần tôi thì cũng chẳng kém gì, cao quá mắt cá và bó sát chân. Tôi gật gù. Trông tôi oai quá! Chẳng có đứa con gái nào oai như tôi cả.

Tiếng chị Hai vẫn ở bên tai tôi:
 

- Tao đi làm cả ngày, đầu tắt mặt tối giúp đỡ gia đình. Buổi tối về tao phải đi gánh nước. Đáng lẽ mày cũng nên làm gì cho me bớt mệt chứ! Sao mày còn làm me phải phiền rầy?
 

Tôi nhìn chị Hai trong gương, lớn tiếng:
 

- Dẹp chị đi! Chả biết gì cả cũng “lối”. Nói ngửi không vô.
 

- Thế nói làm sao để mày ngửi cho vô?
 

- Chị “sức mấy” nói chuyện với tôi. Im đi là vừa.
 

Chị Hai lắc đầu, chép miệng. Chị lẳng lặng ngồi xuống giở rương quần áo tìm đồ thay. Bất chợt chị “à” lên, và tôi thấy – trong rương – chị lôi ra cái ví nhỏ của con Chúc. Chị quay phắt lại, trừng mắt hỏi:
 

- Nãy mày chối, chứ cái gì đây?
 

- Của tôi. Chị không được sờ tới!
 

Tôi chồm đến, giật cái ví. Chị Hai giữ không kịp. Mặt chị đanh lại, cơ hồ chị muốn giết chết tôi. Chị giận lắm. Tôi bước ra cửa hông, nhưng còn ngoái lại chọc tức chị:
 

- Cho chị méc “bà già” đó. Mười “bà già” tôi cũng “cóc” ngán.

*

Tôi từ giã bọn con trai, bước về nhà. Chầu bò viên và đậu đỏ bánh lọt vừa rồi làm tôi no ứ bụng. Bọn thằng Nha, đàn em của tôi, có vẻ hả hê lắm. Nhưng tôi cứ làm như không nghe thấy, ra dáng ta đây chẳng để ‎ý đến chuyện nhỏ mọn. Ăn xong, tôi giao cho chúng nó “công tác” mới: kiếm tiền để xài nữa. Thằng Quan phải chận đường thằng Tài, con bà Hai bán quán ở khúc quanh tối nhất của ngõ xóm đêm nay. Thằng Nha – to con nhất sẽ xông ra thoi cho Tài mấy thoi, và thằng Chuộc sẽ giật lấy cây bút máy hiệu Parker của Tài. Công việc được bàn tính rất kỹ, vì chúng tôi biết rõ Tài là con một của bà Hai, nên bà rất cưng chiều nó mặc dù bà chỉ có cái quán nhỏ nghèo nàn bán bánh kẹo. Chúng tôi biết rõ Tài đã học đến lớp mười một, bà Hai còn cho nó đi học thêm Toán Lý‎ Hóa ban đêm. Cứ chín giờ tối là nó đạp xe đi ngang đây. Và điều mà chúng tôi biết rõ hơn cả là trên túi áo của Tài lúc nào cũng có giắt một cây bút máy – cây bút máy hiệu Parker rất tốt, có thể bảo đảm cho chúng tôi một bữa “nhậu nhẹt” ngon lành hơn chầu bò viên đậu đỏ hôm nay.

Tôi đến trước cửa nhà. Thấy đôi guốc vông để trên ngưỡng cửa, tôi đoán là có bà Tám bán bánh cuốn sang chơi. Tôi lại đi vòng ngả sau để vào nhà. Chị Hai đi làm chưa về. Tôi nghe tiếng me tôi nói chuyện với bà Tám xầm xì. Tò mò, tôi muốn biết hai người nói gì với nhau, nên đến bên tấm phên ngăn “phòng khách” với buồng ngủ, lắng tai nghe. Tôi ngạc nhiên lắm vì rõ ràng là tiếng me tôi sụt sịt khóc. Me tôi sao thế? Me tôi nói chuyện gì? Bà Tám đã nói gì? Tôi nóng lòng muốn nghe me tôi nói. Đúng là me tôi đang than thở về tôi:
 

- Bác thấy đó, tôi muốn dạy nó mà rồi cũng phải bó tay. Nó hung dữ quá. Nó du côn hơn cả con trai. Cả xóm này gọi nó là “nữ chúa”, xem có xấu hổ cho tôi không?
 

Me tôi cúi xuống hỉ mũi. Bà Tám nói:
 

- Tui cũng ngán cho nó. Ai đời con gái mà lại đi phá làng phá xóm, ai cũng ghét. Mà… sao nó lại khó dạy vậy hả bác?
 

Me tôi ngẩng lên, mắt long lanh như đang hồi tưởng điều gì:
 

- Bác hỏi thế làm tôi thêm buồn. Chẳng giấu gì bác, con Tiếp nhà tôi khó dạy là cũng có nguyên do. Hồi mà – bà chỉ bàn thờ bố tôi – ông nhà tôi còn sống, tôi sinh con Tiếp, bác biết không, tôi sinh nó thật khó khăn, tưởng chết. Nó ra đời, thân thể èo ọp trông chả ra hồn gì cả. Mắt nó thì lúc nào cũng lừ đừ, da thì xanh xao, tay chân ít cử động như những đứa trẻ bình thường. Nó chậm lớn lắm bác ạ. Lúc sắp thôi nôi, bỗng nhiên nó ốm một trận không tưởng được. Nó đi chảy cả ngày, người cứ gầy rộc đi. Vợ chồng tôi chạy đủ thứ thuốc mà không khỏi. Tôi lo quá, tôi đoán chắc là “ông bà” quở nó, bắt nó bệnh, nên tôi cầu, tôi cúng, tôi van vái khắp các đền chùa. Mà nó khỏi thật bác ạ. Nhưng rồi nó cứ như thế hoài, vài tháng nó lại ốm một trận. Tôi sạt nghiệp cũng là vì lo chạy chữa cho nó. Lần nào tôi cũng cầu khẩn, lạy lục xin ông bà tha cho nó.
 

Me tôi ngừng một lát, rồi tiếp:
 

- Có lẽ ông bà bắt vậy, chứ lẽ nào nó lại kỳ cục thế? Vợ chồng tôi khi thấy nó thoát khỏi những lần đau ốm suýt chết đó, lấy làm mừng lắm và hết sức nâng niu nó. Con Hai chị nó, tội nghiệp, không hề đòi hỏi một thứ gì; chứ nó thì đủ thứ, được cưng chiều hết mực. Tôi không dám đánh mắng nó một chút. Tôi sợ, bác ạ. Tôi sợ mình xử quấy với nó, ông bà lại bắt nó đi thì khốn. Nhất là từ khi ông nhà tôi mất đi, tôi lại càng lo sợ hơn. Nhỡ nó có bề gì, tôi không biết sống làm sao. Bố nó mất, chị Hai nó rồi cũng ra riêng, chỉ có nó với tôi, làm sao?
 

Bà Tám thở dài. Me tôi chép miệng:
 

- Cứ chiều nó như thế, nên càng lớn nó càng quá quắt. Đến chừng nó hung dữ quá rồi thì tôi đành bó tay. Mà mỗi lần đánh nó cho đã tức, tôi lại phải lo, phải phiền. Tôi sợ nó trở lại đau ốm như xưa, nhỡ nó “đi”, chắc tôi chết mất bác ạ.
 

Me tôi lại khóc sụt sùi, giọng bà ướt sũng:
 

- Đành chịu vậy bác ạ. Nó chả chịu học hành gì cả, đi theo bọn con trai phá phách xóm làng. Chỉ tội nghiệp chị Hai nó, làm thợ may tháng có mấy nghìn bạc, quần quật thấy mà thương…
 

Tôi rời chỗ đứng, đi ra sau bếp. Bếp núc lạnh ngắt, chưa ai nấu nướng gì. Quá giờ rồi thì phải? Me tôi bận nói chuyện nên không để ý đến thì giờ. Tự nhiên tôi đưa tay sờ lên những son nồi, rồi tôi cầm lấy que đũa sắt, quậy tròn trong lò cho tro rớt xuống. Những son, nồi, những bếp núc, than củi này tôi chẳng bao giờ đụng đến. Xa lạ quá! Tôi chán nản buông que sắt xuống. Tôi chẳng làm gì giúp được cho me tôi hết.

Tôi bỏ ra đường, đứng thơ thẩn như một thằng con trai đợi bạn đi chơi. Nắng chiều xiên trên má, trên áo tôi. Tự nhiên tôi thấy buồn.

* 

Công tác của tôi giao cho bọn thằng Nha không thành, vì tối hôm qua thằng Tài không đi học. Tôi cho gác việc đó để đêm nay hành động. Nhưng không ngờ, thằng Nha lại bắt tôi phải “ra tay”. Nó viện lẽ xưa nay toàn là chúng nó làm, còn tôi chỉ ngồi không, bây giờ phải thay đổi lại. Chúng nó bảo tôi lén lúc me tôi ngủ trưa để đánh cắp tiền. Nếu tôi không làm được, chúng nó sẽ hết tín nhiệm tôi. Tôi do dự, song cuối cùng đành phải thuận. Từ trước đến giờ tôi vẫn oai hùng làm “nữ chúa” của bọn nó mà! Một “lãnh tụ” không bao giờ được làm cho đàn em mất tín nhiệm. Tôi phải chứng tỏ cho bọn chúng biết tài của tôi – của “nữ chúa”.

Nhưng bây giờ thì tôi lo quá! Mưu kế của chúng tôi lại không thành nữa, biết làm sao đây? Trưa nay khi canh me tôi đã ngủ say, tôi lén mở tủ tìm chiếc hộp vuông nhỏ đựng tiền của bà – dành dụm được bao nhiêu bà đều cất kỹ vào đó. Tôi chắc mẩm thế nào cũng lấy được sơ sơ năm trăm, vì rõ ràng chị Hai mới lãnh tiền về đưa cho me tôi hôm kia. Nhưng tôi chưng hửng vì chiếc hộp trống không. Hay me tôi đã đoán biết mà giấu tiền đi? Vô lý, me tôi ở nhà làm sao biết được? Tôi thắc mắc, suy nghĩ đến bực mình. Thế là bọn đàn em sẽ khinh thường tôi, thế là chúng tôi lại hụt một bữa ăn uống.

Cơm nước xong, tôi đi lững thững ra chỗ hẹn. Bọn thằng Nha, Quan, Chuộc đã đứng sẵn đó từ hồi nào. Thấy tôi, thằng Nha hất mặt, có ý hỏi, nhưng không mở miệng. Tự nhiên tôi đâm cáu. Thằng này bây giờ trông hách quá, chẳng coi tôi ra gì cả. Ý nó đã thay đổi gì chăng? Tôi muốn tỏ vẻ đàn “anh”, nên chỉ lắc đầu và cũng không thèm nói. Thằng Nha “hừ” một tiếng, quay nhìn thằng Quan và thằng Chuộc, nói:
 

- Thấy chưa tụi bay? Tao đoán không sai mà.
 

Tôi bực mình, hỏi hơi gắt:
 

- Mày đoán gì?
 

Thằng Nha cười khẩy:
 

- Đoán mày không “cuỗm” được tiền chứ đoán gì.
 

Tôi nuốt nước bọt, giải thích:
 

- Tụi mày đứng ngoài chả biết gì cả. Tao đây mới khó khăn. “Bà già” giấu tiền ở đâu ấy. Hộp của bả trống trơn.
 

Thằng Chuộc ngắt lời:
 

- Xạo hoài.
 

- Thật mà. Tao mà nói láo… cho…
 

Tôi toan thề, song tôi thấy như thế “yếu” quá, mất mặt “nữ chúa” nên ngưng lại. Thằng Nha vung tay đấm trong không khí. Tôi nạt:
 

- Nha! Mày hôm nay “lớn lối” lắm nhá! Mày là em út tao, mày chớ có làm cái vẻ đó. Mày có giỏi thì về xoay tiền “ông già” mày đi.
 

- “Ông già” tao hết tiền rồi, chứ còn thì tao cũng đâu để yên.
 

Cả bọn nhìn nhau. Tôi thấy nản, quay lưng toan về. Nhưng thằng Nha nắm cánh tay tôi lại:
 

- Bộ về sao bạn? Ở đây tính cho xong đi chứ!
 

- Tính cái gì?
 

- Làm sao có tiền cho tụi tao đi ăn chứ!
 

- Về nhà lục cơm nguội mà ăn. Để tao về.
 

“Bốp”! Thằng Nha tát tôi một cái tóe lửa. Tôi lảo đảo. Mặt tôi nóng lên vì đau lẫn vì giận. Tôi nhìn thằng Quan, thằng Chuộc. Chúng nó vẫn đứng yên như biểu đồng tình với thằng Nha. Tôi nói run run:
 

- Tụi mày… phản hả?
 

- Ừa, phản đó. Không xứng đáng thì làm em tụi tao.
 

Tôi là “nữ chúa” mà! Tôi vùng lên toan đánh trả thằng Nha. Nhưng nó lanh tay hơn, nắm vai tôi quật tôi té xuống đất thật mạnh. Lưng tôi đau điếng. Tôi nhăn nhó nhìn bọn đàn em từ lâu phục tòng nay trở mặt. Tôi lầm bầm rủa chúng nó. Thằng Nha bồi thêm một thoi vào vai tôi. Tôi tức nghẹn ứ cổ họng.

Bỗng tôi nghe tiếng chị Hai vang lên:
 

- Nha! Ai cho mày đánh em tao? Dang ra!
 

Tôi quay lại. Chị Hai bỏ gánh nước đàng kia, chạy đến. Chị xô bọn thằng Nha ra, ngồi xuống nâng tôi dậy. Máu ứa một bên mép tôi, đầu tóc tôi bù xù, áo tôi rách hết một bên vai. Tôi hẳn giống một “anh hùng cao bồi” chiến bại hơn lúc nào hết. Chị Hai xốc tôi lên, hổn hển nói:
 

- Tiếp! Tiếp! Mày có sao không đó? Đừng xỉu nghen! Giời ơi khổ quá! Trông mày đến đẹp! Mày ơi! Em ơi có sao không? Ơi me ơi! Me ơi!
 

Giọng chị nghe lanh lảnh, nhưng tôi nhận thấy rõ ràng chị thương tôi lắm, lo cho tôi lắm. Mắt tôi như cứng lại nhưng tôi muốn phải chi lúc này ứa được một giọt nước mắt thì hơn.

* 

Ngày tôi mặc chiếc áo dài đầu tiên cũng là ngày cưới của chị Hai. Đám cưới, đám hỏi cử hành luôn một lúc vì me tôi nghèo quá mà bên nhà trai cũng không dư dả gì. Chồng chị Hai là một người lính bộ binh. Anh ấy trông cũng hiền từ lắm, rất xứng với chị tôi.
 

Đám cưới tổ chức trong căn nhà chật hẹp của tôi, trong khu xóm ồn ào đông đúc. Trẻ con đứng xem đầy cửa sổ. Cũng chẳng ai thèm đuổi chúng, vì lệ ở xóm nhỏ là vậy, đám cưới, đám ma ở đâu cũng không tránh khỏi sự tò mò của trẻ con. Chúng bình phẩm cô dâu chú rể, nào là cô dâu mặc chiếc áo hơi rộng, chú rể không mặc “đồ lớn”. Nhưng không đáng kể. Chỉ đáng kể là khi chúng trông thấy tôi xúng xính trong chiếc áo dài mới màu hoa ngũ sắc đã reo lên:
 

- Kìa tụi bây! Coi “nữ chúa” hôm nay đẹp ghê!
 

- Ừa, “nữ chúa” mặc áo dài trông tha thướt tệ!
 

- Thướt tha như cây đa cổ thụ.
 

Tôi thoáng thấy bóng thằng Chuộc trước cửa. Nó réo:
 

- “Nữ chúa”! “Nữ chúa”! Ra đây đấu vài hiệp coi “nữ chúa”!
 

Tôi quay đi tránh mặt nó. Tôi dễ dàng quên ngay vì trong nhà đông người quá, nói cười hỏi han liên miên. Nhưng khi nhìn kỹ me tôi, tôi thấy nao nao trong lòng. Me tôi mặc chiếc áo dài mới nhất của bà, tóc vấn lên gọn gàng, trông me tôi trẻ lại đôi ba tuổi. Nhưng không, đôi mắt của me thâm quầng, kết quả của những đêm âu lo. Mới sáng nay, me tôi lại ngồi khóc với chị Hai. Mắt chị Hai cũng đỏ. Song chị sắp đón nhận một cuộc đời mới tươi đẹp hơn cuộc đời tối tăm ở đây. Tội nghiệp chị! Bây giờ tôi mới thấy chị vui vẻ. Còn me tôi, những ngày kế tiếp đây, me tôi sẽ cô đơn ghê lắm. Chị Hai đi rồi, chỉ còn me với tôi. Me tôi chưa một lần ngồi kể lể chuyện trò với tôi, vì tôi là “nữ chúa”, là con gái hoang. Me tôi đâu biết những đổi thay trong tâm hồn tôi từ mấy ngày nay, từ cái hôm bị thằng Nha cho vài cái tát. Tôi thấy, thật rõ, những tính nết ngang tàng đã dần dần mất đi trong tôi. Tôi cảm thấy ghét bọn con trai, nhất là bọn thằng Nha. Tôi ghét tụ tập, ghét đánh đá. Và tôi đã thấy ngượng khi nghe một tiếng chửi thề. Tự nhiên tôi thấy yêu thích sự yên lặng, thích ngồi im nhìn me nhìn chị. Tôi đâm ra thèm muốn một chiếc áo dài khi nhìn con Chúc tha thướt đi ngang nhà. Hôm qua tôi đã đứng chờ nó trước cửa. Nó đi ngang, sợ sệt nhìn tôi, ngại tôi lại “giở trò” gì nữa chăng. Nhưng tôi chỉ hiền từ nhìn nó, và hơi mỉm cười. Khi nó đi khỏi mặt tôi, chợt tôi gọi:
 

- Chúc! Cho tôi nói này nghe.
 

Con Chúc e dè nhìn lại. Tôi tiến đến, ngại ngần:
 

- Chúc này, tôi muốn trả lại cái ví cho Chúc, cái ví… hôm trước… đó!
 

Con Chúc ngạc nhiên, song nó bớt e dè, cười một cái. Chắc nó thấy tôi không còn dữ tợn như thằng ăn cướp nữa. Và tôi đã trả lại cái ví cho nó, cả hai trăm mới tinh mà chị Hai cho tôi trước khi chị đi lấy chồng. Con Chúc chịu để tôi nắm tay nó một lát. Tôi có được một đứa bạn gái, đứa bạn gái đầu tiên!

Chị Hai và anh Hai đang quỳ trước bàn thờ tổ tiên, sì sụp lạy. Tôi thấy chị Hai len lén nhìn sang phía me tôi. Hình như nước mắt đang lăn dài trên má chị. Tôi hiểu đó là giọt nước mắt chân thành nhất, chứ không phải là nước mắt giả dối thường tình của các cô gái trước khi lên xe hoa. Vì chị Hai thương me tôi lắm, chị hẳn đang nghĩ đến những ngày vắng chị, không ai săn sóc me, giúp đỡ me trong mọi công việc. Chị tôi đáng thương quá! Tôi bỗng tiếc rẻ những ngày sống bên chị. Phải chi tôi cũng như mọi đứa em gái bình thường khác, không ngang tàng phá phách khó dạy như thế này, thì tôi đã có quyền làm nũng, có quyền vòi vĩnh chị, bắt chị kể chuyện cho nghe, bắt chị mua quà, bắt chị ru ngủ… Tôi chưa được sống một ngày nào êm đềm như thế. Mà nay thì chị sắp xa tôi rồi. Tại tôi, do tôi hết cả…

Tôi bỏ đám đông, bỏ những tiếng cười nói rộn rã. Tôi lách mình đi ra ngoài. Đám trẻ con vẫn còn đứng đầy ngoài cửa sổ, bàn tán. Tôi cảm thấy lạc lõng. Lần đầu tiên, giọt nước mắt vì xúc động ứa ra khỏi mắt tôi.

NGUYỄN THỊ MỸ THANH


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 123, ra ngày 15-3-1970)



Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2017

TÌNH CA - Trần Ngọc Hưởng















ngủ trên võng lác giường tre

nằm khoanh trong lòng Mẹ

ôi! ta từ thuở bé

đã ghiền nghe điệu ầu ơ

tiếng mẹ hiền ru ngủ con thơ

từng câu hát cất lên hòa theo nhịp võng

ta đã nghe mặt sông đầy nổi sóng

chín miệng Rồng lấp biển nhả phù sa

sóng bạc đầu vỗ mãi bản hùng ca

máu tim đã chan hòa trong máu đất

tổ tiên ta tưới mồ hôi nước mắt

biến sình lầy ra cơm gạo thơm ngon

anh dũng vô cùng như tiếng Mẹ ru con

cò bay mỏi ruộng vàng trong giọng hát

ta đã uống bóng dừa xanh thơm mát

mọc trong hồn đôi cánh trắng ca dao

giọng hò ơ trên sông nước dạt dào

giữa giấc ngủ ta hồn nhiên từ thuở

âu yếm vòng tay ngọt ngào hơi thở

ngực lép mẹ hiền vắt sữa nuôi con

sông nhớ nguồn, nước quyến bùn non

ôi! doi đất đã vươn mình lên theo triều nước

tiếng mẹ ru anh hùng như nhịp bước

đám Lưu Dân từ bốn trăm năm trước đã về đây

dựng nhà chòi trên ngọn cỏ đầu cây

ôi! dũng cảm bàn tay bao người khai phá

đùa giỡn với rừng sâu sóng cả

nép mình vào bóng mát của thiên nhiên

trước thú rừng nước độc đã bình yên

đem huyết lệ làm một gia tài để lại

ta đã thấy vườn xanh sai trái

lúa đầy bông đồng ruộng vẫn vàng thơm

tiếng mẹ hiền âm hưởng của Quê Hương

hơi vọng cổ quyện hồn thơ Đồ Chiểu

xuồng ba lá đêm giăng câu thời niên thiếu

tiếng độc huyền rơi

trên sóng nước ngậm ngùi

vẫn tưới mát lòng người yêu đất tổ

đầu vú hoa cười vừa chớm nở

trong lời ru, con say ngủ mẹ hiền ơi!

muối mặn gừng cay sữa ngọt lạ đời

trên võng lác giường tre con hồn nhiên khôn lớn

                                                 
                                                  TRẦN NGỌC HƯỞNG
                                                   (Mẹ và Quê Hương)


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 122, ra ngày 15-1 và 1-2-1970)


Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com