Thứ Năm, 22 tháng 2, 2024

TRỞ VỀ TRƯỜNG CŨ - Khổng Quốc Hùng

 

Rồi ngày tháng nào đã vụt trôi nhanh... hơn ba năm xa cách ngôi trường đầy yêu dấu và kỷ niệm học trò. Lòng tôi nôn nao, bồi hồi theo từng đoạn đường, theo từng cánh đồng lúa. Chiếc xe chạy vun vút trên con đường nhựa phẳng lì. Con đường nối liền Saigon - Định Tường, vùng đất hiền hòa, có ngôi trường bán công đã ghi nhiều kỷ niệm thơ ấu, học trò của mười năm yêu dấu.

Sáng nay trời thật đẹp. Ở cuối chân trời có vài phiến mây trắng đang lững lờ trôi. Những nhành lúa mới nghiêng mình theo chiều gió, rung rinh như chào đón, mừng người bạn tri kỷ đi xa trở về thăm quê hương, mái trường.

Chẳng mấy chốc đã đến nơi. Tôi thở phào khoan khoái... bước chân sáo trên con đường đất quanh co dẫn vào nhà. Nhà tôi ở cuối đường, thấp thoáng trong khu vườn thật nhiều cây trái. Nhà tôi vẫn như mọi căn nhà khác, có cây cột nhà to tròn, bóng loáng. Cái sân đất trước nhà, có giàn hoa giấy trông thật xinh, nơi mà ngày xưa tôi chơi đùa với các bạn bé bỏng dễ thương mỗi buổi trưa. Hàng rào dâm bụt có vài nụ hoa móng tay, mười giờ... nơi gia đình tôi hay ngồi chơi dưới ánh trăng mỗi buổi tối, vẫn tốt tươi như ngày nào... Tôi bước vô nhà, má đang ngồi ăn trầu ở bộ đi văng. Tôi chạy đến ôm má, vuốt ve những sợi tóc muối tiêu bay lòa xòa trước gió. Má mắng yêu:

- Ơ... ơ... cái gì kỳ vậy? Ủa mới về hả con? Có khỏe mạnh không con? Để má đi dọn cơm ăn, kẻo đói con. Tắm rửa rồi thay quần áo để ăn cơm, ba mầy sắp về...

Bữa cơm ấy thật giản dị, toàn là những món mộc mạc, đặc tính chất của đồng quê. Tuy vậy, tôi ăn vẫn thấy ngon vô cùng. Có lẽ vì đói bụng, hay vì cảnh đoàn tụ của gia đình tôi chăng? Ăn xong, đã có chuối và nước dừa để tráng miệng. Nước dừa và chuối vùng này ngọt thật. Nó ngọt như lòng bà mẹ quê thương con vô bờ bến. Uống nước dừa và ăn chuối vào hết cả mệt mỏi.

*

Buổi trưa, tôi đi lang thang trong xóm. Buổi trưa thật vắng, chỉ có tiếng lá tre, lá dừa xào xạc. Hàng cau in bóng xuống đường trong cơn nắng. Một thứ nắng dìu dịu, nhẹ nhàng, không gay gắt của đồng quê...

Nhà cu Tuấn, bạn thân của tôi đây rồi! Vừa thấy tôi, Tuấn vội chạy ra ôm chầm lấy tôi mừng rỡ. Tuấn bây giờ lớn con và hơi xanh. Vài giây trôi qua, Tuấn lôi tôi vào nhà, nụ cười Tuấn thật tươi:

- Mày về chơi có lâu không?

Không trả lời vội, tôi đưa mắt nhìn khắp căn nhà. Chẳng thay đổi gì cả. Vẫn hồ cá của tôi và Tuấn ở trên tủ chén. Vẫn bình hoa mai giấy ở giữa bàn học... Tôi mỉm cười:

- Ở đây chơi được hai tháng lận!

Rồi hai đứa đi lang thang trên con đường làng đầy cỏ may dẫn đến trường. Ngôi trường làng có vẻ náo nhiệt vì đang là giờ học của học trò quê. Chung quanh trường được bao bọc bằng hàng rào dâm bụt lẫn hoa mười giờ, hoa ngâu... Tôi và Tuấn đứng ở ngoài nhìn vào các lớp. Vẫn không có gì đổi mới cả. Những bộ bàn ghế làm bằng tre, bằng trúc sơn xanh trông đơn sơ nhưng rất đẹp. Tôi yêu mái trường, lớp học lắm vì ở đó đầy những kỷ niệm yêu dấu, đầy tiếng học bài ngây thơ của trò quê.

Trường quê nền bằng xi măng nhẵn bóng ; mỗi lúc mưa nước dâng lên tới nửa bắp chân. Ngày xưa, tôi và Tuấn hay lấy chân đập nước cho bắn tung tóe rồi cười. Tôi còn nhớ cô giáo Hồng có hai món "nhậu": món "bánh chưng mây" cho đứa nào không thuộc bài, món "đội đá học bài" cho kẻ nói chuyện, đánh nhau trong lớp. Thầy Thái của tôi hồi lớp ba với những lần học trò không hiểu bài, thầy nói "ngu quá, ở nhà bế em, rửa bát cho xong, học hành gì"... rồi lại phải giảng lại cho tụi học trò hiểu. Thầy Luân với những hình phạt có vẻ "Quang Trung" như: "máy bay bà già" cho kẻ phát ngôn bừa bãi, "bơm dầu" cho đứa nói chuyện.

Tôi chậm rãi ra sau trường cùng với Tuấn. Mỗi đứa theo đuổi một ý nghĩ riêng của mình. Cỏ ở sau sân trường xào xạc dưới chân theo cơn gió đầu mùa. Xa xa vài cô bướm, dăm cậu chuồn chuồn đang bay lơ lửng trên các bông cây điệp, cây phượng. Sân cỏ này tôi đã từng chơi u với các bạn tới mỗi buổi trưa, ngồi đá cỏ gà khi buồn, đánh bóng chuyền với các bạn nhân dịp Giáng Sinh, Tất Niên.

Tôi không thấy mệt, nản khi đi thăm những nhà người quen, nhà các bạn thân từ bé, từng cánh đồng đầy cây lúa vàng chín. Bản chất thành thị ở bản thân tôi biến hết theo từng tiếng ca của các mục đồng mỗi buổi chiều, từng tiếng gà gáy ó o... mỗi buổi sáng tinh sương, tiếng gọi nhau ơi ới, ngây ngô của các em bé mới bắt đầu đi học.

Tôi muốn thời gian kéo dài ra hơn để thấy tình bạn thắm thiết, thấy mái trường ngày ngày không ngớt tiếng học bài, thấy người cha, người mẹ cần cù đi cày, đi cấy để lo tương lai cho các con mình.

Ôi! Mái trường tôi, quê hương tôi vẫn đẹp. Cái đẹp mộc mạc bình dị của đồng quê. Vẫn có những hàng dừa nghiêng mình in bóng xuống dòng sông, những hàng cau thẳng tắp đến cuối làng vẫn vẻ hiền hòa, bình thản trước cuộc chiến kéo dài đã lâu.

Tôi, Tuấn và mấy đứa bạn nữa: Huân, Hải lại vui đùa với nhau như ngày trước, những kỷ niệm học trò lại được tìm về: ngồi tán gẫu ở giàn hoa giấy mỗi trưa hè, đi bơi trong những ngày nắng gắt, lấy ná bắn chim sẻ đem nấu cháo, hầm cà ri...

Tôi đi thăm lại con sông ở giữa làng và tìm thấy lại những kỷ niệm thơ ấu. Tôi còn nhớ rõ mỗi buổi trưa, tôi và các bạn đi chặt chuối kết làm bè rồi lấy nhọ nồi bôi lên mặt, lên mình cho... đẹp và đánh nhau với tụi trẻ xóm trên. Hai bên đánh cận chiến thật là ác liệt, dùng tre trúc quật nhau túi bụi. Tiếng hò hét, lẫn tiếng nhạc đệm miệng vang cả khúc sông. Nước đục ngầu vì bị khuấy lộn. Đánh nhau trên bè chưa đã, tụi tôi lại nhào xuống sông, vừa bơi vừa đánh với bọn kia. Bao nhiêu thế võ được đem ra áp dụng hết. Từ thế cổ điển như cắn, cấu, cào đến thế mới như bịt mũi, miệng cho ngộp thở, dìm đầu xuống cho hết bơi, lấy tre trúc quật mạnh vào bụng "giò". Đúng là cảnh quân ta đánh với quân Nguyên trên sông... kết quả: tụi tôi thắng trận vẻ vang. Thương ơi là thương.

Hồi còn học ở trường làng, tôi còn nhớ rõ thân hình "thiết quân vận" của thầy Giám thị Tố. Ông thầy này dữ như cọp trong sở thú ở Saigon. Có lần bản nội quy của trường được thầy Tố bắt lớp tôi chép phạt mỗi đứa... 50 lần. Kinh khủng... Bây giờ tôi không thấy ông đó đâu nữa. Có đứa nói: thầy Tố được "Quang Trung" họ đạt giấy mời rồi. Còn hồi học lớp Nhất, thầy Vương dạy tôi. Thầy còn có biệt hiệu "Vương lùn" vì thân hình của thầy không được cao cho lắm. Thầy có tật hay ho trong giờ giảng bài, nên sau tiếng ho của thầy là trong lớp có vài tiếng ho phụ họa và lúc sau cả lớp mở chiến dịch "ho". Thấy vậy, thầy Vương nói: "Thầy cho các em ho đúng 5 phút, sau đó ai ho thầy đánh chết". Thế là cả lớp ho. Ho đủ thứ kiểu. Hết kiểu ho lao phổi, lao... bao tử... đến kiểu ho bị hen, bị suyễn. Ho văng nước bọt, chảy nước mắt. Sau thời gian hạn định, thầy Vương chỉ lắc đầu, nói: "Tôi chịu các em luôn. Đúng với câu: nhất quỷ nhì ma, thứ ba là học trò. Các em phá lớp chọc thầy chẳng kém gì tụi học trò tỉnh thành bao nhiêu.

Rồi khi gió chiều thổi nhè nhẹ, vài ba chiếc lá bàng rơi lác đác xuống sân đình. Trên cây cổ thụ, vài con chim se sẻ gọi đàn riu rít. Chúng tôi lại đem diều ra thả và nằm nói chuyện trên thảm cỏ xanh.

Xa xa, ở gốc đa kia, mấy chú mục đồng đang đánh bi vui vẻ lắm.

Nhiều kỷ niệm êm đềm nhất phải nói đến hồi học lớp tư. Hồi ấy, mái lớp lợp ngói, nền bằng xi măng, bàn ghế rất đơn sơ. Ngồi trong lớp, vừa nghe thầy giảng bài vừa nghe tiếng chim sẻ hót ríu rít ở trên mái ngói, lâu lâu vài ngọn gió thổi mang mùi lúa chín thoang thoảng đập nhẹ vào mũi làm lòng tôi dâng lên một niềm cảm xúc rạt rào vô biên.

Sướng nhất là lúc trời mưa. Ngoài trời tiếng mưa vần vũ, tiếng sấm nổ đinh tai... trong lớp, tụi học trò nhao nhao lên như một bầy chim vỡ tổ. Chẳng còn học hành gì nữa cả.

Tiếng nước mưa dột xuống bàn nghe tí tách, vui tai ghê. Thầy phải hét mới giữ được trật tự. Những khi gặp mưa lớn, nước tràn vào lớp như thác lũ và lên tận đầu gối. Bấy giờ là lúc các đấng... ra tay nghịch phá. Chúng lấy giấy làm thuyền học trò rồi thả cho trôi đi. Đủ thứ thuyền. Giấy vở bị trưng dụng. Tiếng xé vở nghe xoàn xoạt. Chẳng bao lâu, cả lớp đầy ắp những thuyền. Những con thuyền bé bé, con con được trang điểm bằng mực tím, xanh trông thật đẹp mắt. Này con thuyền "Hải tặc" với cái đầu lâu bắt chéo qua hai ống xương do thằng Nhân chế tạo. Vài con thuyền tấp vào bến (bến là cái chân ghế) mang... mật thư đại ý như "về học đi tắm nhá cơ" ; "chế tạo cái thuyền khác đi, thuyền mày bị "tịch" rồi. Lúc này, chúng nó coi thầy chẳng có gờ ram nào cả, thầy chỉ biết ngồi trên ghế, trơ mắt mà nhìn những "kỳ công" của tụi học trò quê mà thôi. Đánh vô ích. Nhiều con trôi dạt sang lớp khác mất dạng.

Chơi cho đã, chúng nghĩ ra trò chơi khác. Trò chơi "dìm thuyền". Khi con thuyền vào bậy "hải phận", thì lính học trò dùng tay, chân hay đạn bì bắn cho chìm mất thì thôi... Vui ơi là vui.

Tôi còn nhớ rõ, mỗi sáng thứ hai, tôi phải dậy sớm lo bài vở, tắm rửa cho sạch sẽ... để kéo cờ. Sau tiếng hô "nghiêm" của ông Hiệu trưởng, bài quốc ca được trổi lên, tay run run, hai đầu gối muốn khụy xuống, tôi từ từ kéo dây cờ lên tận đỉnh mà mặt đỏ bừng. Có lẽ vừa sung sướng vừa xấu hổ chăng?

Thế giới học trò là thế giới của những trò chơi nghịch dại, đầy ngây thơ, bất chấp hậu quả của nó. Ai đánh mất thế giới đó là kẻ bất hạnh - bất hạnh vô cùng. Thế giới học trò là một viên ô mai ngọt ngọt chua chua. Ngọt ngọt là tình bạn thắm thiết như keo sơn, không có gì làm phai mờ được. Chua chua là lúc giận dỗi. Cái giận dỗi của học trò nó ngây thơ làm sao ấy. Nhưng nó không thâm hiểm và ít khi lâu. Chỉ một nụ cười hòa, một giọt mực, một tờ giấy thi... cũng đủ làm tan biến cái giận dỗi ấy đi một cách mau chóng. Không ai hiểu và giải thích nổi.


KHỔNG QUỐC HÙNG     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 78, ra ngày 25-2-1973)


Không có nhận xét nào: