Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2021

CHƯƠNG VII_TRONG CẶP NẾN HỒNG

 

CHƯƠNG VII

GIẤY TỜ TRONG RUỘT ĐÁ

Sáu giờ sáng.
Vừa dứt giờ giới nghiêm, tiếng động cơ đủ loại nổ giòn tan, hứa hẹn trước một ngày náo nhiệt.
Ông giáo cũng như chiếc xe Peugeot khiêm tốn của ông đã sẵn sàng.
Đám du khách đồng hành cũng sẵn sàng không kém.
- Có lẽ ta nên đi sớm cho mát ông giáo đưa ý kiến.
- Dạ vâng, dạ vâng ! tất cả vội biểu đồng tình.
Ông Ba và Dũng leo lên băng trước, ngồi cạnh ông giáo cầm tay bánh.
Bà Hai, Bà Ba và Hiền, con gái bà Hai, chiếm băng sau cùng với đồ lễ và các đồ lặt vặt khác.
Xe bon bon ra khỏi Phú Lâm khi mọi người bắt đầu chuyện vãn.
- Thưa ông giáo ông Ba nói nhìn hiệu xe 203, tôi bỗng nhớ lời người ta thường nói : Ở đời, đã có 2 thì không thể chẳng có 3. Ông giáo nghĩ sao ?
- Đúng vậy đó, ông Ba. Đã có 2 rồi, sớm muộn cũng phải có 3.
- Về vụ hẻm mình, chúng đã chơi hai ván và đã thua cả hai sát ván.
- Ấy thế, chúng càng có lý do để gỡ bằng ván thứ ba.
Bà Hai nói chen vô trong gió lộng :
- Thưa ông giáo, tôi biết mặt tên Bẩy Cát. Y là một tay sừng sỏ. Ngày xưa, y cũng đã ra mặt chống báng anh Tư. Y còn ở ngoài vòng pháp luật ngày nào, e mình chưa yên được ngày đó.
Ông giáo gật gù khen :
- Bà Hai nói đúng. Ta chưa triệt được tên cầm đầu thì mối lo của ta hãy còn.
Ông Ba cười nói :
- Theo ý tôi, cả hai ván bài, chúng cùng thua đậm, có thể chúng không còn "láng" để đánh ván thứ ba mặc dầu chúng còn muốn gỡ.
- Còn chứ ! ông giáo cãi Còn tên cầm đầu là còn "láng". Và chúng vẫn còn hy vọng lật ngược thế cờ.
Nói đến cờ là ông Ba khoái vì đó là môn giải trí sở trường của ông. Ông ví von :
- Cờ của chúng đã thua quân lại kém thế. Muốn thắng, chúng chỉ có mỗi một cách là lừa lúc ta vô tình mà chiếu bí.
- Chính thế ! ông giáo nói Đánh cờ, đang thắng thế mà thua oan là tại coi thường bên địch. Ở ngoài đời, chủ quan khinh địch cũng tai hại y như vậy. Nếu chúng ta không đề cao cảnh giác, chúng có thể quất chúng ta một vố thật cay chua.
Suy nghĩ lời nói thấm thía của người đối thoại, ông Trực tỉnh ngộ nói :
- Trong trường hợp ấy, dù mình được hai ba trận trước, rút cục vẫn là thua. Có khi thua đau hết lối gỡ, ông giáo nhỉ.
- Phải. Thì cũng như chiến tranh. Dùng binh, được thua là sự thường. Nhưng cái quan trọng là phải thắng trận đánh cuối cùng. Nếu thua 15 phút sau cùng là thua cả cuộc chiến.
Đi chơi xa bằng xe nhà có cái thú là thỉnh thoảng đậu xe lại ở dọc đường, ghé vào quán xinh xinh giải khát và mua một vài thứ thổ sản để ăn chơi hoặc để làm quà. Bọn du khách này cũng không ra ngoài thông lệ ấy, nhất là trong xe lại có các bà, các cô mà bản chất là hay ăn vặt.
Câu chuyện chuyển sang hướng khác khi xe lại bắt đầu lăn bánh ở Tân An.
Ông giáo mở lời :
- Bàn chuyện kín một chút không gì thuận tiện bằng nói trong khi xe chạy... Bà Hai có thể cho biết câu chuyện tấm bia của ông nhà không ạ ?
- Ủa ! ông giáo biết chuyện tấm bia ? bà Hai ngạc nhiên hỏi lại.
- Dạ biết ! ông giáo thản nhiên trả lời.
Bà Ba, Hiền và Dũng cùng kinh ngạc vì chính họ những người trong nhà, họ không biết tí gì về chuyện ấy.
Bà Hai bắt đầu kể :
- Hình như có lần tôi đã nói chuyện ốm đau của nhà tôi cho ông bà giáo nghe rồi thì phải. Nhà tôi đau cả năm, thuốc nào uống một hai thang đầu cũng thấy đỡ được chút xíu, nhưng đến thang thứ ba thì đâu lại hoàn đó. Nhà tôi dường như biết mình không thể qua khỏi được nên để những tháng cuối cùng lo lắng tỉ mỉ về hậu sự. Người ta thì lo đến cỗ quan tài. Nhà tôi, trái lại, chỉ chú tâm đến tấm bia để làm mộ chí. Ổng lần mò sang tận xã kế bên kiếm người quen chuyên gọt đá tạc tượng, đặt làm một tấm bia thật đẹp. Rồi đem về nhà, tự tay ổng o bế từng li từng chút...
Nét mặt ủ ê để tâm hồn quay ngược dòng thời gian về dĩ vãng, bà Hai lặng người giây lâu trước khi nói tiếp :
- Tôi không bao giờ làm trái ý nhà tôi, nhất là không nỡ để ổng buồn lòng trước khi nhắm mắt, nên cứ để ổng tự ý muốn làm gì thì làm. Thấy ổng ngày ngày chăm sóc tấm bia cứ tưởng thế nào ông cũng dặn sau này phải chôn nó cho thật cao để mọi người chiêm ngưỡng. Sự thật trái ngược lại hoàn toàn. Ổng cầm tay tôi, dặn đi dặn lại : "Mình phải nhớ cho kỹ và chớ nói lộ cho ai biết việc này. Anh Tư vừa là bạn thân, vừa là người có ơn lớn với gia đình ta. Một ngày kia, ảnh sẽ gặp chuyện rắc rối với chính quyền quốc gia mà ảnh phục vụ hết mình. Tấm bia này sẽ giúp ảnh thoát khỏi được những chuyện rắc rối ấy".
"Bằng cách nào ? Tôi hỏi lại.
"Mình không cần biết nhà tôi đáp Nguy hiểm lắm. Mình đừng nên biết thì hơn... Mình nhớ kỹ lời anh dặn :
"Thứ nhất là phải chôn thật sâu tấm bia đá này. Chỉ để hở một chút xíu lên cho khỏi mất dấu tích mà thôi. Không cần để cho ai đọc những chữ khắc sâu trên đó làm gì, mình nhớ chưa ?
"Thứ hai là khi nào an ninh ở xã mình được vãn hồi, thế nào anh Tư cũng gặp chuyện khó khăn. Lúc ấy, mình phải bàn với chú Ba, nhờ chú coi trong số người quen có ai là người tài đức vẹn toàn thì khẩn cầu người ta làm cố vấn giúp cho. Rồi lấy cặp nến hồng anh cất ở đáy rương lên. Trước sự chứng giám của vị cố vấn, cứ việc thắp nến lên, khắc rõ...
"Anh thiêng lắm mà ! Nhà tôi còn khôi hài với tôi như vậy.
"Sau này nhà tôi dặn tiếp nhờ người có cơ duyên hiểu được ý nghĩa những gì anh trối lại, anh Tư được vô sự rồi, mình muốn dựng bia lại cách nào tùy ý...
Ông Ba tiếp lời :
- May phước mà chúng tôi gặp được ông giáo. Nếu không, chắc cặp nến hồng và tấm bia đá có cũng như không. Nỗi oan của anh Tư sẽ không bao giờ giải được và anh Hai tôi ở dưới suối vàng chắc phải ân hận lắm.
Cảm động trước sự phát giác của bà Hai và lời lẽ chí thành của ông Ba, nhà mô phạm trầm ngâm suy nghĩ trước khi nghiêng đầu sang phía ông Ba hỏi :
- Gia đình nhà ta hiện còn nhiều người quen thân ở trong xã không ?
- Dạ, thiếu gì ông Ba đáp Toàn là trong họ, ngoài làng cả. Xã trưởng là em bà con của chúng tôi. Một số lớn người trong làng cũng là những người đã chịu ơn của anh Tư.
- Vậy tốt. Ta về tảo mộ cho ông Hai thế này chắc không ai thắc mắc ?
- Không có đâu. Thấy chúng tôi về thăm làng, họ mừng còn không hết.
 
*

Họ mừng thật sự khi thấy chiếc xe hơi chậm chậm tiến vào trong làng và đậu trước nhà ông xã trưởng.
Trái với những thị dân vì quá khôn ngoan nên dễ đa nghi, người nhà quê chất phác hiếu khách một cách thật chân thành.
Nhất là thời tăm tối đã qua, cái thời mà bất cứ ai dù thân nhau cách mấy cũng phải e dè "giữ miếng" với nhau.
Thời ấy qua mau và cái bản chất hồn nhiên bấy lâu tưởng như biến mất đã quay trở lại thật lẹ với những người chân lấm tay bùn vốn yêu điều thiện và ghét những gì là gian ác.
Đoàn người từ Saigon tới được ông xã trưởng mà chị em bà Hai kêu là chú Sáu tiếp đón niềm nở. Vợ con ông ta cũng mừng vui tíu tít
Bà Hai vừa hàn huyên với vợ chồng ông Sáu, vừa lăng xăng tặng quà cho sắp nhỏ trong khi bà Ba soạn đồ lễ để ra đồng tảo mộ.
- Từ ngày xã ta yên ông Sáu nói chúng em đã thay anh Ba và các chị trông nom các mộ phần chu đáo. Ngôi nào, em cũng cho sửa sang lại vuông vắn đàng hoàng. Có điều tấm bia trên mộ anh Hai sao lún xuống sâu quá, em không dám tự ý đổi dời. Hôm nay, có chị Hai về đây, em đề nghị đào tấm bia lên, gột rửa cho sạch sẽ rồi chôn lại cho ngay ngắn...
- Vâng bà Hai đáp cảm ơn chú thím Sáu đã chiếu cố cho anh Hai giùm chị và các cháu. Lát nữa, tảo mộ xong chúng tôi sẽ làm y theo lời chú nói.
Ông giáo Bắc chậm rãi tiếp lời :
- Ông Ba sợ chữ trên bia mờ nhạt hết nên có lẽ phải tô lại cho sáng sủa. Tôi có mang theo đầy đủ cả sơn, cả cọ và mấy ngọn bút lông. Việc này dễ, thầy giao cho Dũng lo, được không ?
- Thưa thầy, được ạ.
Buổi trưa, đi thanh minh về, cha con ông Ba khệ nệ khiêng để giữa sân, cạnh bể nước, tấm bia đầy bùn đất.
Sau khi chính tay mình kỳ cọ tảng đá từng li từng tí, ông Ba hết sức ngạc nhiên nhận thấy tấm bia chẳng có điểm chi khác lạ. Ông tự nhủ :
- Cái điệu này, nếu không có ông giáo nhúng tay vào giúp đỡ, chắc mình mù tịt vẫn hoàn mù tịt. Thế mới biết chỉ thiếu một chút thông minh, những gì bầy ngay ra trước mắt còn không trông thấy, nói chi đến những điều bí mật !
Lau chùi khô ráo tấm bia xong, hai cha con lại hì hục khuân vào để giữa phòng dành cho khách nghỉ trưa.
Ông giáo bước vào với túi đồ nghề nhỏ xíu trong đựng vài ba món rất thông thường : con dao, cái vặn đanh ốc, cây kìm, cây búa và thanh đá nam châm.
Không hiểu ông loay hoay cách nào mà chỉ một loáng mặt bia được mở ra như một cánh cửa. Từ trong lòng đá, ông lôi ra một gói vuông vắn bao bằng giấy dầu khô ráo trước cặp mắt vừa kinh ngạc vừa cảm phục của cha con cậu Dũng.
- Có vậy thôi ông giáo tuyên bố sau cái khoắng tay phối kiểm khắp trong ruột tấm bia Ông Ba cất lẹ đi. Chiều, lên xe hãy mở coi. Ông Sáu đã về tới kìa.
Quả nhiên, từ ngoài cổng tiến vào, có tiếng oang oang của ông xã trưởng :
- Xong chưa, bà xã ? Bầy lên đi để tôi đèn nhang khấn các cụ về chứng giám.
Ông Sáu bước vào trong phòng khi tập tài liệu đã nằm yên trong chiếc cặp da của ông Ba.
- Bữa nay có mấy việc cần thanh toán gấp ngoài trụ sở thành ra tôi không có ở nhà để tiếp ông giáo cho phải phép. Tôi thực có lỗi quá, xin ông giáo và anh Ba bỏ qua cho. Mời ông giáo và anh Ba ra nhà khách dùng trà.
Tất cả kéo ra để một mình Dũng ở lại, hí hoáy với hộp sơn, cây cọ và tấm bia sạch như mới.

*

Buổi chiều, trên đường về, ông Ba mở gói giấy dầu ra, tấm tắc khen ông Hai cẩn thận. Tập tài liệu cất giấu mấy năm dưới đất mà không ẩm, không rách. Tờ nào cũng còn y nguyên dấu son đóng thật rõ dưới những hàng chữ đánh máy nét sắc như cắt.
- Tuyệt ! Anh Hai hay tuyệt. Tập tài liệu này tới tay nhà chức trách lúc nào, anh Tư sẽ được trả tự do ngay lúc ấy, là cái chắc !
Bà Hai nói :
- Nhà tôi gan thế đấy ! Nhất định không chịu nói cho vợ con hay. Có khi chính anh Tư cũng không biết nhà tôi cất giấu cách nào.
- Chính thế đó chị. Các ông ấy tin nhau mà. Anh cũng tin chị chớ sao không, nhưng sợ chị mang họa nên không dám nói rõ. Cái quan trọng nhất là anh vô cùng tin tưởng ở tương lai. Anh tin là có người sẽ tới giúp lấy tài liệu ra đúng lúc.
Xe về đến Phú Lâm thì mặt trời đã lặn mất từ bao giờ. Một chút ánh chiều còn sót lại loãng lan trong không gian mờ mờ bóng tối.
Xe đang chạy bon bon bỗng ông giáo sa sầm nét mặt, kêu lên thảng thốt :
- Chết rồi !
Mọi người hoảng hốt không hiểu việc gì đã xẩy ra.
- Tôi linh cảm giờ này ở nhà có chuyện không hay.
Với một giọng buồn buồn, ông giảng tiếp :
- Từ lúc lên xe ra về, tôi bỗng cảm thấy như mình có một điểm nào sơ hở. Nghĩ mãi không ra. Lúc trời tối sập xuống cũng là lúc óc tôi vừa lóe sáng... Và tôi đã nhìn thấy chỗ sơ hở đó…
"Ông Ba à, cái sơ sót của chúng ta là vẫn quá ỷ y vào chỗ mình có chính nghĩa. Chúng ta lý luận rằng giữa ban ngày ban mặt chúng không dám hành động láo lếu. Còn ban đêm tối tăm thì đã canh phòng nghiêm mật. Và chúng ta quên bẵng đi rằng anh em Nhân dân Tự vệ chỉ khởi sự canh gác từ bảy giờ tối trong khi trời đã bắt đầu nhá nhem từ sáu rưỡi. Cái khoảng thời gian nửa tiếng đồng hồ từ sáu rưỡi đến bẩy giờ ấy chính là thời gian bỏ ngỏ nằm giữa khoảng không gian tranh tối tranh sáng rất thích hợp với những việc làm ám muội...
"Chúng ta cũng quên luôn rằng mới cách đây có hai hôm, cũng đúng vào lúc tranh tối tranh sáng như vậy hai tên đã ngang nhiên vác súng tới hẻm mình, xâm nhập vào nhà bà Hai ngay giữa đám tiệc !...
"Tôi lờ mờ cảm thấy chiều nay, vào giờ này, chúng dám giở thêm một trò mới lạ...
Ông Ba dường như cũng bị cùng một mối lo xâm chiếm. Ông ngập ngừng đưa ý kiến :
- Ông giáo đã tiên đoán ắt không sai. Để tập tài liệu được nằm trong một bàn tay chắc chắn, xin ông giáo làm ơn giữ giùm cho.
Ông giáo trả lời sốt sắng :
- Được, được, để tôi giữ giùm cho. Không, ông Ba cứ giữ cái cặp như thường chứ. Ông lấy cái gói giấy dầu ra thôi, rồi nhét vào trong cái túi nhỏ này của tôi là đủ. Tiện tay, ông tống mấy tờ báo cũ vào trong cặp, độn nó phồng lên cho có vẻ quan trọng...
Đến nhà, xe vào thẳng trong sân bằng cổng sắt lớn trông ra ngoài lộ. Bà giáo niềm nở mời khách vào trong nhà giải khát nhưng tất cả đều xin phép về qua nhà cái đã.
Ra cửa gặp ngay thằng Lưu xí xọn. Câu hỏi đầu tiên của ông Ba là :
- Ở nhà có gì lạ không cháu Lưu ?
- Thưa bác, không ạ. À, nhà bác Hai có khách.
- Ai vậy ? Ông Ba ngạc nhiên hỏi.
- Cháu cũng không biết nữa. Có hai ông ăn mặc lịch sự vào thẳng nhà bác Hai từ nãy giờ. Lúc đó anh Hùng đi họp Hướng Đạo đã về. Hiện giờ hình như các ông ấy còn đang ngồi chờ bác Hai.
Tay nắm chắc quai chiếc cặp da căng phồng, ông Ba rảo bước đi vào trong hẻm. Ngoái đầu lại thấy hai bà hãy còn đứng nán lại nói chuyện đôi câu với bà giáo có nhã ý tiễn khách ra tận ngoài đường.
Không tiện giục, ông xăm xăm đi trước để mặc hai bà lững thững theo sau.
Sực nhớ còn Dũng và Hiền không biết chạy đâu, ông lắc đầu lẩm nhẩm :
- Thoắt một cái đã biến đâu mất ! Chắc lại tạt vào nhà đứa nào ở đầu hẻm !
Ông vẫn xăm xăm bước tới. Chưa đến cửa, tiếng nói đã oang oang :
- Hùng ơi ! Má mày về tới kìa !
Lời nói chưa dứt, một chân đã bước vào trong cửa :
- Ối !
Vừa giật mình kêu lên một tiếng thất thanh, vừa vội vàng nhảy lùi ra, ông Trực kinh ngạc thấy chiếc cặp da của mình đã bị người ở trong nhà đoạt mất.
Cánh cửa sắt đóng sập lại một cách vội vàng, tiếng rít chói tai phụ họa với tiếng cười ngạo nghễ và đắc chí của hai người khách lạ.

___________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG VIII

Không có nhận xét nào: