Thứ Năm, 30 tháng 9, 2021

OẲN-TÙ TÌ - Mai Anh Nương

 

Mùa hè đã sắp qua, nhưng trời vẫn còn vương những giải nắng cháy da, vào những buổi trưa vắng gió, ngàn cây im lìm, như trưa hôm nay chẳng hạn.

Đồng hồ điểm 12 tiếng nặng nề mệt nhọc... trời nóng dễ sợ. Ba má và cả nhà đã ngủ trưa từ lâu.

Thu và Ban ngồi chơi "ca-rô" dưới sân nhà, nóng quá, chả đứa nào "nhắm mắt" được nên "hè" nhau chơi ca-rô.

Đang quạt phành phạch dưới nền xi-măng bỗng nghe có tiếng gọi ngoài cửa, choàng dậy, Thu chạy bay ra.

- A ha! Có báo Tuổi Hoa nè Ban ơi!

- Hay quá! Đưa em đi chị Thu!

- Thôi mày! Để tao đọc trước chứ. Công người ta ra lấy mà.

- Không được, em cơ, em cơ!

Thế là hai đứa lại cãi nhau...

Má mua cho hai đứa báo năm ở Tòa soạn những khốn nỗi mỗi kỳ chỉ được có một số thôi, mà nhà thì có đến hai mạng lận.

Mỗi lần có báo là "i-sì"  hai đứa giở "chưởng" ra, cãi nhau "loạn xà ngầu" lên.

Khổ ơi là khổ!

Bao nhiêu lần ba đã dặn:

- Coi từng đứa một, đứa nào coi xong thì đưa cho đứa khác coi, chứ cứ cãi nhau um sùm thế hả?

Chị Nga cũng chêm vào:

- Bộ tụi nó không coi mau thì chữ trong báo nó biến mất chắc. Có hai đứa thì bảo nhau mà coi chứ.

Thế nhưng lúc ba má vắng thì chứng nào tật ấy, "ông tám lạng thì bà nửa cân" chả đứa nào chịu đứa nào. Mong bắt "rụng tim" í chứ! Ai mà chả ưng coi trước, không coi lẹ lẹ chịu sao nổi.

Thấy cứ giành nhau "tay đôi" thế này thì "rốt cuộc" chả đứa nào coi cho "sướng mắt" được cả, nên Thu đề nghị:

- Thôi, bây giờ mình "oẳn tù tì"! Đứa nào "ăn" thì được coi trước, đứa nào thua phải chịu coi sau. Chịu hông?

- Chịu liền! Đâu có ngán!

Hai đứa nắm chặt bàn tay lại, vung qua vung về chuẩn bị...

Thu lên tiếng:

- Nào, lẹ lên ông nội!

- Rồi! Một, hai ai... ai... ba! Oẳn tù tì chị ra cái gì em ra cái này.

Bỗng Thu ré lên mừng rỡ:

- A, tao ăn rồi! Nhào!

Hai ngón tay ngoác ra làm kéo của Thu đã cặp cứng bàn tay làm giấy của Ban.

Cu cậu "tiếc của" mặt "ngẩn tò te", trông buồn cười tệ! Nhưng, nó vụt đổi mặt:

- Thôi đi! Chị ăn gian! Ăn gian!

Vừa nói nó vừa rút phắt bàn tay ra, Thu trợn mắt:

- Hứ! Mày bảo tao ăn gian cái chỗ nào? Mày ăn gian thì có, rõ ràng tao ra kéo mày ra giấy mà!

Thấy mình bí, Ban vội chống chế:

- Thôi, như vậy là huề, huề cả làng!

Thu tức tối:

- Huề đâu có được! Tao ăn rồi! Đưa Tuổi Hoa đây!

- Thôi mà! Huề, oẳn lại!

- Thằng ranh, đồ ăn gian!

- Rồi! Dân "chì" mà! Đâu có ngán! Lần này em không thèm ăn gian nữa đâu!

- Tao chịu mày ăn gian lần này thôi đấy, lần sau thì đừng có hòng! Nào, lại!

Thấy Thu chiều ý, Ban nở mũi:

- Thấy chưa, rứa mí "năm-bờ-oăn" chứ bộ!

Thu quắc mắt:

-  Láo toét vừa chứ! Mặt mày ăn gian người ta tha cho còn làm tàng! Nhanh lên! Một, hai, ba, mày ra cái gì tao ra cái này!

Thu ré lên:

- Đó! Thấy chưa, ăn gian nó giàn ra đấy! Đằng nào tao cũng ăn!

Lần này cu Ban ra kéo mà Thu lại nhè ra búa! "Chịu chơi" không!

Thu liếc mắt thật nhanh lên tờ lịch, ồ! Ngày 23! Sao hên dữ vậy ta?

Được cuốn Tuổi Hoa Thu ung dung lên ghế bố nằm dài ra nghiền ngẫm. Thỉnh thoảng, Thu lại liếc nhìn cu Ban một cái cho nó thêm lộn ruột chơi.

Tức đến "hộc phở tái" luôn nhưng Ban cũng đành "chịu phép" lôi mấy cuốn truyện tranh dưới gầm tủ ra xem, đỡ mà!

Hai đứa đang hầm hè nhau, thì chị Nga từ trên nhà xuống, chị la:

- Tụi mày nãy giờ làm gì mà cãi nhau om sòm thế hả? Cái gì mà "oẳn với ủng" um sùm làm tao chịu hổng nổi à!

Thu leo lẻo:

- Có báo Tuổi Hoa rồi nè chị Nga! Em "oẳn tù tì" mí thằng Ban mà em được coi trước, sướng hông?

- Gớm, trong đó không biết có những gì mà tụi mày hám như mèo hám mỡ vậy?

Ban le te giới thiệu:

- Úi giùi ui! Chị mà đọc là chị cũng mê "tít thò lò" luôn đó!

- Thiệt hông? Đưa chị coi thử coi!

Thu hãnh diện đưa liền:

- Nè, chị đọc coi xem em có nói sai không.

Chị Nga cầm quyển báo nhỏ nhắn trong tay, chị khen:

- Ờ, trông "dễ thương" đó chứ! Để chị đọc truyện trong ni cho mà nghe, chứ làm gì mà nhộn vậy.

Thu đổ thừa:

- Tại Ban nó giành đó!

Ban cũng không kèm:

- Thôi đi! Chị giành với em thì có!

Chị Nga lại phải la lên:

- Thôi thôi! Xin "các ông các bà"! Các ông các bà ngồi xuống đây rồi tôi đọc cho các ông các bà nghe! Chịu chưa?

- Chịu liền à!

- Hoan hô chị Nga!

- Chị Nga muôn năm!

Chị Nga xua tay lia lịa:

- Ối giời ơi, đủ rồi, đủ rồi! À, chị đọc truyện "THẾ GIỚI HỌC TRÒ trước nhé.

- Dạ! Mà của ai đó chị?

- Ờ... ờ... của Văn Hương em ạ!

Ban vỗ tay:

- Chắc "ông" ni viết hay lắm chị nhỉ?

- Rồi, im đi chị đọc cho mà nghe, rồi hay hay không mới biết chứ.

Giọng chị trầm trầm:

- Thầy giáo Phúc đến lớp thì đã thấy...

Thu và Ban chăm chú nghe, không nhúc nhích... đến chỗ: "Thầy giáo gọi Nguyễn văn Thành, năm cánh tay cùng giơ lên"... chúng cười ầm ĩ. Chị Nga cũng phì cười luôn, thật là vui vẻ cả làng...

Nghe chị Nga đọc, nét mặt đứa nào cũng hân hoan, sung sướng vì từ nay, chúng đã có chị Nga, mỗi lần báo về là chị sẽ đọc chung cho cả 2 đứa nghe... Và Thu nghĩ chắc chắn rằng chị Nga lại cũng sẽ "mê mẩn" với những quyển báo bé bé, xinh xinh mang 2 chữ "TUỔI HOA" mà lâu nay chị không quen biết...


MAI ANH NƯƠNG     
(Đà Nẵng)            

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 53, ra ngày 15-9-1966)




Thứ Tư, 29 tháng 9, 2021

HAI CON DẾ - Nguyễn Ảnh Cung

 


Từ ngày xa rời mẹ tôi đến nay, hình như chỉ có hai ngày thì phải, mà tôi đã thấy nhớ mẹ tôi vô tả. Càng nghĩ tôi càng hối hận và thương mẹ tôi hơn. Hôm đó, "người ta" đã chia lìa mẹ con tôi, hôm đó...

Buổi trưa, nóng ơi là nóng, nằm trên cái giường cạnh kho cỏ trữ, mẹ tôi vẫn dịu dàng vỗ về cho anh em tôi ngủ trong khi chúng tôi vẫn lăn trở vì cái nóng hầm của buổi trưa. Tôi nói khẽ với mẹ tôi:

- Te! Te! Te... Mẹ ơi! Mẹ cho con ra ngoài cửa chơi đi mẹ, con không ngủ đâu.

Nghe tôi nói, dế than, em tôi cũng biểu đồng tình:

- Nhé mẹ!

Nhưng mẹ tôi chắc lưỡi đáp:

- Trịch! Trịch... Thôi các con! Ở đây chơi đi Mun, Than. Ra đó nguy hiểm lắm...

Buồn quá, tôi nhắm mắt cố ngủ, nhưng hình ảnh cỏ cây, sinh hoạt, nhảy múa trước mắt tôi. Nào là lùm cỏ xanh tươi, chú chim con hót líu lo, bác cào cào nhảy cành cạch đùa chơi, nhởn nhơ vài cô bướm cỏ xanh, vàng, đỏ... những cảnh đó đã ru hồn tôi, làm tôi say mê vô cùng.

Một chốc, nhìn sang mẹ tôi đã ngủ say tự lúc nào, còn dế Than cũng như tôi, hai mắt mở to nhìn lên trần nhà. Tôi mỉm cười khều nhẹ nó, trỏ ra cửa, mắt nó sáng lên, rồi chẳng chần chờ, hai anh em tôi rón rén tụt xuống giường, lòng mừng vui khấp khởi.

Qua mấy cái cầu thang và các khúc quanh anh em tôi đã tới cửa hang, tôi nắm chặt tay dế Than, chạy ào ra ngoài. Hai chúng tôi cười nói ca hát vang trời vì đây là lần đầu chúng tôi được tự do đi chơi xa.

- Te! Te! Te...

Tiếng ca của chúng tôi cất cao theo gió hòa tan vào không khí làm cho bác Cào Cào đang ngủ dưới lùm cỏ giật mình tỉnh ngủ. Tức quá, bác ta hét:

- Hai con dế kia, con cái nhà ai mà ngổ ngáo thế, phá cả giấc ngủ của người ta, có cút đi không?

Vừa nói, bác vừa nhe "nanh", múa hai cái chân to lớn. Hoảng vía, tôi lôi dế Than chạy thật xa. Thích thú quá, anh em tôi lế la hết chỗ này đến chỗ khác, hết phá bác Cào Cào, đến chọc tổ kiến.. Khi đã thỏa thuê, anh em tôi ngồi nghỉ chân nhâm nhi vài đọt cỏ non và toan trở về nhà thì bỗng có tiếng thình thịch, thình thịch. Tôi chưa có phản ứng thì đã có tiếng la:

- Úy! Có hai con dế đây nè! Bắt nó tụi bây ơi!

Liền theo, tôi bỗng có cảm giác bị bóp chặt, tôi òa lên khóc, nước mắt ràn rụa khi nghĩ đến mẹ tôi, đến dế Than. Trong mơ màng, tôi thoảng nghe tiếng dế Than khóc lóc, tiếng reo vui của lũ trẻ "người ta".

Đang miên man suy tưởng, tôi bỗng giật mình khi có tiếng lũ trẻ lại gần chiếc tù giam tôi. Thôi thế là sắp tới lúc phải đánh nhau rồi. Đã nhiều lần chúng bắt tôi phải đánh nhau với các con dế khác mà dù không muốn cũng phải đánh nhau cho chúng vừa lòng. Tôi buồn ghê lắm mà không có ai để tâm sự vì từ ngày bị bắt đến nay, chúng nhốt tôi một mình, xa hẳn em dế Than của tôi.

Quả nhiên, chiếc tù giam tôi rung động rồi chúng mang tôi ra khỏi tù đặt vào "võ đường", cái tên ngồ ngộ mà tôi thường nghe chúng gọi. Rồi chúng lại thả vào một con dế khác, màu đen cũng như tôi, tôi trố mắt nhìn hắn và hắn cũng nhìn tôi. Chúng tôi xáp tới, ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi vì hắn chính là dế Than.

Lũ trẻ tưởng chúng tôi sắp đánh nhau nên reo hò lên. Nhưng mãi vẫn chưa thấy chúng tôi đánh nhau, chúng đâm tức, lấy một cái que đẩy đẩy chúng tôi lại gần nhau nhưng vô ích. Chúng lại lôi chúng tôi lên, nắm râu quay vòng vòng cho điên tiết lên nhưng khi chúng thả ra, tôi lại ôm lấy em tôi, kể lể.

Tức bực, chúng định vất chúng tôi cho gà ăn, nhưng có một cô bé trong bọn nhỏ nhẹ nói:

- Anh Minh đừng vất chúng, cho em đi.

Thằng bé tên Minh ngần ngừ một tý rồi vơ lấy chúng tôi bỏ vào tay cô bé. Cô bé mừng rỡ cầm chúng tôi chạy ra sau nhà. Cô bé còn thì thầm với chúng tôi:

- Hai "em" nhớ nhà lắm hả. Để "chị" đưa về nhà cho. Lần sau chớ có để cho anh Minh bắt được nữa nhé. Anh ấy ác lắm!

Vừa nói, cô bé vừa chạy ra đồng, đến tới chỗ chúng tôi bị bắt hôm nọ, cô bé đặt chúng tôi xuống và nói:

- Chạy về nhà đi "em"!

Tôi mừng quá, nắm tay em tôi chạy về hang, trong lòng thầm cảm ơn cô bé.

Vừa tới cửa hang, tôi đã thấy mẹ tôi ngồi sụt sùi khóc. Tôi kêu to:

- Mẹ!

Rồi nhào tới ôm mẹ tôi. Lòng tôi lúc ấy vui sướng lạ, và tôi nguyện chẳng bao giờ dám cãi lời mẹ nữa...


NGUYỄN ẢNH CUNG     

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 184, ra ngày 1-9-1972)



Thứ Ba, 28 tháng 9, 2021

THƠ GỬI NGƯỜI XƯA - Nhã Uyên

 














Ngày đó em mới vừa mười ba

Quen người chị gái tên Hằng Nga

Lớn hơn sáu tuổi xong Trung Học

Thân quen Ba Má viếng thăm nhà


Chị ghé nhà em cũng mấy lần

Lúc đầu còn lạ, lúc sau thân

Chị có ước mơ từ lúc bé

Du học phương Tây, chẳng học gần


Chị nói chị định đi thật xa

Bao năm trông đợi dịp xa nhà

Công dung ngôn hạnh ôi chao khéo

Mà muốn làm tầu quên sân ga


Thế là chị đi... đi thật rồi

Mới gặp ngày nào chia tay thôi

Bruxelles, Bỉ Quốc xa vời quá

Chân trời góc biển áng mây trôi


Mừng lắm là hôm nhận được thơ

Từ xa chị gửi tự bao giờ

Buồn vui chị viết nhiều chi tiết

Đọc tới đọc lui vẫn thẫn thờ


Rồi trải qua bao mùa nắng mưa

Thơ từ qua lại cũng vắng thưa

Hình ảnh người xưa nơi đất Bỉ

Vẫn hoài mến tiếc lúc ban  xưa


Phiêu bạt nổi trôi bao thập niên

 Có còn đâu mãi dáng ngoan hiền

Phương trời lưu lạc nào ai biết

Những giọt mưa buồn bên mái hiên


                                                                 Nhã Uyên


Thứ Hai, 27 tháng 9, 2021

CÔ GIÁO XÓM NHỎ - Nhật Tiến

 


–  Ê! Tụi bay có im đi không nào. Nghe tao nói đây.
 
Tiếng ồn ào như chợ vỡ chợt lắng đi, nhưng tiếng khóc lè nhè ở một vài chỗ thì vẫn còn. Lần này tiếng bà Hiệu trưởng trở nên gay gắt hơn:
 
–  Chết đòn bây giờ. Đứa nào có em sao không dỗ cho nó nín đi.
 
Rồi dường như cảm thấy sự đòi hỏi cả lớp phải im lặng đến đó là mức tối đa, bà đổi giọng:
 
–  Hôm nay các em có cô giáo mới. Cô giáo cũ bận công chuyện, không tiếp tục được. Vậy phải ngoan mà học, cô giáo đây hiền lắm, nhưng chỉ hiền với đứa ngoan. Đứa nào hư sẽ chết đòn. Nghe rõ không?
 
Hơn năm chục cái miệng cùng la lên:
 
–  Nghe!
 
Bà Hiệu trưởng gật đầu hài lòng, rồi bà đảo mắt một lần để quan sát toàn thể lớp học. Bỗng ngón tay của bà chỉ về phía góc trong cùng và nói lớn:
 
–  Ai cho tụi bay ngồi lộn xộn thế kia! Thằng On lớp Ba ngồi ở đâu? Thằng Tư, thằng Thịnh lớp Tư ngồi ở đâu? Con Sương học Mẫu giáo sao mày leo tới đó mà ngồi! Cha! Tụi bay hết đường rồi đó!…
 
Lớp học lại nháo lên như ong vỡ tổ. Những đứa ngồi lộn xộn vội vã di chuyển để về chỗ của mình. Vài đứa leo qua mặt bàn. Vài đứa khác đi chênh vênh trên ghế. Có đứa đã chen lại phải bế một thằng nhỏ hầu như chỉ mới vừa cai sữa, làm nó quai mồm khóc ré lên. Ở góc này có hai đứa giằng nhau tấm giẻ lau bảng. Ở góc kia mấy đứa khác đang chơi trò búng dây thung trên mặt bàn. Ngay sát vách tường ba bốn đứa tay vẫn còn ôm khư khư cái cặp ở nách chưa thèm giở ra, vì trên tay chúng nó còn nguyên khúc bánh mì hay nắm xôi, mồm miệng nhai nhồm nhoàm.
 
Thì ra đây là một trường học! Ngôi trường nằm ngay giữa một xóm lao động đông đúc, nghèo nàn. Cả trường chỉ vỏn vẹn có một căn buồng dài rộng mỗi bề hơn bốn thước, nền đất, vách ván thùng, mái lợp tôn thấp lụp sụp.
 
“Trường” có ba dẫy bàn, qui tụ một lúc đủ các trình độ, đủ các loại tuổi: vài đứa Mẫu giáo, vài đứa lớp Năm, non chục đứa lớp Tư, chục đứa lớp Ba, kèm thêm dăm bẩy đứa chưa đến tuổi đi học, nhưng cũng được gửi đại vô ngồi lê la chửng giỡn, bởi như thế còn hơn là khóa cửa nhốt nó một mình ở nhà trong thời gian bố mẹ đi làm suốt buổi.
 
Trường ở ngay bên lề một lối đi hẹp, trên mặt đường đi la liệt những hàng quà buổi sáng: mẹt xôi, gánh bún, thúng bánh mì, có cả quầy kính quay xổ số ăn những túi đựng khô bò hay đậu phụng chiên nữa. Đây là nơi tập trung của các hàng quà bánh, vì thế buổi sáng rất ồn ào. Còn ồn ào hơn cả lớp học cách nhau chỉ bằng một cái vách đóng bằng ván thùng. Trong khi đám người lớn ở bên ngoài cũng trò chuyện, cười đùa, chửi bới, khích bác nhau, hò hét như họp chợ thì  Cô giáo dù tận tâm đến mấy cũng không có cách gì cai quản lớp học cho xuể. Cho bài lớp Ba làm thì lớp Tư ngồi nghịch. Gò được bọn lớp Tư vào kỷ luật chép tập trên bảng thì lớp Năm, lớp Mẫu giáo còn đó, làm sao bắt chúng ngồi được yên. Thế cho nên người dạy ở đây phải lì, có thể ngồi đan đôi vớ trong khi chúng nó hò hét, hoặc khảo bài cho một đứa mà bất cần những đứa khác đang làm gì.
 
Cô giáo cũ vì có bệnh đau tim nên không thể kham nổi quá một tháng rưỡi.
 
Bây giờ là Thúy thay thế. Thúy nhận lời thay thế là do sự giới thiệu của chú Phong!
 
 
Bà Hiệu Trưởng hò hét một lát rồi rút lui, sau khi hất hàm ra hiệu cho Thúy bắt đầu làm nhiệm vụ. Thúy nhìn theo bà ta với cảm giác như mình vừa bị tuyên án khổ sai và sắp sửa bắt đầu phải thọ hình. Mới chỉ vô đây không đầy năm phút mà lưng áo của bà ta đã ướt đẫm mồ hôi, thì không biết giam hãm ở đây một ngày hai buổi, Thúy sẽ có thể chịu đựng được bao nhiêu ngày. Mơ hồ, Thúy như thấy bao nhiêu mộng đẹp do mình xây đắp hồi đêm trước đang thi nhau sụp đổ. Khi nghe chú Phong nói sẽ giới thiệu cho mình một chân làm cô giáo, Thúy đã mường tượng đến ngay một ngôi trường xinh xắn có nhà gạch, mái đỏ, bốn bề có sân rộng, có tàn lá che rợp sân, đầy bóng mát, lớp học khang trang, có cửa kính, cửa chớp, nhìn qua bên kia bờ tường là những giàn hoa leo rực rỡ. Đó là quang cảnh ngôi trường mà Thúy đã in sâu vào tâm trí từ hồi nhỏ còn đi học, phải học thuộc lòng bài “Trường tôi”.
 
Ngôi trường xinh đẹp đã không đến với Thúy như Thúy đã ấp ủ từ bao nhiêu năm. Bây giờ nó là đây, một căn phòng tồi tàn, chật chội, một lũ học trò nghèo khó, rách rưới, bẩn thỉu và nghịch như giặc. Nó không phải trường, cũng chẳng ra lớp học, nó là một tập thể hổ lốn, tạp nhạp, và tất nhiên chẳng còn cái ý nghĩa gì của danh từ giáo dục.
 
Nghĩ đến chú Phong, Thúy cảm thấy vừa tức lại vừa tủi. Chú nói chú quí mình, mà thật ra chú coi thường mình hết sức. Nếu chú chịu khó hơn một chút, có thể chú sẽ thừa sức tìm cho mình một chỗ dạy khá hơn, ít ra thì cũng là một lớp học đúng nghĩa. Ít ra thì cũng có thể biết mình phải dạy chương trình nào, soạn bài nào, giảng bài nào, và bọn học trò có dốt lắm cũng chẳng đến nỗi chênh lệch quá đáng như ở đây. Vào đến đây, trong lớp học giữa đám con nít hỗn loạn này, Thúy có cảm tưởng như mình bị ném vào một cơn lốc khủng khiếp, tối tăm mặt mày và không biết đằng nào mà định hướng hết cả. Thúy muốn cất tiếng nói, nhưng cảm thấy ngay giọng của mình quá yếu ớt so với tiếng cãi cọ của người lớn bên ngoài và tiếng ồn ào ở bên trong. Ở góc này, mấy thằng nhóc vẫn búng dây thung trên mặt bàn, ở góc kia thêm một đứa nữa khóc còn to hơn vì bị một đứa nào đó lấy mất cây bút chì hay bút mực gì đó, còn ở sát vách thì đứa ngồi xổm ăn bánh mì, đứa ngồi xổm ăn xôi vẫn tiếp tục nhai, chiếc cặp sách còn y nguyên ở trong lòng, chưa được mở ra. Tự nhiên Thúy muốn bật lên tiếng khóc, muốn gào tên chú Phong thật to, muốn có chú ở ngay trước mặt để hét vào tai chú “Cháu ghét chú! Cháu ghét chú!”.
 
Nhưng rồi Thúy cố nén được lòng mình để đàn áp cơn xúc động. Những giọt nước mắt ngưng lại trên bờ mi, chỉ vừa đủ để Thúy cảm thấy hơi cay cay ở mắt. Thúy nén lồng ngực để thở một hơi dài. Rồi Thúy tiến lại cái bàn ọp ẹp kê sát vào vách tường là bàn dành riêng cho cô giáo. Lúc ngồi yên vị, Thúy ngẩng mặt lên nhìn. Mái tôn không cách đầu Thúy bao xa. Hơi nóng hầm hập bắt đầu phà xuống. Thúy cảm thấy mồ hôi đang rịn ra từ khắp các chân tóc. Thúy mở thử chiếc ngăn kéo ra xem. Bên trong có vài hòn phấn, dăm ba cái quản bút gẫy, một đống vỏ đậu phọng luộc, và một hòn đá xanh, nhẵn bóng. Thúy cau mày moi óc để suy nghĩ về công dụng của hòn đá ở trong chiếc ngăn kéo xộc xệch này. Và Thúy mỉm cười tìm thấy lời giải đáp không khó khăn gì. Thúy lôi nó ra, đem gõ lên mặt bàn. Tiếng động chát chúa làm tiếng ồn ào hỗn loạn bỗng vơi hẳn đi. Nắm được giây phút lợi thế đó, Thúy mới bắt đầu cất tiếng nói:
 
–  Bây giờ tất cả các em yên lặng nghe cô hỏi nhé. Các em có biết hát không?
 
Nghe thấy vấn đề hát hỏng thú vị, cả bọn có vẻ chú ý hơn. Một vài đứa nhao nhao:
 
– Hát bài gì cô?
 
– Cô hát trước, tụi em hát sau.
 
–  Phải đấy, cô hát trước!…
 
–  Cô hát trước !…
 
Thúy như thấy lòng nhẹ đi một phần nào nỗi ưu tư, bực dọc. Nụ cười hồn nhiên làm khuôn mặt của Thúy rạng rỡ hơn. Thúy nói:
 
– Được rồi! Cô hát trước! Nhưng tất cả phải im lặng. Hoàn toàn im lặng!..
 
Lớp học bỗng chìm hẳn đi. Mấy đứa đang nói vội ngừng lại. Mấy đứa đang cựa quậy vội ngồi ngay ngắn lại. Bọn ăn sáng ở sát vách tường cũng ngừng nhai. Chúng giương cặp mắt thật to lên nhìn Thúy. Thúy chợt thoáng thấy một cảm giác hồi hộp như mình đang sắp sửa ra trình diễn trước khán giả, mặc dầu đây chỉ là một lớp khán giả tí hon, chưa đứa nào vượt quá tuổi lên mười. Thúy nhìn một lượt khắp lớp học một lần nữa rồi cất tiếng hát:
 
– Kìa đàn vịt bơi dưới ao hồ, thằng bờm xờm vác que đuổi đánh…
 
Bài hát quen thuộc với lũ trẻ làm cả bọn không ai bảo ai cất tiếng hát theo:
 
– A… a… a… nó kêu quác quạc, quác quạc. Chạy xơ xác tan đàn…
 
Bài hát ngắn ngủi chấm dứt bằng một tiếng reo hò. Thoảng qua tai, Thúy nghe thấy một vài đứa la “Quê! Bài hát cũ rích à ơi!…”. Quả nhiên khi tiếng hò chấm dứt, một đứa nói to:
 
– Cô phải hát bài khác. Bài nào tụi em chưa biết hát thì tụi em mới chịu.
 
Thúy chăm chú nhìn nó. Nó trạc lên bẩy. Đầu trọc, trán dô, mắt xếch, vẻ mặt ngỗ ngược, nước da đen đúa, thân hình còm cõi. Nó mang đầy vẻ một con nhà bị thả rông, ít được chăm sóc. Thúy chỉ về phía nó và hỏi:
 
– Em tên là gì?
 
Thằng nhỏ rụt rè đứng dậy, trả lời một cách ngượng nghịu:
 
– Dạ tên Tư!
 
– Gì Tư?
 
– Dạ, Tư là Tư, không có gì Tư hết.
 
–  Ồ, phải có họ chứ. Nguyễn Văn Tư, Trần Văn Tư hay Lê Văn Tư chẳng hạn.
 
Một đứa khác nhanh nhẩu đáp theo:
 
–  Thưa cô, nó là Huỳnh Văn Tư!
 
Thúy nhắc lại:
 
– Huỳnh văn Tư phải không?
 
Thằng bé gật đầu. Thúy hỏi tiếp :
 
– Em muốn cô hát bài gì? Bài Làng Tôi nhé.
 
Thằng bé có vẻ cảm động. Nó không ngờ lời yêu sách của nó lại được đáp ứng một cách dễ dàng như vậy. Nó lại gật đầu một cách bẽn lẽn. Trong khi ấy Thúy đã cất tiếng hát:
 
–  Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có sông sâu lờ lững vờn quanh…
 
Tiếng hát của Thúy vừa bay bổng lên cao thì một đám thanh niên ở phía ngoài đã chồm lên vách ván vừa đập thình thịch lên mặt gỗ vừa la:
 
– Hay! Hay!…
 
– Ca sĩ hay ác!…
 
Mặt Thúy đỏ bừng, Thúy nhìn ra phía ngoài. Trước mặt Thúy là cả chục con mắt nhìn Thúy hau háu như muốn ăn sống nuốt tươi. Thúy vừa mắc cỡ, vừa tức ứ lên tận cổ, chỉ thiếu chút nữa thì nước mắt lại trào ra. Lần này Thúy có cảm giác như vừa bị dội vào một bức tường đá mà Thúy thấy khó có thể vượt qua, nhất là đối với đám thanh niên du đãng, ít học ở khu xóm hỗn độn này.
 
Thúy lại nghĩ đến chú Phong và cơn oán giận chú lại nổi lên dữ dội. Tai sao chú lại đẩy Thúy đến cái chốn cơ cực này. Chú phải biết Thúy đâu có chết đói. Thúy cũng chẳng tha thiết gì đến đồng lương ít ỏi mà bà Hiệu trưởng đã so kè, bắt Thúy phải dạy đủ ba tháng tập sự mới trả cho bằng cô giáo cũ. Thúy tự nhủ hôm nay đã chót vô đây rồi ta sẽ ở lại cho đến hết giờ. Nhưng ngày mai đừng hòng cho ta quay trở lại. Ta khinh bỉ những nhân vật ở đây, thù ghét bầu không khí xa lạ này. Ta sẽ chỉ coi như vừa sống qua một cơn ác mộng. Tìm được giải pháp đào nhiệm ấy rồi, Thúy thấy lòng thanh thản hơn. Thúy ngưng hát và quay về phía bọn trẻ con và nói:
 
–  Thôi để ngày mai hát tiếp. Bây giờ chúng ta tiếp tục học đi nhé.
 
Lệnh của Thúy vừa ban ra, thì ba bốn đứa đã xô ghế, thi nhau ùa đến chỗ bàn Thúy ngồi. Chỉ trong một chốc, chúng đã bu đen kín lấy Thúy, làm Thúy không thấy gì hơn là những mái đầu bẩn thỉu, chốc lở đưa thoảng qua mũi Thúy một mùi tanh tưởi chen lẫn mùi mồ hôi chua nồng. Thúy lại phải đập hòn đá lên mặt bàn lia lịa để trấn áp làn sóng hỗn độn cứ mỗi lúc mỗi lúc một gia tăng. Lại phải một thời gian lâu, Thúy mới bắt được chúng nó trở về yên vị. Lần này Thúy bảo những đứa cùng một lớp phải giơ tay lên cho Thúy kiểm soát và phân biệt được đâu là ranh giới của lớp Ba, đâu là ranh giới của lớp Tư cũng như lớp Năm và lớp Mẫu giáo. Tuy vậy sự phân chia này cũng chỉ là tương đối. Bởi vì có những đứa nhỏ nhất định không rời anh hay chị của nó. Cho nên có nhiều bàn thằng lớp Tư ngồi cạnh con em học Mẫu giáo. Đứa lớp Ba ngồi chung với đứa lớp Năm. Thúy cảm thấy mình điên cái đầu và không hiểu cô giáo cũ đã dùng phương pháp nào để có thể cai trị được cái đám hỗn độn này đến hơn một tháng. Cuối cùng Thúy lấy phấn chia bảng ra làm bốn ô. Cái bảng thật nhỏ, bằng một tấm carton nhầu nát được sơn đen lên bằng những nét chổi cẩu thả. Ở ô thứ nhất, Thúy cho bọn học lớp Ba tập viết câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
 
Một đứa hỏi:
 
–  Ăn quả gì hở cô?
 
Vài đứa khác trả lời thay:
 
–  Xoài!
 
–  Dừa xiêm!…
 
– Im đi! Tụi bay tầm bậy, tầm bạ. Nói giỡn hoài cô đánh cho bây giờ.
 
Thúy nghe thấy hết, nhưng lờ đi. Ở ô thứ nhì, Thúy cho bọn lớp Tư làm hai bài tính cộng. Còn hai ô dưới Thúy vẽ hình cái nhà bằng những nét thẳng và nét gẫy rồi bắt bọn lớp Năm cũng như lớp Mẫu giáo phải vẽ theo y hệt như vậy.
 
–  Vẽ cho đúng, cho sạch rồi cô sẽ chấm điểm. Đứa vẽ đẹp nhất được 10 điểm nghe không.
 
Lớp học nhờ thế bớt hỗn loạn đi. Nhưng Thúy thấy mình rõ ràng là vừa sử dụng một phương pháp dối trá và trốn trách nhiệm. Thúy tự hiểu rằng dạy đến nơi đến chốn thì không thể nào làm như thế. Đây chỉ là một cách giết thì giờ cho qua buổi và chế ngự một phần nào sự hỗn loạn của đám trẻ gồm đủ mọi thành phần. Niềm kiêu hãnh, tự tin của một cô giáo mà Thúy nuôi dưỡng từ bao lâu bây giờ hoàn toàn sụp đổ. Thúy thấy rõ lúc này mình chỉ là một vú em có bổn phận trông nom đám con nít này trong khi bố mẹ chúng nó vắng nhà. Làm gì cũng được, miễn là cho qua thì giờ. Dạy thêm được vài ba chữ càng hay, mà không thì cũng chẳng có ai trách móc, la rầy. Có lẽ cô giáo lúc trước cũng đã nhìn ra được vấn đề như vậy, và chắc bí quyết của cô khi phụ trách lớp học này là phải bịt mắt để khỏi nhìn cái cảnh nháo nhào, cũng bịt luôn cả tai để không cần nghe bất cứ một lời ồn ào của lũ trẻ con trong này, cũng như người lớn ngoài kia.
 
Nhưng đối với Thúy thì sự việc không có giản dị như vậy. Thúy nhìn thấy trước mắt Thúy là cả một đám mầm non. Thúy cảm thấy như các mầm non này đang trông cậy vào bàn tay vun tưới của Thúy. Vầng trán cao này, cặp mắt sáng long lanh kia, khuôn mặt bụ bẫm, ngây thơ, hồn nhiên đó, tất cả đều được giao phó cho Thúy ở những bước đầu chập chững trên đường học vấn. Thúy không thể tàn phá tương lai chúng nó bằng phương pháp giảng dạy là chỉ đi tìm mọi cách để hoãn binh sự nghịch ngợm nô đùa của lũ trẻ. Đứa bé cắp sách đến đây từ lúc tám giờ, cặp sách vẫn còn y nguyên đó chưa được mở ra, nó vẫn ngồi xổm ở bên cạnh vách và miệng vẫn nhồm nhoàm gậm nhấm từng hạt đậu phụng lẫn giữa đám xôi óng ả và thơm phức mùi hành mỡ. Thế mà nó đã đi học. Ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác và cả năm này qua năm khác. Thúy không muốn nhận lãnh trách nhiệm đã giam hãm sự học hành của nó vào cai khung cảnh hỗn độn này. Thúy cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Thúy muốn chạy bay về nhà úp đầu vào tường mà khóc lên rưng rức. Thực tế đối với Thúy đã quá phũ phàng. Chú Phong đối với Thúy đã quá tàn tệ. Cháu oán chú. Càng lúc cháu càng oán chú. Chú nói thì rất hay, nhưng chú làm thì thật là dở ẹt. Việc làm mà chú giới thiệu cho cháu đây là một minh chứng hùng hồn và cụ thể.
 
Thúy như nhược thêm người ra. Phải cố gắng lắm Thúy mới lê được lại phía bàn và ngồi phịch xuống. Mái tôn trên đầu như đã xuống thấp hơn. Mặt trời lên cao làm cơn nóng mỗi lúc một gia tăng dữ dội. Chiếc áo dài của Thúy đã ướt đẫm mồ hôi. Thúy nhìn đồng hồ. Hãy còn quá sớm để rung chuông loan báo đã tan học. Ở lớp Năm đã có mấy đứa đòi góp hình vẽ cái nhà. Thúy hoảng sợ bầu không khí ồn ào lúc trước lại sắp sửa trở lại nên vội vàng điểm thêm vài nét nữa cho kéo dài thêm thì giờ ra. Có nhà thì phải có sân. Đây là cái sân lát gạch đàng hoàng. Phía trước là cổng ra vào. Phía sau là hàng rào. Chung quanh có cây cối. Thúy vừa giảng vừa vẽ lia lịa. Mấy đứa ở lớp Tư thích quá, bỏ luôn làm tính cộng, xé giấy soàn soạt để ngồi vẽ cái nhà. Chúng đòi nhau gôm, đòi nhau thước, bút và cãi nhau ỏm tỏi. Thằng nhỏ này cái trán khá thông minh, không biết sau này nó sẽ làm gì và nó làm thế nào để phát triển được trí thông minh của nó. Con bé kia có đôi mắt thật đen, khuôn mặt thật bầu bĩnh, dễ thương. Nó sẽ khá, nhưng Thúy không biết sẽ khá bằng cách nào? Đột nhiên Thúy nghĩ đến những đứa em của mình. Chúng nó đồng một lứa tuổi. Tâm hồn trong sáng và hồn nhiên như nhau. Nhưng chắc chắn các em của Thúy không thể bị dồn vào những cái “lò sát sinh” theo kiểu như những lớp học tương tự lớp học này. Bỗng nhiên lòng Thúy nhen nhúm một cảm giác hổ thẹn về tính ích kỷ của mình. Giữa các em Thúy và bọn trẻ này có điều gì khác nhau đâu. Chúng nó cũng có quyền được lớn lên và làm người theo đúng ý nghĩa cao quý ấy. Bàn tay của Thúy nhỏ bé, hẳn nhiên không thể che được mặt trời. Vậy ít ra Thúy cũng không thể tiếp tay cho những tên lái buôn giáo dục như bà Hiệu trưởng mà Thúy mới chỉ gặp mặt cách đây không quá một giờ với một loạt ý nghĩ rằng ta sẽ nghỉ, ta sẽ tránh thật xa cái xã hội kỳ quặc này. Rồi sẽ không nhờ đến chú Phong nữa. Ta sẽ tự lực đi tìm ra một ngôi trường lý tưởng ở trong có một lớp học lý tưởng và một đám học trò lý tưởng cho đúng với lý tưởng mà ta hằng mong thực hiện. Thúy lan man suy nghĩ và quên bẵng hẳn đi tiếng ồn ào trước mặt. Hình như vài đứa ở ở góc tay mặt vẫn đang nằm bò xoài trên mặt bàn búng dây thung. Hai đứa nhỏ ngồi mé sát vách vẫn chưa ăn hết gói xôi và khúc bánh mì của chúng. Bây giờ Thúy mới nhận ra rằng các chỗ ngồi trong lớp đã chật cứng. Chúng nó không còn cách nào khác hơn là ngồi xổm, tựa lưng vào vách gỗ. Kìa con bé thật dễ thương. Da nó trắng nhưng cổ đầy ghét bẩn. Khuôn mặt nhếch nhác mũi và rãi. Nếu chú ý nhìn thật kỹ, Thúy thấy nó như một viên ngọc quí còn nằm vùi trong cát sỏi. Ai sẽ làm công việc của người thợ rũa? Chính là kẻ đang ngồi trên bàn này. Ít ra là trên lý thuyết. Còn trong thực tế thì chắc gì viên ngọc đã được lôi ra ngoài ánh sáng. Có bao nhiêu viên ngọc tương tự chưa được lôi ra ngoài ánh sáng.
 
Thúy khẽ rùng mình khi thấy mình chợt đối diện với một tương lai đen tối khủng khiếp, không chỉ riêng với em bé này, nhưng mà là của cả hàng trăm, hàng ngàn những đứa trẻ khác đang lớn lên và được trao phó vào những ngôi trường tương tự như thế này đã mọc lên đầy rẫy ở khắp các hang cùng ngõ hẻm. Đã một lần chú Phong nói: “Xứ mình nghèo, lại triền miên trong chiến tranh. Thế cho nên làm hết bổn phận của mình chưa thể coi là đủ. Mỗi người nên cố gắng hơn một chút nữa, bởi chính những nỗ lực phụ trội này sẽ mau chóng đem được quê hương đau khổ này ra khỏi cảnh lầm than.” Ở một vài khía cạnh, Thúy thấy chú Phong tuy lý tưởng, nhưng có lý một phần nào. Cũng như câu nói của một danh nhân đã nhiều lần đi qua ý nghĩ của Thúy: “Các bạn trẻ, tương lai của xứ sở là ở trong tay các bạn đó”.
 
Tâm hồn của Thúy bỗng thoáng qua một cơn xúc động nhẹ nhàng. Thúy có cảm giác như giữa mình với em bé hồn nhiên này chợt nẩy ra một sự liên hệ tuy xa vời nhưng thấm thía. Có phải chăng đây là sự liên hệ của Thúy với một thế hệ mầm non vừa bắt đầu nẩy nở. Thúy nhìn nó một cách chăm chú hơn. Và con bé giương cặp mắt thật to lên nhìn lại. Ánh mắt trong vắt và sâu thăm thẳm. Thúy muốn bồng nó lên, lau thật sạch khuôn mặt nhếch nhác của nó và chắc chẳng hình ảnh nào đẹp cho bằng những giây phút  Thúy cầm bàn tay xinh xắn kia của nó để tập tô lên trang giấy trắng ngần những nét chữ đầu tiên. Thúy bỗng quay lại nhìn tất cả đám học trò nhốn nháo trước mặt. Thúy so sánh nhiệm vụ chăn dắt đám trẻ thơ này với bất cứ nhiệm vụ nào khác mà Thúy ước ao. Chẳng hình ảnh nào khác làm Thúy hãnh diện hơn khi Thúy tưởng tượng ra lúc mình chu toàn công việc ở khung cảnh thiếu thốn chật chội này. “ Xứ mình nghèo, lại triền miên trong chiến tranh…” Vậy hãy bắt đầu từ mọi sự thiếu thốn, điều đó quả thực là đã mang một ý nghĩa sâu xa.
 
Thúy lan man suy nghĩ và quên bẵng hẳn đi tiếng ồn ào ở trước mặt. Ngoài đường, lác đác đã thấy một vài người lớn đến đón vào giờ tan học. Thúy nhìn thấy một bà cụ già với nước da sù sì, nhăn nhúm, mái tóc bạc phơ, thân hình còm cõi, đôi vai gầy nhô lên sau lần áo mỏng rách vá tứ tung. Chỉ còn đôi mắt của bà cụ là thấy sáng lên một niềm vui, niềm hãnh diện có cháu đi học. Đứng cạnh bà cụ là một người đàn bà xanh rớt, vẻ mặt đầy nét cằn cỗi, lo âu, cặp mắt lờ đờ của sự thiếu ngủ thường xuyên. Thỉnh thoảng bà ta lại nghển đầu nhìn vào lớp học để dò tìm đứa con yêu dấu của mình. Chắc bà ta hài lòng khi thấy nó cũng sinh hoạt như ai trong cả tập thể này. Chắc đầu óc bà ta xây dựng biết biết bao nhiêu mộng đẹp. Con sẽ học hành chăm chỉ. Con sẽ lớn lên vẻ vang. Con sẽ mang má ra khỏi đời sống tối tăm khổ cực này. Nguồn hy vọng tràn ngập làm tươi thêm đôi môi đượm chút cuộc đời héo úa, quanh năm không thấy nhếch lên một nụ cười.
 
Rồi số người đến đón mỗi lúc một đông hơn. Họ đứng xúm xít ở ngay cửa ra vào. Người nào cũng cố chen vào để được nhìn thấy con mình, cháu mình đang thực sự hòa mình vào đời sống tập thể. Mỗi người đều nhen nhúm lên một nguồn hy vọng vô biên. Con bé ăn nắm xôi ở sát tường bây giờ đã ăn xong nắm xôi của nó. Cái cặp sách vẫn chưa được mở ra. Nhưng nó nhẩy quẩng lên gọi “Má ơi, Má ơi” bằng một giọng to nhất. Một người đàn bà xồ xề cố chen vào, giơ tay vẫy và nhoẻn với nó một nụ cười. Ánh mắt của bà ta đầy trìu mến. Bà ngắm cái cặp trên vai nó một cách hãnh diện. Ôi, cái cặp đã chưa được mở ra, và cả một buổi sáng trong tuổi ấu thơ của nó đã qua đi với chỉ một nắm xôi nhôi nhai ở trong miệng. Ai hay được điều đó, ngoại trừ Thúy. Thúy tự hỏi trong những giờ của cô giáo cũ trước đây, đã có bao nhiêu buổi sáng tuổi ấu thơ của nó vẫn chỉ qua đi không ngoài một gói xôi sáng, và đã có bao nhiêu lần vẻ mặt của người đàn bà kia bừng lên một tia hy vọng sáng ngời, vành môi héo úa kia nhoẻn lên một nụ cười trìu mến, kiêu hãnh.
 
Lúc đúng giờ tan học, Thúy giơ tay cho học trò ra về. Thúy đi giữa những tiếng động ồn ào. Bọn trẻ chúi đầu qua chân của Thúy để lẩn đi như những con chuột. Chúng nó chạy huỳnh huỵch trên con đường đất gồ ghề, hai bên có rãnh, cống đen sì chảy róc rách. Nếu nhắm mắt lại để khỏi trông thấy cảnh nghèo khó chung quanh, thì tai Thúy chỉ còn nghe thấy muôn ngàn tiếng cười của giọng trẻ hồn nhiên và thơ ngây. Những giọng trong trẻo biểu lộ cả một thế hệ mầm non đang bắt đầu nhô lên giữa lòng cuộc đời. Vậy chúng nó có gì khác đâu so với những đứa trẻ cùng lứa mà Thúy mường tượng qua ý nghĩ về ngôi trường lý tưởng của mình. Dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, thì chúng nó cũng chỉ là một. Một thế hệ của tổ quốc, một tương lai của đất nước, một nguồn hy vọng của quê hương. Thúy chợt nghĩ đến nỗi  gian nan trong những công cuộc khai sơn, phá thạch của cha ông vẫn được mô tả trong sách vở. Hãy nối gót cha ông,  thầy cô giáo của Thúy hồi mấy năm trước vẫn nhắc nhở như thế.
 
Vậy thì riêng với Thúy, nơi bắt tay khởi sự “nối gót cha ông ” là ở đây rồi. Thúy sẽ vất vả, Thúy sẽ tủi cực, nhưng chắc chắn Thúy sẽ được bao dung bằng những nụ cười hy vọng như nụ cười của bà cụ già với mái tóc bạc phơ, ánh mắt trìu mến, hy vọng chứa chan, hay của người đàn bà gầy còm với vành môi héo hắt, chỉ trông vào sự lớn lên của con mình làm nguồn vui bất tận.
 
Dưới ánh nắng chói chang, lũ trẻ ùa đi như đàn ong vỡ tổ. Khung cảnh của giờ tan trường không giống bất cứ một cảnh tan trường nào đã được tả trong sách vở. Bởi quê hương mình nghèo. Bởi đất nước mình triền miên trong ba mươi năm khói lửa. Hãy bằng lòng với hiện tại và khởi sự từ những gì mình đang có. Chính vì lẽ đó, ta còn đáng kiêu hãnh hơn người. Những ý nghĩ đã làm cho Thúy cảm thấy mình như đang lớn lên. Thúy đứng lại nhìn đám đông quanh Thúy tản mác dần. Bên tai Thúy tiếng nước róc rách chảy vang lên từ hai bên cống rãnh đen sì. Những mái nhà tôn thấp chói lòa ánh sáng. Hình ảnh lớp học chật hẹp hiện ra với đám học trò chen nhau hỗn loạn. Bàn tay của Thúy tuy bé nhỏ nhưng thừa sức nắm chặt và lôi đi những bàn tay xinh xắn và bé nhỏ hơn. Lớp học này phải tiến bộ để tránh xa hố thẳm chôn vùi những viên ngọc quí của đất nước.
 
Chú Phong
 
Bây giờ thì cháu hiểu chú rồi. Chú có thể xếp cho cháu một chỗ dạy học tốt đẹp hơn, nhưng cháu lại thấy không nơi nào cần cháu bằng lớp học nghèo nàn mà cháu đã nhận từ sáng hôm nay. Có thể nhiều người sẽ cho sự lựa chọn của cháu là kỳ quặc. Nhưng có như thế mới đúng nghĩa là sự lựa chọn của tuổi trẻ. Và chỉ có thế cháu mới xứng đáng là cháu của chú, phải không chú nhỉ.
 

NHẬT TIẾN    
(1970)         
 
 

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2021

CHIM SẺ SÂN TRƯỜNG - Đằng Linh

 

 Ngu ngơ quá, dáng thơ hồng bé dại
Rất hồn nhiên thánh thiện tuổi mười hai
Không kiêu sa, không dáng dấp trang đài
Trên mái tóc chưa suông đường lược chải

Hương bồ kết thơm mùi thơm ngai ngái
Đôi môi cười đằm thắm những yêu thương
Vẫn ngây thơ, mỗi sáng đến ngôi trường
Em chân sáo tung tăng cùng sách vở

Đường đến trường nắng hồn soi rạng rỡ
Em vui đùa cùng chú bướm xinh xinh
Đuổi bắt hoài, không được. Bỗng làm thinh
Em giận dỗi: "Ghét bướm ghê rồi đó!"

Và bỗng nhiên trong lòng đôi mắt thỏ
Chớm niềm vui, kìa! một đóa hồng hoa
Em đưa tay... chú bướm bỗng la đà
Vờn quanh đóa hoa hồng em định hái

Em đưa tay... bướm vẫn vờn quanh mãi
Em biết rồi! Xin lỗi nhé, hoa xinh
Vì dầu sao em cũng quá vô tình
Nên đã hái chắc bướm buồn vô hạn

Vì em biết bướm cùng hoa là bạn,
Bạn rất thân nên chẳng thể lìa nhau...
Đường đến trường chân tiếp tục bước mau
Gió reo nhẹ như lời ru êm ái...

Em còn bé nên lòng em vụng dại
Nhìn nắng vàng ươm lối cỏ sân trường
Buổi ban mai còn ướt những hơi sương
Trường lớp đó, em thương đầy như tóc

Và bỗng thấy trầm thơm trang sách học
Em ngỡ hồn bay lạc giữa tình thân 
Tiếng thầy cô êm ái nhẹ vô ngần,
Nơi phòng học an lành qua lời giảng

Ngồi trong lớp bay bay mùi phấn bảng
Lén nhìn qua khung cửa sổ xinh xinh
Để nghe chim về hót rộn trên vành
Em thả mộng đi rong ngoài cửa lớp

Thầy thấy được, làm ngơ không bắt phạt
Nhưng nhìn cười: "Cô bé mộng mơ ghê,
Nhớ lần sau thầy sẽ bắt phạt quì"
Thèn thẹn quá, em thấy mình có tội

Và cúi mặt như một lời hối lỗi
Nhìn quanh em: bè bạn rất thân quen
Những mái đầu xanh gió bụi chưa hằn
Nên rất đỗi ngu ngơ và tinh nghịch

Những giờ ra chơi đùa nhau bằng thích
Này nẻ chuyền, này trốn kiếm, nhảy dây...
Tiếng reo cười như rộn cả khung mây
Thần tiên quá tuổi mười hai lá cỏ

Em hiền ngoan như loài chim sẻ nhỏ
Tuổi hồng soi rỡ rạng mấy mùa vui
Chưa ưu tư nên chẳng biết ngậm ngùi
Em mãi ngủ vùi trong hương mật ngọt.

                                               ĐẰNG LINH
                                              - Thôn Diễm 6/73 -

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 101, ra ngày 3-8-1973)