Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2021

CHƯƠNG II_TRONG CẶP NẾN HỒNG

 

CHƯƠNG II

SÁU HÀNG CHỮ SỐ


Ba Trực đứng dậy, lễ phép nói với bà Hai Trung trước khi bước ra cửa :

- Chị tuân đúng lời anh dặn lại là phải rồi. Phần em, em làm y theo lời chị dạy. Thế là đủ. Còn có hiệu nghiệm hay không, cái đó đâu ai dám chắc. Tất cả trông vào sự may rủi may nhờ, rủi chịu vì thực ra cũng chả có cách nào làm khác hơn.
Người chị dâu, một thiếu phụ tuổi ngoài bốn mươi, mặt mũi phúc hậu, lên tiếng đính chính, giọng đầy tin tưởng :
- Không phải là vấn đề may rủi đâu, chú. Anh đã lưu tâm xếp đặt từ trước thì những gì sẽ xảy ra chắc chắn là phải theo đúng ý muốn của anh. Có điều anh không cho biết trước kết quả nên chị em mình mới hơi hoang mang một chút đó thôi.
- Vâng ông Ba Trực kính cẩn trả lời, mắt ngước nhìn chiếc đồng hồ treo tường Đúng sáu giờ rồi. Để em sang nhà ông giáo ngay bây giờ.
Bà Hai Trung đang đứng gần cửa, thò đầu ra ngoài hẻm, nói :
- Vừa vặn đúng giờ tan bọc. Chú đợi mấy phút cho các cậu ra hết hãy qua.
Chờ người học trò cuối cùng dắt xe ra khỏi cổng, ông Ba Trực mới gõ cửa bước vào.
- Ủa ! ông Liên gia trưởng ông giáo Bắc reo lên Mời ông vào chơi. Mát trời, ta ra vườn uống trà, nói chuyện cho thoải mái.
Ông giáo đích thân pha ấm trà ướp sen đãi khách dưới dàn mướp hương đang ra trái.
San khi thưởng xong một tuần trà, ông Ba đặt tách xuống bàn khen nức nở :
- Tuyệt ! Trà bà giáo ướp vẫn có nét độc đáo hơn người. Chị hai tôi ướp cũng đã ngon, nhưng quả thật vẫn chưa bằng.
Ông giáo mỉm cười, khiêm nhượng đáp :
- Ông Ba quá khen ! Bà Hai ướp xong mẻ trà có cho chúng tôi ít lạng. Tôi đã pha uống thử. Ngát và thanh lắm, ông Ba...
Nâng chén trà tỏa hương dìu dịu, ông Ba vào đề :
- Chả nói giấu gì ông giáo, từ ngày quý quyến về đây, cả xóm Ngọc Lan này đều được nhờ ơn đức của ông giáo.
Ông Bắc vội ngắt lời :
- Ấy chết, ông Ba dậy quá lời, tôi đâu dám nhận. Thực tình, tôi nào có giúp được bất cứ việc gì đáng kể cho bà con trong xóm đâu.
- Dạ, hà tất phải làm việc gì to tát mới là đáng kể. Chính đời sống thanh cao của ông giáo là một tấm gương trong sáng cho tất cả chúng tôi soi chung. Nhất là bọn thiếu niên hậu tiến, con em của chúng tôi, sau này chúng có khá phần lớn là nhờ vào niềm tin mà chúng còn giữ được nơi thế hệ cha anh mà ông giáo là tiêu biểu.
Ngưng một giây, ông Ba nói tiếp :
- Chúng tôi mạn phép thưa như vậy, tuy có xúc phạm đến đức khiêm cung của ông giáo, nhưng đó chính là sự thật. Vì đối với chúng tôi, ông giáo là một người tài đức vẹn toàn đáng cho chúng tôi tin cậy. Vì lẽ đó, chúng tôi xin có lời thành khẩn mời ông giáo chiều mai, cũng vào giờ này, quá bộ qua nhà chúng tôi xơi chén rượu nhạt và chứng kiến giùm cho chúng tôi một việc quan trọng...
Ông giáo ngạc nhiên hỏi :
- Ủa, việc chi vậy, ông Ba ?
- Câu chuyện khá dài giòng. Tôi xin thưa vắn tắt. Chúng tôi là người tỉnh Bến Tre, ở một xã xa xôi, cách đây bẩy tám năm, vốn là một vùng xôi đậu. Đời sống lúc bấy giờ thật là rắc rối, khó khăn, nguy hiểm, cơ cực. Lúc ấy là lúc anh Hai chúng tôi còn sanh tiền. Gia đình anh em chúng tôi cũng như một số lớn gia đình các bạn đồng hương còn tồn tại được đến ngày nay là nhờ vào sự che chở của một người bạn mà thiên hạ đều kêu là Anh Tư.
"Anh Tư là một người quốc gia chân chính, phải dấn thân vào nơi nhơ nhớp để một mình gánh vác sự an nguy giùm cho tất cả bà con trong xã.
"Cách đây năm năm, anh Hai tôi đau nặng. Khi biết mình không thể qua khỏi được, anh Hai tôi có dặn lại chị Hai tôi : "Sau này yên giặc rồi, tất anh Tư bị chính quyền nghi ngờ. Nếu có điều chi không giải quyết được, em cứ lục ở dưới đáy rương lấy cặp nến hồng anh cất trong đó ra, gắn lên trên bàn thờ, đốt lên và khấn anh, anh sẽ về chỉ dẫn cho... Có điều lúc ấy cần sự có mặt của một người vừa có tài, vừa có đức mới được. Có tài để hiểu ý của anh, và có đức để không làm ngược lại những gì cần phải làm... "
"Thưa ông giáo, ngày nay thế lớn đã tạm yên. Quả nhiên Anh Tư bị giữ vì bị nghi là người của địch. Chúng tôi vừa được tin xong nên phải kiếm cách cứu anh ngay. Nếu chậm trễ, anh sẽ bị giao trả cho phía bên kia, tính mạng anh chắc khó được an toàn, và danh dự anh nhất định sẽ bị sứt mẻ.
"Chị em chúng tôi đã bàn định và nhất quyết chiều mai thực hiện lời trối trăng của anh Hai tôi.
"May phước chúng tôi gặp được ông giáo đúng lả mẫu người tài đức mà anh Hai chúng tôi tin cậy... Thế nào cũng xin ông giáo nhín chút thì giờ...
Ông Bắc trầm ngâm hỏi lại :
- Ông Ba có mời ai nữa không ?
- Thưa, trong xóm ta có cụ Cử Sách và cụ Hương Cả là hai vị tuổi cao đức trọng. Bữa tiệc mọn ngày mai chỉ có hai cụ và chúng tôi nữa là ba để bồi tiếp ông giáo thôi đấy ạ.
- Vâng, ông Ba đã dậy thế, tôi không dám chối từ. Chiều mai, đúng sáu giờ, tôi xin qua.
Buổi sáng, bà giáo đã thân hành đi chợ Saigon mua một chục xoài thật đẹp để buổi chiều bà cho Nga, cô con gái cưng, mang vào nhà bà Hai làm đồ lễ.
Khi ông giáo tới, trong nhà đã ngồi đủ mấy vị quý khách cao niên.
Trên bàn thờ, đèn hương nghi ngút. Nhưng cặp nến lớn mầu hồng đậm cắm sẵn trên đôi đèn đồng bóng loáng vẫn chưa được thắp.
Đó chính là cặp nến cất kỹ trong đáy rương mà ông Ba nói đến trong câu chuyện ly kỳ chiều hôm trước.
Gia chủ cố ý dành cho ông giáo danh dự châm ngọn lửa thiêng vào cặp đèn cầy đỏ thẫm này.
Ông giáo kính cẩn niệm hương.
Từ bức ảnh phóng lớn của người quá cố, đôi mắt tinh anh ngó xuống như cảm thông với cái tâm thành của người đang khấn vái.
Và ánh nến cháy vững ngọn chiếu sáng, làm rạng rỡ thêm vừng trán cao trên khuôn mặt khôi ngô và cương quyết của nhà mô phạm.
Rồi chuyện nổ như bắp rang giữa mấy vị tuy cùng ở cùng một xóm nhưng ít khi có dịp gặp nhau lâu chung quanh một cái bàn.
Cụ Cử, một vị thâm nho vốn hiếm bạn và xưa nay chả tâm phục ai, không tiếc lời khen tặng ông giáo :
- Tôi nói thật, ông giáo có một ảnh hưởng lạ lùng chẳng những đối với đám học sinh mà còn đối với cả bọn trung niên và cao niên chúng tôi nữa đó. Có lần tôi đã nói với ông Ba : Từ đầu năm đến giờ, đố ai nghe thấy trong xóm mình một tiếng chửi thề hay một lời thô bỉ.
"Ông giáo không hề khuyên ai nên làm điều gì hay chớ nên làm điều gì. Ấy thế mà các ông trong chẳng ai bảo ai bỏ hẳn được tính rượu chè bê bối. Các bà cũng dứt được cái thói quen "điều binh khiển tướng". Cụ coi, thế có lạ không, cụ Hương ?
Cụ Hương Cả phe phẩy chiếc quạt giấy mặc dầu trên trần chiếc quạt máy vẫn quay đều cánh.
- Dạ, chính thế cụ Hương vui vẻ đáp Như vậy mới thật xứng đáng một nhà gương mẫu. Thưa cụ, ở đời này, giữ được cho riêng mình một nếp sống thuần lương đã là một chuyện khó. Nhưng làm cho mọi người ở chung quanh tự ý hòa mình vào nếp sống ấy lại càng khó hơn và do đó lại càng quý hóa hơn gấp bội...
Tàn hương, bà Hai lễ tạ và mời mọi người vào tiệc.
- Chú Ba, bà nói, chú ngồi tiếp rượu hai cụ và ông giáo giùm chị nhé.
- Dạ.
Cụ Cử khề khà nói :
- Ngày xưa, các cụ dạy : "Vô tửu bất thành lễ" nên ở chốn đình trung cũng như ở trong nhà những khi giỗ chạp, chỗ nào cũng có rượu. Những rắc rối vì rượu mà sinh ra không phải là không có, nhưng còn tương đối ít. Ngày nay, sao tôi thấy quá tệ. Không ngày nào không có báo đăng những chuyện chẳng ra gì do rượu gây ra giữa những người vốn nhận nhau là bạn. Thấy vậy đâm ra sợ, cho nên họa hoằn lắm tôi mới nhắp chút đỉnh cho đỡ buồn. Hôm nay vui lắm, tôi xin phá lệ để thừa tiếp các cụ và ông giáo một ly. Hà hà...
Cụ Hương Cả tiếp lời :
- Nói cho ngay, chén rượu chẳng qua cũng như miếng trầu để dùng vào làm đầu câu chuyện xã giao. Không uống được, hơi kém vui một chút. Nhưng uống được cũng chẳng có gì là hay ho. Ấy thế mà tôi thấy khối người dường như lấy làm hãnh diện khi bầy trên bàn thật nhiều vỏ chai đã cạn. Cái hại là ở chỗ đó, phải không các cụ ?
- Dạ ông giáo nhỏ nhẹ đáp Theo ý tôi, rượu càng uống ít càng tốt. Và chả bao giờ nên uống cho đến say...
Ông Ba đặt chén xuống bàn, lắc đầu, cười nói :
- Vâng, sợ nhất mấy ông nát rượu. Trời cũng còn là nhỏ. Và không có điều lãng xẹt nào các ông ấy không dám làm.
Câu chuyện lan man từ gần đến xa, từ đời sống đắt đỏ đến những vấn đề thời sự nóng bỏng. Tiếng cười giòn như pháo và vui như Tết.
Bà Hai chạy ra chạy vào sai phái các con mang tiếp thức ăn lên đãi khách. Hùng, con trai lớn của bà, và Hiền, cô con gái út, lăng xăng hầu thầy chúng rất chu đáo.
Tiệc gần tàn, Hiền đã bưng sẵn đồ tráng miệng lên.
Bà Hai đang lo pha một ấm trà mới thật ngon, bỗng ngừng tay, kêu lên một tiếng sợ hãi :
- Ồ !
Cả bàn tiệc, cả anh em Hùng, Hiền, cùng kinh ngạc thốt :
- Ồ !
Bao nhiêu cặp mắt đều chăm chú ngó lên bàn thờ. Một ngọn nến đỏ thẫm mới cháy được nửa chừng bỗng tự nhiên tắt phụt !
Một thoáng lo lắng hiện trên nét mặt mọi người, tưởng chừng như đó là một điềm xui xẻo.
Ông giáo Bắc nghiêng đầu khẽ rỉ tai ông Ba :
- Đó, ông Hai đang bắt đầu chỉ dẫn đó !
Như người chợt tỉnh giấc mơ, ông Ba Trực gật đầu hưởng ứng :
- Dạ, dạ...
Ông giáo vẫy Hùng lại gần, ôn tồn bảo :
- Con gỡ cây nến vừa tắt lại đây cho thầy.
- Vâng ạ.
Mọi người đổ dồn vào cây nến tắt nửa chừng ông giáo cầm nơi tay. Không trông thấy vết bấc. Giơ lên soi không thấy gì. Vì mầu nến quá thẫm nên trong ruột nến có tim hay không cũng khó lòng biết được.
Trước sự ngạc nhiên của mọi người, ông giáo khẽ bửa đôi đoạn nến. A, có một vật lạ bên trong chất sáp. Một mẩu giấy ló đầu ra. Bóp vụn nến, gỡ vật lạ dần dần thì được một cuốn giấy nhỏ và dài như một sợi tim đèn.
Tất cả cùng ồ lên một tiếng kinh ngạc trong khi ông giáo từ tốn mở rộng tờ giấy, vuốt lại cho phẳng phiu và trải trên bàn.
Đó là một tờ giấy bản vuông vắn, mỗi bề độ 10 phân. Trên mặt giấy chi chít những con số. Viết bằng bút lông và mực nho.
Trên cùng có một nhóm năm chữ K V K 30 đứng tách ra như một vị chỉ huy dẫn đầu một đám người xếp hàng ngay ngắn theo sau.
Đám này gồm 6 hàng chữ số. Mỗi hàng có 5 nhóm, mỗi nhóm có 6 con số.
Cụ Cử, cụ Hương Cả truyền tay nhau ngắm nghía các nhóm chữ số ngay hàng thẳng lối đang âm thầm diễn hành trên mảnh giấy im lìm.
Ông Ba xem chán, đưa cho bà chị dâu coi.
Sau cùng, Hùng và Hiền cũng ghé mắt cùng xem và cùng lẩm nhẩm đọc :

K V K 30
032204 077203 003901 219701 196503
055304 216604 191501 306305 306705
005007 073505 000103 318305 158304
197101 268504 041501 127602 320406
185001 058301 314901 077103 046504
309202 318902 202701 266806 083808

Toàn những chữ số là chữ số, chả ai hiểu ra làm sao cả.
Hùng đánh bạo hỏi thầy :
- Đặc những số là số. Không lẽ là những phương trình toán ! Ba con đâu có giỏi toán!
- Ờ ông giáo mỉm cười đáp Ba con không giỏi toán, nhưng ba con giỏi làm thơ thì sao ?
- Ủa ! Hùng kêu lên Sao thầy hay vậy ? Ba con khoái làm thơ lắm.
Mắt đăm đăm nhìn vào mảnh giấy đặc kịt những hàng chữ số, ông giáo trầm ngâm một lúc lâu trước khi nghiêng đầu hỏi ông Ba Trực :
- Thuở sinh thời, ông Hai thường hay ngâm nga những truyện bằng thơ lắm, phải không ông Ba ?
Ông Trực ngẩn người ra, chưa kịp đáp thì bà Hai đã vội đỡ lời :
- Đúng vậy đó, thưa ông giáo. Những lúc thừa nhàn, ba các cháu thường hay ngâm Lục Vân Tiên, Kiều hay Tần cung oán.
Không ai hiểu ông giáo hỏi vậy là có ý gì. Nhưng ai nấy để cả mắt và chú tâm vào mảnh giấy nhỏ xíu đầy bí ẩn nên không nghe thấy tiếng một chiếc xe gắn máy lạ đi vào trong hẻm và đậu ngay trước cửa.
Thậm chí có người lạ vào đến giữa nhà cũng chẳng ai hay.
- Giơ tay lên !
Nghe tiếng quát, mọi người giật mình, ngửng đầu lên, hốt hoảng.
Một khẩu súng đen ngòm đang chĩa thẳng vào người ông giáo.
Người cầm súng là một tên cao lớn có nước da đen đúa. Một vết sẹo dài bên má trái điểm xuyết cho nét mặt y thêm vẻ dữ dằn.
Y trợn mắt nhìn ông giáo. Một nhếch mép lạnh lùng thoáng hiện trên môi y mỏng dính. Vẻ đắc chí của tên gian manh trông thật là đáng ghét.

_________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG III

 

Không có nhận xét nào: