Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2016

CHƯƠNG 14_LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI


 CHƯƠNG CUỐI 


Mary vẫn vừa đi vừa miên man suy nghĩ. Nàng nhớ lúc trước mẹ nàng vẫn bảo: "Lòng mình khó mà thỏa mãn" và nhất là cái câu: "Khi người đàn bà làm việc cho người khác, vì người khác thì họ dễ vui, dễ yên ổn trong lòng, nhưng khi họ làm cho chính họ thì..." Mary không phải hạng người ích kỷ, nhưng bây giò thử hỏi nàng có ai đâu để mà làm vui, mà sống vì người ấy, cho người ấy? Nàng chỉ còn có ĐẤT ĐAI, làng mạc để bám víu, biết làm sao? Chả nhẽ nàng đi tu? Không, Mary biết rõ nàng: nàng không phải là thứ người có thể quên mình tới mức ấy. Các vị nữ tu khả kính nhưng không thể có nàng trong số ấy. Nàng ham hoạt động, thích vươn vai thở mạnh và khi vui nàng muốn cười to. Nàng muốn có bạn xung quanh, gà, vịt, ngựa, bò, cỏ cây, sông suối, nếu không có ai gần gũi thì các sinh vật ấy cũng đủ vui rồi, và khung cảnh quen thuộc của Helford cũng là quá đủ cho một cô gái đã nếm nhiều gian khổ trong những ngày qua!

Mary cố quên, cô không cho mình nghĩ đến Jean Merlyn, chàng trai bướng bỉnh, ngang tàng đã gieo vào tâm hồn nàng mối tình đầu thắm thiết. Chàng trai đã vì nàng, trở lại nhà thờ lần thứ hai trong đời, đã làm những điều... Không! Chỉ nguyên mỗi việc anh ta vào nhà thờ quì xuống cũng đủ làm Mary thấy mềm lòng, huống chi... Ra ÁI TÌNH có thật, không phải là thứ chuyện vớ vẩn với cái bề ngoài mà cô đã từng mỉm cười chế giễu các bạn ngày xưa. ÁI TÌNH cao quí ở chỗ đổi khác con người, làm họ trở thành tốt hơn, hay hơn, nhất là... họ biết quên mình!

Ta sẽ nhớ anh ấy suốt đời! Ta sẽ yêu anh ấy suốt đời, nhưng nếu anh ấy không tìm đến Helford để gặp ta thì ta cũng cam, không bao giờ ta hạ mình đi tìm anh ấy.

Mary tự nhủ và một lần nữa ngẩng mặt ngắm kỹ khung cảnh đồng hoang...

Mary sắp sửa quay về, nàng phân vân không biết nên lựa lời cách nào để khỏi phật lòng ông bà Bassat.

Chợt Mary nghe tiếng động phía sau, cô quay lại: một cái xe ngựa lên dốc, ngược lại hướng nàng đang đi. Mary tò mò, che mắt cho đỡ chói để nhìn cho rõ. À! Hình như một người dọn nhà thì phải. Gớm! Ngựa gò lưng kéo; trên xe lỏng chỏng những soong quánh, lọ chai, chăn nệm. Đây là một cuộc dọn nhà của một người nghèo! Mary chạnh lòng nghĩ, nhưng rồi nàng bật cười khi nghĩ thêm: chưa chắc kẻ ấy nghèo hơn ta; khi ta mà dọn nhà ấy à, lại còn gọn gàng gấp mấy: vài cái áo cũ sờn rách, đôi giày gỗ, cái tạp-dề... cái rương thì còn nằm trong lữ quán Giao Mai mà ta cũng không muốn lấy lại và mang theo làm chi nữa... Được trở về Helford là quá đủ đối với ta. Rồi xem, Jean sẽ tìm đến ta một ngày nào đó...

Trong lúc cô gái yêu đời còn ngẫm nghĩ thì chủ xe nhẩy xuống, cố đẩy giúp con ngựa của mình. Chiếc xe chậm chạp đến gần Mary. Nhận ra chủ cái xe, Mary giật mình kêu lên một tiếng:

- Ô! Jean!

- Mary! Mary Yellan! Tôi không ngờ còn được gặp cô ở đây đấy nhé!

Họ cùng ngừng lại, nhìn nhau không thốt được gì hơn. Anh chàng bẽn lẽn trong lúc Mary bình tĩnh trước:

- Anh vẫn thường đấy chứ?

Jean lấy lại phong độ kẻ cả:

- Tôi ấy ư? Hùm beo cũng không vật nổi tôi! Tôi nghe cô ốm liệt giường, phải không Mary?

- Anh lầm rồi, tôi chả đau ốm gì cả...

- Lại nói dối đấy nhé? Nom cô chưa lại thần...

Đột nhiên, Mary nổi giận lên:

- Mà tôi đau ốm hay không thì phỏng can gì đến anh? Anh hỏi làm gì? Anh có thèm đến thăm tôi đâu?

Jean khoanh hai tay lại, khẽ nghiêng đầu, làm bộ kiểu cách:

- Kẻ hèn này thật lấy làm ân hận, nhưng quả tình kẻ hèn vẫn ngày đêm tưởng nhớ đến tiểu thư...

Mary bật cười, nguôi giận nhưng lập nghiêm:

- Nếu anh còn giữ cái thói đùa giỡn không phải lúc như thế, tôi sẽ đi ngay bây giờ đây.

Jean chồm đến trước Mary:

- Chớ! Đồng hoang hiu quạnh, thân gái một mình, không nên bướng bỉnh mà mang vạ vào thân.

- Anh đi đâu cồng kềnh thế?

- Hãy khoan, ta nói về cô trước nhé? Cô đi đâu đây? Cô có thấy dễ chịu không?

- Tôi vẫn ở North Hill với ông bà Bassat, họ muốn giữ tôi lại nhưng tôi chán lắm... Đây không phải chỗ của tôi...

- Đừng khó tính quá, tiểu thư Mary! Họ là những người tốt, tôi nghe nói bà ta săn sóc cô chu đáo lắm... Tôi tin là ở đó, cô sẽ sung sướng, nhàn nhã tấm thân...

- A! Bây giờ tôi mới biết anh còn có tài làm... mật thám nữa kia đấy!

- Chớ nặng lời với tôi, Mary! Tôi nói thế không phải sao?

- Phải! Từ khi mẹ tôi mất đến nay, ông bà ấy là những người lo lắng cho tôi nhiều nhất. Chính vì vậy mà tôi do dự bấy nay. Jean ạ! Dù sao, tôi cũng sẽ rời ông bà nay mai. Tôi đi dạo đồng hoang lần chót đây...

Jean nhìn sâu vào mắt cô gái, chặn lời:

- Sao cô không đến thăm tôi lần chót?

- Tại sao à? Tại anh đâu có đến thăm tôi? Sao tôi phải thăm anh!

- Thì người ta đã xin lỗi, đã tỏ lòng ân hận rồi mà. Người ta đã bảo người ta nhớ lắm, nhưng người ta không muốn đến đó, bực lắm, phiền lắm...

Jean trở lại cái tinh ma, ranh mãnh: anh làm bộ cất mũ, nghiêng đầu, giơ một bàn tay tới trước như kiểu các ông trưởng giả săn đón mấy bà mệnh phụ làm cho Mary cũng vui lây. Rồi anh lại nghiêm giọng:

- Thế bây giờ cô định làm gì nào?

- Tôi sẽ trở về Helford.

Mary trả lời Jean, giọng chắc nịch, cương quyết. Jean huýt sáo, gặng:

- Thật chứ?

- Tôi có đùa như anh bao giờ đâu?

- Rồi cô làm gì để sống?

Mary giơ hai bàn tay trước mặt bạn:

- Tôi không phải tiểu thư. Tôi sẽ dựng nông trại, tôi không đủ tiền, thật đấy, nhưng ở Helford cũng như Helston có nhiều bạn bè cũ, họ giúp tôi trong những bước đầu.

- Khi về đến Helford, cô ở chỗ nào? Nhà cô đã bán, cô quên sao?

- Làm sao tôi quên được điều này? Nhưng trong làng tôi, dân chúng rất hiếu khách, có thể nói mọi nhà đều mở cửa đón kẻ lỡ độ đường. Huống chi tôi, tôi là người cũ trong làng... Với tôi, được về đó là sung sướng, sung sướng nhất.

Jean chăm chú lắng nghe. Anh trầm ngâm:

- Mary! Tôi chưa bao giờ có láng giềng, tôi có cảm tưởng là sống trong làng cũng như sống trong một cái hộp, người này chõ mắt vào hàng rào người kia. Và nếu khoai tây của tôi lớn củ hơn khoai nhà cô ấy ư: tức thì có một cuộc bàn cãi rầm rĩ sôi nổi. Nhưng tệ nhất là nếu nhà mình có món ra-gu thỏ, là nhà bên kia ngửi thấy mùi liền, đó là chưa kể họ kháo nhau: "Thỏ nuôi hay thỏ mua, hoặc thỏ ăn trộm?" Lạy Chúa! Sống như thế đâu phải sống?

Vừa nói, Jean vừa làm vẻ nhăn nhó, khổ sở giả tạo, Mary cười ngất. Nàng cũng không vừa:

- Ấy là tại mình có tật nên mới giật mình, tại mình ăn trộm nên mới phải thắc mắc, nếu không thì cóc ngán ai...

Nàng bỗng thôi cười, nghiêm giọng:

- Giờ đến lượt anh! Anh chưa trả lời tôi: anh đi đâu mà cồng kềnh thế?

- Cũng như cô: tôi chán sống nơi này. Tôi chán ngửi mùi bùn. Tôi muốn làm lại cuộc đời mới, cuộc đời lương thiện. trong sạch như bất cứ một công dân Anh nào.

Mary chăm chú nhìn Jean, cô cố dò xem anh ta nói thật hay lại là một lối đùa dai như thói quen. Nhưng không, mắt anh thú nhận với Mary là anh nói thật. Mary cúi xuống để che giấu sự cảm động. Jean tiếp, giọng trầm trầm:

- Tôi chán cuộc sống lẩn lút nguy hiểm. Tôi đã hiểu thế nào là con đường phải. Này Mary! Tôi đã đến nhà thờ, lần này là tự ý tôi đấy nhé, cô có tin không?

- Tôi tin anh. Nhưng... nhưng anh định đi đâu mới được chứ?

- Tôi đi về hướng sông Tamar. Trên đó dễ kiếm tiền. Tôi sẽ làm việc, làm đủ mọi việc để có nhiều tiền. Dân ở đó giàu có hơn các vùng khác. Tôi sẽ mua ngựa đẹp bằng chính tiền tôi làm ra chứ không phải ăn trộm nữa...

- Jean! Làm sao tìm thấy bình yên trong một cuộc sống như thế? Rồi đến một lúc anh sẽ cảm thấy mỏi mệt vì cuộc viễn du kéo dài vô hạn định. Anh sẽ cần có mảnh đất của riêng anh, một mái nhà để che chở anh, để nghỉ ngơi trong lúc...

- Ậy, cái đó còn lâu. Tôi chưa thấy thích sống định cư một chỗ. Tất cả đất đai đều thuộc về tôi: bầu trời là mái nhà, mặt đất là giường ấm. Cô là đàn bà, cô không hiểu được đàn ông. Tôi thích đêm nay ngủ trên ngọn đồi, ngày mai đến một làng khác. Nay kết bạn với kẻ cùng đi một hướng, hôm sau lại chia tay. Cuộc đời luôn luôn thay đổi, khung cảnh luôn luôn thay đổi...

Mary vuốt ve con ngựa một cách trìu mến. Tay nàng cảm thấy hơi ấm của nó phả lên. Jean mỉm cười:

- Đất ở đâu không là đất? Trời ở đâu chẳng là trời?

- Nhưng đất ở vùng đó xấu và đen...

- Kể gì mầu đen hay trắng? Bùn sình trong đồng hoang cô sống lâu nay trắng lắm đó sao? Mà ngay trong chuồng lợn của cô ở Helford, sau khi mưa không đen, hẳn?

- Hôm nay anh nói chuyện điên ghê, Jean ạ !

- Làm sao tôi có thể tỉnh táo được, hở Mary? Khi mà cô đứng đó, tựa vào ngựa của tôi, mái tóc rối tung lẫn vào bờm ngựa... và tôi, tôi biết rằng chỉ chốc lát đây hai ta đã mỗi người mỗi nẻo: tôi ngược bắc, cô xuôi nam. Tôi lên đồi hoang lạnh trơ trọi, còn cô, cô trở về nhà ông bà Bassat uống trà trong phòng ấm !

- Vậy thì anh khoan đi đã. Hãy cùng tôi về North Hill rồi sẽ tính sau...

- Đừng xui dại tôi nữa, Mary! Cô muốn tôi ngồi uống trà với ông tòa và để lũ con ông ngồi lên nũng nịu ư? Thôi đi! Tôi không thuộc vào lớp người đó.

- Cả em nữa, em cũng thế, Jean!

Mary nghẹn ngào như sắp khóc, nhưng nàng mím môi lại, cố nén:

- Anh ác lắm, Jean ạ! Trong đời anh, anh có bao giờ thương yêu ai đâu, nghĩ đến ai đâu...

- Mary! Vậy thì cô không hiểu tôi. Có, tôi có thương yêu, có nghĩ đến một người, một người đã cảm hóa tôi, khuyến khích tôi, gây cho tôi tin yêu vào cuộc đời, vào Chúa... nhưng hoàn cảnh không cho phép tôi, tôi biết làm sao? Rồi một ngày kia...

Jean đến gần Mary, nắm lấy tay nàng, giữ trong hai bàn tay rắn chắc của mình. Mary gục đầu vào vai Jean nức lên khóc, khóc rưng rức, không ngừng. Trong đời nàng, đây là lần thứ nhất, từ khi mẹ mất cô gái được khóc trong vòng tay người mình yêu, khóc trong sung sướng.

Jean lặng lẽ vuốt tóc người yêu, bàng hoàng vì xúc động. Anh kêu lên khe khẽ :

- Mary Yellan! Hãy hiểu cho anh...

Mary ngẩng đôi mắt đẫm lệ nhìn Jean:

- Anh lúc nào cũng muốn đi, đi, đi mãi...

- Không hẳn thế... nhưng vì em, anh đã bắt đầu nghĩ đến tương lai, một mái nhà, một...

- Vì em? Vì em mà hướng về sông Tamar? Trời làm mái nhà, đất làm giường ấm? Vì em...

- Phải! Vì em, anh đã từ bỏ cuộc sống trộm cắp bất lương, cố tu tỉnh làm ăn, sẽ dành dụm để có nhiều tiền, rõ nhiều nhiều. Rồi một ngày kia, anh sẽ trở về Helford với một cái xe ngựa và tất cả số tiền dành dụm, anh sẽ tìm đến nhà em, rồi chúng ta sẽ cùng ngồi trên xe ngựa đó, thẳng đến nhà thờ... Em không muốn như thế hay sao? Em muốn gì nào? Anh muốn dành cho em một ngạc nhiên... nhưng em đã làm cho anh không giữ kín được điều dự định...

Mary gỡ vòng tay Jean, đứng lùi ra một chút, vừa vuốt tóc, vừa nghiêm giọng hỏi:

- Tại sao anh lại không thể cùng em đi thẳng về Helford ngay từ bây giờ? Helford không có nhà thờ hay là anh muốn mang hết vàng bạc của toàn xứ Anh làm sính lễ cưới em? Anh coi em là thứ người gì chớ? Vả lại, sao anh dám chắc là một ngày vô định nào đó, anh trở lại Helford em không có chồng rồi?

- A! Nếu thế, anh lại ra đi, trời làm màn, đất làm giường... Nhưng anh tin là...

- Em không đùa nữa. Ừ! Thì hãy cứ cho là em vẫn đợi anh, nhưng ngộ anh bị một tai nạn gì đó trong cuộc phiêu lưu hay đau ốm bất ngờ nơi quê người, xứ lạ, thì sao?

Jean lúng túng một giây rồi đáp:

- Làm gì có chuyện nhảm nhí ấy? (Giọng anh trầm lại, thiết tha) Mary! Hãy nghe anh! Anh không muốn em phải khổ nhọc vì anh, hiện nay chỉ có cỗ xe và những vật dụng tồi tàn... Bắt người mình yêu chia xẻ cuộc sống như thế thật là tàn nhẫn...

- Em không phải thứ con gái nhà trưởng giả, chờ xe hoa đến đón. Nếu anh yêu em, chúng ta chỉ cần đến một nhà thờ. Rồi, chúng ta có thể về làng em, chúng... ta...

- Anh có thể về Helford với em, song không về bây giờ được. Phải có một cái vốn kha khá, phải... khổ quá, anh không thể giải thích. Nghe đây! Anh đang chọn sự vất vả, vì em, và anh không muốn em phải chia sẻ sự vất vả đó. Chỉ còn cách em về Helford đợi anh...

Jean cúi xuống vòng tay ngang lưng Mary, định hôn từ biệt nàng, Mary đẩy ra, giọng cương quyết:

- Jean! Tôi hỏi anh và nhân danh Đấng tối cao, anh hãy trả lời thành thật: anh có yêu tôi không?

- Trời ơi! Còn phải hỏi. Không yêu em, giờ này anh vẫn ngủ khò ở trong chòi... Ai đủ quyền lực bắt anh phải bỏ Trewartha đi nơi khác kiếm tiền? Kiếm tiền để làm gì chứ? Em biết rõ mà!

- Vậy thì, em lên xe với anh đây. Em sẽ chia sẻ mọi cực nhọc với anh...

Mary nói và bước lên xe. Jean há miệng ra, trố mắt kinh ngạc:

- Mary! Chớ có quá rồ. Đừng bỏ chỗ an lành. Anh sẽ trở lại mà!

- Này! Hãy nghe em nói. Nếu anh định cùng em chung sống thì quyết định từ bây giờ. Bằng không hãy đi đi! Đi luôn đừng bao giờ tìm em ở Helford hay bất cứ đâu nữa. Em đợi anh trả lời đây!

Nàng phóc xuống đất, hai tay chống vào cạnh sườn, chờ câu trả lời với bộ dạng thách thức, giận dữ.

Jean mỉm cười, không trả lời mà lại nói:

- Nhưng em nhớ: chúng ta chưa về Helford được lúc này, em chịu nổi không?

- Hãy trả lời câu em hỏi...

Jean che mắt nhìn mặt trời chói chang, cao giọng:

- Trưa rồi, hãy lên xe, anh trả lời sau!

Jean cúi xuống, cất viên đá chêm bánh xe và đưa tay đỡ Mary. Cô gái bước lên, ngồi cạnh người yêu. Jean trao cương ngựa cho cô gái. Họ nhắm hướng sông Tamar tiến tới.

Hai người im lặng hồi lâu. Jean quàng tay lên vai bạn, khi anh sờ vào mặt Mary, anh cảm thấy tay mình nong nóng và ướt đẫm. Jean hốt hoảng kêu lên:

- Mary! Em khóc hở? Em hối hận đã lên xe với anh ư? Vậy thì anh xin đưa em trở lại...

- Không, em không hối hận! Chính em tự nguyện theo anh.

- Em liều lắm. Em chắc đâu rằng...

- Em tin anh, em đã nhìn kỹ mắt anh... và... và những hành động vừa qua của anh chứng tỏ em không nhầm lẫn...

- Cảm ơn em! nhưng em yêu anh hơn cả Helford được sao, hở Mary?

- Đừng bắt em trả lời câu hỏi đó. Em biết chỗ của em là bên cạnh anh từ phút này đây!

- Phải! Rồi chúng ta sẽ trở về Helford một ngày sắp đến. Và mỗi năm khi xuân về hay hè đến, em thấy nhớ Helford, ta lại về chơi vài tuần lễ trước khi ta có thể về luôn. Em chắc hài lòng?

Mary gật đầu, nụ cười rạng rỡ trên môi, nàng tựa vào người yêu tin tưởng và phấn khởi.

Jean chợt hỏi:

- Em định đến nhà thờ nào đây chớ?

- Cứ đi, đến chỗ nào có nhà thờ mà chả được...

- Anh cứ tưởng em đòi về tận nhà thờ Helford kia đấy chứ! Mary! Em tiến bộ quá rồi!

- Còn anh, anh cũng đáng khen lắm đó, Jean ạ!

- Em khen anh? Về cái gì đây?

- Về chuyện anh đến nhà thờ lần thứ nhì, tự ý...

- Tưởng gì, anh đang ngán phải đến lần thứ ba, nhất là đến với một người con gái là... em.

- Thế nghĩa là anh không thể... vậy thì, em xuống đây vậy, nhé?

Mary nói và dợm bước xuống. Jean vội vàng ngăn lại:

- Ấy chớ! Van em, đừng bỏ anh côi cút một mình, anh không thể sống thiếu em, kể từ sáng hôm nay...

Đôi bạn hồn nhiên như hai đứa trẻ, cất tiếng cười vang.

Đồng hoang rực rỡ dưới nắng ấm. Hương xuân man mác quyện trong bầu không khí tinh khiết trong lành, hương xuân vây phủ quanh họ. Vó ngựa nện đều trên đường vắng, đưa họ tiến lên trong im lặng.

Cả hai cùng cảm thấy một niềm hân hoan, ngây ngất tuyệt vời làm cho họ không dám mở lời, tuy họ đang có nhiều, rất nhiều chuyện để nói với nhau; như họ sợ cất tiếng lên Hạnh Phúc sẽ giật mình, vỗ cánh. Mary ngờ ngợ, tưởng đang mơ, giấc mơ mà nàng không bao giờ dám ngờ có một ngày trở thành sự thật.

Cho đến một lúc Jean cất giọng ồm ồm hát:

- Tay trong tay ta bước lên đường,

Hạnh phúc trải dài như thảm cỏ dưới chân...

Và cô gái chưa kịp hỏi anh học được câu hát văn vẻ đó ở đâu thì anh đã ngừng lại, nheo mắt, bảo người yêu:

- Này! Trước mặt cha xứ cứ tình thật khai ngay nhé? Đừng có nói "Thưa cha, con đang đi dạo trên đồng thì anh ta đến, bắt cóc con", nghe chưa?

Lần này, những tiếng cười của đôi bạn trẻ lại lanh lảnh vang lên tưởng như không dứt, vì họ biết rằng Hạnh Phúc ngay trong lòng họ, ngay đây!

 

Sàigòn 16-11-70             
MINH QUÂN - MỸ LAN      

Phỏng theo L'Auberge de la Jamaique
của DAPHNÉ DU MAURIER      

CHƯƠNG 13_LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI


 CHƯƠNG 13 


Trời tháng Giêng thật đẹp. Một lớp tuyết mỏng phủ lên mặt đường, mặt nước và trên bùn nom loang loáng như một tấm gương vĩ đại lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời. Trời xanh mầu ngọc bích, không một gợn mây vương, trong vắt.

Mặt đất khô cứng, những cọng cỏ ngắn, dòn, rào rạo dưới mỗi bước chân như khi người ta dẫm trên lối đi trải sỏi vụn.

Quanh vùng, trên những lối đi nhỏ hẹp cạnh hàng giậu thưa, vầng dương chiếu sáng và sưởi ấm bầu không khí trong lành, tinh khiết. Hương vị đầu xuân thoang thoảng, e ấp và đầy quyến rũ.

Song ở đây, trên đồng hoang, cái lạnh cắt da của những ngày đông tàn vẫn còn nấn ná, chưa lui. Mary đang đi dạo trên đồng hoang, một mình. Gió buốt lướt trên mặt cô gái. Nàng băn khoăn tự hỏi: sao ngọn Kilmar bây giờ không còn giữ vẻ rùng rợn, đầy đe dọa như trước? Sao nó chỉ còn là ngọn đồi có những chóp nhọn chia chỉa vươn lên nom hùng vĩ, âm u dưới vòm trời? Phải chăng sự sợ hãi trước kia đã làm cô mù quáng, không nhận ra vẻ đẹp thiên nhiên của nó? Hay vì kinh tởm lữ quán Giao Mai và Joss Merlyn mà Mary ghét lây cả cảnh vật xung quanh?

Kìa: Đồng hoang vẫn biệt lập, lạnh lùng, các ngọn đồi vẫn không hiếu khách, song dưới mắt cô gái bây giờ chúng chả còn chút gì bí ẩn, ghê người. Thật vậy, Mary nhìn cảnh vật bằng đôi mắt bình thản, dửng dưng.

Bây giờ đây, Mary Yellan hoàn toàn được tự do, nàng có thể đi đâu tùy thích. Ý tưởng của cô gái hướng về Helford yêu dấu và những đồng bằng xanh ngắt hiền hòa của miền Nam. Cô tha thiết muốn gặp lại làng mạc cùng những khuôn mặt quen thuộc. A! Helford! Nơi đó dòng sông rộng trong suốt chảy qua; Mary nhớ từng tiếng động, phân biệt từng mùi thơm, nàng nhớ từng con suối nhỏ chảy ngoằn ngoèo gây nên tiếng róc rách êm tai như khúc nhạc thiên nhiên đầy quyến rũ!

Nơi đó là nơi người ta có thể yên lòng nghỉ ngơi sau những giờ nhọc nhằn ở ngoài đồng, trong trại.

Mùa hạ, lá rì rào, một thứ âm nhạc êm dịu khác thứ nhạc suối xôn xao. Rồi đông về, dù khẳng khiu cành, trơ trụi lá, ngàn cây vẫn là nơi trú ẩn cho khách lỡ bộ đường.

Chao! Mary ao ước được nhìn lại bầy chim bay lượn trên các tàng cây, nhìn các cánh bướm nhởn nhơ trên nội cỏ, khát khao nghe tiếng hót véo von của một loài chim lạ, như tiếng mời gọi ân cần, như lời khuyến khích cô gái quê làm cô thêm phấn khởi, tay vuốt mồ hôi, quên cả nỗi nhọc nhằn.

Mary thèm nghe tiếng động quen thuộc của nông trại biết là chừng nào: tiếng gà mái cục tác khi làm tổ, tiếng gà trống gáy ý o, tiếng đàn ngỗng kíu kít, bầy vịt bì bõm lội dưới ao và kêu quàng quạc.

Nàng nôn nao cảm thấy như hơi thở ấm của bầy cò quyện lẫn trong không gian làm ấm cả tay nàng và tiếng bước chân nặng nề của chúng như đánh nhịp với con tim cô gái. Nàng nhớ cả mùi phân nồng ngây ngây ở trong chuồng.

Và cái tiếng gầu va chạm vào thành giếng sao cũng làm nàng xúc động, bồi hồi? Mary nghĩ rằng mình sẽ sung sướng vô vàn khi được đứng tựa vào hàng rào mỗi chiều, ngắm con đường làng nhỏ bé, chào một người bạn đi qua, nhất là nhìn làn khói xanh thoát lên từ ống khói của các ngôi nhà lân cận.

Việc đồng áng là sở thích của Mary: mỗi sáng, nàng dậy sớm xách nước xong, cô gái duyệt qua một vòng giữa đám gia súc thân yêu như vị tướng lãnh duyệt xét đám binh sĩ dưới quyền; mà tiếng kêu đòi của chúng với nàng khác nào khúc nhạc binh hùng dũng!

Rồi đây, Mary sẽ ra công lao tác, sự cố gắng đem lại cho nàng niềm vui, và cũng là kẻ thù của sự buồn phiền. Mary tin là mình sẽ tìm thấy bình yên cho tâm hồn như mọi người trong giòng họ Yellan chất phác của mình. Nàng thuộc về ĐẤT như họ, dính liền vào ĐẤT như họ và một ngày kia, ĐẤT lại sẽ cũng ấp ủ nàng như họ. Phải! Mary đã sinh ra tại đây và cũng sẽ chết tại đây.

Sự cô độc không đáng ngại đối với cô gái quê. Một nông dân không biết đến cô độc; cả ngày làm việc, đêm tối thẳng giấc trên giường. Nàng há không định sống như thế từ lâu đó ư? Nàng tin mình đã chọn đúng con đường tốt và sẽ không do dự. Nàng sẽ từ biệt gia đình ông Bassat nay mai...

Nàng không hợp với nếp sống trưởng giả của họ, tuy là họ tốt, quá tốt đối với nàng. Họ biết nàng không còn ai là thân nhân nên hết sức nài nỉ nàng ở lại với gia đình họ.

Bà vợ viện cớ ông tòa hay vắng nhà, mình cần một người bạn nhỏ và một người săn sóc các con bà. Ông chồng thì nói:

- Mary! Cô trẻ quá và đẹp quá, không thể sống một mình. Cô cứ xem đây là gia đình cô. Vợ tôi và tôi đều quí mến cô. Thiếu gì việc cho cô làm? Cắt hoa trang hoàng nhà cửa này, viết thư hộ nhà tôi này, la rầy lũ trẻ này... Tôi biết cô không thích ở không, cô sẽ không ở không đâu.

Các con của ông bà cũng quí mến Mary. Henry tỏ ý muốn tặng chi Mary Yellan con ngựa quí của nó, con ngựa mà các em nó, nó cũng không cho đụng đến.

Trong phòng khách, bà Bassat không ngớt dỗ dành Mary:

- Một ngày kia, cô sẽ lập gia đình. Không ai có thể sống cô độc suốt đời, nhưng trở về Helford cô sẽ buồn... và nếu lấy chồng, tôi tiếc cho cô...

- Thưa bà, tiếc về cái gì, kia ạ?

- Cô sẽ làm vợ một nông dân... Tôi không bao giờ muốn thấy cô vất vả lao tác, Mary! Tôi không nói quá đâu: cô xứng được sung sướng, nhàn nhã...

Mary đỏ mặt, nhưng đôi mắt cô xa vời làm người đàn bà tế nhị ngừng lại, kêu lên:

- Mary! Cô nhớ Helford đến thế kia ư?

Cô gái gật đầu, không nói nhưng nét mặt cô như nói rất nhiều. Bà Bassat hỏi :

- Thế sao, sau khi mẹ chết cô không ở yên tại Helford mà dấn thân đến chỗ miệng hùm, nọc rắn như thế, hở Mary?

- Thưa bà Mary cố giấu vẻ bực bội chỉ vì tôi phải theo ý muốn của mẹ tôi: đến ở với dì, Mẹ tôi bảo con gái không thể ở một mình...

Bà Bassat chộp lấy cơ hội tốt:

- Đó! Cô thấy chưa? Cô ở lại với chúng tôi là phải, chắc là ý kiến tôi không trái với mẹ cô. Cô nghĩ kỹ đi!

Một lần nữa Mary cố gượng cười tỏ lời cảm ơn ông bà nhưng vẫn không nhận lời ở lại. Hai người không hiểu được lòng hoài hương của cô gái quê, họ cho là vì quá xáo động tinh thần trong những ngày qua nên cô gái thẫn thờ, buồn bã.

Họ cố giúp nàng khuây khỏa, nhưng mọi cố gắng của họ đều vô ích, nếu không muốn nói là làm cô gái khổ sở bực bội, khó thở hơn.

Nhà ông bà Bassat luôn luôn có tiệc tùng, hội họp, khách khứa thường xuyên. Hai ông bà muốn Mary có mặt trong những buổi tiệc, cuộc họp đó. Họ giới thiệu nàng với thực khách đám thực khách nhà giàu, thuộc thành phần trưởng giả như họ với bạn bè, với những tiểu thư, công tử, với những bà mệnh phụ rỗi việc, dông dài, giết thì giờ trong các buổi tiếp tân hay ngoài phố.

Ông bà Bassat nói đến Mary, đến những hành động nàng như nói đến một thần tượng, coi nàng như bậc nữ anh hùng, làm cho có kẻ yếu tim phải tựa ra sau ghế dựa mà thở dốc! Có người ỷ vào địa vị và tuổi tác của họ, họ gọi Mary ra trước mặt, nhìn nàng chăm chăm từ gót đến đầu... Bọn thanh niên nam nữ thì khá hơn, họ không bày tỏ lộ liễu sự ngạc nhiên về cô gái quê, nhưng họ xì xầm bàn tán ngay sau lưng nàng, hay trong một góc xa xa...

Mary, vì để tỏ lòng kính trọng ân nhân nên không lộ vẻ bất mãn ra mặt, song cô gái hết sức khổ tâm. Nàng không thuộc vào tầng lớp xã hội này, không thuộc vào giai cấp này. Cuộc sống nhàn nhã không thích hợp với nàng. Mary chỉ yên ổn, thanh thản trong lòng khi được hít thở bầu không khí của trang trại, nhìn thấy dòng sông, dòng suối ở Helford yêu dấu. Tay nàng quen lao tác mất rồi. Hơi hướm của đất đai, của hoa mầu, của phân phóng đem lại nàng tin yêu, vui vẻ. Tiếng động của chim chóc, của gia súc làm nàng phấn khởi hơn là điệu nhạc nhàm tai ở dưới mái nhà này. Cái gì cũng xa lạ, như quá khổ, cũng không hợp với kích thước tinh thần của Mary!

Trong nhà của vợ chồng ông tòa, Mary chỉ tìm thấy chút hòa hợp, chút an ủi nơi bác Richards quê mùa chân thật. Bác có cái gì gần gũi hợp với Mary. Richards ưa đùa, hay khôi hài làm cô gái quên đi đôi phần phiền muộn. Bác có những nhận xét rất tinh tế, một đôi khi; chẳng hạn có lần bác bảo Mary:

- Này, cô trông cái nhà cô Helen kia, tôi cam đoan là nếu cô ta không tô môi, vẽ mắt cô ta còn xấu hơn con ma lem. Cô ấy thua cô xa, cô thấy không?

Mary cười, gặng:

- Thua tôi? Về cái gì?

Richards xua xua hai tay:

- Về tất cả: sắc đẹp, lòng can đảm, sự thông minh, tháo vát... Mà này (bác thấp giọng) dù cho cô ta có vẽ vời trang điểm đến mức nào cô ta vẫn xấu, không thể so bì được với cô.

Mary bật cười:

- Thôi! Bác đừng có tôn tôi lên ngai hoàng hậu, tôi sợ phải ngồi trên đó mà chịu chuyện quần thần...

Cả hai cùng cười to, vui vẻ. Rồi thình lình, Richards lập nghiêm:

- Mary! Altarnun đang khuyết một chân linh mục phó, cô còn chần chờ chi nữa, hãy ứng cử đi! Tôi cá là cô sẽ đắc cử, cô sẽ khá hơn linh mục cũ, vị linh mục giả, người đã làm cô...

Chợt, Richards ngưng bặt vì thấy Mary cau mặt, thở dài. Bác ta áy náy:

- Mary! Xin lỗi cô nhé! Tôi vô tâm vô tứ, tôi không cố ý...

- Không! Bác đừng quan tâm... tôi chả buồn đâu. Tôi cảm ơn bác nhiều lắm đó, nếu bác không đến kịp...

Tuy miệng nói thế, Mary không khỏi rùng mình. Theo lời bà Bassat kể lại lúc nàng tỉnh dậy trên giường thì đàn chó xúm đến toan vồ xé cô nếu Richards không đến kịp, cứu cô. Bác mở trói cho cô, tháo khăn bịt miệng, lay gọi mãi mà Mary vẫn mê man. Ông Bassat cũng có mặt tại đó, ông tức tốc cho lệnh vực Mary về và mời bác sĩ đến ngay.

Mặt xanh nhợt, hơi thở dồn dập, bà Bassat nhắc đến bệnh trạng Mary trong những ngày nàng nằm liệt bằng giọng xót thương và sợ hãi. Mary cũng hiểu, tuy nàng không bị thương nặng nhưng khắp người nàng sây sát vì đá nhọn và gai cào. Mary ê ẩm, nhức nhối còn hơn cái đêm bị bọn Joss trói, lôi ra bờ biển.

Nàng được nghe ngoài bà Bassat còn nhiều người kể lại cuộc bao vây, săn đuổi theo người đàn ông đầu não, người gây ra nhiều chuyện kinh động cả nước Anh vì những vụ đắm tàu tàn nhẫn. Chỉ mình Richards là lúng túng, không bao giờ muốn nhắc đến công mình đã cứu Mary.

- À! Cô cứ nói, nếu lúc đó tôi không tới kịp thì cũng có người khác: Jean Merlyn, ông tòa, Jimmy những 50 mạng đi theo chứ bộ mình tôi sao?

Mary giật mình, nghe tim đập rộn trong lồng ngực: nhiều ngày qua, không một ai nhắc đến tên Jean. Mà nàng thì rất nóng muốn biết tin anh nhưng vẫn giữ ý không dám hỏi. Mary chả biết mở lời ra sao cả. Người ta sẽ nghĩ sao về nàng? Sao nàng lại quan tâm đến Jean Merlyn em trai Joss, tên trộm ngựa của chính ông tòa?

Mary chăm chú lắng nghe Richards nói chuyện. Nàng chỉ mong bác ta nói thêm về Jean Merlyn, nhưng lần này, bác thao thao về điều khác:

- Mary Yellan! Tôi cá với cô (ấy, bác ta ưa dùng tiếng cũng như các người trưởng giả nói đến hai tiếng cam đoan) bây giờ không còn một tên buôn lậu, cướp biển nào lảng vảng ngang lữ quán Giao Mai nữa. Tin tôi đi! Rồi đây, tôi sẽ đem gia nhân đến, quét sạch mạng nhện, lau chùi bụi bặm, sửa sang lữ quán cho thật khang trang sạch sẽ. Tôi sẽ trang hoàng lữ quán không thua chi khách sạn Hoàng Gia. Tôi sẽ thuê những tên bồi bàn lương thiện, ngoan ngoãn, cả người chúng không hề bay mùi rượu... như cô vậy đó. Chúng mang những cái tạp-dề trắng tinh, trước ngực có thêu hàng chữ đỏ chóe: "Chào mừng quí khách" để cô lác mắt... Và trước quán, cũng có tấm bảng "Chào Mừng Quí Khách" y như thế!

Mary vui vẻ:

- Bác không làm việc cho ông tòa nữa, hử?

- Tôi ra riêng mà, tôi già rồi, cô thấy không? Phải tự mình làm chủ đời mình chứ! Đó! Tôi đổi tên lữ quán là khách sạn "An Lạc". Tên đó hay không? Có nghĩa là vô đó thì thâm tâm an lạc, khỏi phải thắc mắc đắn đo gì tất. Có điều... phải chi tiền hơi đăn đắt một chút, vì sao, cô biết không?

- Làm sao tôi biết nổi?

- Trời ơi! Vì quanh đó đâu có lữ quán nào? Mà tôi đã điều khiển lữ quán thì phải biết, không ai tận tâm, tận lực bằng tôi. Giường êm, nệm ấm, đèn sáng, thực phẩm ngon… Cô tin tôi không? Cứ trông tôi săn sóc ngựa của ông chủ là biết... con nào cũng bóng nhoáng như có tẩm dầu...

Mary quên cả cảnh ngộ mình, cười ngặt nghẽo. Richards nói tiếp:

- Sẽ chả có một mống lưu manh nào dám thập thò, chõ mũi vào cổng lữ quán của tôi chứ đừng nói đến chuyện dám đặt chân vào quầy rượu...

- Ủa, bác bảo bọn bồi bàn của bác không có mùi rượu trong mình mà?

- Ậy, chúng không có mùi rượu đâu có nghĩa là lữ quán của tôi không bán rượu? Lữ khách mà không uống rượu sao được? Đàn ông không có rượu khác gì quốc kỳ treo chỗ không có gió? Còn ra cái thể thống chi? Mary! Về điểm này, cô kém lắm, kém lắm!

- Thì đã hẳn, tôi có chối cãi chi đâu...

- Ngày khai trương khách sạn, tôi sẽ mời đông, rất đông quan khách. Mà khách danh dự, đố cô, cô biết ai không?

- Ông bà Bassat chớ ai. Tôi biết...

- Sai nữa nhé! Cô, cô là vị khách danh dự của Khách sạn An Lạc đó, đừng tưởng chuyện lơ mơ...

- Rồi sao nữa?

- Sau đó, tôi sẽ cho gia nhân đưa cô về thẳng Helford như ý muốn. Đúng ra, tôi lưu cô lại làm việc với tôi, nhưng tôi biết không khí của một lữ quán không hợp với cô. Đúng không nào?

- Đúng! Bác nói gì mà chả đúng...

- Tôi đi dép vào tim cô ấy chứ! Về đó, cô cứ yên chí mà lo việc chăn nuôi, trang trại. Khỏi lo mang đi bán ở đâu hết. Gà, vịt, trứng, rau của cô sẽ dành cung cấp cho lữ quán An Lạc... Tôi không mua rẻ, bắt chẹt cô đâu. Bằng lòng không nào? Ký giao kèo ngay từ bây giờ, kẻo muộn!

- Ký, ký cả hai tay!

Mary thật tình nguôi khuây được đôi khi, nhờ những mẩu chuyện như thế giữa nàng và bác Richards. Nhưng sau đó, nàng lại buồn rũ giữa phòng khách trang hoàng lộng lẫy của ông bà Bassat, trong phòng ăn với những thực phẩm cầu kỳ nhiều gia vị, với lối ăn uống kiểu cách kéo dài và nhất là khoảng trống vô vị của nhiều giờ trong ngày, nàng cảm thấy mình vô dụng, sống nhờ, sống gửi; cuộc sống vô vị, chán chường.

Một lần kia, vô tình, ông Bassat nhắc đến Jean trong bữa ăn, giọng đầy trách cứ: rằng Jean Merlyn là một tên vô ơn, bội nghĩa đã mất tăm từ sau khi hạ được hung thần của dân chúng vùng này. "Dù sao đi nữa ông gằn giọng hắn cũng phải biết rằng nhờ tôi cho hắn cơ hội đó, nếu không ấy ư, nó cũng cùng số phận với giòng họ Merlyn nhà nó: bỏ xác trong tù hay bị treo cổ lên cây..."

Rồi ông phủi phủi hai tay, nói tiếp:

- Mà thôi! Tôi chả quan tâm đến hắn... Mặc xác hắn. Hắn đi đâu, làm gì tùy ý, miễn chớ làm điều phạm pháp thì thôi. Nhưng đã chắc gì... giòng máu bất lương chảy trong huyết quản hắn, giòng máu Merlyn!

Mary ngồi lặng, miếng khoai trong miệng nát nhừ mà nàng nghẹn cứng cổ, không nuốt được.

Cô gái chỉ thật sự dễ thở, thoải mái những khi được một mình, nhất là như sáng hôm nay, nàng đi dạo trên đồng hoang, tâm trí phiêu du, vừa đi vừa nghĩ đến ngày mai, khi nàng trở lại Helford...

" Jean Merlyn! Dù sao, anh tệ lắm: anh không hề trở lại để thăm tôi trong những ngày tôi nằm liệt trên giường. Vậy mà anh bảo anh yêu tôi? Anh bảo... Cái gì ngăn anh? Tôi thú nhận là yêu anh, chỉ yêu một mình anh thôi, từ nay cho đến mãn đời, nhưng đừng hòng tôi đến nhà anh để kiếm anh. Không! Không bao giờ cả! Ngày mai, tôi sẽ từ biệt ông bà Bassat trở về Nam. Tôi là nông dân, anh nhớ thế! Tôi thăm đồng hoang lần cuối, hôm nay!"

Mary lẩm bẩm. Nàng ghi nhận tất cả cái hùng vĩ, bình thường của từng tảng mây, từng cọng cỏ, từng ngọn đồi, từng lối đi, từng phiến đá. Để rồi ngày mai nàng quay lưng lại và mãi mãi không đến nơi này...
_________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG 14

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2016

CHƯƠNG 12_LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI


 CHƯƠNG 12



Đêm đen, gió rét, không khí ẩm. Trăng bị mây đen che khuất, như đồng lõa với kẻ ác trong cuộc đi trốn. Mary tự hỏi có thể kêu cứu bằng cách đánh thức dân làng? Cùng lúc ấy, nàng thấy bàn tay người đàn ông trước mặt:

- Đừng nghĩ bậy, Mary! Ở Altarnun này dân chúng vào giường sớm. Cô mà mở miệng, thì chỉ trong nháy mắt cô đã nằm dài bất động dưới cỏ ướt, tuổi trẻ và sắc đẹp tiêu tan... Và khi dân chúng mở mắt ra, họ chỉ còn biết thương tiếc cô, còn tôi, tôi biến mất vào bóng tối. Đừng sợ lạnh, ngựa chạy một lúc sẽ ấm. Vả lại, cô đã quen với những cuộc hành trình khó nhọc rồi mà!

Người đàn ông cỡi con ngựa xám, ngựa hồng Mary cỡi bị cột cương chung vào ngựa ông ta.

Họ tiến ra đồng hoang. Không một đường mòn mà toàn những đám cỏ cao, ẩm ướt, những bụi thạch thảo khẳng khiu. Đôi lúc, ngựa vấp phải đá rắn hay lún xuống đất mềm cạnh các vũng lầy. Quanh hai bên người, núi đá sừng sững ngăn cách họ với thế giới bên ngoài. Hai con ngựa song song trong lòng thung lũng.

Hy vọng trong lòng cô gái như tàn dần: đồi núi đen ngòm làm nàng cảm thấy nhỏ bé, bất lực, mỗi bước chân ngựa bước tới, nàng càng xa North Hill và đồng hoang thì thuộc về thế giới kỳ bí đáng sợ nhưng lại quen thuộc với con người cạnh nàng. Sự im lặng làm Mary ngạt thở, nàng hỏi lên:

- Ta sẽ đi đâu?

- Không lâu đâu, bờ bể Cornouailess sẽ được canh phòng cẩn mật, nhưng nhờ trời hôm nay thì chưa, chưa đâu. Dọc theo bờ đá từ Boseastle đến Hartland chỉ có lũ chim rừng và hải âu. Mary! Tôi biết cô không muốn nghe trong lúc này đến hai tiếng tàu bè, nhưng chúng ta sẽ dùng thuyền bể để rời xứ...

- Nghĩa là ông đưa tôi ra khỏi nước Anh?

- Còn biết cách nào khác bây giờ? Từ đây, Cha Davey sẽ rời bỏ giáo hội mà trở về đời sống của kẻ... suốt đời lẩn trốn. Nhưng Mary ạ, cô đừng lo : Cô sẽ thấy nhiều cảnh đẹp ở Tây-ban-nha, ở Phi châu, nếu cô muốn, cô sẽ được dẫm chân trên cát nóng sa mạc. Cô muốn đi đâu, tôi cũng chìu cô... Ủa! Sao cô cười? Cô định chế giễu tôi? Hay cô cho là tôi nói dối?

- Không! Tôi cười vì những điều vô lý ông vừa đề nghị. Ông quên rằng hễ có dịp là tôi tố cáo ông ngay, hay sao?

- Cô quên chứ đâu phải tôi quên: đây không phải là miền nam của cô: Helford dọc theo bờ sông, làng nọ tiếp nối làng kia. Đây khác hẳn: miền bắc cũng hoang vu như đồng hoang, cô sẽ không còn thấy khuôn mặt người nào khác, ngoài khuôn mặt tôi cho đến hải cảng nào mà tôi quyết định dừng ngựa lại.

Mary gặng:

- Như thế, có gì chứng tỏ rằng khi rời Anh quốc, đến Phi châu hay đi đâu nữa, tôi có thể trở thành bạn một kẻ sát nhân như hạng của ông?

- Tôi tin là lúc đó cô đã quên...

- Quên cả việc ông giết dì tôi?

- Phải, và cô còn quên nhiều việc khác nữa: đồng hoang man dã, lữ quán Giao Mai, quên cả những giọt nước mắt trên đường Launceston, cả gã con trai trộm ngựa và nụ hôn đầu của gã đã làm xao xuyến tim cô...

- Ông quá chủ quan...

- Không đâu! Tôi biết rõ các cô, tôi biết rõ giấc mơ của các cô con  gái. Rồi cô xem, tôi hơn em Joss, tên trộm ngựa, về điểm này. Cô sẽ thấy. Đừng nhíu mày, đừng tỏ vẻ kinh tởm tôi kẻo rồi đến khi cô hối hận thì quá muộn! Mary!

Mary quay đi để khỏi thấy khuôn mặt người trên ngựa cạnh cô.

Đôi ngựa tiến tới chậm chạp, bóng tối dày đặc quanh họ, thỉnh thoảng ngựa dừng lại bối rối, sợ hãi: mặt đất ẩm ướt, lún sâu hơn. Mary không thấy đồi núi nữa, nhưng nàng hiểu rằng quanh đây đầm lầy rất đáng sợ. Nàng liếc nhìn người đàn ông. Ông ta chồm mình tới trước như muốn chọc thủng bóng đêm dày kịt. Môi mím chặt, ông ta cũng hiểu rằng bất trắc, hiểm nguy đang đón đợi mình.

Mary nóng bừng tuy nàng đang lạnh cóng: nàng đã thấy đầm lầy giữa ban ngày; những bụi cỏ nâu lung lay trước gió như mời mọc nhưng trong nháy mắt đã chôn trọn một con bê rừng ngu dại tham ăn rồi mặt nước đen ngòm lại hiền lành, cỏ nâu bên trên lại mời mọc...

Mary biết ngay cả dân sống trong đồng hoang cũng vẫn lạc bước, sa chân... Nàng đâu quên rằng Matt... anh ruột của Jean đã chết đuối trong lầy? Phải! Người đàn ông, bạn đồng hành bất đắc dĩ của nàng thông thuộc đồng hoang, từng đường ngang nẻo tắt, nhưng vẫn không có nghĩa là hắn không lầm lẫn, nhất là trong đêm tối mịt như thế này.

Người đàn ông giở mũ ra để dễ thấy hơn, hết quay phải lại quay sang trái dò đường. Sương bay là là trên mặt đất, sương lượn lờ ngang mình ngựa đầu người. Sương bám vào tóc, vào áo... Trong giây lát, sương mù làm thành một bức màn trắng toát chắn ngang mắt hai người.

Người đàn ông kéo dây cương cho ngựa đứng lại. Hai con vật run rẩy hí vang lên.

Ông ta kiên nhẫn đợi, cất tiếng nói với Mary tuy không thấy nàng đâu:

- Kiên nhẫn chút nữa, sương ở đồng hoang rất mau tan !

Nhưng cả hai đợi mãi, màn sương không tan loãng tí nào. Lờ mờ sau lưng nàng, Mary quay lại thấy bộ mặt ông ta trắng toát như bộ mặt mạ bằng sương. Giọng ông ta chua chát:

- Chúa của cô không giúp tôi chăng? Nhưng nếu quả thế, Chúa cũng không nên quên rằng cô đang bị buộc dính cạnh tôi, cô sẽ cùng số phận với tôi, kia mà! Dù sao, sương mù quái ác này không tan trước rạng đông, đành chờ vậy!

Mary im lặng. Hy vọng như bừng lên trong tim nàng, nhưng đồng thời, cô gái lại cũng nhớ ra rằng sương mù là kẻ thù của thợ săn cũng như con mồi!

Người đàn ông kéo cương ngựa bất ngờ, giục đi về phía trái, tiến lên chỗ đất cứng hơn, ngựa đạp trên đá. Sương mù vẫn bao phủ xung quanh.

- Đêm nay chúng ta dừng nghỉ lại đây. Tối nay, cô chịu khó ngủ trên giường đá vậy. Ngày mai sẽ lên đường. Đây là Roughton.

Ngựa lộc cộc lên đồi, chậm chạp. Một chốc sau, Mary đã ngồi trong hốc đá. Nom nàng tựa một bóng ma trong tấm áo choàng. Cô gái cố thu mình lại, đầu gối co dưới cằm, hai tay vòng quanh hai chân mà khí lạnh vẫn thấm vào tận xương cô.

Hai con ngựa nép cạnh nhau bên vách đá tìm hơi ấm của nhau, chừng như chúng cũng thấy sợ hãi nên chốc chốc lại quay đầu nhìn chủ bằng những con mắt lo âu.

Người đàn ông ngồi cách cô gái cỡ hai thước thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn nàng như muốn gợi chuyện, nhưng Mary tránh cái nhìn ấy, giữ vẻ lạnh nhạt xa vắng làm ông ta ngượng ngập:

- Cô nên ngủ đi cho khỏe. Đường còn dài và vất vả lắm đó, Mary!

- Tôi không buồn ngủ...

Mary trả lời vắn tắt. Thật ra, cô gái không dám ngủ, cô luôn phải đề phòng. Im lặng, im lặng một cách nặng nề, khó thở đầy đe dọa. Chỉ có tiếng gió rít qua khe đá, tiếng gió tợ như tiếng rền rĩ, ai oán, não nuột của những linh hồn vất vưởng lang thang không chỗ trú giữa đêm thâu giá buốt.

Mary kéo mũ áo choàng chụp lên đầu, bịt kín hai tai để khỏi nghe tiếng kêu than rởn gáy đó nhưng từ trong hốc đá sau lưng nàng, tiếng hú rền rĩ vẫn vang lên. Đối diện cô gái, người đàn ông khẽ dặng hắng như toan cất tiếng nhưng giật mình vì tiếng vó ngựa nện trên đá rắn, nên thôi.

Mary quá mệt nhọc nên không chống nổi, thiếp ngủ đi một lúc. Khi nàng hoảng hốt choàng dậy, người đàn ông vẫn chăm chú nhìn nàng, nụ cười khó hiểu đọng trên môi, cằm gác trên đầu gối.

- Cô không thức nổi đâu, còn lâu mới sáng. Hiện mới nửa đêm thôi. Ngủ đi Mary! Cô ngờ tôi muốn hại cô sao?

- Tôi không ngờ chi cả, nhưng tôi không muốn ngủ, thế thôi.

Mary run rẩy trong khi nói.

- Cô lạnh cóng thế kia. Phía tôi không có luồng gió, đỡ rét hơn. Chúng ta cần nương tựa vào nhau, sưởi ấm cho nhau...

- Tôi không cần phải tựa vào bất cứ ai.

- Sở dĩ tôi nói thế là vì tôi biết rõ đêm trường ở đồng hoang. Những giờ lạnh lẽo nhất là những giờ trước rạng đông. Hãy đến tựa vào lưng tôi mà ngủ một giấc cho lại sức! Mary! Vì cô mà tôi vất vả, khốn đốn, đang từ một linh mục khả kính tuột xuống số phận của kẻ trốn nhủi trốn chui; nhưng tôi không hề oán hận cô, trái lại...

Vó ngựa lại khua lộc cộc làm người đàn ông ngừng một phút, nghe ngóng quanh mình, giọng ông ta như giọng của người bạn tâm sự cùng người bạn:

- Mary! Chớ giữ vẻ lạnh nhạt, khinh miệt tôi. Tôi cũng thuộc dòng dõi khá giả, lương thiện, không khác chi cô. Xã hội bất công, tàn nhẫn đã xua đuổi tôi, dồn tôi vào thế kẹt... Một đứa trẻ mồ côi cha, chỉ còn tình mẹ mà rồi tôi chưa đến tuổi vào đời mẹ tôi bị bạo bệnh lại cũng mất đi. Tôi...

Mary chợt nhớ đến mẹ mình vì những lời người đối diện. Nàng hỏi không suy nghĩ:

- Mẹ ông mất lúc ông bao nhiêu tuổi?

- Mười chín, phải, tôi mới mười chín tuổi đầu. Cái tuổi cần có người hướng dẫn, dắt dìu, nâng đỡ...

Mary lạnh lùng:

- Ra những tội ác ông nhúng tay vào, những giọt máu người ông làm đổ ra đều do cái chết của mẹ ông? Ông không có lỗi gì hết? Khá lắm! Ông sẽ có dịp tự bào chữa, biện hộ một ngày kia... chắc cũng không lâu...

Lần thứ nhất, Mary thấy người đàn ông bí mật cúi xuống, đầu gục trong hai bàn tay và tiếng thở dài của hắn làm nàng hơi... xao xuyến. Nhưng Mary tự cười mình: suýt nữa nàng đã bị hắn lừa bịp, đã gần tin hắn. Lúc nhỏ khi chưa thay mẹ trong những công việc đồng áng, trang trại, gà vịt, Mary cũng từng cắp sách đến trường, nàng lại cũng có đọc rất nhiều sách do cô giáo nàng cho phép, do các bạn con nhà khá giả gửi mua ở tỉnh lớn mang về. Hầu hết các nhân vật hung bạo, độc ác, bất lương trong sách đều viện cớ này, cớ nọ để chạy tội mình, đặc biệt chúng hay dùng xã hội để làm chỗ gánh tội thay. Tại xã hội thế này, tại xã hội thế kia, tại xã hội thế nọ... vân vân... Chúng không có tội gì cả. Thậm chí, có khi chúng làm cho mấy ông tòa cũng cảm động, mủi lòng, phân vân, bàn cãi khá lâu trước khi đi đến quyết định cuối cùng...

Mary cất tiếng cười khanh khách, tiếng cười của nàng làm cho gã đàn ông ngẩng phắt lên:

- Cô chế giễu tôi đó phỏng?

- Không! Tôi không chế giễu ông. Tôi đang nghĩ đến một chuyện hay hay, và chuyện đó làm tôi bật cười, tuy tình cảnh tôi chả có gì vui cả.

Mở to đôi mắt trong suốt lạnh lẽo như thủy tinh, gã đàn ông hỏi:

- Cô có thể cho tôi biết với không? Mary! Cô bảo không ngủ được, vậy ta nên nói chuyện cho quên trời lạnh, đêm dài... Nào, cô thử kể...

- Tôi đang nghĩ một chuyện ngộ nghĩnh thế này đây: sau khi mẹ chết, tôi đến lữ quán Giao Mai, khám phá được âm mưu của các người và tôi... nhập bọn. Có phải cả ông lẫn Joss Merlyn đều cho là tôi khá thông minh! Đó, tôi sẽ dùng cái thông minh trời cho, cái vốn của một đứa con gái nghèo, mồ côi... Tôi sẽ làm đủ tội ác, tay lấm đầy máu người vô tội. Nhưng tôi không yên lòng như ông, cũng không say sưa hốt hoảng kiểu Joss Merlyn. Vì tôi còn tin Chúa. Tôi vẫn tìm đến cha Davey tức là ông, vị linh mục giả nhưng không phải để tố cáo tội ác mà xưng tội. Cha Davey Francis khả kính sẽ giải tội cho tôi bằng lời lẽ như thế này: "Con cứ yên tâm, con không có tội gì cả, lỗi ở mẹ con, sao bà lại chết trong lúc con chưa đến tuổi vào đời? Sao xã hội không bao bọc con trong nhung ấm. Con tiếp tục... Mỗi lần có chi thắc mắc, hãy đến với cha!" . Thế là tôi bình tâm trở lại, quay về lữ quán, tiếp tục... tiếp tục việc bất lương cùng với quí ông. Cho đến một hôm, ba cái thòng lọng được mắc lên và trước khi chui vào đó, tôi vỡ lẽ ra rằng linh mục khả kính Francis chính là thủ lãnh của tôi...

Mary cười ngặt nghẽo, cười như một người điên, không tự chủ. Thình lình, người đàn ông quát lên:

- Thôi! Cô vừa chứ, tôi hết chịu nổi cô! Cô có câm đi không thì bảo? Này tôi nói thật, đừng tưởng tôi mê sắc đẹp cô. Cô là gì? Chỉ là một gái quê có chút duyên sắc dễ coi, cô chả phải là thứ lá ngọc cành vàng trong cung điện. Tôi chỉ quí mến cô ở óc mạo hiểm, ở trí thông minh và ở lòng can đảm. Tôi cần những cái đó. Sau này, cô sẽ được việc cho tôi hơn cô tưởng. Vì vậy nên tôi không giết cô. Tôi nói cho cô biết, đừng có kiêu hãnh, vênh cái mặt lên, tôi không hay nổi nóng. Nhưng tôi mà nổi nóng thì, cô biết chứ: cha phó Francis Davey đã làm tôi nổi nóng, Joss Merlyn cũng chọc tức tôi, cô đừng dại dột, xác cô sẽ chỉ có quạ biết thôi!

Mary không phải là thiếu nữ được bọc trong gòn như cô từng tự phụ. Huống chi trong những ngày sống tại lữ quán Giao Mai nàng đã quen đương đầu với những điều ghê gớm, đáng sợ nhiều lần. Cũng nhiều lần thấy can đảm tinh thần, lòng yêu đời cùng một loạt hao hụt, tiêu tan, có lần nàng muốn chết để khỏi chứng kiến những thử thách trên sức chịu đựng, chạm đến lòng tin tưởng sắt đá về điều thiện, về lòng nhân mà nàng được giáo dục từ tấm bé. Nhưng từ khi nàng được biết Jean Merlyn đã vào nhà thờ hôm sáng chúa nhật trước khi tố cái kẻ sát nhân, được biết Jean không phải như nàng nghi ngờ, thì nàng bỗng dưng yêu đời trở lại. Yêu đời như khi còn mẹ, như khi nàng đứng tựa vào rào nhìn đàn gà tung tăng trong nắng sớm, hay đàn vịt bì bõm dưới giòng suối trong veo, như khi nàng vuốt ve con bê còn óng mượt vừa chui ra khỏi lòng mẹ nó...

Vì vậy, nàng không nao núng trước những lời đe dọa của gã đàn ông, tuy nàng biết rằng hắn không chỉ dọa suông, nếu cần, hắn ra tay không do dự. Nàng lại biết hắn cần nàng vì những lẽ gì. Nàng bình tĩnh:

- Đừng dọa tôi vô ích. Tôi không thiết sống. Từ khi mẹ tôi chết, tôi sống giữa một bọn man rợ, bất lương. Cuộc sống như vậy có nghĩa lý gì? Tôi cần tìm sự yên tĩnh trong tâm hồn cũng như muốn được nghỉ ngơi thể xác. Vì sao? Vì tôi quá mỏi mệt, tôi kiệt sức rồi. Hãy giết tôi đi! Hỡi nhà tu giả! Tôi cảm ơn ông nhiều lắm!

Giọng nàng đều đặn, lạnh lẽo như sương đêm, giọt rõ ràng từng giọt một. Người đàn ông tránh nhìn nàng, im lặng giây lâu rồi chậm rãi nói:

- Cô sẽ được toại nguyện vào lúc nào tôi thấy cô vô dụng cho tôi, vào lúc nào việc giết cô cần thiết cho tôi. Bây giờ thì chưa, chưa đến lúc...

Mary nửa thức nửa ngủ rất lâu, rồi đột nhiên nàng choàng tỉnh vì một bàn tay lạnh ngắt bụm miệng nàng. Cô gái toan kêu, toan vùng vẫy nhưng người đàn ông đã nhanh nhẹn dùng dây nịt trói nghiến hai tay cô gái, bẻ quặt sau lưng. Ông ta hành động một cách bình tĩnh, lạnh lùng, mỗi cử động như đều tính toán kỹ, chính xác; rút từ cái khăn tay, ông ta gấp lại, bịt cứng miệng cô gái.

Xong đâu đấy, ông ta đứng lên, dắt nàng ra phía sau mấy khối đá to lớn, nói:

- Mary! Xin lỗi cô nhé? Vì sự an toàn chung cho cả hai ta. Tôi không ngờ bị vướng vào thứ sương mù quái ác nên mới chậm trễ tại đây. Sự im lặng của cô lúc này rất cần thiết, cô sẽ hiểu vì sao.

Trèo lên đỉnh đồi, ông ta nắm tay Mary kéo lên và chỉ cho nàng thấy đám khói trắng bay phía dưới.

Mary chợt hiểu: nàng đã thiếp đi lâu hơn nàng tưởng và trong lúc đó, bóng đêm cũng tan dần. Mây bay là là khắp vòm trời mầu chì. Hướng đông, một tia sáng mong manh báo hiệu vầng dương sắp hiện ra, quét tan bóng tối, bóng tối đồng lõa cùng tội ác!

Nhưng sương mù vẫn chưa tan hẳn, bao phủ những phiến đá bên dưới làm thành một lớp màn trắng. Theo hướng ông ta chỉ, Mary vẫn chưa thấy gì rõ rệt ngoài những bụi thạch thảo ướt đẫm sương... Nhưng trong thoáng chốc, có tiếng kêu, tiếng reo hò vọng lại tuy không rõ lắm.

Rồi thì, tiếng reo hò vọng lên mồn một như muốn xé toạc màn sương.

- Cô đã hiểu chưa?

Mary lắc đầu. Người đàn ông cười nụ cười đượm vẻ chua chát, buồn rầu :

- Tôi quên đi mất một điều quan trọng : Ông Bassat có nuôi một đàn chó săn. Thật đáng tiếc cho cả hai ta.

Mary kinh hãi thật tình, nàng nhìn từ người đối diện đến hai con ngựa, phân vân lo lắng. Trong hốc đá, hai con vật đáng thương vẫn nép vào nhau, run rẩy.

- Chúng ra phải xua ngựa xuống đồng hoang để đánh lạc hướng đoàn chó săn đi. Chúng trở thành vô ích cho chúng ta, có chúng, chó càng dễ tìm ta. Vif-Arjent! Mày lại làm hại chủ lần nữa đây này!

Mary sững sờ nhìn người đàn ông tháo cương hai con ngựa và dắt chúng đến dốc đồi, đoạn cúi xuống, vốc từng nắm đá, ông ta ném liên tục, dữ dội vào hai con ngựa. Hai con vật cắm cổ chạy tràn theo triền dốc, giữa những bụi gai và đá rắn. Người đàn ông tiếp tục nhặt đá, ném, ném, ném không ngừng...

Mary nghe tiếng ngựa hí vang lên, phi nhanh xuống dốc, tung đất đá bốn phía và sau cùng mất dạng giữa làn hơi trắng xóa bao quanh.

*
Tiếng chó sủa càng lúc càng gần, càng hăng. Người đàn ông chạy lại bên Mary vừa chạy vừa cởi bỏ chiếc áo dòng và cái mũ, mắc vào một bụi cây. Giọng ông ta lạc đi:

- Nào! Lại đây! Dù cô xem tôi là thù hay bạn, chúng ta cùng chung mối nguy hiểm.

Ông vòng tay sau lưng cô gái và cả hai chạy lên dốc giữa những phiến đá, bụi gai. Đá lăn lông lốc, gai cào rách da, nhưng họ không dám dừng lại, dù chỉ dừng trong một giây để thở.

Tiếng chó xa dần, làm người đàn ông phấn khởi. Hình như đàn chó đã được cái áo ở bụi cây nên dừng lại, kẻ đào tẩu tin rằng có thể nhờ đó mà thoát được màn lưới giăng ra!

Áo quần, tóc tai hai người cùng xác xơ, rách nát, rối bù, hai tay Mary rớm máu. Càng lúc họ càng lên cao, trèo leo, đi, chạy, bò, lê, đủ cách...

Đến một lúc Mary ngã quị. Người đàn ông cúi xuống toan đỡ và kéo nàng lên nhưng Mary kiệt sức quá rồi. Tiếng chó sủa càng gấp làm cho người đàn ông bối rối. Ông ta quyết định rất nhanh: nếu kéo được cô gái theo cùng, cô sẽ là tấm bia đỡ đạn cho ông ta, là con tin để đánh đổi tự do... nhưng cũng lại vướng víu khó khăn thêm nhiều lắm. Bỏ Mary lại, đàn chó sẽ xông vào cô gái, ông ta thừa thì giờ tẩu thoát dễ dàng hơn.

- Vĩnh biệt Mary Yellan! Tôi rất tiếc! Khó mà tìm được một cô gái như cô!

Ông ta buông cô gái, hai tay bị trói, nàng không chống đỡ bám víu vào đâu được, nàng lăn tròn theo triền dốc như viên cuội bị ném từ trên xuống; gai nhọn, đá rắn thi nhau quất đập vào nàng. Mary lăn có năm vòng như thế rồi nàng được một phiến đá giữ lại.

Cô nằm ngửa, thở hổn hển, giương mắt nhìn lên: trên cao, gió thổi mái tóc trắng của người đàn ông bay phất phới, ông ta vẫn bám vào sườn núi đá như con nhái bám vào một gốc cây sù sì to lớn, cố trèo lên. Cô gái quên cả đau, nín thở nhìn người đàn ông chăm chắm khi ông ta bám nhằm vào những phiến đá phẳng lỳ, trơn tuột...

Hòa lẫn với tiếng chó, có cả tiếng reo hò của nhiều người, tiếng súng lên đạn nghe canh cách. Mary thôi nhìn lên, nàng hồi hộp quá.

Cô quay mặt xuống: đàn chó mầu hung đỏ nổi bật giữa mầu xám xịt của đá. Chúng chạy lăng quăng, kêu ăng ẳng một cách thích thú hí hửng. Chúng vây quanh tấm áo dòng. Nhiều chấm đen tiến lên giữa những bụi thạch thảo; và những tia sáng mặt trời rọi yếu ớt bên trên.

Mary tuyệt vọng: nàng bị trói tay, bịt miệng không thể kêu cứu, không thể chạy được. Đàn chó đang còn chia nhau những mảnh rách của tấm áo dòng, có con tinh khôn giằng một mảng, tong tả chạy xuống chắc để đưa cho chủ? nhưng khi chúng chán trò đó, chúng sẽ tìm nàng không mấy khó khăn. Nàng sẽ ra sao? Mary nhắm mắt lại không dám nghĩ thêm, mồ hôi tuôn như tắm.

Đoàn người vừa hò hét vừa chỉ trỏ lên mấy phiến đá trên cao. Chỉ chốc lát sương mù và mây tan biến, trời xanh lồ lộ. Cách Mary hơn 50 thước, một người quì gối thân hình lẫn trong đám cỏ dại, đưa súng lên nhắm bắn. Viên đạn rít lên một tiếng, xé toang không khí. Khi anh ta nhỏm dậy, Mary thấy anh rõ quá: chính Jean, nhưng nàng không thể nào cất tiếng kêu anh, mà anh thì không thấy Mary! Lần này, Jean hăm hở nạp đạn, nhắm bắn tiếp, viên đạn vèo sát tai Mary làm cô càng hoảng.

Đàn chó săn len lỏi giữa đám thạch thảo, một con nhảy lên phiến đá ngay sau lưng cô gái, đưa mõm đánh hơi. Nếu Jean quay lại thì tất chàng thấy Mary, nhưng anh đang theo dõi cái bóng dáng cao lớn trên kia: mái tóc tung bay, người đàn ông hung thần của nhiều tội ác vẫn lẩn lút trong bóng tối đã cùng đường. Hắn đứng sững, thật cao, thật rõ, nổi bật trên phiến đá to tựa như một bàn thờ, xung quanh không có gì cho hắn trốn nấp không có gì che chở hắn nữa, sau lưng là vực thẳm, hắn đứng như pho tượng, không có Mary làm bia chắn, không khí giới để phản công...

Jean bắn tiếp hai phát, một viên đạn ghim vào một chỗ nào trong người hắn, nhưng hắn vẫn đứng vững, hai tay giơ tới trước như con chim giang rộng cánh toan bay rồi đột ngột hắn ngã ra sau, rơi tòm xuống vực, lặng lẽ chóng vánh im lìm như chiếc lá rơi, không tiếng kêu, không tiếng động.

Mary rú lên, nhắm mắt lại vì hình ảnh kinh hoàng trước mắt, nhưng tiếng kêu nàng bị cái khăn bịt miệng ngăn lại không tới tai Jean. Đàn chó săn cũng không khám phá ra nàng, vì chúng cũng theo dõi cái bóng cao lớn, cái đích của họng súng chàng trai trẻ.

Mary ngất đi sau khi tiếng kêu không thoát ra khỏi cổ họng nàng.
__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG 13

CHƯƠNG 11_LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI


 CHƯƠNG 11 


Một tiếng động khẽ sau lưng làm Mary giật mình. Cha Davey bước vào:

- Cô đã khỏe chưa? Tôi có làm rộn cô không?

- Thưa cha không, con đang mong cha về.

- Thật ư? Thế thì tốt quá! Mary! Cô đã dùng bữa với tôi một lần, bây giờ lại ăn với tôi lần nữa, nhé?

Ông nói và tháo đồng hồ tay ra sửa lại theo đúng đồng hồ treo tường. Giọng ông đều đặn:

- Có điều, lần này tôi bận, nếu cô không mệt, tôi nhờ cô dọn bữa. Các thức ăn đã có sẵn cả, chỉ việc hâm nóng và bưng lên. Tôi phải viết vài lá thư...

Mary vội vàng thưa nàng rất vui mà làm việc đó.

- Vậy thì hẹn đến bảy giờ, nghe?

Mary xuống bếp. Cô thấy thoải mái đôi chút trong khung cảnh nhà bếp. Chỉ một nhoáng là xong việc chỉ còn chờ đến giờ là bưng mâm lên.

Nàng ngạc nhiên thấy khác lần trước: giấy tờ trên bàn ngổn ngang; trong lò sưởi nhiều giấy đang bốc cháy. Nàng hơi lúng túng vì có cảm tưởng mình đang bị quan sát:

- Mary Yellan! Cô hết tò mò rồi sao? Cô không hỏi tôi làm gì ngày nay?

- Thưa cha, con không dám xen vào việc riêng của cha. Con thật có lỗi. Cha đã đến lữ quán giữa khuya để cứu con và đem con về đây...

Davey khoát tay:

- Đừng nhắc đến chuyện đó. Đừng tưởng tôi làm vì cô. Trong đời tôi, tôi chưa hề làm bất cứ điều gì tốt cho ai mà không vì thấy có lợi cho tôi.

Mary sửng sốt. Nàng chưa từng nghe những lời lẽ như vậy ở miệng một bậc tu hành. Nhất là ở cha Davey, người mà nàng rất mực kính trọng, tin cẩn.

- Con ngựa xám bị mất móng, tôi phải cỡi con ngựa ô, con này chạy như sên đến Giao Mai lữ quán rồi đến North Hill. Ông Bassat mời tôi ăn trưa. Có trên 10 thực khách, người nào cũng tự do hò hét không kể gì ý kiến người khác. Tôi thật vui mà được đứng lên. Nhưng có điều ai cũng tin là kẻ sát nhân không còn khó tìm nữa đâu. Chắc cô vui...

- Thưa cha, còn... dì tôi?

- Đừng lo; dì cô và Joss đuợc chôn cất tử tế. Tên Harry hung bạo cũng bị tóm rồi, nhờ khéo tra hỏi, hắn thú nhận nhiều tội ác tày trời, nhất là tội ác mới nhất đêm Noel. Hắn còn khai vung cả lên để mong chạy tội.

Ông ngừng lại đưa táo mời Mary, nàng lắc đầu.

- Có điều đáng chú ý là hắn cho rằng Joss chỉ là một tên cầm đầu hữu danh vô thực, rằng chồng dì cô còn dưới quyền một kẻ bí mật nào đó, điều này làm cho câu chuyện thêm rắc rối. Cô có ý kiến gì về giả thuyết này? Tôi nhớ hình như cô có nói với tôi về điều này?

Mary vẫn lặng im. Davey tiếp:

- Chắc nhiều việc ghê gớm xảy ra làm cô quên... Cố nhớ lại xem, một lần cô kể cho tôi nghe có bước chân người bí mật rình và đợi cho thủ hạ Joss đi hết mới vào gặp Joss, đúng không nào?

Mary gật đầu. Davey nhìn thẳng vào mặt cô:

- Như thế, cô có nghĩ rằng tên sát nhân và kẻ ấy chỉ là một không? Đó là một kẻ thông minh, có cá tính mạnh mẽ, đủ uy lực để khuất phục một tên vũ phu hung bạo như Joss... Cô đã gặp một kẻ như thế tại Giao Mai chưa? (Mary lắc đầu.) Cô ăn ít thế?

- Thưa, con không thấy đói.

- Tiếc quá! Hannah sẽ tưởng cô chê pâté của bà ta làm. Quên, tôi đã kể cho cô nghe là tôi gặp bạn cô chưa, nhỉ?

Mary ngơ ngác:

- Thưa cha, con có quen ai ngoài cha đâu?

- Mary! Cô không thành thật với tôi đấy nhé! Hay cô quên mất bạn đồng hành trên đường đến Launceston hôm Noel? Em trai Joss Merlyn?

Mary bẽn lẽn:

- Thưa cha, từ hôm đó đến nay con không gặp anh ta lần nào cả. Con nghĩ là anh ta đã rời xứ này hay đang ở tù...

- Không đâu. Hắn vẫn tự do. Hắn có nhắn tôi "nói giúp Mary là tôi rất ái ngại cho nàng".

- Thưa, chỉ thế thôi ư?

- Cô còn muốn gì hơn? Vả lại, có ông Bassat trờ đến khi anh ta nói xong câu đó. Nếu không...

- Jean có mặt tại nhà ông tòa?

- Sao không? Anh ta có quyền đến chứ, anh ta là em nạn nhân mà, nhưng xem ra anh ta chả buồn chút gì...

- Thế, thưa cha, người ta có chất vấn ảnh không?

- Khỏi nói, thảo luận sôi nổi trọn ngày, nhưng Mary này! Jean khôn lắm, thông minh hơn Joss nhiều... À! Cô bảo là hắn chuyên trộm ngựa phải không? Có lẽ đó chỉ là một sinh kế tạm, nếu có cơ hội, anh ta sẽ khá hơn...

Mỗi lời của Davey làm cho Mary càng sốt ruột, nhưng cô không dám hỏi, cho đến sau, cô không kiên nhẫn nổi:

- Thưa cha, họ sẽ kết án anh ấy không?

- Kết án? Về tội gì? So với công lớn của Jean sau khi tố cáo anh ư? Tối nay, tôi thấy cô làm sao ấy. Mary!

- Thưa cha, trí óc con như mụ đi...

- Tôi cũng thấy thế, Mary ạ !

Mary mở to mắt: nàng thấy như Davey chế giễu mình, như ông đổi tính, như ông là người khác.

- Nghe rõ đây, Mary! Hôm áp lễ Giáng Sinh, bạn cô đã bị ông Bassat tóm cổ về tội gì cô biết rồi đó. Ông ta bảo Jean "Anh bị bắt quả tang trộm ngựa của ông tòa. Ngày mai anh sẽ ra trước vành móng ngựa và anh sẽ không thấy một cái đuôi ngựa nào nữa trong vòng 12 năm hay có thể hơn. Nhưng tôi có thể dung tha cho anh tức thì nếu anh cung cấp cho tôi bằng cớ tội ác của Joss Merlyn". Jean lắc đầu quầy quậy, thà chịu ở tù chứ không tố cáo anh. Ông tòa thong thả khuyến dụ: "Tôi không buộc anh làm gấp, để anh có thì giờ nghĩ kỹ mà!" . Rồi ông thả Jean ra, vì Jean hẹn để suy nghĩ lại. Đúng hẹn anh ta nói với ông tòa: "Tôi không giúp tay cho luật pháp, nếu muốn bắt ảnh, các ông tự tìm cách mà bắt". Ông Bassat bèn dí mẩu báo có tin đánh đắm tàu đêm Noel vào mắt Jean mà rằng: "Đọc đi Jean! Đọc kỹ đi coi có bao nhiêu nhân mạng chết vì anh Joss của anh"... Đoạn sau câu chuyện tôi không rõ lắm, vì lúc đó có nhiều người đến hỏi ông tòa đủ thứ. Nhưng đây là đoạn chót: Tinh sương hôm sau người ta thấy Jean có mặt trong buổi lễ sớm nhất và ra khỏi nhà thờ, anh ta đến thẳng ông tòa cùng với đủ bằng cớ buộc tội Merlyn.

Cha Davey đứng dậy, dẹp mâm ăn qua một bên rồi đến ngồi tựa vào ghế cạnh lò sưởi. Mary sững sờ vì những điều ông kể, toàn thân nàng bừng nóng, sinh lực nàng phục hồi, niềm tin và can đảm nàng lại đầy ắp: ra nàng đã kết tội oan ức cho người yêu! Kể từ khi gặp cô gái đến giờ, đây là lần đầu, ông thấy cô cười. Sự lo âu bị xóa tan trên khuôn mặt rạng rỡ. Ông rút đồng hồ ra xem giờ và lần thứ nhất, cô gái thấy ông có vẻ hối hả, khác thường:

- Thời gian qua mau quá, Mary! Tôi nghĩ là đã nói đủ về Jean. Bây giờ đến chuyện khác...

- Xin cha cho con hỏi một câu chót: Jean còn ở North Hill không?

- Còn. Và chính câu cuối cùng của bạn cô làm tôi phải vội vã về đây.

- Anh ta nói gì với cha?

- Không, hắn nói với tất cả mọi người: hắn sẽ đến thăm lão thợ làm móng ngựa...

Mary mở to mắt, ngạc nhiên, nàng không thấy câu chuyện móng ngựa ăn nhập gì đến tội ác của kẻ sát nhân. Davet vẫn điềm nhiên:

- Cô ngạc nhiên ư? Thế này này: Jean nhặt được cái móng ngựa trên đồng, sau lữ quán. Móng ngựa này còn mới, chứng tỏ sự làm việc cẩu thả của Tom Jory. Quen ăn trộm ngựa, Jean dễ dàng nhận ra các loại móng ngựa của những thợ trong vùng.

- Rồi sao, thưa cha? Mary nóng nảy hỏi.

- Hôm qua chúa nhật, cô biết rằng ngày chúa nhật không thợ nào chịu làm việc, trừ phi khách là một người khả kính. Mà người khách ấy, sau khi rời nhà gã đóng móng ngựa đã băng đồng hoang, theo ngã tắt đến lữ quán Giao Mai.

- Thưa cha, quả thật con chả hiểu được gì hết. Đầu óc con tối mù...

- Phải, cô làm sao hiểu nổi? Còn tôi thì khác, tôi biết người khách đó!

Lửa trong lò đỏ rực nhưng không khí như lạnh thêm. Mary xoa hai tay vào nhau:

- Tối nay, con thấy cha khác thường, bí mật quá đi. Con mong cha nói rõ kẻ ấy là ai...

- Tôi! Tôi đây! Mary Yellan! Chính tôi đã giết chủ lữ quán Giao Mai và giết cả dì cô, chính tôi điều khiển mọi hành động của Joss, hắn chỉ biết tuân lệnh tôi.

Suýt nữa thì Mary lùi lại hay chạy trốn. Nhưng cô bỗng bình tĩnh lạ lùng: can đảm và nghị lực được phục hồi chóng vánh sau khi biết Jean không phải kẻ sát nhân, sau khi biết Jean đã làm những gì nàng mong muốn như lời hứa, đã vượt mọi nguy hiểm vì nàng, Mary nghĩ rất mau: ta sẽ phải gặp khó khăn đây, nhưng không sao, có Chúa giúp ta, và còn Jean nữa. Anh ấy đang tìm đúng bằng cớ để buộc tội kẻ ác trước mặt ta. Kẻ ác mà lâu nay ta mù quáng tin tưởng vì tấm áo dòng khoác ngoài... cũng như bộ dạng ân cần, tử tế của ông ta. Còn ta thì luôn nghi ngờ, khinh miệt anh ấy...

- Mary! Mỗi tối, tôi ngồi đây, còn Joss ngồi trên cái ghế cô đang ngồi đó. Bản đồ Cornouailles trải trên bàn kia. Joss Merlyn, hung thần của vùng này, vân vê cái mũ trong tay, kính cẩn lặng yên nghe tôi ra lệnh. Hắn chỉ là con trò múa rối, kẻ giật giây chính là tôi. Một mình hắn thì hắn làm được gì? Hắn chỉ là một tên vũ phu, vô lại, khoác lác và... nát rượu. Nhưng hắn kiêu hãnh vì dưới quyền hắn có nhiều tên lưu manh khác mà hắn trực tiếp chỉ huy. Hắn chỉ dưới quyền một mình tôi và chỉ mình hắn biết điều này. Chúng tôi thành công nhiều lần lắm... Nhưng, Mary Yellan ơi! Cô là chướng ngại vật: chạm phải đôi mắt tò mò, lòng can đảm và sự khôn ngoan, lanh lợi của cô, tôi biết công việc của tôi sắp phải chấm dứt. Nói cho ngay, tôi rất khâm phục cô, cô đã dám một mình rình xem mọi việc, đã nghe tiếng bước chân tôi trong đêm, đã nhìn thấy sợi thừng... Cô cũng dám theo Joss trong đồng hoang khi hắn đến chỗ hẹn, bị lạc và gặp tôi. Cô và tôi, giữa hai ta nảy sinh một thứ tình bạn lạ kỳ, chính tôi cũng không hiểu nổi vì sao.

Mary tức đến nghẹn thở, cô la lên:

- Cha... ông đừng nói đến tình bạn... ông lạm dụng nhà Chúa để âm mưu đen tối, tội ông còn nặng hơn Joss Merlyn...

Davey cười lanh lảnh làm Mary ngừng lại, giọng cười của ông ta làm cho cô gái có cảm tưởng ông ta là một quỉ dữ đội lốt nhà tu và nay hiện nguyên hình, không cần che giấu nữa. Nàng lặng người như bị thôi miên khi thấy ông ra dứt tiếng cười...

- Tôi biết cô chỉ chờ có dịp là tố cáo tội ác của chúng tôi, tôi đã không cho cô có dịp đó: tôi ra lệnh cho Joss ngừng hoạt động để nghi ngờ trong lòng cô lắng dịu. Nhưng tên khốn đã trái lệnh tôi lần đầu hắn làm trái lệnh tôi! Rượu làm hắn mất trí, đêm Giáng Sinh hắn hành động rồ dại khiến cho cả nước xôn xao. Hắn không thể nào thoát khỏi luật pháp nữa và tôi biết rằng trước khi bị treo cổ, hắn sẽ không quên khai thủ lãnh của hắn ra. Tại sao tôi không trừ khử hắn ngay kẻo muộn? Tại sao hắn cãi lời tôi? Hắn đã tự rước vạ vào mình. Hắn chết là phải, cả dì cô nữa: dì cô là cái bóng của hắn...

Mary lạnh lùng:

- Cả tôi nữa nếu đêm đó tôi có mặt tại lữ quán, tôi cũng lãnh một dao như hai người...

Tiếng cười của kẻ đối diện cô gái lại lanh lảnh vang lên:

- Không! Nếu cô có ở lữ quán, tôi cũng không nỡ giết cô, không bao giờ.

Ông ta chồm đến bất ngờ, nắm chặt hai tay Mary, gằn giọng:

- Cô không chết đâu. Cô sẽ đến đây với tôi, cô sẽ theo tôi!

- Cha...

Mary quen miệng, song nàng ngừng lại ngay.

Davey buông hai tay cô gái , thấp giọng hơn:

- Đừng gọi tôi bằng tiếng Cha nữa, Mary! Cô đã biết. Tôi không phải nhà tu... Quả thật có một đức cha phó, cha Francis Davey khả kính ở đây. Cha quả thật là bậc thánh, một người đức độ từ khóe mắt đến tận gót chân. Tiếc một điều là ngài đã không chịu nghe lời tôi, một kẻ khắc ngài như nước với lửa, chỉ có một điều kỳ diệu là tôi với ngài giống nhau hơn cả đôi trẻ song sinh. Tôi dám cá rằng nếu mẹ tôi hay mẹ ngài có sống lại mà nhìn chúng tôi, họ cũng không tài nào nhận ra ai là con họ ! Trong đời tôi, tôi làm nhiều việc tàn bạo, song thú thật với cô: tôi chưa từng thấy hối hận là gì, trừ lần ấy khi tôi phải xuống tay hạ sát con người khả kính chỉ có mỗi cái tội là giống tôi, quá giống tôi! Mary! Cô có biết không? Cha đã nói thế này với tôi: "Xin Chúa tha tội cho con, con không biết con nhúng tay vào tội ác!" trước khi ngài tắt thở...

Giọng kẻ ác trầm lại, chìm xuống như giọng của kẻ từ cõi khác vọng về, làm cho cô gái lặng người. Tuy nhiên, cô chỉ thấy lao đao vì quá bất ngờ, chứ vốn quen với hiểm nguy, Mary lại vừa được tiếp sức sau khi biết Jean vô tội, nàng vẫn giữ bề ngoài bình tĩnh như thường. Chạm phải đôi mắt khinh bỉ của Mary, kẻ ác bỗng đột nhiên đổi giọng:

- Tại sao cha Davey lại từ chối đề nghị rất phải chăng của tôi? Tôi đã thề không đụng đến một sợi tóc của cha. Cha cứ làm phận sự của cha, tôi cứ làm phận sự của tôi. Cô Mary? Cô có thấy hai lằn song song của một thiết lộ chưa? Có bao giờ lằn này làm vướng bận, cản trở lằn kia đâu? Ấy thế mà cha khăng khăng chọn cái chết hơn là để cho tôi lâu lâu được mượn cái bề ngoài của cha mà tự do đi lại, hành động. Thế là cha tự kết án cha rồi!...

- Thôi! Ông đừng nói nữa, tôi tởm phải nghe ông, phải đối diện với ông. Ông giết tôi đi! Thà tôi chết còn hơn biết thêm gì nữa về ông. Cũng đừng hòng tôi theo ông như ông vừa nói...

- Mary, cô còn trẻ lắm, cô có một vẻ duyên dáng đáng yêu, cô lại can đảm khác những cô gái tôi từng gặp. Tôi thật không nỡ... Vả lại theo tôi kinh nghiệm, thời gian sẽ làm phôi pha, làm dịu hết mọi thứ. Và rồi, sống cạnh tôi, cô sẽ thấy tôi cũng có nhiều điểm khá, có thể hợp với cô. Tình bạn giữa chúng ta sẽ thắm thiết...

- Tình bạn? Mary đứng bật lên, gằn giọng đó là một sự lừa dối nhục nhã, ông dám mở miệng nói đến những lời như thế trong lúc tay ông còn dính máu người vô tội. Với tôi, ngay cả Joss Merlyn cũng còn khá hơn ông: ông ta luôn luôn bị ám ảnh vì tội ác, còn biết sợ hãi. Chứ với ông... ông nấp sau dấu thánh giá, ông khoác áo nhà tu...

- Sự giận dữ làm cho cô xinh đẹp! Hãy gạt tôn giáo ra ngoài. Tôi cho cô hay, mẹ tôi vốn là một con chiên mộ đạo. Rồi một ngày kia, cô sẽ hiểu tôi, gấp quá rồi; tôi không có thì giờ giải thích. Cô sẵn sàng chưa? Áo khoác của cô đâu? Ta lên đường kẻo muộn! Can đảm cô đâu? Óc phiêu lưu của cô đâu? Đã đến lúc dùng đó, Mary!

Mary lùi lại, đưa mắt tìm lối thoát nhưng vô ích, người đàn ông chỉ khẽ nhoài đến là nắm chặt tay cô:

- Mary! Không còn ai ngoài tôi và cô ở nhà này. Hannah về tận dưới làng. Tôi không muốn hại cô, nhưng nếu cô không tuân lời tôi, bắt buộc tôi phải dùng sức mạnh. Dù cô coi tôi là thù hay bạn, cô vẫn phải theo tôi như cái bóng, kể từ nay.

Ông ta liếc nhìn đồng hồ, cố che giấu sự nôn nả, nhưng ánh mắt và đôi môi mím chặt của ông ta chứng tỏ ông ta rất sốt ruột. Mary ngầm tính đoạn đường mà Jean phải vượt qua để đến gặp tên đóng móng ngựa ở Warleggan: cỡ 12 dặm! Nếu nàng cứ vờ thuận theo ông ta, nàng có thể làm chậm cuộc hành trình. Bằng ngược lại, số phận nàng khác chi số phận Joss và người dì vô tội? Không, Mary hiện không muốn chết. Nàng yêu đời lắm.

Mary mỉm cười một cách khó hiểu:

- Tôi theo ông ! Nhưng rồi ông sẽ phải hối, sau này!

Mary theo người đàn ông ra chuồng ngựa, yên cương đã sẵn sàng. Nàng tưởng như tiếng vó ngựa của Jean đuổi theo đâu đó... và nàng phấn khởi, tin tưởng thêm lên. Kẻ mạo nhận nhà tu lên tiếng:

- Chỉ mình cô cũng vướng lắm rồi. Vì vậy, ta không dùng xe ngựa. Cô biết cỡi ngựa, tôi sẽ giữ cương. Thôi, ta đi! Vĩnh biệt Altarnun trong bóng tối!

Mary không nói một lời.
_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG 12

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

CHƯƠNG 10_LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI


 CHƯƠNG 10



Mary rụt rè bấm chuông. Chó sủa dữ dội, rồi tiếng chân lạo xạo trên sỏi và cổng hé mở; một gã đàn ông lực lưỡng quát chó im đoạn nhìn sững Mary. Nàng nói mau:

- Tôi cần gặp ông Bassat có việc gấp. Việc quan trọng nên tôi mới làm phiền vào giờ này.

- Chủ tôi đi Launceston sáng nay có chuyện gấp, chưa về.

- Trời ơi! Nếu tôi không gặp ông ấy thì tên sát nhân sẽ trốn mất. Tôi cầu cứu ai bây giờ? Bác có thể giúp tôi chăng? Van bác...

- Có bà ở nhà. Tôi đưa cô vô gặp bà nghe? Đừng sợ chó, không sao.

Mary đi theo người đàn ông như đi trong mơ. Nàng bất lực, gặp rủi, không hoàn thành ý định được.

Phòng đọc sách của bà Bassat ấm cúng và rộng rãi. Nàng nhận ra người thiếu phụ mua ngựa đang đọc sách cho hai con nghe, bà ngồi trong ghế bành trước lò sưởi.

Kinh ngạc nhìn Mary, bà không thốt một lời nào. Gã đàn ông nhanh nhẩu:

- Cô này có tin quan trọng báo ông. Tôi đưa cô vào gặp bà.

Mary bình tĩnh lại:

- Tôi xin được nói chuyện riêng với bà.

Bà Bassat quay sang hai con nói nhỏ vài câu và đứa mắt cho tên người nhà. Cả ba cùng lui ra. Giọng bà nhẹ nhàng:

- Nào! Tôi có thể giúp chi cô? Nom cô xanh và mệt quá... Cô hãy ngồi kia...

- Xin bà cho biết ông về lúc nào?

- Tôi cũng chả biết được điều này. Tôi đang lo đây: nếu tên sát nhân chống cự, tôi e nhà tôi bị thương dù là có lính theo...

- Thưa bà, bà nói thế nghĩa là sao? Mary hốt hoảng hỏi dồn.

- Nhà tôi đến lữ quán Giao Mai. Cô là người lạ, cô không biết chuyện này. Tên Joss Merlyn phạm nhiều tội ác nhưng đến nay mới có bằng cớ rõ ràng, nhà tôi theo dõi từ lâu. Nhà tôi đến Launceston xin thêm lính...

Bỗng, bà tái mặt, lùi lại, kêu lên giọng thất thanh:

- Hình như... thôi, phải rồi: nhà tôi có nói đến một người con gái, cháu Joss, có phải chính cô không? Cô muốn gì?

Khuôn mặt Mary trắng bệch cũng như bà chủ nhà:

- Xin bà yên tâm, quả thật tôi là cháu vợ của Joss... tôi cũng ghét và sợ ông ta như mọi người. Tôi đến đây để báo tin cho ông Bassat biết Joss định trốn đi chiều nay. Tôi có bằng cớ buộc tội ông ấy... nhưng tôi thật vô ích...

Mary ngồi xuống, chán nản, thờ thẫn; nàng e là Joss khám phá ra sự vắng mặt của nàng, sẽ đi trước giờ dự định. Thế là hỏng. Đáng ra, nàng cứ ở yên...

Hai tay bưng mặt, Mary nói gần như không ra tiếng:

- Tôi đã làm một việc điên rồ...

Bà Bassat đến gần cô gái, đặt tay lên vai nàng:

- Cô có vẻ lương thiện và thành thực. Xin lỗi, thoạt đầu tôi đã ngờ oan cô. Cô can đảm lắm, đêm hôm thế này mà cô chịu khó đến đây, nếu là tôi chắc tôi điên lên vì sợ. Tôi sẵn sàng giúp cô, nhưng cô cần gì đây?

- Thưa bà, chắc ông nhà sẽ nổi giận vì tôi ngu dại bỏ đi đến đây làm cho chủ quán đoán biết, trốn đi sớm hơn, hỏng việc của ông...

- Không sao, cô đừng lo, tôi sẽ nói giúp cô.

- Thưa bà, làm sao ông biết được việc này bất ngờ như vậy?

- Tôi không rõ lắm. Sáng nay có người đến tìm nhà tôi, ông chỉ nói sơ qua với tôi. Thôi, cô đừng bận tâm, quên nó đi. Cô đói lắm phải không?

Bà đến giật chuông, người đàn ông ban nãy thò mặt vào và bà chủ dặn anh ta dọn bữa cho Mary.

Cô cố ngồi ăn, nhưng đầu óc quay cuồng. Bà Bassat muốn nàng quên nỗi lo lắng, không ngớt nói chuyện, bà không ngờ càng làm cô gái bứt rứt thêm. Khi đồng hồ gõ 8 tiếng, Mary không kiên nhẫn nữa. Ngồi yên lúc này với nàng còn khổ sở hơn bị rượt đuổi, nàng nhớ đến nguy hiểm đang chờ dì ở Giao Mai. Mary đứng lên:

- Thưa bà, tôi cảm ơn lòng tốt của bà, nhưng tôi không thể ngồi đợi được. Tôi lo cho dì tôi quá...Tôi muốn trở lại lữ quán...

- Tôi cũng hiểu vậy. Tôi muốn giúp cô quên chuyện này trong giây lát. Tôi cũng lo cho nhà tôi quá. Cô trở lại đó một mình sao được?

Bà nhìn Mary vẻ thương cảm rồi lại nói:

- Hay là tôi bảo Richards đánh xe đưa cô đi? Anh ta khôn lắm. Nếu đến chân đồi mà thấy trên đó đang đánh nhau thì đừng lên, phải chờ cho yên đã. Tôi cũng muốn đi với cô, nhưng sức khỏe tôi kém lắm.

- Vâng! Cảm ơn bà. Tôi đi được, thế thì tốt quá. Tôi không sợ gì cả, nếu một mình, tôi cũng phải đi...

Bà chủ rung chuông gọi gia nhân:

- Bảo Richards đem xe ra, nhanh lên!

Đoạn, bà lấy cho cô gái một cái áo choàng dày cộm và cái chăn. Bà không ngớt nói lấy làm tiếc không cùng đi với Mary được. Trái lại, cô gái rất mừng mà thấy bà không đi, nàng sợ có bà, cuộc hành trình sẽ bị chậm trễ. Richards, tên gia nhân từng đến lữ quán một lần trước đây ban đầu nom có vẻ bực bội, nhưng khi nghe rõ nhiệm vụ, lấy làm hài lòng. Với hai khẩu súng lục kèm hai bên hông, anh ta được lệnh bắn vào kẻ nào cản trở hay đe dọa hai người. Nom anh ta có vẻ oai vệ hơn bao giờ.

Mary leo ngồi cạnh anh. Bầy chó sủa vang lên như từ biệt họ. Mary bằng lòng và tỉnh táo trở lại.

Song khi xe ra khỏi cổng, căn nhà khuất dạng nàng mới cảm thấy nàng đã liều lĩnh mà trở lại Giao Mai; nàng đi vắng 5 giờ liền, cái gì đã xảy ra? Tuy nhiên, cô không hối về quyết định này, cô cũng không tính toán gì cả, sẽ tùy cơ ứng biến.

Trăng lên cao, gió tạt vào mặt lạnh buốt. Biết rằng mình lao vào hiểm nguy, Mary vẫn dễ chịu hơn ngồi trong căn nhà ấm cúng chịu chuyện bà Bassat. Richards có mang vũ khí, nàng cũng biết sử dụng khi cần. Mỗi khi anh ta gợi chuyện, nàng chỉ trả lời vắn tắt. Tâm trí nàng đang gởi ở Giao Mai: nơi dì nàng đang lâm nguy.

Suốt cuộc hành trình, vó ngựa vang đều đặn. Trăng chiếu sáng khiến con đường ngoằn ngoèo như một dải băng trắng trong đêm, hai bên đồng hoang vắng lặng.

Rồi quanh họ càng hoang vu, trống trải khi xe lên dốc. Gió lạnh như cắt, mang theo mùi sình lầy và cỏ dại trong gió. Không một dấu vết gì chứng tỏ có xe hay người trừ xe chở Mary và Richards. Có tiếng cú rúc đâu đó vàng tăng vẻ rùng rợn, bí mật. Richards cất tiếng xé tan yên lặng:

- Chúng ta sẽ gặp họ tại lữ quán. Cô sẽ thấy chủ quán bị trói chặt hai tay đang nguyền rủa chủ tôi. Thế nào dân chúng quanh đây cũng mở đại tiệc ăn mừng. Được tự tay trói Joss chắc chủ tôi thích lắm.

- Nhưng nếu lão thoát được thì sao? Lão thạo đồng hoang như lão biết bàn tay có mấy ngón... Tôi lo quá...

- Chủ tôi cũng sinh trưởng tại đây. Nếu có một cuộc săn đuổi trên đồng, tôi cá là chủ tôi sẽ thắng. Gần 50 năm, ông săn bắn trong vùng, một con chồn cũng khó thoát khi ông muốn bắt. Nhưng cô đừng lo: tôi tin là con mồi sẽ bị thộp tại hang. Ông trời có mắt.

Mary im lặng nghe Richards nói, tiếng nói anh ta không làm nàng chán và mệt như những mẩu chuyện của bà Bassat. Cái lưng rộng và khuôn mặt lương thiện của anh giúp nàng vững dạ.

Xe đang ở dưới chân dốc dẫn đến lữ quán Giao Mai. Trên đỉnh đồi, các ống khói đen xuất hiện. Richards đưa tay sờ vào súng và dặng hắng. Tim cô gái đập loạn trong ngực, cô nắm chắc thành xe. Vó ngựa mới to làm sao. Richards bảo:

- Cô ngồi yên đây, để tôi lên xem họ đến chưa?

- Không được. Anh không biết bằng tôi. Anh theo sau tôi hay đợi, có gì tôi sẽ kêu anh. Im lặng kiểu này, tôi e là ông Bassat chưa dẫn lính đến và chủ quán trốn rồi. Nếu không, lão còn trong nhà. Cho tôi mượn khẩu súng. Tôi không sợ gì đâu...

- Nếu cô chạm mặt lão và tôi không nghe được tiếng cô kêu lên thì sao? Richards nói Lạ quá, đáng ra phải có tiếng reo hò, tiếng súng nổ mới phải. Ta nên chờ...

- Tôi sốt ruột quá rồi. Muốn điên lên. Thà chạm mặt với kẻ ác, hơn là chờ đợi. Tội nghiệp dì tôi, bà vô tội, anh Richards ạ!

Ngừng lại thở, rồi Mary tiếp:

- Anh hãy tin tôi, tôi quen với hiểm nguy rồi. Có gì tôi sẽ bắn lên một phát cho anh hay. Tôi không chui đầu vào bẫy. Không nên vô một lượt cả hai...

Nàng cầm lấy khẩu súng trong khi Richards còn do dự.

*
Mary hy vọng là Joss đã trốn rồi, như vậy câu chuyện chấm dứt êm thắm. Vùng này sẽ tránh được sự phiền nhiễu do lão gây ra. Lão sẽ làm lại cuộc đời (!) hay say sưa cho tới chết. Lúc này, Mary không mong lão bị bắt nữa. Trả thù làm gì? Nàng đã tỏ ra mạnh dạn trước Richards nhưng bây giờ nàng cũng lo phải chạm mặt Joss. Mary cảm thấy lạnh xương sống khi nghĩ đến lão hiện ra, mắt đỏ ngầu...

Ngừng lại trước sân, Mary nhìn nhớn nhác xung quanh và khi thấy ngay sau nàng có Richards và cỗ xe, nàng vững lòng bước tới.

Sân trống rỗng, chuồng ngựa đóng kín. Lữ quán im lìm, tối om như cách đây 7 tiếng đồng hồ, khi nàng ra đi. Không có vết bánh xe cũng như dấu vết hành lý. Cửa sổ phòng nàng vẫn y nguyên. Mary đợi một lúc, có tiếng ngựa hí và dậm chân trong chuồng. A! Ra họ chưa đi?

Tim Mary như thắt lại, nàng không biết nên quay lui với Richards đợi lính và ông Bassat đến, hay cứ vào? Lạ quá: nếu định đi, lão đã đi rồi mới phải chớ? Tình cảnh trở nên lạ lùng, khó hiểu.

Mary núp ở cổng, nghe ngóng, rồi đánh bạo vặn quả nắm, cửa khóa chặt. Nàng vòng ngả sau, ngang quầy rượu rồi đến bếp. Đứng bên cửa sổ, Mary dán mắt vào nhưng không một tia sáng chiếu ra. Bếp tối om như đáy giếng sâu. Thử vặn qua nắm, Mary kinh ngạc thấy cửa không khóa.

Mary rợn người, toan lùi lại: nếu Joss ngồi trên ghế, hờm sẵn súng chờ nàng? Ừ! Nàng có súng đấy, song quả tình, Mary không tin tưởng tài sử dụng súng của mình. Nhưng Mary không lùi được nữa, thà chạm mặt cái chết hơn là bị dí súng sau lưng. Mary chậm rãi thận trọng thò đầu vào.

Không một tiếng động, tro tàn gần hết trong lò sưởi. Mary đoán là không có ai trong bếp từ nhiều giờ qua, mạnh dạn đẩy cửa bước vô.

Mắt quen dần với bóng tối, Mary nhận rõ hình dạng mọi vật bên trong. Trên bàn có mẩu nến, nàng dí vào lò sưởi đốt lên, soi quanh. Hành lý la liệt: quần áo của dì nàng, xoong chảo, nồi niêu...Mấy cái chăn dạ bừa bãi, chưa cuốn gọn.

Trong góc, khẩu súng trường còn treo chỗ cũ. Chắc họ đổi ý: nán lại thêm một ngày nữa? Cửa hành lang mở toang, im lặng đầy đe dọa. Có gì thay đổi, Mary cảm mà không nhớ rõ. Nàng đứng im, cố trấn an và hồi tưởng lại. Và chỉ một phút sau Mary hiểu ngay sự khác thường đó: không có tiếng tích tắc đều đặn của cái đồng hồ!

Mary bước ra hành lang, tay cầm đèn, tay kia khư khư khẩu súng. Đến cửa phòng khách, Mary thấy cái đồng hồ treo đối diện cửa phòng khách rơi xuống từ hồi nào, úp mặt kính vỡ xuống đất và mảnh vỡ văng tung tóe.

Và rồi, Mary suýt ngất đi: Joss Merlyn, chính lão, mặt úp xuống giữa mảnh vỡ, hai tay giơ cao, một tay bám cái đồng hồ, hai chân duỗi thẳng, nom Joss to lớn dị thường.

Trên nền nhà vết máu loang lổ, giữa hai vai chủ quán cũng có vết máu đen và khô, chỗ bị đâm. Joss bị đâm lén sau lưng, trước khi ngã gục đã chồm đến, kéo theo cái đồng hồ?

Ông chết cứng rồi!

Mary đứng sững không biết là bao lâu. Tất cả oán ghét thù hận trong lòng nàng tiêu tan.

Mắt nàng vẫn dán chặt vào xác chết bất động và những mảnh kính vỡ đẫm máu.

Ánh đèn chiếu yếu ớt trên vách, trên lầu vẫn tối om. Mary không thể nào bước thêm một bước. Không khí trong lữ quán hôm nay đã thật sự nhuộm mùi máu, lạnh lẽo rợn người. Nàng cố gắng để không thét lên hay chạy trốn.

Mary rùng mình, tưởng sắp ngã khụy, nàng cố gắng để không buông rơi đèn, cho bóng tối vây phủ quanh nàng. Hai chân như bị chôn chặt xuống đất. Gió lung linh ngọn nến trên tay...

Sau cùng, Mary nghĩ: Joss đã chết, đâu hại mình được mà sợ nữa? Nhưng nàng vẫn chạy biến như ma đuổi sau lưng...

*
Mary chạy như điên, miệng ú ớ không ra lời. Richards đưa hai tay đón nàng. Mary nắm tay anh như tìm sự che chở, răng va nhau cầm cập, toàn thân run rẩy. Một lát sau, nàng hổn hển nói đứt quãng:

- Joss chết rồi! Chết... thật rồi, tôi thấy ổng nằm dài dưới đất... Bị đâm sau lưng... máu loang khắp... Có lẽ chết lâu rồi... Tối om trong đó... Không còn ai hết...

Người đàn ông tỉnh táo hơn:

- Còn dì cô đâu?

- Tôi không thấy dì tôi... Hãi quá, tôi e là...

Richards dịu dàng đỡ cô gái lên xe và ngồi cạnh nàng:

- Lỗi tại tôi, đã xiêu lòng để cô vô một mình. Bình tĩnh lại đi! Nào! Cô Mary !

Mary trấn tĩnh rất nhanh, cô bảo anh ta:

- Ngựa còn trong chuồng. Hành lý vẫn ngổn ngang...

- Lạ thật, sao ông Bassat chưa đến?

Cả hai đều mong ông đến. Richards thắc mắc:

- Ai giết lão kìa? Trong vùng, ai cũng ghét lão, nhưng giết lão thì...

Sau đó, anh im lặng. Cả hai đều không dám lên tiếng trước, Richards vì tế nhị, còn Mary thì vì... sợ. Nhưng sau cùng nàng lên tiếng:

- Chắc dì tôi cũng chết rồi.

- Không đâu. Có thể bà trốn đi cầu cứu cũng nên...

- Không. Tôi biết dì tôi, bà không bao giờ tố cáo chồng. Trời ơi, nếu tôi đừng đi tố cáo ông ta, có lẽ dì tôi sống được...

Richards không biết dùng lời gì an ủi cô gái. Anh chỉ mong chủ đến, trong lúc chờ đợi, anh khoác áo choàng vào cho Mary, âu yếm như đối với một đứa em nhỏ.

Bỗng Mary kêu lên:

- Anh nghe kìa! Có vó ngựa.

Richards lắng tai và reo lên:

- Đúng rồi, chủ tôi đến.

Một phút sau, người kỵ mã đầu tiên hiện ra như một chấm đen trên con đường trắng, rồi người nữa và nhiều người nữa. Tiếng động to dần. Richards chạy bay về phía họ, la ầm ỹ, tay vẫy lia lịa.

Ông Bassat người kỵ mã đầu tiên kinh ngạc kêu lên:

- Richards! Làm gì đây?

- Thưa, Joss Merlyn chết rồi, lão bị ám sát. Bà sai tôi tới đây, cùng cô bé cháu vợ lão...

Vừa giữ ngựa cho chủ xuống, anh ta vừa kể lại câu chuyện. Ông Bassat nói:

- Hắn chết không đáng tiếc. Ta chỉ tiếc không được chính tay ta còng hắn lại thôi. Nào, các anh vào trước, ta cần hỏi chuyện cô bé này!

Ông kinh ngạc khi biết Mary vượt ngần ấy đoạn đường đến báo tin cho ông, nhưng ông cũng nghiêm nghị trách nàng:

- Tại sao khi tôi đến, cô lại nói dối tôi? Bảo không biết gì cả? Tôi ngờ là cô đồng lõa với quân gian...

- Tôi vì dì tôi. Vả lại, lúc đó tôi cũng chưa biết gì nhiều bằng bây giờ.

Ông tòa nhìn cô gái từ đầu chí chân, giọng ông dịu xuống:

- Dù sao, cô rất đáng khen. Nhưng cô kiệt sức rồi, hãy ngồi trên xe mà nghỉ chân!

Rồi ông gọi Richards lại dìu Mary lên xe.

*
Sân chìm trong bóng tối, giờ sáng rực, tiếng ngựa hí, tiếng người nói chuyện vang lên. Trong một chốc, các cửa nẻo mở toang. Rồi có tiếng người nói to:

- Còn một xác chết trên lầu nữa !

Mary tái mét, nhắm nghiền mắt. Giọng ông Bassat vọng lên bên tai:

- Có tin buồn cho cô ! Mary ! Nhưng tôi tin là dì cô không phải đau đớn: bà chết liền tại cửa phòng, bà cũng bị đâm như Joss. Tôi xin chia buồn cùng cô.

Mary mở bừng mắt. Ông Bassat đứng cạnh nàng, buồn rầu nhắc đi nhắc lại rằng dì nàng chết ngay không phải đau đớn...

Mary ngồi im, nàng cầu nguyện cho dì tìm được sự giải thoát bình yên, nàng xin dì tha thứ cho nàng, cho hành động nàng, hiểu lòng nàng. Nàng mong mẹ nàng đón lấy dì. Những ý nghĩ ấy an ủi Mary chút đỉnh, vì cô gái vẫn cho là dì nàng chết vì mình.

Rồi nàng nhớ lời Jean: "Tôi chưa hề giết người" và lời bà thầy bói : "Tay anh sắp đẫm máu. Anh sẽ giết người". Những điều này, tuy rời rạc nhưng đều như tố cáo Jean, có thể lắm, vốn ghét anh sẵn, Jean dám phạm tội sát nhân...

Tởm quá! Trời ơi! Giá nàng đừng đi! Nàng sẽ chết luôn. Nàng chả hối tiếc gì. Tởm quá! Người nàng yêu...

Hừ! Bây giò nàng chỉ khẽ nói với ông Bassat: "Tôi biết kẻ giết người!" và đưa ông cùng đoàn tùy tùng đến nhà Jean... Dễ quá, nhưng tại sao nàng do dự?

Bỗng có tiếng vó ngựa thật gấp rồi đều đặn, hòa hưỡn trước quán. Cũng như mọi người, Mary hồi hộp, chờ đợi.

Ông Bassat bước ra khi người kỵ sĩ ngừng lại:

- Nhân danh đức vua, tôi hỏi anh làm gì trong đêm tối trên con đường này?

Người kia kéo cương ngựa, bước vào. Khi ông cúi xuống, Mary thấy mớ tóc trắng toát quen thuộc và giọng ông dịu dàng, chậm rãi như thường lệ:

- Ông là ông Bassat ở North Hill? Mary Hellan đến cầu cứu với tôi, nhưng tôi đến quá trễ... tôi là cha phó xứ Altarnun.

*
Mary ngồi lặng trong phòng ăn nhà cha xứ. Mọi người quá tốt với nàng, nhất là ông Bassat, ông vỗ về nàng như dỗ đứa trẻ con:

- Cô hãy quên mọi sự. Không bao lâu kẻ giết dì cô sẽ đền tội. Và khi nào cô khuây khỏa, muốn đi đâu, làm gì, tôi sẽ giúp cô được như ý. Cô đã làm hết sức cô, không có gì đáng trách.

Mary không nghe gì, không thấy gì mà cũng không thiết gì. Cô không tự quyết định gì. Khi cha Davey đề nghị để đưa nàng về nhà ông, thì ai cũng hài lòng.

Nếu Mary là đàn ông, mọi sự chắc khác hẳn. Người ta buộc cô đến Bodmin hay Launceston để ra tòa. Nàng sẽ lo lấy chỗ ở nơi ăn và khi xong mọi thủ tục cần thiết, cô sẽ cút xéo đi đâu tùy ý, không ai quan tâm đến.

Nhưng tối qua, người ta vội vã đưa cô ra khỏi lữ quán, nơi xảy ra án mạng. Lại đối xử hết sức tử tế, dịu dàng. Và mọi người cho là cô đến nhà cha phó thật đúng thật phải, không có cách nào hơn.

Một giờ đêm, cha phó đưa Mary về đến nhà. Cha gọi bà giúp việc đậy, dọn giường cho cô gái. Bà đốt lửa, trải giường, hơ ấm áo ngủ cho Mary. Nàng sắp thiếp ngủ thì một giọng êm ái và cương quyết nâng đầu nâng lên:

- Hãy uống cái này, Mary!

Cha Francis đứng trên đầu giường, tay bưng ly nước, nhìn nàng bằng đôi mắt thủy tinh, không biểu lộ gì hết, ra lệnh.

Mary lặng lẽ vâng lời. Nhờ chất thuốc an thần trong ly, Mary ngủ một giấc liền 14 tiếng đồng hồ.

Mary không biết gì những diễn tiến trong khi nàng ngủ.

Khi nàng tỉnh dậy, cha Francis vắng mặt. Mary lại nghĩ đến tội ác của Jean, lại đau đớn vì cái chết của dì. Nàng đi ra, đi vào nóng nảy, nôn nao, chỉ mong cha phó trở về. Nàng sẽ kể hết, kể hết. Jean sẽ bị treo cổ đền tội như anh. Nàng sẽ trở về Helford, nhưng lòng tan nát, can đảm tiêu tan...

Mary biết mình không thể yêu ai khác nữa, ngoài Jean. Định mệnh tàn khốc quá!
_________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG 11

CHƯƠNG 9_LỮ QUÁN GIẾT NGƯỜI


 CHƯƠNG 9 


Mary cố nhớ lại xem mình đang ở đâu. Xe ngừng chạy, mưa thôi bay vào mặt nàng từ bao giờ? Nàng rên rỉ, quay nhìn hai bên: ra nàng đang nằm trong phòng, ở lữ quán. Nàng chán nản, không còn thiết sống. Nàng qua nhiều thử thách, nhưng chưa bao giờ xúc động đến mức này. Sức mạnh tinh thần và thể xác nàng như bị đập tan nát. Cô khóc rưng rức... 

Bỗng dì cô hiện ra, đôi mắt buồn lo khổ sở. Hai người ôm nhau khóc lặng. Mary hỏi dì:

- Dì biết chuyện gì không?

Mắt dì nàng như van xin khẩn thiết nàng đừng hỏi.

- Cháu nằm mê hai ngày nay. Mình mẩy cháu đầy máu, dì tắm rửa cho cháu nhưng cháu không biết gì cả. Cảm ơn Chúa, cháu chỉ bị trầy trụa thôi. Giấc ngủ dài quá, nhưng nhờ nó, cháu lại sức...

- Dì biết ai hành cháu tới mức này không?

Đau khổ làm Mary trở thành lạnh lùng độc ác: Mặc dì nàng van vỉ, nàng kể lại đầu đuôi câu chuyện cho đến lúc nàng thấy dì nàng tái mét, run rẩy, nàng chợt hối, im bặt. Nàng đứng lên, thay quần áo. Dì nàng hốt hoảng:

- Cháu tính đi đâu? Chú đang ngồi dưới nhà. Ông không để cháu ra khỏi cửa đâu.

- Cháu cóc sợ chú Joss. Cháu không sợ gì nữa.

- Mary! Dì van cháu! Chú ngồi dưới nhà, lăm lăm khẩu súng, cửa nẻo khóa hết. Rủi chú đánh cháu hay bắn cháu thì sao? Dì van cháu! Đừng.

Dì nàng quì xuống sàn nhà, nắm tay cháu hôn và khóc lặng, mặt dì ướt đẫm.

- Dì ơi! Vì thương dì, cháu chịu đựng đến mức này. Quá sức cháu rồi. Đừng hòng cứu chú ấy bằng nước mắt của dì. Cho đến lúc cháu chết, cháu không quên cảnh tượng trên bãi bể...

Giọng Mary càng lúc càng to lên, dì cô không ngớt van vỉ nhưng vô ích. Nàng không còn nghe dì nữa. Bỗng cửa phòng sịch mở. Joss thò mặt vào, vết thương ở mắt còn đỏ, áo quần bẩn thỉu, rách nát, bộ dạng bơ phờ :

- Mấy người có nghe gì không?

Dì Patience lắc đầu, Mary thì im lặng. Joss nhìn lơ láo ra ngoài, sợ hãi:

- Rồi ổng sẽ đến! Ta đã trái lệnh ổng. Chắc ta phải chết, cả mụ và mày nữa, Mary! Chết đến nơi rồi!

Lão ngừng lại nuốt nước bọt:

- Sao mấy người không ngăn tôi uống rượu? Sao không đập bể hết rượu đi? Sao không nhốt tôi lại? Trễ quá rồi ! Ổng sẽ giết hết cho coi!

- Chú nói gì? Chú sợ ai vậy?

Mary có cảm tưởng như Joss dưới quyền một kẻ nào nữa, nàng tò mò hỏi. Joss lắc đầu vênh mặt lên:

- Đừng hòng ta lộ bí mật này. Ta chưa say đâu. Cô, dì cháu cô đều kẹt dính vô đây. Chúng ta cùng số phận: một bên là pháp luật và bên kia, nhưng luật pháp không đáng sợ bằng...

Lão dừng lại bất ngờ:

- Thôi ta không ngu mà khai cho mi biết thêm, hãy đi ra, đây ẩm quá!

Lão lôi dì cháu nàng tuồn tuột xuống bếp. Lão ngồi bệt xuống ghế, châm lửa hút thuốc:

- Phải tìm kế thoát thân. Hai ngày nay, ta như chuột nằm trong bẫy. Chán quá! Mary cô vui dữ há? Đừng tưởng cô vô tội! Cô cũng sẽ bị treo cổ như ta và dì...

Dì Patience khe khẽ sờ vai chồng, thều thào:

- Tại sao ta không đi trốn? Đi Lauceston, Devon... Ta có thể đi suốt đêm về...

- Ngu! Đi bây giờ cho chúng tóm cổ hả? Mọi người đều biết chuyện đêm Noel hết... Cứ ở đây, không có bằng cớ gì để kết tội ta... Có thể chiều mai sẽ đi... ừ, có thể.

*
Mary không ăn uống, nàng lên phòng đóng cửa sớm, định sẽ trốn đi báo tin cho cha Davey. Nàng không đi được vì cửa phòng khóa ngoài, vả, Joss biết thì nguy lắm.

Trước chiều mai thế nào nàng cũng phải đến Altarnun. Nàng sẽ hết trách nhiệm. Có người khác lo. Dì nàng sẽ khổ tâm, nhưng biết làm sao? Mary mong cho công lý được thi hành đứng đắn. Kẻ ác phải đền tội.

Nàng thích thú khi nghĩ đến lúc Joss bị còng tay dẫn đi...

Mary thiếp ngủ trong lúc mưa giông ồ ạt bên ngoài.

Một lúc sau, nàng tỉnh giấc, trời ngừng mưa, ngớt gió. Bỗng có ai ném đất vào cửa kính phòng. Ai? Hay người khách đáng sợ mà chú Joss chờ đợi đã đến? Nàng tò mò nhón chân lại bên cửa sổ nhìn ra thấy bóng đêm nhạt dần. Rồi nàng thấy nơi cổng lớn một người đàn ông: Jean Merlyn! Mary quên cả giữ gìn, reo lên một tiếng. Jean ra hiệu cho nàng im và khẽ nói:

- Xuống mở cửa cho tôi.

- Tôi bị nhốt trong này...

Jean sửng sốt nhìn Mary, rồi nhìn quanh:

- Cho tôi mượn cái chăn.

Mary hiểu ngay, nàng cột một góc chăn vào chân giường và thả đầu kia xuống. Bám vào chăn, Jean đu lên tường. Mary cố đẩy khung cửa sổ nhưng không được, Jean không thể nào chui vào phòng mà không đập vỡ khung kính.

- Đến gần đây, Mary! Tôi có chuyện nói.

Mary quì xuống sàn, thò mặt ra khung cửa. Jean mệt nhọc, mắt thâm quầng. Anh mất cả vô tư thường lệ:

- Xin lỗi cô, đêm Noel tôi đã bỏ rơi cô. Cô tha thứ cho tôi hay không tùy cô, tôi không thể giải thích...

- Tôi biết rồi. Tôi lo cho anh. Tôi không trách anh đâu.

- Tại sao cô bị nhốt?

- Chú Joss nhốt tôi, anh lạ lắm ư? Ông ta bảo sẽ trốn đi chiều mai. Ổng có vẻ đợi một kẻ nào đó và rất sợ hãi, ôm súng khư khư.

- Thật ư?

- Tôi nói dối anh làm chi?

Thốt nhiên, Mary có ý ngờ Jean là người khách đáng sợ của Joss. Nàng rùng mình tuyệt vọng, nếu quả thế thì... Ồ! không đâu, Jean vô tội. Nàng tự bào chữa cho người yêu, nàng nghĩ nên tin cho Jean hay thái độ Joss:

- Anh nên cẩn thận. Bữa nay ổng điên thật rồi đó, không chỉ say đâu...

- Tôi không sợ ảnh đâu.

Jean bỗng chăm chú nhìn cô gái, kêu lên thảng thốt:

- Mary! Mặt cô sao trầy trụa dữ vậy? Trời ơi ! Có đau lắm không?

Mary gượng để khỏi khóc:

- Họ lôi tôi cùng đi, họ trói nghiến tôi, bịt miệng tôi, không cho tôi kêu cứu, tôi thấy hết... thấy hết mà không thể làm gì cứu vãn. Họ say khướt, có trên chục người...

Mary run bây bẩy, bưng mặt lại nhưng vẫn kể lại từ đầu câu chuyện. Sau cùng nàng kết luận:

- Jean! Anh Joss của anh không phải là người...

- Ảnh sẽ chết! Ảnh phải đền tội! Ảnh hành hạ cô... Lỗi tại tôi! Mary! Tha lỗi cho tôi nhé? Tôi còn đau hơn cô nữa, Mary ơi!

Lần thứ nhất, Mary thấy chàng trai bướng bỉnh vô tư nghẹn ngào như sắp khóc.

Anh vói nắm tay cô gái, vuốt nhẹ trên mặt cô giọng trìu mến, nồng nàn:

- Mary! Anh muốn chịu đau đớn thay em. Anh sẽ làm tất cả những gì em muốn. Anh quyết định rồi, dù có mất mạng, anh cũng không cần... Em sẽ thấy!

Mary chưa kịp nói gì thì Jean đã đu mình tuột xuống. Chỉ một giây sau, anh mất dạng.

Mary hồi hộp, nín thở vì xúc động. Nàng không chợp mắt được nữa. Nàng quyết định sẽ giả vờ tuân lời Joss. Đợi trong lúc không ai để ý, nàng sẽ chạy băng đồng đến Altarnun.

Sáng hôm sau ngày dài lê thê. Giữa ba người không khí như căng thẳng. Dì Patience đi lui đi tới thoăn thoắt từ hành lang đến cầu thang, dì gói ghém áo quần, xếp dọn xoong chảo, chai lọ... Đôi tay xanh xao run rẩy sờ hết vật này đến vật kia tháo ra, gói lại vẫn không xong. Mary cố giúp dì nhưng nàng biết công việc này vô ích. Tim đau nhói khi nghĩ đến lúc dì mất Joss. Merlyn thì nóng nảy chửi rủa vợ không ngừng, mỗi khi dì nàng làm rơi vật gì hay lúng túng vấp ngã. Lão ra, vào, lên, xuống, nôn nả như có kiến đốt trong lòng, đăm đăm nhìn ra cửa, vẻ sợ hãi lộ rõ trên khuôn mặt bơ phờ.

Bữa trưa, họ ngồi lại bàn ăn, khác với lệ thường, Joss uể oải không nuốt trôi.

Mary thu hết nghị lực, vờ hỏi Joss:

- Chú định rời đây vào lúc nào?

- Khi nào sẵn sàng...

Mary giúp dì thu dọn và khuyên dì nên mang theo giỏ thức ăn, giọng như ân cần nàng bảo Joss:

- Nếu đi tối tay, dì và cháu cần nghỉ trưa cho có sức...

- Muốn nghỉ thì nghỉ đi. Tối sẽ có việc cho hai người.

Mary mừng cuống. Nàng nán lại một chút cho lão khỏi nghi rồi nhẹ nhàng lui ra. Vô phòng xong, nàng khóa cửa liền. Tim nàng thình thình trong lồng ngực. Mary mặc cái áo dày nhất và quấn khăn choàng cẩn thận. Đoạn, nàng đến cửa sổ, kiên nhẫn đợi đồng hồ gõ bốn tiếng. Ít nhất cũng bảy giờ Joss mới gọi nàng, trong ba giờ Mary có thể vừa đi vừa về kịp chán. Nàng chờ đợi một cách khổ sở.

Sau cùng, Mary đứng lên, mở cửa nghe ngóng động tĩnh. Rồi nàng vào phòng, khóa cửa và chui ra bằng cửa sổ, tuột xuống như Jean. Quay lưng lại lữ quán, cô gái thoăn thoắt vừa chạy, vừa đi.

Trời thật tốt, hai bên đường đồng hoang trải dài, núi đá mờ mờ trong làn sương mỏng. Mọi vật yên tĩnh. Nàng vững lòng bước tới, bước tới...

Đến ngã năm, cô rẽ qua trái và đổ dốc. Altarnun phía dưới kia. Mary xúc động khi đi ngang những căn nhà bên trong tràn ánh sáng, ấm cúng và yên lành. Nhiều tiếng quen thuộc khác an ủi cảm quan nàng: tiếng chó sủa, tiếng lá reo, tiếng nước từ miệng gàu do bàn tay nào xách lên khỏi giếng. Có cả tiếng trò chuyện từ bên trong thoát ra, tiếng gà cục cục sau rào. Một cái xe đi ngang và tên phu xe vui vẻ cất mũ chào thiếu nữ. Không khí lương thiện an lành trùm khắp không gian.

Nhà cha phó không một đốm sáng, mọi vật như chìm trong giấc ngủ say. Mary hấp tấp kéo chuông, thật lâu không có ai ra. Hay là hôm nay chúa nhật, cha bận bên nhà thờ? Mary lui ra, nàng gặp một thiếu phụ từ nhà thờ bước ra, tay ôm bó hoa. Bà nhìn Mary chăm chú rồi thấy nàng là người lạ, bà gật chào và đi luôn. Mary gọi lại hỏi:

- Xin lỗi bà, bà vừa ở nhà thờ ra? Bà có thấy cha Davey không?

- Không! Cô muốn gặp cha?

- Vâng! Có việc rất quan trọng... bà có thể giúp tôi?

- Tiếc quá: cha đi vắng, cha bận giảng ở một họ đạo xa. Chiều nay cha không về Altarnun.

Mary bàng hoàng vì thất vọng. Nàng gặng:

- Cha đi vắng sao? Đâu có lý? Bà biết chắc ư?

Người đàn bà phật ý, cau mặt:

- Cha rời đây trưa qua. Đi bằng ngựa. Tôi không biết thì ai biết? Tôi giữ nhà cho ngài mà...

Chợt bà dịu giọng vì đọc thấy sự lo âu trên mặt cô gái:

- Cô có thể viết giấy để lại, tôi trình lại ngài...

Mary chán ngán lắc đầu:

- Sẽ quá trễ. Trời ơi! Tôi biết làm sao đây...

- Có người ốm nặng? Tôi có thể chỉ nhà bác sĩ. Cô ở đâu?

Mary không trả lời, cô nóng nảy hỏi:

- Gần đây có quan tòa nào không?

- Gần đây thì không. Có ông Bassat ở North Hill. Cách đây bốn dặm, cô đi sao nổi?

- Tôi phải đi gấp. Đường có khó đi không, hở bà?

- Không khó. Cô chỉ việc dọc theo đường Launceston cỡ hai dặm rồi quẹo phải. Nhưng con gái mà đi đêm hôm bất tiện lắm. Cô nên ở lại, chờ cha về, tốt hơn.

- Cảm ơn bà, nhưng tôi không thể đợi. Nhờ bà thưa lại cha có Mary Yellan đến tìm cha...

Rồi nàng cắm cổ chạy tràn mặc người đàn bà ngơ ngác nhìn theo, thương hại.
_________________________________________________________________________

Xem tiếp CHƯƠNG 10