Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

CHƯƠNG VI_NGƯỜI KHẮC BIA MỘ


CHƯƠNG CUỐI


Đỗ mở rộng tất cả những cánh cửa. Ánh nắng ùa vào làm rạng rỡ căn nhà. Đỗ bàng hoàng khi nhìn thấy lại những vật dụng trong nhà, và quay sang nhìn ảnh của cha mẹ. Bác Liêu đã mất rồi. Bấy lâu nay cửa nhà hoang vắng. Đỗ nhận ra nét chữ của Thúy Minh viết tên Đỗ trên mẩu giấy đặt trên bàn thờ. Đỗ vò nát mảnh giấy đó. Đỗ đã về đây, từ cõi chết trở về đây. Người dân trong xóm nghèo nghe tin Đỗ trở về, đã chạy ùa ra mừng rỡ. Những lời hỏi han ân cần đã làm cho anh vô cùng cảm động. Anh muốn quên hết những ngày tháng ròng rã sống gian nan lẩn lút trong rừng núi. Anh muốn quên hết, vì đã về đến đây rồi. Muốn nhắm mắt lại nằm dài trên đi-văng mà nhớ đến những kỷ niệm xa xưa, ngày bác Liêu còn sống, ngày Đỗ còn lành lặn và ngập tràn tin yêu.

Bây giờ đầu óc Đỗ trống rỗng, không biết mình đang vui hay buồn. Niềm vui là thoát khỏi vùng biên giới đầy đe dọa, là trở về quê hương, nghe lại những tiếng nói Việt Nam, là được nhìn thấy xóm nghèo. Nỗi buồn là sự mất mát thân thể, là nhìn thấy ảnh bác Liêu đã ở trên bàn thờ. Đỗ ngồi xuống, mắt mở trao tráo và tưởng như đời sống của mình đang đến đoạn cay nghiệt nhất.

Đỗ bỗng nhớ nhớ một động tác quen thuộc. Đỗ cúi xuống như mọi khi vẫn cúi xuống để mở dây giày, cũng để tìm đôi dép của anh. Đôi dép vẫn được sắp ngay ngắn ở chỗ cũ như vẫn còn bàn tay của bác Liêu hằng ngày sờ đến. Đỗ mang vào, nghe rõ hơi ấm từ bàn chân truyền vào nền dép lạnh. Đỗ tưởng như mình đang sống trong thời gian đi hành quân Cam-Bốt mới về, tai vẫn nghe tiếng bác Liêu cằn nhằn giận dỗi, rồi bác đổi giọng vui vẻ đòi cưới cho Đỗ một “mụ vợ” để dắt đi theo. Và nghe rất rõ ràng tiếng reo vui của thằng Thụy:
 

- A! Anh Đỗ về!
 

Đỗ mơ màng cảm thấy như mình đang giơ tay ra cho Thụy đu lên. Thằng bé thích chí cười ha hả… Đỗ thấy trước mắt anh hồ như đang có Minh tay cầm một ngọn nến. Mắt Minh sáng và long lanh buồn như hai vì sao. Đỗ nghe như chính anh đang êm đềm gọi:
 

- Thúy Minh!
 

Đỗ bàng hoàng. Thế mà đã có một thời gian Đỗ sống như một con hổ cô đơn trong rừng núi. Đã có lúc anh nghĩ rằng trên đời hầu như không còn ai. Đời sống chỉ là dành cho Đỗ. Bao nhiêu nguồn vui đã xa vắng. Đỗ sống trong nỗi chết. Đỗ không mong gì trở về. Từ lúc tỉnh lại thấy mình nằm dưới tấm poncho như một xác chết, Đỗ thấy rõ sự cô đơn của anh. Từ lúc biết rằng cánh tay anh đã dập nát, máu chảy thành vũng dưới đất và loang lem luốc khắp người và làm mình ngất đi không biết bao lâu, Đỗ thấy rõ thế nào là sự mất mát. Dưới chân dồi có tiếng hò hét xung phong, có bóng chiến xa lừ lừ tiến lên. Đỗ đối diện với tử thần rồi! Bằng tàn lực Đỗ đã cố gắng lê vào một bụi rậm và bò qua những cành gai góc để đừng rơi vào tay địch.

Đỗ đã sống trong rừng sâu. Đỗ sống như một con hổ cô độc, ăn lá cây và trái rừng để sống. Mất hết ký ức, mất hết hoài vọng, mất hết tin tưởng. Đỗ còn phải lẩn lút tránh né bên kia và đi tìm dấu vết của đơn vị bạn. Nhưng có còn ai ở Hạ Lào? Có còn ai tìm kiếm một người lính bơ vơ trong rừng núi mà ai cũng cho rằng không thể còn sống? Đỗ trở thành một cái bóng lây lất trong vùng hiểm trở mà chưa có một ai đặt chân đến, chưa có một ai cất công tìm hiểu trên bản đồ.

Rồi có một lúc Đỗ đã tìm thấy sự sống – sống với loài người. Nhưng lại là sống trong buồn nản, trong câm lặng. Vì Đỗ đã lần đến một làng thiểu số Lào. Họ sống như người thượng cổ. Họ ít nói chuyện với nhau, nên Đỗ cũng không tiếp xúc được với họ nhiều. Họ sống thờ ơ không tình cảm. Một hôm có cả gia đình đi vào sâu trong rừng để săn thú, không biết đạp phải mìn hay gặp bên kia đi hành quân, chết gần hết. Còn lại hai người trở về, mặt trơ như đá. Họ diễn tả với nhau và Đỗ đoán ý được. Sau đó họ thản nhiên đi ngủ. Họ không biết buồn là gì- hay nói đúng hơn là không biết diễn tả cái buồn. Cũng chính họ, lúc Đỗ tìm đến làng, đã dùng những dụng cụ thô sơ nhất để giải phẫu cho Đỗ, thản nhiên như khi làm thịt một con mễn, một con nai. Và Đỗ đã sống ở đó, bên cạnh những bóng ma lạnh lùng.

Rồi đến những ngày vượt biên giới mới thật là gian nan cho Đỗ. Đỗ đã rách hết áo quần. Đỗ đã phải lẩn trốn cả bạn và thù. Đỗ tránh né những cuộc chạm súng. Một hôm Đỗ ra đến một vùng quang đãng. Cây cỏ hiền lành, trời đất dịu êm như không có bóng hận thù. Đỗ nghe đầu tiên một câu nói bằng tiếng Việt Nam:
 

- Chú mạ ơi! Ra ôm lúa về!
 

Nỗi xúc động to lớn làm Đỗ ngã quỵ. Người ta thấy Đỗ, dìu Đỗ dậy. Đỗ được uống chén trà đường ngon nhất trong đời.

Đỗ ra trình diện. Đỗ được đưa về lại tiểu đoàn. Ông Thượng sĩ Tâm nhận ra Đỗ trước nhất. Ba năm qua, ông đã già hẳn đi. Ông khóc khi gặp Đỗ. Ông bảo ông tưởng Đỗ chết rồi, mọi người tưởng Đỗ chết rồi. Ông kể lại phút giây bác Liêu và Minh lên hỏi tin Đỗ. Ông chỉ bụi trúc nơi hai người ngồi. Và Đỗ đã thấy hàng cây Bã Đậu bây giờ đã cao lên, đủ che bóng mát.

Đỗ thở dài. Đỗ đã thoát khỏi những ngày nguy khổ. Đỗ đã trở về trong tiếng reo vui của thằng Thụy. Đỗ sắp sống một khúc đời mới mẻ. Dù ở trong ngôi nhà quen thuộc này, nhưng đã mất mát tất cả. Cuộc sống của Đỗ từ nay chắc sẽ thu gọn lại. Đỗ sẽ làm một chiếc bóng đơn độc sống cho hết cuộc đời mình.

Bỗng Đỗ đứng dậy. Đỗ đi lấy cây chổi. Anh sẽ quét dọn lại căn nhà của mình. Bấy lâu nay căn nhà tối tăm, buồn thảm lắm. Nay có Đỗ trở lại. Chỉ còn Đỗ là người duy nhất sẽ sống ở đây. Đỗ sẽ thu xếp cho căn nhà tươi sáng hơn. Đỗ quét sạch bụi bặm, lau chùi bàn ghế bằng cánh tay còn lại. Đỗ vứt bỏ hết những vật thừa thãi trong các góc nhà. Và Đỗ sững sờ khi lôi dưới gầm bàn ra một tấm đá. Đỗ giật mình. Một tấm bia mộ! Đúng là nét khắc thân yêu của bác Liêu. Nét khắc còn sắc sảo, nhưng dòng chữ trên bia mộ vẫn dở dang cho đến ngày bác chết:

“Mộ chí của Nguyễn…”

Lần đầu tiên trong đời, Đỗ khóc nức nở, khóc ngon lành như một đứa bé. Trên bàn thờ, bác Liêu đưa đôi mắt buồn bã nhìn con trai. Bác như muốn nói một điều gì. Bác muốn bày tỏ niềm đau xót của tre già. Bác đã khắc cho con trai một tấm bia mộ. Người đi bỏ xác ở nơi nào. Mộ không có, bia biết dựng ở đâu? Nhưng người già vẫn ngồi lặng lẽ, đục đẽo đá cứng để làm thành dòng chữ dở dang mà không biết nắng quái đổ khắp mái tóc bạc…

Thằng Thụy lấp ló trước cửa. Nó nao lòng khi thấy anh Đỗ của nó đang khóc. Cạnh bên chân anh, Thụy thấy tấm bia mộ. Thụy bước vào, lên tiếng gọi:
 

- Anh ! Anh Đỗ!
 

- Thụy đó à? Vô đi em.
 

Đỗ kéo thằng bé lại gần, ôm siết nó bằng cánh tay còn lại:
 

- Ba anh khắc tấm bia ni khi mô?
 

Thụy đáp:
 

- Bác khắc sau cái ngày bác với chị Minh đi hỏi thăm tin anh mà nghe anh mất tích không về. Khi bác mất, bác vẫn chưa khắc xong tên anh.
 

Đỗ lau nước mắt. Anh xoa đầu Thụy, nghẹn ngào:
 

- Anh sẽ khắc tiếp dòng chữ này. Thụy đi múc nước cho anh hỉ!
 

Thụy “dạ” và đi tìm cái lon sữa bò. Nó ra lu nước để trong sân nhà, toan múc nước thì một bàn tay dịu mềm đang ngăn nó lại. Thụy ngước lên. Minh đang đứng cạnh nó. Minh lấy chiếc lon từ tay Thụy. Và cúi xuống múc nước, sau đó Minh lôi chiếc búa, chiếc đục và mẩu đá mài trong góc sân và bước vào nhà. Đỗ đang đứng lặng nhìn Minh. Minh đặt lon nước xuống, hỏi:
 

- Anh khắc tiếp tấm bia mộ này?
 

Đỗ gật đầu, buồn bã nói:
 

- Vâng, cho… ba anh. Thuở ba anh còn sống anh chưa thực hiện được ước nguyện của ông. Chỉ còn lúc này là dịp anh làm công việc giống như ba anh đã làm. Chắc ba anh không buồn giận anh nữa.
 

Minh nói:
 

- Không ai buồn giận người đã hy sinh quá nhiều như anh cả, anh Đỗ ạ. Vì chịu chung nạn nước mà gánh riêng nỗi thiệt thòi, anh chưa được đền bù gì cả.
 

Giọng của Minh dịu dàng quá, giống hệt như trong đêm trăng mười hai cách đây ba năm, Minh đã hỏi: “ Dạ thưa, đây là nhà của ông Đỗ phải không ạ?”. Đỗ nghe lòng dịu lại. Đỗ nói:
 

- Đã có nhiều thứ đền bù cho anh rồi. Về lại quê hương, nghe lại tiếng mẹ đẻ, thấy người nước ta, trở lại xóm nghèo thấy mọi thứ tình thân còn trọn vẹn.
 

Minh bâng khuâng:
 

- Anh Đỗ sẽ mở lại “Lớp học huynh đệ” nhé!
 

Đỗ giật mình. Lại một câu gợi nhớ nữa rồi! Đỗ nhìn Minh, gặp một đôi mắt sáng. Minh vẫn nhỏ nhắn hiền lành như ngày nào, vẫn là hiện thân của sự khoan hòa, thuần hậu và nhân ái. Tự nhiên Đỗ thấy thương Minh vô hạn. Ba năm trôi qua như một giấc mơ khủng khiếp, một giấc mơ có thật trong đời sống của một con người.
 

Đỗ gật đầu:
 

- Có lẽ anh sẽ mở lại lớp học đó. Anh sẽ nhận luôn căn nhà này, xóm nghèo này làm quê hương.
 

Minh nghĩ đến quê hương mịt mờ của mình- Nam Định. Minh nghĩ đến quê hương của Đỗ – Huế. Và nhiều chốn quê hương nữa – Gò Công của Liên Nga, Quảng Trị của Vũ, Sài Gòn của Thụy… Quê hương không phải chỉ là mảnh đất, mà còn chứa cả tình người. Xóm nghèo này sẽ đến lúc rộn ràng tiếng cười nói, sẽ có những mùa thu trẻ nhỏ rước đèn nhộn nhịp. Sẽ có “Lớp học huynh đệ” mở ra đầy thân ái. Đó cũng là một thứ quê hương.

Không ai biết thằng Thụy đã đi đâu, nhưng sau một lúc nó trở lại, trên tay cầm chiếc lồng chim. Nó nói giọng tở mở:
 

- Chị Minh ơi! Thằng Sơn vừa mới cho em thêm một con “chim áo dà”, em bỏ vào lồng, đủ một đôi.
 

Thụy đặt lồng chim xuống, trầm trồ:
 

- Con chim hôm trước đã hết bệnh, vui lại rồi. Em cho anh Đỗ nè, để treo trước sân nhà.
 

Không đợi ai phản ứng, Thụy bắc ghế, treo chiếc lồng chim lên cành mận. Rồi nó đứng đó ngắm mãi.

… Minh rưng rưng cúi đầu. Minh muốn nói với Đỗ một điều gì, nhưng cảm thấy khó nói. Không gian yên lặng như đang truyền đi những mối cảm thông. Đỗ ngồi xuống bên tấm bia mộ. Bàn tay Đỗ run run sờ lên những nét khắc. Minh xúc động nhớ đến cánh tay này đã có lần băng bột treo ngang ngực, đã có lần ưu ái trao cho Minh phong giấy đỏ đựng tiền mừng tuổi, bây giờ cũng chính cánh tay còn lại này sẽ tiếp tục khắc nốt dòng chữ dang dở trên bia mộ. Minh lặng yên ngồi xuống bên Đỗ. Đỗ cầm chiếc đục lên. Sắt đã mòn và rỉ sét vì lâu ngày bỏ trong góc sân không ai chạm đến. Đỗ ngắm nghía chiếc đục rồi nói:
 

- Anh sẽ khắc tiếp “Mộ chí của Nguyễn Văn Liêu” để dựng nơi mộ của ba anh, được không Minh?
 

Minh gật đầu, và cảm thấy mình có thể nói được điều muốn nói:
 

- Minh sẽ mài đục cho anh.
 

- Rồi răng nữa?
 

- Minh sẽ đập búa lên đục giùm anh.
 

- Rồi răng nữa?
 

Minh đáp, giọng êm như ru:


- Rồi mộ bia sẽ hoàn thành.

Nói xong câu đó, Minh ứa nước mắt. Dưới nắng êm của mùa đông, Đỗ thấy hai vì sao đẹp tuyệt vời ở đôi mắt của Minh. Đỗ êm đềm gọi:

- Thúy Minh!
 

Minh bắt đầu đổ nước lên mẩu đá mài.

Từ đó, đôi “chim áo dà” của Thụy treo trước sân cũng bắt đầu hót những khúc thật vui… 


Đầu mùa đông 1973                 
Tân Định
Sài Gòn                  
CAM LI NGUYỄN TH M THANH

CHƯƠNG V_NGƯỜI KHẮC BIA MỘ


CHƯƠNG V


“Chiến sĩ không bao giờ chết!
 
Anh Đỗ, anh đã ra đi vào cõi mịt mùng. Nơi đó là vùng sống nguy khổ hay cõi chết bình an? Từ mùa xuân đó đến nay đã hơn một năm, đời sống có phải chỉ là dành cho những người còn lại?
 
Chim không còn hát những khúc hoan ca trên cành mận trước nhà. Gió như muốn thoảng lời đưa hương nhớ. Dù người đi không về, vẫn có tiếng thì thầm luôn nhắc nhở Minh:
 
Chiến sĩ không bao giờ chết – Không bao giờ chết”.
Thúy Minh viết như thế vào quyển nhật ký của Đỗ rồi buồn bã gấp lại. Giấy đã cũ nhưng còn thơm vương vấn. Minh đã không đốt di vật dấu yêu này, cũng như vẫn giữ kỹ những bức thư của Đỗ. Minh không sợ đọc chữ của người chết. Minh cũng muốn ngắm mãi chữ ký của Đỗ trên đồng bạc mới mà Tết năm ngoái Đỗ đã mừng tuổi Minh. Tết năm nay qua đi như một khoảng ngày bình thường, Minh không chờ đón và Minh cũng không tiếc rẻ. Cuộc sống chợt khô lại giống như khoảng thời gian Minh chưa gặp Đỗ. Chỉ khác là ngày xưa còn có một chút vô tư mà bây giờ thì nặng đầy ưu sầu. Minh tưởng như Minh chỉ còn là một chiếc bóng, lặng lẽ học hành, lặng lẽ làm việc. Không quá vui mừng khi nghe mình thi đậu Tú tài đôi. Không náo nức trước ngưỡng cửa đại học. Không xôn xao sửa mình làm một sinh viên trịnh trọng như bao nhiêu người. Minh đã vào trường Khoa Học. Minh lặng lẽ làm một sinh viên chăm chỉ. Nhưng không ai hiểu rằng mỗi khi ngắm những hoa cỏ trong vườn thực vật, Minh đã nghĩ đến Đỗ và tưởng tượng ngày xưa đã nhiều lần Đỗ bước chân đến đây. Đỗ cũng từng mài giũa mơ ước ở ngôi trường ấm cúng này, từng thực hiện công việc lập “Lớp học huynh đệ” với các bạn anh. Vậy mà có ngày Đỗ đã mất bóng ở sân trường, có ngày Đỗ đã thiếu mặt trong những khung cảnh thân yêu – và đã vắng tiếng trên cõi đời ???…
Minh sắp những kỷ vật vào một chỗ riêng trên bàn học, bàng hoàng nhìn đó như nhìn thấy Đỗ hiện về. Năm nay Minh mười chín tuổi. Tết đã qua và không có ai mừng tuổi cho cô bé. Như vậy có phải chăng Minh đã lớn? Không phải vậy. Mà chỉ vì không còn Đỗ nơi đây. Bác Liêu cũng đã qua đời. Tre già khóc thương măng non rồi cũng cạn nước mắt. Nỗi nhớ thương phiền muộn rồi cũng giết dần con người. Đến lúc chết bác Liêu cũng vẫn còn mang sắc diện khắc khổ như lúc ngồi khắc mộ bia cho con. Người con trai lớn về làm đám tang cho cha xong cũng vội vã ra đi, gửi gắm nhà cho hàng xóm. Căn nhà của bác Liêu bây giờ đóng kín cửa. Không còn có ai trú ngụ. Không còn nghe tiếng đục khua trên đá. Mùa xuân đến làm cho cây mận bỗng tươi xanh và bắt đầu thấy có trái. Cả lũ chim chuyền cũng trở lại sân cũ. Nhưng hót cho ai nghe? Tiếng chim lạc lõng trong không gian buồn tênh. Rồi xuân chán nản bỏ đi. Cũng không có ai biết mà tiếc rẻ.

Đời sống bây giờ như là đang dành cho những người còn lại. Mùa xuân qua, đến hạ – khoảng thời gian khô gọn đối với Thúy Minh. Không có gì đáng ghi vào bút ký, vì sinh hoạt diễn ra bình thường quá đến độ nhàm chán. Không có gì đáng gọi là niềm vui. Minh có thêm một công việc mới, nhỏ nhoi và âm thầm: mỗi ngày mở cửa nhà bác Liêu thắp nhang cho hai bác trên bàn thờ và dọn dẹp căn nhà một chút. Có hôm Minh ngồi lặng trên ghế, nhìn khói hương tỏa mờ và nhớ thật nhiều giọng nói thân quen của bác. Có hôm nhìn cây đàn trong góc nhà, chiếc áo mưa treo trên vách, đôi giép dưới gầm đi-văng mà tưởng như Đỗ vẫn hiện diện trong khung cảnh yêu mến này. Có hôm Minh tự hỏi không biết Đỗ còn sống hay đã rũ xương ở một nơi nào. Người chết không có lấy một nấm mồ, không có một nén hương – buồn tủi biết dường bao!... Và đến một hôm, Minh đã viết tên “Nguyễn Thi Đỗ” vào một miếng giấy bìa cứng, đặt lên bàn thờ rồi gục đầu lên đó khóc một mình…
Cuối tháng ba, không khí yên lành bỗng lại sôi động lên. Có tin Quảng Trị dậy lửa. Có tin biên giới bị ngoài Bắc xâm lấn. Từng đoàn người dân tản cư vào Huế, rồi từ Huế vào Đà Nẵng. Ở miền cao nguyên cũng sôi sục lửa đạn. Có tin ác chiến ở miền Tam Biên, rồi Kontum bị tàn phá. Rồi trong Nam cũng bàng hoàng với trận Bình Long, An Lộc. Những thành phố bị đổ nát. Màu tang tóc phủ khắp nơi làm xúc động người thủ đô.
Minh theo các đoàn thể sinh viên, học sinh đến những trại tạm cư để san sẻ hạt gạo, manh áo. Minh cùng Liên Nga đi phát thuốc ở các trại cứu trợ. Minh tham dự những buổi trưa nắng cháy, đứng phát gạo, muối, mùng mền cho những người dân từ An Lộc chạy về. Mồ hôi chảy xuống, Minh nếm và nghe mặn như nước mắt. Minh cảm thấy như đời sống không phải chỉ riêng cho mình nữa, mà Minh còn chia xẻ với những người dân hoạn nạn.
 
Minh rủ bạn hữu đi hiến máu. Minh theo các đoàn công tác của sinh viên đi quyên tiền mọi giới dân chúng, trên đường phố, vào các tiệm buôn, vào các trường học. Minh tham gia văn nghệ để gây quỹ cứu trợ nạn nhân chiến cuộc…
Một hôm cậu Phương bảo Minh:
 
- Cậu rất thích những hành động biểu lộ nhiệt huyết của tuổi trẻ. Cháu đã làm rất đúng. Điều đó làm an ủi những người đã hy sinh… như cậu Đỗ.
 
- Dạ, cám ơn cậu.
 
- Cháu thích làm việc xã hội lắm phải không? Vậy cháu có muốn làm một công việc hợp với khả năng của cháu không?
 
Minh ngạc nhiên:
 
- Thưa cậu, cháu chẳng có tài gì ngoài việc học hành và giúp đỡ cậu công việc ở nhà.
 
Cậu Phương cười:
 
- Cháu chẳng là một y tá giúp việc đắc lực cho cậu thì là gì? Minh à, cậu đề nghị cháu đến giúp ở một bệnh viện. Nơi đó, thương binh được đưa từ Quảng Trị về rất nhiều. Cháu có thể tình nguyện đến giúp họ một tay. Cậu thấy công tác đó rất thích hợp với cháu. Cháu nghĩ thế nào?
 
Minh đáp:
 
- Vâng, cháu sẽ đến.
 
Và tưởng tượng ra một khung cảnh mới, để cho mình góp bàn tay, Minh xúc động vô ngần.

“…Chiều quê còn nhớ người chăng?
Vì ai vào chốn tử sinh
Chiến trường, quên thân mình
Người về có nhớ thương binh?...”
Cả phòng bệnh im lặng sau lời hát của Minh. Nửa phút trôi qua. Rồi bỗng như sực tỉnh, có tiếng vỗ tay, hoặc đập xuống thành giường nghe dòn. Vũ đặt cây đàn xuống, nhìn Minh lúc này đang cúi đầu buồn bã.
Vũ hỏi khẽ:
 
- Chị Minh, sao hát xong chị lại buồn vậy?
 
Minh gượng cười:
 
- Đâu có… Tại…Vũ đàn buồn.
 
- Không phải rứa, mà cả phòng đều buồn, chị Minh ạ!
 
- Vậy là tại chị đã hát bài quá buồn hả Vũ?
 
- Không. Phải cám ơn chị chứ. Vũ thích nghe những bản nhạc như rứa, chứ không thích thứ nhạc kích động hay mùi mẫn rẻ tiền. Nhưng mà… Vũ chưa nghe ai hát bài “Thương binh” ray rứt, xót xa như chị.
 
- Chị hát dở òm hà.
 
Hai người cùng cười. Vũ nói:
 
- Chị Minh! Vũ hỏi câu ni, chị đừng giận Vũ tò mò hỉ. Chị có chuyện chi buồn phải không?
 
Minh cau mày, rồi cúi đầu giấu đôi mắt rưng rưng. Minh không trả lời nổi. Cổ họng nghẹn lại. Vũ lại khơi động tâm tư Minh nữa rồi. Ngay cả hình dáng của Vũ cũng đã làm Minh nhớ đến Đỗ vô hạn. Một buổi sáng thứ bảy, bước vào phòng bệnh, Minh thấy Vũ đang ngồi thẳng trên giường ngắm cánh tay băng bột treo ngang ngực. Nơi đầu giường, Vũ đã xếp gọn bộ đồ trận rằn ri và chiếc mũ màu xanh lá cây. Và Vũ đã nói chuyện với Minh bằng giọng Huế. Tất cả những điều đó làm cho Minh sững sờ. Tại sao lại không phải là Đỗ, để trở về trong bệnh viện, để làm người thương binh, để cho Minh được băng bó, săn sóc?
Vũ trạc bằng tuổi Minh thôi. Vũ có mẹ và em ở Hải Lăng, Quảng Trị, không biết đã tản cư đi đâu, bình yên hay đã chết. Vũ vào lính được hai năm. Vũ mới theo đoàn quân tái chiếm Quảng Trị, và bị thương phải trở về. Thế thôi, đó là những điều mà Minh biết về Vũ.
 
Thấy Minh không nói, Vũ hỏi:
 
- Chị Minh! Chị giận Vũ rồi phải không?
 
Minh ngước lên, lắc đầu:
 
- Không có. Vũ hỏi một câu đáng hỏi. Từ lâu rồi chị ít tâm sự với ai.
 
Vũ gõ nhẹ vào thùng đàn, nói:
 
- Rứa Vũ có đáng được nghe chị tâm sự không?
 
Giọng Minh như chùng xuống:
 
- “Tâm sự” của một người sẽ vô ích đối với một người khác. Nhưng nếu Vũ muốn…
 
- Vũ không có chị. Vũ chỉ có em gái. Em gái của Vũ quê mùa như cục đất, Vũ chưa bao giờ biết hắn nghĩ chi. Còn “bồ bịch” thì Vũ không có, vì Vũ thấy con gái đời ni toàn người “chi chi mô”.
 
Minh bật cười:
 
- Rồi “răng” nữa?
 
- Ngay ngày đầu về đây, mới gặp chị Vũ đã mến, Vũ đã nghĩ như thể chị là người chị của Vũ. Vì rứa Vũ thấy chị buồn Vũ thắc mắc ghê.
 
Minh bùi ngùi, nói với Vũ như một lời kể lể:
 
- Cám ơn Vũ. Chuyện của chị cũng chẳng có gì đâu… Đã qua hết rồi Vũ ạ. Có ai không buồn khi một… người quen, một… người thân của mình ra trận, rồi… mất tích luôn không hở Vũ?
 
Vũ mở to mắt:
 
- Khi mô hở chị?
 
- Gần hai năm rồi Vũ ạ. Dù không muốn, vẫn phải xem như người đã chết.
 
Vũ yên lặng. Minh cắn chặt môi như người đang chịu đựng một vết thương. Giây lát sau, Vũ hỏi, bằng một giọng rất thấp:
 
- Chị Minh, người nớ… có phải là người yêu của chị không?
 
Minh ngơ ngác. Vũ nói chữ “người yêu” nghe xa lạ thế nào! Và Minh ngẩn ngơ khi nhận ra rằng chưa bao giờ Minh nghĩ đến hai tiếng đó. Hai tiếng thật thông thường trong những cuốn phim, trong những vở kịch, trong những bản nhạc, cũng như trong tiểu thuyết, nhưng lại rất lạ đối với Minh. Minh đáp nghe xa vắng:
 
- Ừ… Vũ cứ nghĩ là như thế đi!
 
… Và chợt nhớ thật nhớ một hôm đi trên đường có hàng cây Điệp ngợp bóng mát, Đỗ đã khôn khéo kể cho Minh nghe chuyện anh lính tên Lâm học bài, đọc tên rừng U Minh thành chữ “Yêu Minh”, Minh muốn khóc…
Minh rời chỗ của Vũ, đến gặp người y tá trưởng để lấy mấy lọ thuốc. Minh đi phát thuốc cho những thương binh trong phòng. Vũ xòe bàn tay ra, cười:
 
- Chị cho Vũ xin một viên thuốc ngủ.
 
- Chi vậy?
 
- Chị Minh quên hôm ni là thứ bảy?
 
Minh ngơ ngác:
 
- Thứ bảy… có liên quan gì đến thuốc ngủ?
 
- Có chứ! – Vũ cười thật trong Hôm ni thứ bảy, Vũ phải ra phố, đi thăm mấy đứa bạn, rồi chui vô rạp xi-nê ngồi. Tối trở lại bệnh viện, phải ngủ một giấc thật ngon.
 
- Vậy mà làm chị hết hồn.
 
Minh đặt lên lòng bàn tay Vũ một viên thuốc màu trắng. Vũ nắm bàn tay lại, mỉm cười:
 
- Cám ơn chị.
 
Minh đi lấy thêm thuốc bổ ở dưới lầu. Khi trở lại Minh thấy Vũ đã thay bộ đồ lính. Vũ đang sửa mái tóc lại để đội chiếc mũ màu xanh lá cây lên đầu.
 
- Vũ đi phố đó phải không?
 
- Dạ. À, chị Minh nì!
 
- Chi đó Vũ?
 
- Thứ bảy sau chị vẫn vô đây chứ?
 
- Vâng. Mỗi tuần, thứ bảy chị đều vào đây.
 
Vũ nói với giọng bâng khuâng:
 
- Vũ sắp lành vết thương rồi, không biết sẽ xuất viện ngày nào. Có thể thứ bảy tuần sau chị đến sẽ không còn Vũ ở đây nữa.
 
- Vũ xuất viện rồi sẽ ở đâu?
 
- Vũ ở nhà tụi bạn. Vũ có ai thân ở đây mô! Có thể Vũ sẽ về Huế, rồi ra Quảng Trị tìm mạ với em Vũ.
 
- Vậy… xem như hôm nay chị em mình từ giã nhau trước, phải không Vũ?
 
- Dạ.
 
- Chị chúc Vũ gặp nhiều may mắn, tìm gặp được mẹ và em. Chị làm y tá tình nguyện, chẳng có gì tặng Vũ để làm kỷ niệm cả.
 
Vũ cười:
 
- Chị đã tặng Vũ rất nhiều đó chứ. Không có chị băng bó, thuốc men cho Vũ, làm răng Vũ lành được?
 
Minh cười theo. Vũ nói:
 
- Còn Vũ thì có một món quà kỷ niệm nhỏ, Vũ muốn tặng chị mà sợ chị chê.
 
- Chị không chê đâu. Chị còn đóng hộp cất kỹ nữa đó!
 
Rồi Minh chờ đợi. Vũ lôi dưới gối ra một túi vải nhỏ có dây rút trên miệng túi. Minh hơi mỉm cười. Vũ đoán biết ý nghĩ của Minh nên nói luôn:
 
- Chị thấy cái túi vải ni có giống cái túi đựng trầu cau của mấy bà mệ đem theo ăn đi đường không?
 
- Giống thật, ai cho Vũ đấy?
 
- Của mạ Vũ may cho đó! Có dây rút đàng hoàng. Hồi Vũ đi Hạ Lào có ghé ngang Hải Lăng, vô nhà thăm mạ Vũ. Bà mừng quá. Nhưng Vũ chỉ có một tiếng đồng hồ để thăm nhà. Bà lật đật lấy vải nâu may cho Vũ cái túi ni, rồi bỏ vô đó nào là dầu khuynh diệp, dầu cù là, nào là kẹo cau, thuốc cảm với lại ... một lá bùa để hộ mạng.
 
Minh cảm động vô ngần. Vũ thở dài:
 
- Lần nớ Vũ gặp mạ Vũ là lần chót, cho mãi đến nay chưa thấy lại. Không biết bà ở mô hay là đã chết trên đường Mười Ba…
 
Vũ mở dây, banh miệng túi vải, nói:
 
- Qua Hạ Lào, có một thứ được Vũ bỏ vô đây, một thứ duy nhất được Vũ coi như kỷ niệm quý giá, giống như lọ dầu, như lá bùa của mạ Vũ cho. Bây giờ Vũ muốn tặng nó cho chị…
 
Vũ lấy ra một mảnh gỗ đưa cho Minh, nói trịnh trọng:
 
- … vì Vũ quý chị như tình gia đình.
 
Minh nao lòng, nhìn mảnh gỗ trên tay , Vũ đã đẽo ra hình bình hành, trên đó Vũ khắc tên của Vũ.
 
Vũ hỏi:
 
- Chị Minh có chê không?
 
- Không đâu. Vũ cất mảnh gỗ này từ hồi đi Hạ Lào? Vũ có qua Hạ Lào?
 
- Dạ. Gỗ này cũng là gỗ Vũ lấy trong chuyến hành quân nớ.
 
Minh nhìn kỹ tên Vũ trên mặt gỗ. Khi cúi xuống gần thêm để ngắm, bỗng Minh thoáng ngửi thấy một mùi thơm. Là mùi thơm như hương trầm. Minh chợt nghe lạnh cả người. Minh hít mạnh mùi gỗ.
 
Vũ hỏi:
 
- Chị ngửi thấy mùi trầm không?
 
Minh nói mau:
 
- Có! Gỗ thơm mùi trầm. Loại cây gì đây hở Vũ?
 
- Vũ không biết. Đó là một thứ cây chi rất lạ mọc hoang ở một góc thung lũng Khe Sanh.
 
Minh thảng thốt nhắc lại:
 
- Khe Sanh?
 
- Dạ. Trước ngày sang Hạ Lào, Vũ đã đóng ở Khe Sanh. Tụi bạn một bữa tê đốn cây nớ về làm củi chụm. Không phải gỗ trầm, vì rằng khi đốt hắn lên khói đen thui. Nhưng để rứa ngửi thì thơm. Vũ tiếc, nên đã dành một miếng đẽo làm kỷ niệm. Ông Thiếu úy trong đại đội Vũ cứ nhạo Vũ hoài: ” Đem về bán lấy tiền xài nghen Vũ! Gỗ trầm đó!”
 
Minh run rẩy nhìn mảnh gỗ thơm hương, rồi nhìn Vũ:
 
- Nói thế… Vũ có biết… Thiếu úy Đỗ… không?
 
- Dạ biết. Chính ông nói với Vũ rứa đó.
 
Và Vũ ngạc nhiên hỏi tiếp:
 
- Chị quen ông Đỗ?
 
- Có. Vũ có biết gì về anh ấy không? Anh ấy mất tích rồi.
 
Vũ linh cảm rằng giữa Đỗ và Minh hẳn có một mối liên hệ. Minh đang nôn nao muốn biết thêm một điều gì về Đỗ. Vũ nhíu mày ráng nhớ lại những sự việc xảy ra đã một năm rưởi. Khúc phim khói lửa trở về trong trí nhớ của Vũ…
 
- Ở Khe Sanh, Vũ qua Hạ Lào và đóng quân trên một ngọn đồi hiểm trở. Địch pháo kích ngày đêm. Một số anh em bị thương được tải về bằng trực thăng. Vũ còn ở lại với tiểu đội của Thiếu úy Đỗ, tiếp tục giữ đồi.
 
Minh mừng rỡ:
 
- Vũ có ở lại? Rồi sao nữa?
 
- Địch lại pháo, và tràn lên đồi. Trong đêm hung hãn vô cùng nớ, Thiếu úy Đỗ bị thương nặng. Vũ không biết ông bị nơi mô nữa, vì khắp người ông máu me đầy cả. Đêm tối làm Vũ như người mất trí. Vũ không còn nhận định được chi.
 
Minh cắn răng nén tiếng khóc đang chực bật ra. Vũ kể tiếp, mắt sáng lên như đang sống lại trong phút giây đỏ lửa:
 
- Trong khi đang tuyệt vọng vì bên kia quá đông, Vũ nghe tiếng trực thăng đến. Vũ mừng hơn là thấy mạ của Vũ nữa. Vũ chạy đến lay gọi Thiếu úy Đỗ. Ông nằm im lìm. Có vài anh em cũng bị thương nằm la liệt dưới đất, đưa mắt nhìn Vũ như cầu xin. Vũ muốn chết sững trước cảnh nớ. Mà ông Đỗ vẫn nằm im, lạnh giá. Vũ không biết là ông còn sống hay đã chết. Mà địch vừa bắn vừa pháo rát quá, trực thăng lại bắt đầu bay lên. Đôi mắt khẩn thiết của anh bạn nằm gần Vũ nhất như bắt Vũ phải quyết định. Vũ chỉ còn kịp kéo poncho đắp lên người Thiếu úy Đỗ rồi xóc anh bạn chạy đến leo lên trực thăng.
 
Minh ôm mặt:
 
- Trời ơi! Anh Đỗ…
 
Vũ lau mồ hôi lấm tấm trên trán. Kể lại đoạn đời máu lửa kia đối với Vũ là một cực hình. Trước mặt Vũ, Minh đang sụt sùi khóc, không đè nén được nữa. Vũ nghẹn lời:
 
- Chị Minh, Vũ rất khổ sở phải kể chị nghe như rứa. Vũ không có can đảm nói dối để kéo dài sự hy vọng nhớ nhung cho chị. Thà là… ta cứ biết sự việc đã đến đoạn cuối của nó. Chị Minh có giận Vũ không? Vũ cũng chỉ là con người, không phải Phật , Thánh nên không có phép tiên cứu vớt cả nhân loại.
 
Minh nói trong tiếng khóc:
 
- Chính Chúa Phật cũng bỏ con người…
 
Vũ khổ sở nói:
 
- Chị Minh, Vũ xin chị đừng khóc nữa… Chị Minh ơi!
 
Nhưng Minh đang rũ người như một tàu lá úa. Vũ ngậm ngùi giở chiếc mũ xanh đặt xuống giường, bỗng thấy giống như Vũ vẫn làm khi chào vĩnh biệt những người bạn đã hy sinh. Vũ nhớ đến đêm kinh hoàng đó, khi Vũ vác người bạn vừa leo lên trực thăng thì cũng đúng lúc chiếc máy bay phải rời mặt đất. Đạn bay vèo vèo tứ phía. Vũ còn thấy Đỗ nằm yên bên những ụ đất cát, dưới tấm poncho. Đêm ấy, Vũ muốn nghĩ đến Chúa, đến Phật để mà cầu nguyện cho người dưới đó, nhưng cảm thấy không có sức mạnh nào giúp đỡ được con người. Đời sống hồ như đã mất hết những nhân danh.
Vũ bỗng hết muốn đi ra phố, hết muốn đến bạn bè, hết muốn tìm vào rạp xi-nê. Vũ cảm thấy cuộc đời là một vở kịch hay nhất, mà chiến tranh Việt Nam là một cuốn phim hào hùng, bi thảm nhất trong lịch sử nhân loại. Vũ chợt muốn về nhà ngay. Vũ muốn ra Hải Lăng ngay bây giờ, muốn thấy mẹ, thấy em đang lang thang tìm lại nền nhà xưa trên gạch vụn. Vũ muốn thấy mẹ còn nguyên da nguyên thịt, thấy em gái bằng mắt bằng nụ cười. Vũ muốn trở về ngay.

Bảy giờ sáng. Minh vo xong nồi nếp, bắc lên lò rồi quay vào phòng. Mấy đứa nhỏ vẫn còn ngủ say. Nghỉ Tết rồi, chúng không bị mợ Phương đánh thức sớm như những ngày thường. Chỉ có Minh ngồi lặng yên trên ghế. Cũng không có bài để học, ngoài mấy hình vẽ thực vật còn dở dang. Minh giở tập vẽ ra rồi nhìn đăm đăm vào giấy. Cành Bã Đậu hôm nọ Liên Nga hái giùm cho Minh ép nay đã khô lại. Nhìn thứ lá quen thuộc đó, Minh se thắt nhớ đến hậu cứ tiểu đoàn của Đỗ. Mấy cây Bã Đậu nơi ấy giờ đây chắc đã lên cao. Hơn hai năm rồi còn chi! Ngày tháng vụt qua như một cái chớp mắt. Mới ngày nào Minh là một cô bé mười bảy tuổi, nay sắp đón thêm một sinh nhật nữa, sinh nhật thứ hai mươi. Tuổi hai mươi có lẽ là tuổi đẹp nhất của đời người. Đó là tuổi vừa chín những mộng mơ, và là tuổi để bắt đầu thực hiện hoài bão của tuổi trẻ.
Minh gấp tập lại, không vẽ tiếp nữa. Minh muốn mình phải ngồi yên trên ghế để chờ đợi. Không phải Minh đợi Tết. Tết sẽ đến như năm qua. Lễ đưa Ông Táo cũng đã được cúng rồi. Mợ Phương hôm nay nấu xôi chè để cúng “trong nhà trong cửa”. Rồi Tết sẽ đến. Không có gì để chờ đợi, đón mừng. Mà là Minh đang đợi, đúng tám giờ sáng nay, ở khắp nơi, mọi ngả đường, sẽ có tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ đổ vang đồng loạt. Minh chờ đợi một thời điểm lịch sử sắp đến. Minh biết ở những góc phố, ở những vùng thôn quê, trong bản làng rừng núi, mọi người cũng đang mong đợi.Vì đúng tám giờ sáng nay, tiếng súng sẽ im. Nghĩa là sắp có ngưng bắn. Vì ngày hôm qua, 27 tháng Một, 1973, Hiệp định ngưng bắn đã được ký kết giữa hai miền Nam Bắc. Từ bốn ngày trước Minh đón nhận tin ngưng bắn với trăm nghìn ý nghĩ phức tạp – vui, buồn, hoài nghi, hy vọng… Nhưng mà đó là sự thật. Hiệp định đã ký kết, và dù cho có tâm trạng gì đi nữa, mỗi một người dân đều nghĩ đến hai chữ “Hòa Bình”.
Ở nhà ngoài có tiếng radio cậu Phương vừa mở. Có tiếng mợ Phương nói gì nghe không rõ. Dường như cậu mợ đang nói với nhau về cha mẹ của Minh. Minh không còn biết cảm xúc đang hiện diện lúc này trong Minh là gì nữa. Rồi nghe có tiếng của Liên Nga chào cậu mợ trước nhà.
Minh đứng ngay dậy. Liên Nga đang đi vào. Nga nắm lấy tay Minh, hỏi:
 
- Minh, làm gì đó?
 
- Tao đang ngồi…
 
- Học hả?
 
Minh lắc đầu, rồi hỏi:
 
- Có việc gì mà mày qua sớm thế?
 
Liên Nga nắm chặt bàn tay Minh hơn nữa, đáp:
 
- Tao ngồi không yên, Minh ạ. Học không nổi, mà làm việc cũng không nổi, qua mày coi mày thế nào.
 
- Tao cũng vậy, tao đang chờ.
 
- Ừ, sao kỳ ghê Minh ơi. Mày có sốt ruột không?
 
- Sao lại không? Mày vào ngồi với tao đi.
 
Liên Nga đưa tay vuốt ve chiếc mùng của bọn nhỏ, thở ra:
 
- Tụi con nít khỏe quá Minh nhỉ! Được nghỉ là ngủ khò. Sáng nay tao thức dậy thiệt sớm, tưởng là sẽ học được, không ngờ trong lòng cứ nôn nao gì đâu. Té ra mày cũng như tao.
 
Hai đứa ngồi xuống ghế, nhìn ra cửa sổ. Qua những mái nhà thấp, nóc nhà thờ vươn lên cao. Liên Nga liếc thấy đôi mắt Liên Nga long lanh nhìn ra đầu gác chuông ấy.
Đột nhiên trong khoảng không gian im lặng, có tiếng chuông nhà thờ đổ liên hồi. Minh bấu lấy tay Liên Nga, nói run run:
 
- Mày nghe gì chưa, Liên Nga?
 
Nga đáp nhẹ như sợ làm vỡ tan âm thanh đó:
 
- Nghe rồi... Chuông nhà thờ đổ. Tám giờ rồi đó Minh.
 
Hai đứa im thin thít. Minh chợt reo lên:
 
- Nghe gì không? Cả chuông chùa nữa!
 
- Có còi tàu hụ nữa Minh à.
 
Minh ôm chặt cánh tay Liên Nga, nhắm mắt lại. Âm thanh vang đều trong xóm nhỏ, như lời reo mừng của đường phố đón người đi xa về, như tiếng khóc sung sướng của đồng lúa đón người trở lại ruộng vườn.
… Chuông đã dứt. Bên ngoài, cậu Phương mở radio to thêm. Có lời kêu gọi dành một phút để mặc niệm những người đã khuất. Có tiếng nhạc “Hồn tử sĩ” vang lên bi tráng. Minh nghe nghẹn cả hơi thở. Giống như có linh hồn những người đã chết ở cõi u minh về cùng chia sớt niềm vui nơi đây.
 
Liên Nga nói bằng giọng xa xăm:
 
- Kể như chiến tranh đã chấm dứt rồi hở Minh?
 
- Mới ngưng bắn thôi. Chưa chắc đã hết chiến tranh. Nhưng nhiều người sẽ vui mừng vì bớt âu lo.
 
Minh thở dài:
 
- Mười tám, mười chín năm, dài thật hở Nga! Thời gian đủ để một đứa bé chào đời rồi lớn lên, cầm súng.
 
Liên Nga đặt tay lên vai bạn, nói:
 
- Mày rỉ rả như một bà cụ. Tao với mày cũng đã sống trọn vẹn trong thời gian đó. Bao nhiêu là chuyện đã xảy ra mà mình không ngờ, Minh hả!
 
Nói xong câu đó, Nga thấy Minh đỏ hoe đôi mắt. Nga giật mình, nhớ ra rằng mình đã quên không đem 
khăn tay theo. Hai đứa im lặng, cùng lắng nghe tiếng radio vọng vào những bản thông điệp.
 
Minh đứng lên, nói một câu như đánh trống lấp:
 
- Gần Tết rồi đó Nga. May áo mới chưa?
 
- Làm cứ như con nít. May rồi, thử rồi, còn mày?
 
Minh cười:
 
- Mợ Phương có mua cho tao một xấp vải hoa màu tím. Tao chưa muốn đi may.
 
Liên Nga thủ thỉ:
 
- Tết này ngưng bắn rồi, Minh. Vui lên đi!
 
- Dĩ nhiên là vui chứ! Nghe ngưng bắn rồi mà ai không vui thì kẻ đó là người mất trí.
 
Liên Nga mơ màng, vẽ vời:
 
- Tết này tao cũng về Gò Công. Nhưng ngưng bắn rồi, càng thích nữa, biết sao không? Tha hồ tao chạy Honda về quê ngoại tao.
 
- Quê ngoại ở đâu?
 
- Ở tận Đồng Nguơn, xa Gò Công lắm. Nơi đó là nhà quê mà. Trước kia ba má tao ít dám cho đi. Bây giờ không còn sợ nữa. Chắc hết đánh nhau rồi.
 
- Ngoại mày có trồng lúa không?
 
- Có chứ! Ngoại làm ruộng mà. Mày về quê với tao đi Minh.
 
Minh chớp mắt:
 
- Về quê mày hở? Tao thích lắm chứ. Nhưng… để thong thả đã, còn nhiều dịp mà!
 
Minh ngồi yên, vẽ trong trí cảnh đồng quê của Liên Nga.
 
Bỗng Liên Nga lay mạnh tay Minh, nói:
 
- Còn nữa, Minh! Ngưng bắn rồi, có gì nữa mày biết không?
 
- Gì nữa?
 
Liên Nga trịnh trọng nói:
 
- Sẽ có trao trả tù binh. Nhiều người sẽ mừng ghê lắm há!
 
Minh mở to mắt nghe Liên Nga thêu dệt:
 
- Chú tao bị bắt ở trận An Lộc. Anh con dì tao bị bắt ở trận Lộc Ninh. Thế nào họ cũng được trả về ngay tại trong này. Nhà tao tha hồ mà đón. Vui quá Minh ạ!
 
Liên Nga vui, Minh cũng cười, rồi bỗng ngưng bặt. Giống như một người học trò đi xem bảng, đã qua khỏi số của mình rồi mà vẫn còn đứng nghe xướng danh tiếp tên bạn bè, reo mừng với nó, chợt nhớ lại rằng mình đã thi rớt. Giống như một đứa bé mồ côi quên mất thân phận của mình, thấy trẻ hàng xóm chào thưa cha mẹ, cũng mở miệng reo “Ba về! Má về”… Minh lại thấy nỗi đau hiện lên trong giây phút hân hoan. Liên Nga hạ giọng:
 
- Minh nè, còn anh Đỗ của mày nữa…
 
- Còn gì mà đợi. Anh ấy chết rồi, Liên Nga!
 
Minh cúi xuống, nuốt một giọt nước mắt.

Minh thắp hai ngọn nến, đặt lên bàn thờ. Lửa bén vào sáp mới, kêu lắc rắc. Giọt nến chảy dài xuống chân đèn, buồn như giọt lệ. Minh thắp ba nén nhang cắm vào bình hương rồi chắp tay vái. Có đôi mắt u buồn của bác Liêu gái nhìn xuống. Có vầng trán khắc khổ của bác Liêu trai như còn in cả dấu thời gian. Có tên của anh Nguyễn Thi Đỗ dựng ấm cúng bên hình của cha mẹ. Minh thờ thẫn ngồi xuống ghế. Bụi phủ khắp các vật dụng trong nhà. Cả cây đàn của Đỗ cũng rỉ sét hết dây. Một nỗi buồn bã chụp lấy căn nhà hiu quạnh.
Thụy đứng lấp ló trước cổng rào. Nó gọi nho nhỏ:
 
- Chị Minh! Chị qua đây hồi nào?
 
Minh bước ra, đáp:
 
- Chị mới qua, mới thắp nhang cho bác Liêu đó. Nhà bụi quá, chị định lau.
 
- Lau nhà hở chị?
 
- Ừ.
 
- Mấy lâu nay chị đi đâu?
 
- Chị bận thi nên không sang ngõ này.
 
- Học ở Khoa Học chắc khó lắm chị Minh hả?
 
Minh xoa đầu thằng bé,đáp:
 
- Ừ… khó hơn… lớp Tám một tí.
 
Thụy cười khi nghe Minh nói đến lớp học của nó. Có cái gì vui chợt đến, như là niềm hãnh diện. Đồng thời Thụy cũng thấy tiếc rẻ khoảng thời gian nhỏ dại đã qua. Giờ đây Thụy đã học lớp Tám. Thụy bắt đầu mê Toán và Lý-Hóa, nên ít tham dự vào những trò chơi trẻ nít. Từ trò đá dế, tạt lon, đến trò bắn bi, chơi cờ cá ngựa, không có môn chơi nào hấp dẫn Thụy nữa. Những trò chơi đó “có mùa” và hầu như chỉ lôi cuốn được bọn học trò lớp bốn, lớp năm như Thụy thuở xưa. Ba năm qua rồi, Thụy có vẻ chững chạc hơn lên. Thụy đã biết diễn tả những ý nghĩ mà ngày trước Thụy không nói ra lời. Thụy tập tễnh viết văn, làm thơ. Văn, thơ của Thụy, Thụy chưa mơ gửi đăng báo, mà cất trong tập vở. Có một truyện ngắn mà Thụy thích nhất, là bài Thụy viết nó nằm mơ thấy anh Đỗ sống lại và đánh với chúng nó “ván cờ chót”. Thằng Hải đã thú nhận rằng hồi đó chính nó đã lật hột xí ngầu ra số bốn để anh Đỗ không đi được về chuồng, để Thụy được thắng. Ba đứa nó xin lỗi anh Đỗ rối rít. Anh Đỗ cười khoan dung và giơ hai cánh tay ra cho chúng nó đu lên như bao lần. Rồi truyện của Thụy chấm dứt.
Bỗng Thụy nhớ ra một điều. Nó nói với Minh:
 
- Chị Minh, qua nhà em đi, em cho chị xem.
 
Minh nghiêng đầu, hỏi:
 
- Xem gì?
 
Thụy giơ một ngón tay lên miệng:
 
- Bí mật, chị qua đây.
 
Rồi nó mở cửa rào. Hai chị em vào trong sân nhà Thụy. Thụy chỉ cho Minh thấy trên cành mận lủng lẳng một chiếc lồng chim. Minh cười:
 
- Thụy nuôi chim?
 
- Dạ, chim này ngộ lắm. Lông của nó màu nâu, giống hệt con “chim áo dà” trong tem thư đó chị Minh. Em không biết gọi nó là chim gì, bắt chước thằng Sơn kêu “chim áo dà”. Chị Minh thích không? Em mua giùm cho.
 
Minh buồn cười vì thằng bé, nhưng vẫn hỏi:
 
- Mua ở đâu?
 
- Ở bên cạnh Y viện Tân Định đó chị. Thằng Sơn hôm nọ bị sâu răng phải đến nhổ răng ở đó. Nó thấy bán chim rẻ nên mua, năm chục đồng một con. Nó rủ em và thằng Hải mua.
 
- Ngộ quá hở? Chim áo dà! Chim áo dà!
 
Rồi Minh ngước lên nhìn chiếc lồng chim, nói:
 
- Nuôi chim mà Thụy treo chi cao quá vậy?
 
Thụy ra vẻ nhà nghề:
 
- Treo cao nó mới hót. Nó hót như ra lời nữa đó chị. Giọng nó hay quá, như là mình ngâm thơ.
 
Minh ngạc nhiên:
 
- Thơ gì?
 
- Em nghe nó hót như vầy:
 
“Còn người thôi đã lỡ rồi,
Chết cho Tổ quốc thì thôi đừng buồn…”
 
Minh xoa đầu Thụy, trìu mến nói:
 
- Cái đó là… Thụy hót chứ nào phải chim hót. Thụy làm thơ phải không?
 
Thụy mắc cỡ cúi đầu:
 
- Dạ, em làm thơ cho anh Đỗ.
 
Minh bùi ngùi. Hình ảnh của Đỗ sao vẫn không phai trong lòng mọi người? Thịt xương của anh bây giờ có lẽ đã thành cát bụi. Mộ của anh ở một nơi nào? Sự chờ đợi lâu ngày biến ra nỗi tuyệt vọng. Bác Liêu đã chết. Kẻ chờ đợi mất bớt đồng minh. Vũ xuất hiện ở đoạn hy vọng cuối, rồi hy vọng vỡ nát. Minh trở thành con “chim áo dà” hót ngâm khúc sầu thương tự an ủi lấy mình. Minh cũng mang nỗi lòng hân hoan trong nỗi hân hoan chung, đi thăm viếng tù binh trong trận Quảng Trị, Kontum, Bình Long, Lộc Ninh, An Lộc… của mùa hè năm ngoái. Mà không nghe Hạ Lào. Không có ai từ Hạ Lào trở về. Cái tên “Hạ Lào” dần dần nghe xa lạ với những người vô sự. Không có ngưng bắn như lòng người đã mong. Không có thanh bình như Liên Nga và Minh đã tưởng. Mà súng vẫn nổ. Vẫn còn chết chóc. Và nhiều địa danh đã trở nên nổi tiếng. Và nhiều tên đồn đi vào lịch sử máu xương.
Minh bảo Thụy:
 
- Chị sẽ nuôi chim. Nhưng nhà cậu Phương không có chỗ. Chị muốn treo lồng chim ở nhà… bác Liêu.
 
Thụy reo lên:
 
- Thật không? Em sẽ cho chị con này, đẹp lắm!
 
Thụy bắc ghế leo lên dỡ chiếc lồng xuống. Nhưng nó hoảng hốt:
 
- Chị Minh ơi! Sao nó lừ đừ vậy nè?
 
Minh ngạc nhiên:
 
- Nó không nhảy chuyền gì cả. Chẳng lẽ nó bệnh?
 
Thụy nói như sắp khóc:
 
- Sáng nay em mới cho nó ăn mà. Em thấy nó nhảy vui lắm mà!
 
Minh tiu nghỉu:
 
- Tại Thụy nuôi chim mà nuôi có một con. Phải nuôi một đôi chúng mới vui mà sống.
 
Thụy lo lắng nhìn con chim đang lừ đừ mệt mỏi nằm mẹp trong lồng. Rồi Thụy nói:
 
- Em phải đi hỏi thằng Sơn làm cách nào để chim đừng chết. Em sợ nó chết quá.
 
Và Thụy chạy đi. Minh bước theo, rồi đứng dừng lại bên cây mận.
Thụy chạy qua nhà Sơn. Nhưng bỗng nhiên chân nó quíu lại. Vì nó vừa trông thấy từ đầu ngõ xuất hiện một người lính. Người ấy mặc một bộ đồ lính trận rằn ri. Thụy đứng khựng lại giữa lối đi, mắt mở tròn to. Dù người lính đã đen sạm nét da, Thụy vẫn nhận ngay đó là anh Đỗ. Đúng là anh Đỗ rồi. Anh Đỗ cũng đang nhận ra Thụy. Anh đi nhanh đến, và giơ một cánh tay ra. Nhưng Thụy đứng cứng ngắc. Nó không đủ sức chạy đến dù rất muốn đu lên cánh tay anh Đỗ như bao lần. Vì anh Đỗ chỉ còn một cánh tay – còn một cánh tay thôi! Thụy hét lên:
 
- Anh Đỗ!... Anh Đỗ đã về!...
 
Và như người tỉnh giấc mê, Thụy chạy trở lại nhà bác Liêu. Minh vẫn còn đứng ở gần cây mận. Minh đã nghe tiếng reo của Thụy vỡ nát cả không gian. Minh nghe thằng bé vừa khóc vừa gọi:
 
- Anh Đỗ về! Chị Minh ơi! Anh Đỗ về rồi!...
 
Minh chạy vụt ra ngõ. Ở đó, Đỗ đang bước tới. Minh muốn quỵ xuống. Minh đã thấy Đỗ chỉ còn một cánh tay. Cánh tay đó giang ra ôm chặt vai Minh. Nỗi cảm xúc òa vỡ trong tim. Minh khóc ngất…

__________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG VI