Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

MỘT CUỘC DẠO MÁT BÊN BỜ BIỂN - Nguyễn Lũy


"Sáng nay trời đẹp quá! Chúng ta hãy đi dạo mát dọc theo bờ biển đi" Wendy nói với hai cô bạn học, Margaret và June, đang nghỉ hè tại nhà nàng trên bờ biển Yorkshire. Má Wendy gói cho họ ít thức ăn trưa, và rồi ba cô khởi hành, hẹn tới giờ uống trà thì về.

Thực đúng là một ngày tươi đẹp. Ánh nắng tươi sáng nhưng không nóng lắm. Biển im lặng và họ có thể thấy một làn sóng trắng nhịp nhàng xô chạy vào bờ, với tiếng rạt rào từ dưới nhẹ nhàng đưa lên. Các hải điểu  lượn đi lượn lại trên đầu họ. Đi trên đám cỏ ngắn mềm, thỉnh thoảng có vài con thỏ sợ sệt chạy vào hang, họ nói với nhau những gì họ đã làm ở trường và những gì họ định làm khi trở lại.

June nói:

- Ở đây thích thú hơn ở thành phố nhiều chứ nhỉ. Ước gì chúng ta được ở đây luôn. Miền quê thực sự còn thú hơn là một công viên.

Họ ngồi xuống rìa bờ dùng cơm trưa, và nán lại đây để ngắm cảnh đẹp. Margaret bỗng cảm thấy lạnh.

Nàng bảo:

- Trời bắt đầu nổi gió và kìa, nhìn các đám mây đen kéo đến.

Wendy nói:

- Hình như sắp có bão, nếu không tìm chỗ trú chúng ta sẽ ướt mất thôi. Tốt hơn là ta chạy lại cái nhà cũ bỏ hoang đằng kia cách đây chừng một dặm. Hiện không có ai ở đấy cả, ta có thể vào được.

Họ vội vã đi tới, chưa tới nơi đã có chớp sáng lòe. Rồi sấm nổ rền và vừa tới lúc họ tìm thấy lối vào qua một cửa sổ, mưa đổ xuống như thác.

Margaret nói:

- May mà chúng ta vào được đây. Nhưng tại sao nhà lại bỏ hoang? Nhà nầy ở được đấy chứ.

Wendy bảo:

- Trước kia đây là một cái trại. Nhưng đất không có mầu mỡ, mà lại ít nước, nên họ bỏ đi. Các chị có thấy cái giếng lớn ngoài sân kia chứ? Giếng sâu lắm, thế mà hầu như khô cạn quanh năm.

June hỏi:

- Có một cái thang sắt bên cạnh. Nó dẫn tới đâu vậy?

Wendy trả lời:

- Tôi cũng chẳng hiểu. Khi mưa tạnh rồi ta sẻ ra đấy xem nếu chị thích.

Cơn giông không quá một giờ đã dứt, tuy sấm sét còn ầm ì ở xa xa. Mưa vừa ngớt, ánh nắng lại lóe lên. Họ rủ nhau ra khu giếng. Nhìn xuống lòng giếng họ chẳng thấy chút nước nào cả và chiếc thang đưa xuống mất hút vào khoảng tối thăm thẳm như không có đáy. Wendy nghĩ rằng có lẽ chiếc thang nầy dùng để xuống vét giếng hoặc sửa thành giếng.

June thắc mắc:

- Nhưng nó cũng phải đưa tới đâu chứ? Để tôi xuống coi.

Hai người kia khuyên nàng đừng xuống, sợ có thể trượt chân. Nhưng June tò mò muốn biết chiếc thang tới đâu, và bắt đầu leo xuống một cách cẩn thận. Xuống được chừng mươi thước, hai bạn đứng trên thấy nàng ngừng lại và ấn vào thành giếng, nói vọng lên:

- Có cái cửa, tôi đi vào coi.

Vài phút sau June lại xuất hiện ở dưới giếng, nói vọng lên:

- Có một con đường hẹp đưa tới một phòng nhỏ rồi tới một con đường hầm dài thông ra biển. Tôi nghe thấy tiếng sóng và nhìn thấy ánh sáng nữa ở cuối đường hầm. Các chị xuống đây chúng ta cùng thám hiểm xem.

Hai người kia quả quyết:

- Thôi, chị lên đi thì hơn. Muộn rồi đấy và từ đây về nhà còn xa. Về sớm chừng nào càng tốt.

June nói:

- Tôi xem một chút nữa thôi.

Rồi nàng lại khuất dạng. Nhưng chưa tới năm phút sau, nàng chui ra và leo lên thang, sẽ nói:

- Có một người đi vào đường hầm.

Leo tới mặt giếng, nàng thuật lại với các bạn, khi nàng sờ soạng trong căn phòng tối thì thấy có một cái túi da để trên kệ đá. Trong đó đầy những vật gì nhỏ và cứng. Rồi nàng nghe có tiếng động trong đường hầm, và thấy có người tiến tới nên nàng vội bỏ chiếc túi lại đó, leo lên.

- Đây là một vài vật trong bao. 

Và nàng móc túi ra: có năm nhẫn vàng nạm kim cương.

Mọi người đều bàng hoàng lo sợ. Margaret bàn:

- Nếu hắn mà lên đây, hắn bắt chúng ta mất.

June đề nghị:

- Chúng ta phải đẩy hắn.

Wendy nói:

- Không. Ta lại phía bờ đằng kia. Như vậy chúng ta có thể trông thấy hắn, nếu hắn ra khỏi giếng.

Margaret nói:

- Nhưng nếu hắn trèo lên khỏi thì sao?

Wendy đáp:

- Từ chỗ nấp, chúng ta có thể trông thấy cả khu nhà nầy. Hắn sẽ không biết ta ở đâu, vả lại chắc hắn không biết June đã thấy hắn đâu.

Họ chạy tới ven biển nấp sau những tảng đá, thở hồi hộp. June ngóc đầu nhìn ra sân trong lúc hai cô bạn nhìn xuống dưới biển. Họ nhận thấy một chiếc thuyền nhỏ gần bờ hơi xích về bên trái nơi họ nấp, nhưng thuyền không có người. Tất cả im lặng. Không có một tiếng động nào lạ. Chợt June thì thào:

- Hắn đang leo ra khỏi giếng!... Hắn băng qua sân... Hắn định vào nhà...

Margaret hỏi:

- Liệu hắn có biết ta ở đây không?

June đáp:

- Nếu biết cũng chẳng sao. Chờ coi hắn có ra không... Có!... Hắn ra kìa!... Hắn đang chạy...

Cả ba nhìn ra sân. Họ thấy người kia lẩn xuống giếng, có vẻ vội vàng. Một vài phút sau dường như hắn chui ra từ dưới tảng đá và đi về phía chiếc thuyền. Một người khác, ẩn núp nơi nào đó bước tới, rồi cả hai cùng xuống thuyền chèo dọc theo bở biển. Khi họ ngang qua chỗ ba cô gái nấp, Wendy bảo các bạn:

- Nhìn kỹ hình dạng chúng nhé.

Khi chiếc thuyền đã khuất dạng, cả ba đứng dậy trở về nhà, vừa lúc trời tối. Cha của Wendy đưa họ tới cảnh sát, nói lại câu chuyện và trình bày mấy chiếc nhẫn vàng.

Một cảnh sát viên nói:

- Tôi biết chiếc nhẫn này ở đâu ra rồi. Tuần vừa qua một tiệm kim hoàn bị mất trộm. Liệu hai tên đó có thấy các cô không?

Nàng đáp:

- Không! Tôi chắc chắn họ không thấy.

Người cảnh sát quả quyết:

- Nếu thế thì tốt hơn là ta đợi đến sáng mai xem. Tôi sẽ cho vài người tới khám xét nơi đây và tóm cổ chúng nếu chúng trở lại.

Họ đã làm y lời và khám phá ra một số lớn nữ trang có giá trị gần ngay nơi mà June tìm thấy cái bao da đựng nhẫn. Bọn chúng dùng căn nhà hoang đó làm sào huyệt và không ngờ đã bị bại lộ.

Không đầy một tuần, bọn trộm bị tóm cổ. Chúng vờ làm thuyền chài chèo thuyền tới. Một tên đi vào hầm quen như lần trước và bị tóm cổ tại ngay căn phòng nhỏ. Tên kia, nghe thấy tiếng động bỏ chạy về phía thuyền, nhưng có hai cảnh sát núp sau tảng đá, nên hắn không trốn thoát. Sau đó các cô nhận diện được chắc đúng là hai tên đã gặp trước.

Khi Wendy, Margaret và June trở lại trường học vào đầu mùa thu, mỗi cô được một chiếc nhẫn vàng xinh xắn để khoe với bạn học.

Những chiếc nhẫn là phần của giải thưởng mà họ nhận được, nhờ sự khám phá ra đồ nữ trang, châu báu bị mất cắp.

Wendy kể lại truyện nầy đã nói thêm: "Thật ra thì công của June đã làm".


NGUYỄN LŨY dịch    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 14, ra ngày 25-2-1964)